Tên gọi và phân loại enzym

Chia sẻ: Nguyen Phuonganh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
162
lượt xem
65
download

Tên gọi và phân loại enzym

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cách gọi tên enzym Hiện nay người ta đã tìm được hơn 2.000 loại enzym xúc tác cho hơn 2.000 phản ứng khác nhau.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tên gọi và phân loại enzym

  1. Tên gọi và phân loại enzym MụC LụC Tên gọi và phân loại enzym Lớp Oxydoreductase Nhóm Oxydase Lớp Hydrolase Lớp liase
  2. Lớp Ligase Lớp Transferase Lớp Isomerase và mutase 1. Cách gọi tên enzym Hiện nay người ta đã tìm được hơn 2.000 loại enzym xúc tác cho hơn 2.000 phản ứng khác nhau. Con số đó ngày càng được tăng thêm. Mấy trăm enzym đã phân lập được rất tinh khiết, trong số này có trên 150 loại đã tinh thể hoá được (tức là khá đồng nhất về thành phần). Nhóm enzym tiêu hoá được nghiên cứu đầu tiên nên mang những tên gọi tuỳ tiện ví dụ như pepsin, trypsin, chimozin, phanh...
  3. Năm 1898 Duy-cơ-lô đã đề ra qui tắc gọi enzym theo tên La tinh của cơ chất hoặc của phản ứng sau khi thêm vĩ ngữ "ase" vào gốc chữ. Từ đó ta có tên gọi: Amylum - Amylase (enzym phân giải tinh bột) Protein - Proteinase (enzym phân giải protein) U re - Urease (enzym phân giải urê) Oxy - Oxydase (enzym oxy hoá) Hydrogen - Hydrogenase (enzym thuỷ phân) Metyl - Metylferase (enzym vận chuyển nhóm CH3) 2. Phân loại enzym
  4. Có nhiều cách phân loại enzym, có thể dựa vào bản chất hoá học của enzym, cũng có thể dựa vào kiểu xúc tác của enzym để phân loại enzym. 2.1. Phân loại theo bản chất hoá học Như chúng ta đã biết bản chất hoá học của enzym là protein. Cho nên, nếu dựa vào bản chất hoá học người ta chia enzym ra làm 2 lớp: lớp enzym đơn giản và lớp enzym phức tạp - Lớp enzym đơn giản tương ứng với lớp protein đơn giản, có thành phần thuần tuý là acid amin và tính xúc tác sinh học của chúng được qui định bởi cấu trúc của phân tử protein. Ví dụ enzym: pepsin, trypsin, urease... - Lớp enzym phức tạp, tương ứng với một enzim phức tạp, trong phân tử có 2
  5. phần: phần protein và phần nhóm ghép không phải bản chất protein. Phần protein, kể cả enzym đơn giản, gần với loại protein dạng cầu như globulin, albumin, trong enzym phức tạp người ta gọi phần này là apoenzym phần này quyết định tính đặc hiệu của enzym. Phần nhóm ghép không phải protein có tên là coenzym. Phần này có nguồn gốc khác nhau: có thể là nucleotid, nhóm hem, các nguyên tử kim loại, đáng chú ý nhất là ở nhiều enzym phức tạp, nhóm ghép là dẫn xuất của vitamin. Ví dụ: enzym dehydrogenase hiếu khí (chứa vitamin B2)' enzym decarboxylase (chứa vitamin B1), enzym dehydrogenase yếm khí (chứa vitamin PP)...
  6. Mối liên kết giữa nhóm ghép và phần protein của phân tử enzym có độ bền vững không nhất định, ở loại này thì bền (ví dụ nhóm cytocrom), ở loại khác không bền lắm (như riboflavin của enzym dchydrogenase hiếu khí.).Có loại chứa nhóm ghép hoàn toàn linh động như NAD, NAD.P của enzym dehydrogenase yếm khí. Tính xúc tác thường do cả 2 phần này qui định, nhóm ghép thường nằm trong điểm hoạt động của enzym. 2.2. Phân loại theo cơ chế xúc tác của enzym Mỗi một enzym có tính đặc hiệu riêng của nó, cho nên nếu dựa vào đặc điểm xúc tác của enzym (tức là phản ứng do enzym xúc tác, kiểu hoạt động của
  7. enzym) thì tại Hội nghị sinh hoá học Quốc tế cuối năm 1961 họp tại Moscow đã đề ra một bảng phân loại mới, trong đó enzym được chia ra làm 6 lớp. Oxydoreductase (Lớp enzym oxy hoá hoàn nguyên sinh học) - Hydrolase (Lớp enzym thuỷ phân) - Lia se (Lớp enzym phân giải chất không theo con đường thuỷ phân) - Ligase hay Syntetase (Lớp enzym tổng hợp chất) - Transferase (Lớp enzym vận chuyển) - Isomerase hay Mutase (Lớp enzym đồng phân hoá) Mỗi lớp lại chia thành nhiều nhóm và mỗi nhóm lại có nhiều đại diện.
Đồng bộ tài khoản