Tập luyện với người bệnh phổi tắc nghẽn

Chia sẻ: Ka Ka | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
96
lượt xem
11
download

Tập luyện với người bệnh phổi tắc nghẽn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tập luyện với người bệnh phổi tắc nghẽn Đối với người bình thường việc hô hấp không làm tiêu hao năng lượng gì nhiều, khi bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), các cơ hô hấp phải hoạt động nhiều hơn nhưng lại không được cung cấp đủ ôxy nên rất mau mệt. Đến giai đọan nặng, ngay cả những việc thông thường như tắm rửa, mặc áo quần... cũng làm khó thở do đó họ ngại vận động dẫn đến hậu quả là giảm khối lượng và sức mạnh của cơ. Điều này giải thích tại sao tập luyện...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tập luyện với người bệnh phổi tắc nghẽn

  1. Tập luyện với người bệnh phổi tắc nghẽn Đối với người bình thường việc hô hấp không làm tiêu hao năng lượng gì nhiều, khi bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), các cơ hô hấp phải hoạt động nhiều hơn nhưng lại không được cung cấp đủ ôxy nên rất mau mệt. Đến giai đọan nặng, ngay cả những việc thông thường như tắm rửa, mặc áo quần... cũng làm khó thở do đó họ ngại vận động dẫn đến hậu quả là giảm khối lượng và sức mạnh của cơ. Điều này giải thích tại sao tập luyện rất cần cho bệnh nhân BPTNMT.
  2. Tập duỗi cơ: là kéo dãn cơ chân và cánh tay trước và sau buổi tập để chuẩn bị cơ cho buổi tập và giúp đề phòng bị chấn thương. Tập duỗi cơ đều đặn sẽ làm tăng phạm vi vận động và độ mềm dẻo của gân cơ. Tập làm tăng sức chịu đựng (tập aerobic): là phương pháp tập sử dụng đều đặn một khối lượng lớn các cơ. Kiểu tập nay cũng làm mạnh tim, phổi và cải thiện khả năng tiêu thụ ôxy của cơ thể. Với thời gian nó giúp làm giảm nhịp tim, hạ huyết áp, việc thở được cải thiện. Những môn tập aerobic thích hợp là: đi bộ, đạp xe ngoài trời hoặc tại chỗ... Một phương pháp đơn giản và dễ dàng nhất là đi bộ: hãy bắt đầu với quãng ngắn và đánh dấu độ dài bao xa trước khi bạn bắt đầu thấy mệt. Hãy dừng lại và nghỉ khi bắt đầu thấy khó thở. Khi đi bạn đếm mỗi lần bạn hít vào mất bao nhiêu bước ví dụ 2 bước, sau đó bạn thở ra bằng cách chúm môi lại và kéo dài với số bước gấp đôi là 4 bước. Tập cho cơ mạnh lên: làm co các cơ lặp đi lặp lại nhiều lần đến khi mỏi mệt. Phương pháp làm mạnh các cơ phần trên của cơ thể đặc biệt rất có ích cho bệnh nhân BPTNMT vì đồng thời cũng làm mạnh các cơ hô hấp. Bạn có thể dùng tạ nhỏ hoặc dây đàn hồi để thực hành các bài tập này.
  3. Tập thở: Có hai phương pháp giúp người mắc BPTNMT thấy dễ thở hơn: Thở chúm môi: là cách thở khi hít vào qua mũi đồng thời miệng ngậm kín, khi thở ra bằng miệng với môi chúm lại như khi ta đang huýt gió, thời gian thở ra phải dài gấp đôi thời gian hít vào. Kỹ thuật này rất có ích cho những người hay bị khó thở khi vận động hoặc tập luyện. Ở người BPTNMT có hiện tượng nghẽn đường thở nên khi ta thở ra không khí bị ứ lại dẫn đến khó thở.Khi bạn thở ra với môi chúm lại sẽ tạo ra một lực cản trong đường dẫn khí giữ cho phế quản không bị xẹp lại khi thở ra. Với cách thở này sẽ hạn chế lượng khí bị bẫy lại trong phổi do đó lượng ôxy vào phổi sẽ nhiều hơn. Thở bụng: Là cách thở có tác dụng làm mạnh cơ hoành là cơ quan trọng nhất trong việc thở. Cơ hoành nằm dưới phổi và giúp tống không khí ra khỏi phổi khi thở ra. Nếu không khí bị bẫy lại trong phổi, cơ hoành không thể họat động hiệu quả. Để thực hành phương pháp nay bạn nằm ngửa, hai chân co lại, một tay đặt lên phần trên của ngực, một tay đặt ở bụng. Khi hít vào bạn phình bụng lên, phần ngực không chuyển động, khi thở ra bạn chúm môi và thót bụng lại. Tập theo cách này đều đặn thường xuyên dần dần bạn sẽ tự động thở bằng bụng. Những điều cần lưu ý khi tập luyện
  4. BPTNMT là một bệnh lý toàn thân, nhất là ở bệnh nhân cao tuổi thường mắc nhiều bệnh kết hợp như đái tháo đường, tăng huyết áp, loãng xương... vì vậy trước khi bắt đầu tập luyện cần có sự tư vấn và theo dõi của bác sĩ hoặc chuyên viên vật lý trị liệu. Bác sĩ sẽ cho biết thời lượng tập thích hợp, môn nào nên tập và môn nào không nên tập, loại thuốc gì sẽ dùng khi cần trong lúc tập... Ngoài ra, bạn cũng cần lưu ý những điểm sau: - Không tập sau khi ăn ít nhất 1 giờ 30 phút. - Làm nóng trước khi tập 5-10 phút bằng cách vận động chậm rãi. Việc làm nóng giúp cơ thể bạn điều chỉnh dần dần từ trạng thái nghỉ sang vận động. Làm nóng còn tránh được sự gắng sức đột ngột cho tim và cơ, tăng dần nhịp thở, nhịp tim và nhiệt độ cơ thể, đồng thời giúp cải thiện tính mềm dẻo của cơ và giảm đau cơ. Trong khi tập bạn cần theo dõi nhịp tim, đây là một cách để đo lường cường độ vận động; bác sĩ sẽ báo cho bạn biết nhịp tim khi tập bao nhiêu là vừa. Trước khi kết thúc buổi tập giảm bớt cường độ vận động 5-10 phút rồi mới ngưng hẳn. Mục đích là để cơ thể hồi phục dần từ trạng thái tập luyện , để tim và huyết áp từ từ trở về lại gần mức bình thường. - Cần phải lên chương trình tập đều đặn mới có tác dụng. Muốn đạt hiệu quả tối đa bạn cần nâng dần thời gian tập kéo dài từ 20-30 phút mỗi buổi và mỗi tuần ít nhất 3-4 buổi. Nên lựa chọn môn tập ưa thích và có bạn cùng tập để tạo hứng thú tập luyện thường xuyên.
  5. - Hãy lắng nghe cơ thể bạn.Trong khi tập nếu thấy xây xẩm, chóng mặt, mệt nhiều, khó thở, tim đập nhanh thì phải ngưng ngay và báo cho bác sĩ biết. - Không tập trong thời tiết quá nóng hoặc lạnh quá, mặc áo quần phù hợp với thời tiết bên ngoài. Sau khi tập không nên tắm nước quá lạnh hay quá nóng .
Đồng bộ tài khoản