TẬP HUẤN GIÁO VIÊN CỐT CÁN VỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, HẢI ĐẢO CẤP THPT

Chia sẻ: hungminh16018

Chủ đề 1: BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM 1. Khái quát về Biển Đông Biển Đông là một biển lớn, tương đối kín, nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa.Thế kỷ XXI là thế kỷ của biển cả và đại dương, Có tới 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TẬP HUẤN GIÁO VIÊN CỐT CÁN VỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, HẢI ĐẢO CẤP THPT

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẠC LIÊU



TẬP HUẤN GIÁO VIÊN CỐT CÁN
VỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, HẢI ĐẢO CẤP THPT

Bạc Liêu, ngày 23 tháng 10 năm 2012
Chủ đề 1: BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM
1. Khái quát về Biển Đông
Chủ đề 1: BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM
1. Khái quát về Biển Đông
- Biển Đông là một
biển lớn, tương đối kín,
nằm trong vùng nhiệt
đới ẩm gió mùa.
- Thế kỷ XXI là thế kỷ
của biển cả và đại
dương
- Có tới 70% khối lượng
dầu mỏ nhập khẩu và
khoảng khối
45%
lượng hàng hóa xuất
khẩu của Nhật Bản
được vận chuyển qua
Biển Đông.
2. Vùng biển Việt Nam
Theo Luật ốc gia venquốn có 5năm 2003 của Việt vùng
Biên giới biểc gia bộ phận hợp thành Nam
- Một qu
biển là: vùng nội thủy, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp
lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa




Hình 1.

Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm
được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất
dọc bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định công
bố.
ơ đồ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục đ ịa Vi ệt Nam
Hình 1.

Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm
được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất
dọc bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định công
bố.
- Nước biển dâng là hậu quả của biến đổi khí
hậắp tới ra đời luật kiểm ngư.
- Su.
3. Một số vấn đề cơ bản của chiến lược biển, đảo Việt
Nam đến năm 2020
- Từ nay đến năm 2020 Việt Nam trở thành quốc gia m ạnh
về biển và làm giàu từ biển.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KT-XH với đảm bảo
quốc phòng-an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi
trường.
- Khai thác mọi quyền lực để phát triển KT-XH và bảo
vệ môi trường biển.
4. Định hướng phát triển kinh tế biển, đảo Việt Nam
- Xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về
kinh tế biển, có cơ cấu kinh tế hiện đại, thực sự làm
động lực thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển với tốc
độ nhanh.
- Mở cửa, hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế biển và
vùng ven biển một cách toàn diện.

- Coi phát triển kinh tế biển và vùng ven biển là động
lực để hỗ trợ, thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển.
Chủ đề 2: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP CÁC NGÀNH
KINH TẾ BIỂN, ĐẢO Ở VIỆT NAM
Hoạt động kinh tế biển,
đảo rất đa dạng bao gồm:
- Khai thác và nuôi trồng
hải sản.
- Khai thác khoáng sản
trong nước biển và trong
lòng đất.
- Du lịch biển.
- GTVT biển.
-…
Chủ đề 2: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP CÁC NGÀNH
KINH TẾ BIỂN, ĐẢO Ở VIỆT NAM
1. Khai thác và nuôi trồng hải sản
- Nước ta có bờ biển dài và
vùng đặc quyền kinh tế rộng
- Cùng với sự tăng DS thế
giới và trong nước, nhu cầu
về các mặt hàng thủy sản
tăng nhiều trong những năm
gần đây
- Những đổi mới trong chính
sách của Nhà nước đã và
đang có tác động tích cực tới
sự phát triển ngành thủy
sản.
2. Khai thác tài nguyên khoáng sản biển, đảo

- Tài nguyên dầu khí
của nước ta phong
phú với trữ lượng
khoảng vài tỉ tấn dầu
và hàng trăm tỉ m3 khí.
- Hai bể Hoàng Sa và
Trường Sa có nhiều
triển vọng dầu khí và
chứa đựng tài nguyên
băng cháy.
- Đất hiếm là những
nguyên tố quý, hiếm
có trong lòng đất bao
gồm 17 nguyên tố.
3. Phát triển du lịch biển,
đảo
- Nước ta có đường bờ
biển dài, với nhiều bãi
biển đẹp.
- Du lịch đang chuyển
từ Đại Tây Dương sang
Thái Bình Dương.
4. Phát triển GTVT biển
- Nằm trên đường hàng
hải quốc tế, giao thông
đường biển của nước
ta phát triển rất sớm.

- Nước ta có 49 cảng
được xếp loại (trong đó
có 17 cảng biển loại I,
23 cảng biển loại II và 9
cảng biển loại III).

- Phát triển GTVT biển
sẽ mang lại nhiều lợi
ích kinh tế cho đất
nước, đồng thời củng
cố an ninh, quốc
phòng.
5. Khai thác các loại tài nguyên
khác ủy triều, gió
- Th
biển
- Tiềm năng và triển
vọng năng lượng
gió ở Việt Nam là
Tuabin ớn. đảo Trường Sa Lớn
rất l gió ở Điện gió ở Bạc Liêu




Mô hình cánh đồng điện gió Sóc Trăng




Điện gió ở Ninh Thuận
Chủ đề 3: KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI
TRƯỜNG BIỂN, ĐẢO TẠI CÁC VÙNG KINH TẾ XÃ HỘI
CỦA NƯỚC TA
1. Biển, đảo vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ và ĐBSH
- Là vùng có nhiều đảo
nhất Việt Nam, ở đây có
tới 2147 hòn đảo lớn nhỏ.
- Có nền KT-XH khá phát
triển và có truyền thống
lâu đời.
2. Biển, đảo vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ

- Vùng này có ít đảo ven
bờ nhưng lại có 2 quần
đảo lớn nhất nước ta ở
ngoài khơi xa trên Biển
Đông là quần đảo Hoàng
Sa và quần đảo Trường Sa

- Có các cồn cát và đầm
phá ven biển với các hệ
sinh thái ven biển rất độc
đáo, hiếm có trên thế giới
- GTVT biển là thế mạnh
của vùng biển miền trung,
là nơi tập trung nhiều
cảng biển nhất nước ta.
2. Biển, đảo vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ

- Vùng này có ít đảo ven
bờ nhưng lại có 2 quần
đảo lớn nhất nước ta ở
ngoài khơi xa trên Biển
Đông là quần đảo Hoàng
Sa và quần đảo Trường Sa

- Có các cồn cát và đầm
phá ven biển với các hệ
sinh thái ven biển rất độc
đáo, hiếm có trên thế giới
- GTVT biển là thế mạnh
của vùng biển miền trung,
là nơi tập trung nhiều
cảng biển nhất nước ta.
3. Biển, đảo vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL
- Địa hình bờ biển chủ
yếu là dạng bồi tụ với
nhiều cửa sông lớn tạo
nên các bãi bồi và bãi
triều rộng lớn  rừng
ngập mặn phát triển
- Tài nguyên sinh vật
của vùng rất đa dạng
và phong phú

- Hoạt động GTVT
đường sông và đường
biển diễn ra nhộn nhịp
và bậc nhất nước ta.
4. Vấn đề khác
- Một số vấn đề về môi trường biển, đảo Việt
Nam
Môi trường biển Việt Nam đang phải chịu các áp lực từ:
Nông nghiệp
Đô thị hóa nhanh
Gia tăng dân số
Khai khoáng




Phát triển công nghiệp

Hàng hải
Lâm nghiệp


Du lịch

Năng lượng Thủy sản
Rác thực phẩm và đồ hộp nhựa trôi nổi quanh tàu du lịch
Nước thải ô nhiễm cho thẳng ra biển ở Nha
Chợ thủy sản buổi sáng
Thủy triều đỏ
- Thủy triều đỏ là tên gọi chung cho những hiện t ượng được
biết đến như là những đợt bùng phát tảo biển nở hoa, xảy ra ở
cửa sông, mặt biển tích tụ nhanh chóng những cột hoa do t ảo
biển sinh ra. Sự “nở hoa” của tảo biển có khi làm n ước biển có
màu đỏ, có khi màu xanh, màu xám hoặc màu cám gạo…

- Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Lâm, Viện Hải dương học Nha
Trang, mầm móng của tảo sẵn có trong nước biển nên có th ể
“nở hoa” bất cứ khi nào khi gặp điều kiện thuận lợi, chẳng hạn
như nhiệt độ tăng, việc trao đổi nước kém, hoặc điều kiện dinh
dưỡng trong môi trường nước tăng... Ngoài ra, các chất thải từ
hoạt động của con người như nuôi trồng th ủy sản thiếu quy
hoạch, sự phát triển của các nhà máy chế biến thủy sản, hóa
chất… cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự hình
thành Thủy triều đỏ.
- Tại Việt Nam, hiện tượng triều đỏ chủ yếu xuất hiện ở khu
vực vùng biển Nam Trung Bộ hơn là Vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ.
Trong đó Bình Thuận là nơi có hiện tượng này thường xuyên,
hàng năm từ tháng 3 đến tháng 9 nhất là th ời kỳ gió mùa tây
nam mạnh lên.

- PGS-TS Lâm cảnh báo, hầu hết các loài tảo gây nở hoa đều
có thể làm cho môi trường xấu đi qua sự tiêu giảm lượng ôxy
hòa tan trong nước, đồng thời làm cho động vật biển chết hàng
loạt.
Thủy triều đỏ (Bình Thuận)
Thủy triều đen – sau tràn dầu
Bờ biển sau sự cố tràn dầu
Dùng thuốc nổ đánh cá
Tôm chết, cá chết vì nguồn nước bị ô nhiễm
Rừng ngập mặn chuyển thành cánh đồng nuôi ngao
Rừng ngập mặn đang chết dần
Thảm cỏ biển bị tàn phá
Khai thác rong biển ở Quảng Ngãi
- Đường lưỡi bò  vô căn cứ (9 khúc có từ năm 1947)
- Cái gọi là Tam Sa của Trung Quốc: Tây Sa, Trung Sa,
Nam Sa
- Đến năm 2020 thu nhập bình quân theo đầu người
của người dân vùng biển gấp 2 lần năm 2012.
- Dự kiến 50 năm sau Phú Quốc như là Singapore.
- Cấm sử dụng thuốc DDT
Vì sao DDT bị cấm sử dụng?
-DDT là loại thuốc trừ sâu đã được sử dụng trong nhiều năm
qua. Công thức hoá học của loại thuốc này là C14H9Cl5’ tên
khoa học là dichloro-diphenyl-trichloroethane và gọi tắt là DDT,
do nhà sinh hoá học Thuỵ sĩ, Paul Muller phát minh năm 1938.
- Thuốc DDT vừa ra đời đã tỏ rõ tác dụng tuyệt vời trong việc
tiêu diệt các loại côn trùng có hại trong nông nghiệp. Hầu như
tất cả các loại sâu bọ có hại đều bị chết khi gặp phải DDT.
- Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, người ra đã dùng DDT
để tiêu diệt rất hiệu nghiệm loại bọ chét, giúp cho các binh sĩ
chiến đấu ở Bắc Phi thoái khỏi nạn dịch thương hàn do bọ chét
lây truyền.
- Tiếp đó, Tổ chức Y tế thế giới đã dùng DDT để diệt muỗi và
thu được thành công lớn trong việc ngăn ch ặn bệnh sốt rét lây
lan.
- Với những thành tích đó DDT đã trở thành vua của các loại
thuốc trừ sâu và năm 1948, ông Muller - người phát minh ra
DDT đã vinh dự nhận giải thưởng Nobel về hoá học.
- Nhưng 30 năm sau, DDT bị tuyên án "tử hình" (bị cấm sản
xuất và sử dụng). Khi DDT mới ra đời, đúng là nó có sức mạnh
vô địch. Nhưng chỉ mười mấy năm sau đã có một số loại côn
trùng có hại không sợ DDT nữa. Chúng đã nhờn với DDT. Ðến
năm 1960 đã có 137 loại côn trùng có hại nhờn thuốc DDT.
- Chưa hết, DDT đã kém hiệu quả trong việc tiêu diệt côn trùng
có hại, lại còn giết chết khá nhiều chim chuyên ăn côn trùng có
hại. Do DDT có thành phần tương đối ổn định nên khó bị phân
giải trong môi trường tự nhiên và thâm nh ập vào cơ th ể các lo ại
chim theo hệ thống nước, thực vật phù du, động vật phù du,
tôm cá nhỏ...
- DDT khi ở trong nước có nồng độ không đáng kể, nhưng khi
xâm nhập vào cơ thể chim, nồng độ của DDT sẽ tăng lên hàng
triệu lần khiến chim nếu không bị chết cũng mất khả năng sinh
sản. Ðây là điều mà con người không ngờ tới.
- Cũng do được sử dụng khắp thế giới, DDT qua nước và thực
phẩm xâm nhập vào cơ thể con người, phá hủy nội tiết tố giới
tính của con người, gây ra các bệnh về thần kinh, ảnh h ưởng
tới công năng của gan. Hậu quả này xảy ra cũng ngoài dự kiến
của con người.
- Thuốc trừ sâu DDT còn có đặc điểm ngoại lệ, đó là kể từ năm
1974 toàn thế giới hoàn toàn ngừng sản xuất DDT, nhưng h ậu
quả của DDT trong môi trường còn lâu mới hết. Thuốc DDT
trong không khí phải sau 10 năm mới giảm nồng độ xu ống tỉ lệ
ban đầu là 1/10; DDT tan trong biển còn phải mất thời gian lâu
hơn nữa mới phân hủy hết.
- Theo dự đoán của các nhà khoa học, phải đến sau năm 1993
DDT trong nước biển mới phân hủy về cơ bản.
CẢM ƠN QUÝ ĐỒNG NGHIỆP
CHÚ Ý LẮNG NGHE
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản