Tầm quan trọng của việc kiểm soát huyết áp

Chia sẻ: thanhthuy2424

Huyết áp cao và bệnh thận có liên quan chặt chẽ với nhau, đôi khi khó xác định được bệnh thận hay cao hưyết áp đến trước bởi chúng thường được phát hiện cùng lúc. Ở một vài bệnh nhân, cao huyết áp là nguyên nhân gây ra suy thận, ở một số người khác, bị bệnh thận trước sau đó mới bị cao huyết áp.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tầm quan trọng của việc kiểm soát huyết áp

Tầm quan trọng của việc kiểm soát


huyết áp




Huyết áp cao và bệnh thận có liên quan chặt chẽ với


nhau, đôi khi khó xác định được bệnh thận hay cao hưyết


áp đến trước bởi chúng thường được phát hiện cùng lúc.


Ở một vài bệnh nhân, cao huyết áp là nguyên nhân gây ra


suy thận, ở một số người khác, bị bệnh thận trước sau đó


mới bị cao huyết áp. Tuy nhiên khi chữa trị bệnh, không
còn quan trọng bệnh nào đến trước nữa, Hiệp hội thận


quốc gia (Mỹ) gợi ý bệnh nhân suy thận nên duy trì mức


huyết áp là 130/80, nếu bệnh nhân duy trì ở mức thấp hơn


thì cũng có lợi hơn.




Huyết áp cao làm bệnh thận trở


nên xấu đi một cách nhanh


chóng, không kể là bệnh nhân già


hay trẻ, tuổi tác hay giới tính và nguyên nhân gây ra suy


thận. Tuy nhiên, điều trị huyết áp cũng làm giảm tiến trình


bệnh, giảm mức huyết áp là cách tốt nhất mà bệnh nhân
có thể làm để kéo dài cuộc sống và nâng cao chất lượng


cuộc sống.




Cao huyết áp cũng gây ra các biến chứng khác, như là


bệnh tim và đột quỵ. Bệnh nhân có thể bị chết bất ngờ vì


một cơn đau tim hay đột quỵ ngay cả khi bệnh thận vẫn


đang ở trng giai đoạn đầu. Vì vậy, chữa trị cao huyết áp


không chỉ làm chậm tiến trình suy thận mà còn phòng


chống được các biến chứng của bệnh tim mạch và thậm


chí là ngăn ngừa được bị đột tử. Cao huyết áp vẫn luôn


được biến đến là “kẻ giết người thầm lặng” vì thường nó
không gây ra dấu hiệu gì. Một vài người chỉ cảm thấy đau


đầu hoặc chóng mặt choáng váng, phần lớn bệnh nhân bị


huyết áp cao vẫn cảm thấy bình thường.




Cách duy nhất để biết có bị huyết áp cao hay không là đo


huyết áp, có thể đến bệnh viện đo hoặc mua máy đo tự


động tại nhà. Huyết áp có 2 chỉ số là huyết áp tâm thu và


huyết áp tâm trương. Huyết áp tâm thu là chỉ só đầu tiên,


là áp lực của dòng máu khi tim bơm máu, huyết áp tâm


trương là chỉ số thứ 2, là áp lực dòng máu khi tim vẫn ở


giữa các nhịp đập. Vì bệnh nhân suy thận được khuyến
cáo giữ mức huyết áp ở mức 130/80 mm Hg, như vậy chỉ


số 130 là huyết áp tâm thu và 80 là huyết áp tâm trương;


nếu huyết áp đo được cao hơn mức 130/80 được xem là


huyết áp quá cao.




Có 2 cách chính để giảm mức huyết áp: là thay đổi lối


sống và hai là dùng thuốc. Thay đổi lối sống bao gồm thay


đổi thực đơn, dùng thức ăn nhạt, ít muối, không uống


rượu bia, tập thể dục và giảm cân. Tuy nhiên, phần lớn


bệnh nhân suy thận cần dùng thuốc hạ huyết áp. Kết hợp


giữa thay đổi lối sống và dùng thuốc là cách hiệu quả
nhất.




Có rất nhiều loại thuốc khác nhau để kiểm soát huyết áp;


các loại thuốc được sắp xếp theo loại, nghĩa là tất cả các


loại thuốc trong một nhóm có cùng cấu trúc hoá học và cơ


chế hoạt động như nhau. Trong mỗi nhóm, thuốc có thể


có thời gian tác dụng khác nhau cũng như hãng sản xuất


và giá thành khác nhau. Nhìn chung, tác dụng phụ của


thuốc giống nhau nếu trong cùng một nhóm.




Rất nhiều thuốc hạ huyết áp có các tác dụng khác nữa
ngoài việc hạ huyết áp, có thể được kê đơn cho bệnh


nhân dùng ngoài việc chữa bệnh thận và hạ huyết áp, ví


dụ như bệnh nhân tiểu đường có thể dùng thuốc trong


nhóm (ACE) (angiotensin - protein trong máu, enzyme này


làm tăng sản sinh andosterone tại vỏ thượng thận, chuyển


hoá kháng enzyme), hoặc là nhóm ARBs vì những thuốc


này làm chậm tiến trình suy thận ở bệnh nhân tiểu đường.


Bệnh nhân có protein trong nước tiểu cũng phải dùng


nhóm thuốc này vì nó giảm lượng protein trong nước tiểu.


Bệnh nhân bị bệnh tim phải dùng nhóm thuốc phong bế


beta. Bệnh nhân bị phù do tích tụ nước phải dùng nhóm
thuốc lợi tiểu.




Các loại thuốc hạ huyết áp, cơ chế hoạt động và các lợi


ích khác ngoài việc hạ huyết áp




Loại thuốc




Cơ chế hoạt động




Các lợi ích khác
Lợi tiểu




Đôi khi còn được gọi là thuốc “để đi tiểu”, vì nó giúp cho


thận thải các nước ứ thừa và muối trong cơ thể ra ngoài


qua đường tiểu.




Chữa hội chứng thận hư, suy tim xung huyết, phù.




Phong bế Bê-ta




Giảm xung thần kinh đến tim và các mạch máu. Làm nhịp
tim nhẹ hơn. Huyết áp giảm và tim không phải làm việc


nặng nữa.




Bệnh tim, suy tim xung huyết




Chất ức chế ACE




Hạn chế việc hình thành hóc-môn gọi là angiotensin II


(protein trong máu, enzyme này làm tăng sản sinh


andosterone tại vỏ thượng thận), thường gây ra hẹp mạch


máu. Các mạch máu tốt hơn thì huyết áp sẽ giảm xuống.
Tiểu đường, protein niệu, hội chứng thận hư, suy tim xung


huyết.




ARBs




Ngăng chặn việc hình thành angiotensin II; do đó mạch


máu sẽ mở rộng hơn và huyết áp sẽ giảm.




Tiểu đường, protein niệu, hội chứng thận hư, suy tim xung
huyết, dị ứng với chất ức chế ACE




Phong bế Can-xi




Giữ Canxi không vào các mô trong tim và mạch máu. Các


mạch máu sẽ tốt hơn và huyết áp sẽ giảm.




Phong bế Alpha




Giảm xung thần kinh đến các mạch máu và giúp cho máu


chảy qua tốt hơn.
Chất ức chế hệ thống thần kinh




Giúp các mạch máu tốt hơn.




Các thuốc gây giãn mạch.




Trực tiếp mở các mạch máu tác động vào cơ trong thành


mạch.




Thuốc tốt nhất là thuốc hạ huyết áp và đem lại các lợi ích
khác tác động lên các bệnh khác nếu có và ít tác dụng


phụ. Vì mỗi người là khác nhau, nên đôi khi nên đổi thuốc


trong nhóm hoặc đổi từ nhóm này sang nhóm khác để có


tác dụng tốt hơn. Tốt nhất nên dùng 2 loại thuốc ở nhóm


khác nhau với liều thấp hơn là dùng 1 loại thuốc trong 1


nhóm mà dùng liều cao. Mục tiêu là giảm các tác dụng


phụ do dùng thuốc liều cao, và cũng có tác dụng hạ huyết


áp tốt hơn. Bệnh nhân suy thận thường phải dùng hai loại


thuốc hoặc nhiều hơn, cùng với thay đổi lối sống, sẽ đạt


mức huyết áp 130/80 mm Hg.
Nếu huyết áp của bạn không đạt mức 130/80 mmHg, cần


phải đi gặp bác sỹ ít nhất 2 tuần một lần và thay đổi lối


sống. Khi đã đạt được mức huyết áp 130/80, cần đi khám


bác sỹ ba tháng 1 lần để giữ mức huyết áp như vậy, nếu


mức huyết áp ổn định ở mức thấp hơn thì có thể đi gặp


bác sỹ ít hơn.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản