Tên thương hiệu của bạn nói lên điều gì? và ý nghĩa thương hiệu

Chia sẻ: Nguyen Van Tuan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:40

0
80
lượt xem
21
download

Tên thương hiệu của bạn nói lên điều gì? và ý nghĩa thương hiệu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có rất nhiều tên thương hiệu rất đẹp và rất êm tai, có thể cho chúng ta biết rất rõ  ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tên thương hiệu của bạn nói lên điều gì? và ý nghĩa thương hiệu

  1. H­D­ 12­13­2006 Tên thương hiệu của bạn nói lên điều gì? Có rất nhiều tên thương hiệu rất đẹp và rất êm tai, có thể cho chúng ta biết rất rõ   sản phẩm hay dịch vụ mà chúng đại diện. Một cái tên kết hợp giữa “cảm giác   phù hợp” và “sự sáng tạo của sản phẩm”, sẽ đem lại những thành công tiếp thị   rất lớn cho sản phẩm của bạn. Một cái tên hay và mang lại hiệu quả phải là một sự hoà hợp giữa âm thanh và ý  nghĩa, khiến nó nổi bật so với đối thủ. Không hẳn là phải mô tả được sản phẩm  hay dịch vụ mà nó đảm nhiệm – như Rice Krispies, Kwikfit hay Barclaycard – mà  quan trọng hơn là cách nó tán dương phẩm chất thương hiệu như thế nào. Ở bất  kỳ ngành nghề nào, tên thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên  sự nhận thức của người tiêu dùng và tạo nên viễn cảnh tương lai cho sản phẩm. Tôi có một vài ví dụ. Có một thương hiệu rất thú vị, đó là Kalashnikov. Súng trường  chiến đấu Kalashnikov AK­47 ­ được thiết kế đầu tiên bởi Mikhail Kalashnikov và  sản xuất hàng loạt bởi quân đội Soviet – đã trở thành biểu tượng vũ khí của cuộc  chiến tranh du kích khắp nơi trên thế giới. Tên súng, với cách nhấn âm mạnh và  lặp âm, nghe có vẻ như rất có uy lực và khả năng huỷ hoại lớn. Khi nghe cái tên  Kalashnikov, dường như bạn nghe thấy tiếng cò súng đánh lửa. Có rất nhiều  thương hiệu dùng trong quân đội như Colt, Remington, Thompson và Lee­Enfield, 
  2. nhưng chỉ có Kalashnikov nổi bật với cái tên chứa đựng âm thanh ghê người. Kroll, một tập đoàn cũng cấp dịch vụ tư vấn điều tra, cũng có một cái tên biểu  trưng cho hoạt động của họ. Trên website, Kroll được giới thiệu “là một công ty  hàng đầu thế giới trong lĩnh vực tư vấn rủi ro, giúp khách hàng vứt bỏ những nguy  cơ toàn cầu, nắm lấy cơ hội và bảo vệ tốt nhân viên và tài sản của mình”. Tuy tôi  không có ý nghĩ không tốt nào đối với các nhân viên của Kroll, Nhưng với cái tên  Kroll gợi cho tôi cảm giác lạnh lùng và có chút gì đó nham hiểm. Cái tên gợi nên  cái lạnh ở bắc cực, âm kéo dài “troll” (quỷ lùn) gợi cho tôi hình ảnh một hung thần  hung ác núp dưới cây cầu trong thần thoại Nordic và “krill” (loài tôm cua) là một  loài sinh vật trôi nổi ở biển sâu cũng gợi nên những hình ảnh xa xăm và không  được thoải mái cho lắm. Nhưng với cương vị là cái tên cho một đơn vị tư vấn đầu  tư, nó tạo nên một sự cộng hưởng về cảm giác. Có một cái gì đó không thể giải  thích được, nhưng bạn chắc sẽ có cảm giác Kroll sẽ có khả năng làm việc hiệu  quả.
  3. Tiếp đến là Zippo. Một cái bật lửa thô hiệu Zippo là biểu tượng cách sống Mỹ.  Zippo có cấu trúc rất đơn giản: một cái bấc tẩm dầu và một hệ thống đá lửa để  đánh lửa. Nó mạnh mẽ, đáng tin cậy và thoả mãn người dùng. Bật lửa rất dễ giữ  lửa, gọn gàng trong túi và việc sử dụng nó là một nghệ thuật: mở nắp, xoay tròn  cái bánh xe bằng một ngón rất điệu nghệ. Đó là “kinh nghiệm sử dụng thương  hiệu” bật lửa Zippo và dường như cái tên Zippo đã rất hiệu quả với tính chính xác  và hiệu quả kinh tế của nó. Trước khi tạm biệt thế giới tượng thanh đầy quyến rũ, có lẽ cần phải nhắc đến  những cái tên như Schweppes và UHU. Schweppe là một doanh nhân Thuỵ Sĩ,  ông di cư đến Luân Đôn và cuối thế kỷ 18 và nhanh chóng tạo lập một doanh  nghiệp chuyên kinh doanh nước tinh khiết đóng chai cho giới thượng lưu Luân Đôn.  Thị trường này khá rộng lớn vì hầu như nguồn nước uống nào cũng bị ô nhiễm và  mọi người kinh hoảng nhận thấy bệnh tật ẩn nấp trong nguồn nước. Schweppe  được mang một cái tên tượng thanh cho tiếng “xì…pppp…” khi bật nắp chai nước.  Nước giải khát Schweppes giờ đây đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Vì thế chúng  ta nên tự hỏi liệu Schweppes có ăn nên làm ra như hiện nay không nếu có cái tên  đại khái như là Reifenhauser hay Uithoff? UHU, một loại keo gia dụng, được biết đến như là một thương hiệu thân quen và  dễ nhớ nhất. Cho dù tên thương hiệu chẳng có liên hệ tí xíu nào với đặc điểm sản  phẩm, đó là tên thường gọi một loài cú sống ở vùng Rừng Đen của Đức, thế nhưng  trong nhiều năm qua nó đã trở thành danh từ chung đại diện cho từ “keo gia dụng”  ở Đức. Để được như vậy, UHU thậm chí cung cấp keo miễn phí cho trường học  nhằm làm cho trẻ em trở nên quen dùng chữ UHU thay cho chữ “keo” ngay từ  những năm đầu đời. Bằng tiếng Anh, tên thương hiệu đọc gần gần như chữ “glue” 
  4. (keo) và âm thanh nghe dẻo và sệt giống như đặc tính của loại sản phẩm này. Đó  là một sự kết hợp tuyệt vời đem lại cho UHU một lợi thế tâm lý hơn hẳn đối thủ của  họ. Tên thương hiệu cuối cùng mà tôi muốn nhắc đến là Xerox. Cái tên được lấy từ  tiếng Hy lạp “xeros”, có nghĩa là “khô”, mà sau này từ này được ghép thêm trở  thành “xerography” để chỉ một phương pháp tráng ảnh khô. Từ “xerography” lẫn  “Xerox” đều cùng được giới thiệu vào năm 1948. Thị trường thiết bị photocopy  cạnh tranh gay gắt và trong nhiều năm qua, Xerox cũng phải đối mặt với việc cạnh  tranh với những thương hiệu nổi tiếng và đầy tiềm năng như Hoover và Tipp­Ex.  Xerox ­ rất khác biệt và rất thận trọng ­ bởi thương hiệu này được quản lý một cách  chặt chẽ và công ty chưa bao giờ có những thử thách nghiêm trọng. Xerox với cái  tên nguyên thuỷ mạnh mẽ của nó, cộng thêm lợi thế dẫn đầu, đã trở thành người  tiên phong rất có uy tín và đạo đức trong thị trường này. Có rất nhiều thương hiệu rất đẹp và rất êm tai, có thể cho chúng ta biết rất rõ sản  phẩm hay dịch vụ mà chúng đại diện. Một cái tên kết hợp với cảm giác “cực kỳ phù  hợp”, cộng với tính sáng tạo của sản phẩm, sẽ đem lại những thành công tiếp thị  rất lớn cho sản phẩm. Diệu Linh ­ sưu tầm và lược dịch Ảnh minh họa bởi H­D  H­D­ 12­20­2006 Văn hoá trong Slogan Slogan là một câu văn ngắn gọn, súc tích, chứa đựng cô đọng nội dung thông điệp 
  5. mà các nhà quảng cáo muốn gửi đến người tiêu dùng. Mục đích xuất hiện và tồn tại của Slogan chính là để người tiêu dùng nhớ đến bản  thân nó, nghĩa là nhớ đến mẫu quảng cáo và sản phẩm được quảng cáo theo  phản ứng tâm lý dây chuyền, sau khi có thể quên hết các nội dung ngôn ngữ khác  trong mẫu quảng cáo. Do đó, lựa chọn một slogan độc đáo, hiệu quả và không  gây phản cảm đối với công chúng là một công việc quan trọng và là một nghệ  thuật sáng tạo không thể xem nhẹ trong quá trình thực hiện mẫu quảng cáo. Thiết  nghĩ, lướt qua một số slogan xuất hiện trên báo chí trong thời gian qua cũng là  cách mở ra một góc nhìn về văn hoá quảng cáo ở nước ta hiện nay. Do không thể chuyển tải hết nội dung thông tin của toàn bộ mẫu quảng cáo, các  nhà quảng cáo buộc phải lựa chọn một khía cạnh cần nhấn mạnh nào đó để đưa  vào slogan. Thông thường, nội dung của slogan có thể là gợi lại hay hứa hẹn lợi  ích cho người tiêu dùng, chẳng hạn "lợi ích đôi chân", "cơ hội lớn nhất trong năm  để sở hữu xe Ford"..., hoặc nhấn mạnh lại chất lượng vượt trội của sản phẩm,  chẳng hạn "điểm mười cho chất lượng", "ấn tượng khó phai"... Dạng slogan có nội  dung này xuất hiện nhiều trong các mẫu quảng cáo trên báo chí, đặc biệt đối với  các mặt hàng Thành phố Hồ Chí Minh, mỹ phẩm, đồ dùng điện tử, xe hơi... Trong  bối cảnh các nhà sản xuất và phân phối liên tục tung ra các chương trình quà tặng,  xổ số, khuyến mãi như hiện nay, chúng còn có thể kết hợp đảm nhận thêm nhiệm  vụ khuyến dụ người tiêu dùng mua hàng để trúng thưởng, kiểu như "mua xe BMW,  trúng xe BMW". Nhìn chung, ngôn từ của slogan thường được sử dụng khá sang  trọng, chăm chút, thậm chí có khi bóng bẩy quá đà như "ru giấc mơ hồng" của một  hãng sản xuất quạt máy. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng dễ bị bỏ quên  và trở nên nhàm giữa một "rừng" các mẫu quảng cáo sản phẩm cùng loại. Để gây ấn tượng hơn, một số slogan chuyển mục tiêu "đánh" vào tình cảm, tâm lý  của người tiêu dùng. Tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm của các bà mẹ dành  cho con nhỏ, được các hãng sữa khai thác tối đa, từ "giúp bé thông minh ngay từ  đầu", "soi bước thiên tài" đến "cho bé niềm vui sáng tạo", đến độ một vị bác sỹ đã  phải đánh tiếng trên báo với các bà mẹ rằng, không phải cứ ra hãng sữa là mua  được trí thông minh cho các cháu bé! Tâm lý thích nổi trội và thích được phong  "sành điệu" của một số cô cậu mới lớn thì nằm trong tầm nhắm của một số hãng  xe, nhất là xe gắn máy. Công ty S, liên tục tung ra những câu khẩu hiệu ngắn củn  như "cơn lốc xanh", "đầy kiêu hãnh", "thấy sẽ tin"..., đọc lên nghe lưng lửng như 
  6. "khiêu khích" tính háo thắng của đối tượng khách hàng mục tiêu dạng này. Tuy  nhiên, về khía cạnh chinh phục tâm lý khách hàng, có vẻ như chưa có slogan nào  qua mặt câu "luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu" của công ty bảo hiểm P,  trong việc "mơn trớn" những thượng đế tiềm năng. Một số ý kiến trao đổi với người  viết đã cho rằng, cái khéo của slogan này ở chỗ vừa thể hiện sự quan tâm và tôn  trọng khách hàng, vừa hứa hẹn bảo đảm chất lượng dịch vụ theo cái cách người  Việt Nam rất thích là khiêm tốn, không "lên gân", chưa kể âm điệu trầm bổng nghe  rất thuận tai. Một thứ tình cảm phổ biến khác là tình yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc. Dĩ nhiên,  những câu slogan khai thác chủ đề này chỉ phục vụ thị trường Việt Nam, người tiêu  dùng Việt Nam. Cho đến nay, có lẽ thành công nhất vẫn là câu "nâng niu bàn chân  Việt" của công ty dày dép B., (khi tiếp cận thị trường nước ngoài, công ty buộc phải  thay thế bằng thông điệp khác là "chất lượng bạn có thể cảm nhận" ­ " The quality  you can feel"). Có vẻ như một số công ty nước ngoài đã nhận ra đây là lĩnh vực dễ  gây sự đồng cảm trong tâm hồn người Việt và đã tận dụng những cơ hội lớn trong  năm như kỳ SEA Games 22 năm ngoái để cùng người tiêu dùng Việt Nam "chúc  mừng chiến thắng", "Việt Nam vô địch"... Tuy nhiên, theo chúng tôi, thành công  nhất có lẽ là câu slogan ngắn gọn "tôi yêu Việt Nam" của hãng xe H. sự đơn giản  của câu này có ý nghĩa như một lời xác nhận trực tiếp, không quanh co, chân  thành, dễ làm người tiêu dùng "cảm kích" mà quên đi đây là một tuyên bố trong  quảng cáo chứ không phải là do một khách du lịch nước ngoài thốt ra. Những đặc điểm chung của một slogan hiệu quả là độc đáo, mới mẻ, gây bất ngờ,  khó quên và ngắn gọn. Sự độc đáo, mới mẻ giúp người tiếp nhận chú ý đến thông  điệp của slogan giữa hàng loạt những mẫu quảng cáo khác. Tuy vậy, lạm dụng  đặc điểm này theo hướng khai thác các thủ pháp gây sốc, nhất là xem nhẹ yếu tố  văn hoá truyền thống và thị hiếu của đông đảo công chúng, thì có thể phản tác  dụng. Có thể thấy những câu slogan từng xuất hiện cách đây mấy năm như "đến  chậm gặm xương" của công ty phát chuyển nhanh, đến nay đã không còn "đất  sống". Một thủ pháp gây chú ý khác là việc sử dụng những câu chữ phức tạp, vô nghĩa  hoặc gây khó hiểu cho đa số người tiếp nhận, kiểu như "người Úc gọi là bia" của  hãng bia F những năm 1998 ­ 1999. Câu slogan "một cảm giác rất Yo­Most" của  một công ty sữa thật ra thuộc vào loại này, nhưng may mắn đã được người tiêu 
  7. dùng ưu ái đón nhận và đã trở nên quen thuộc. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn còn  thấy xuất hiện những câu slogan không rõ ràng lắm về ngữ nghĩa ở những mẫu  quảng cáo cần sự chính xác để tạo niềm tin. Chẳng hạn, một trong những câu  slogan trong loạt quảng cáo rầm rộ cho một tủ sách dạy kinh doanh của tổ chức  quốc tế M. là "kinh doanh phát đạt hơn, nhanh hơn". Nhiều nhà kinh doanh cũng  không hiểu rõ "kinh doanh nhanh hơn" là kinh doanh như thế nào, là quyết định  nhanh hơn, quay vòng vốn nhanh hơn hay còn ý nghĩa nào khác! Nguồn Bộ Công Nghiệp  H­D­ 12­20­2006 Logo ­ Dấu hiệu tạo ấn tượng đầu tiên về hình ảnh doanh nghiệp Logo: "con đường tắt" đưa doanh nghiệp đến với khách hàng Khi thấy một chiếc xe ôtô trên mũi xe biểu tượng hình ngôi sao 3 cánh, đó là dòng  xe sang trọng Mercedes­Benz. Nếu chiếc xe đó có biểu tượng hình cánh quạt  trắng xanh, đó là một chiếc BMw. Và nếu chiếc xe đó mang biểu tượng 3 hình  eclipse lồng vào nhau đó là một chiếc Toyota, hay logo của Ford là 2 hình elip  đồng tâm... Tại sao lại có thể phân biệt được như vậy? Có rất nhiều yếu tố để  nhận biết một thương hiệu sản phẩm, trong đó có logo. Hình ảnh logo luôn là hình  ảnh đầu tiên nhắc tới thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu sản phẩm. Chỉ với  những logo trên một sản phẩm cùng loại, người tiêu dùng đã có thể phân biệt  thương hiệu của từng nhà sản xuất. Điều này cũng có nghĩa là logo ấy đã quá  quen thuộc và thương hiệu này đã được khẳng định. Logo còn được coi là hình ảnh hữu hiệu trong việc giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ  tới khách hàng qua các phương tiên thông tin đại chúng. Nó cũng đóng vai trò  quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu. Bên cạnh đó, để phân  biệt với thương hiệu cạnh tranh, doanh nghiệp sử dụng các dấu hiệu nhận dạng  thương hiệu mà phổ biến nhất là logo và tên thương hiệu. Việc thường xuyên sử dụng logo trên sản phẩm, trong mọi sự kiện của một doanh  nghiệp giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh thương  hiệu của doanh nghiệp đó trên thị trường, trong xã hội. Trong một số trường hợp, 
  8. nếu được sử dụng một cách sáng tạo, logo còn có thể được xem là "người đại  diện" cho một doanh nghiệp. Tuy nhiên, hình ảnh của một logo không dễ gì trở  thành quen thuộc trong trí nhớ của khách hàng một sớm một chiều, mà chỉ có  được qua một quá trình sử dụng có sáng tạo và được lặp đi lặp lại thường xuyên.  Điển hình như logo của Mercedes­Benz đã có lịch sử hàng 100 năm, logo của  Toyota cũng đã có tới gần 7 thập kỷ làm quen với khách hàng. Trong thời đại bùng nổ thông tin, người tiêu dùng không có đủ thời gian để tìm  kiếm thông tin mình cần. Để nhanh chóng và hiệu quả nhất khi tìm thông tin, thực  tế, đa phần, họ chỉ đọc "lướt" qua các trang web để tìm kết quả có sẵn. Trong bối  cảnh đó, một logo có thể được xem là "con đường tắt" làm cho khách hàng nhớ  đến những thông điệp mà doanh nghiệp muốn chuyển tải đến họ. Làm sao để logo đến với khách hàng Khi thiết kế logo, mục tiêu của hầu hết các doanh nghiệp là tạo ra một logo có  hình ảnh dễ nhớ, để lại ấn tượng lâu dài trong trí nhớ của khách hàng. Tuy nhiên,  làm sao để logo hòa nhập vào thị trường, đến và đọng lại trong tâm trí khách hàng  mới là vấn đề cần bàn. Đương nhiên, để logo đến được với khách hàng, doanh  nghiệp phải sử dụng sức mạnh của truyền thông bằng những thông điệp mạnh, có  khả năng chuyển tải những giá trị chủ yếu trong thông điệp của doanh nghiệp. Có  như vậy mới có thể tạo ra hình ảnh trong nhận thức người tiêu dùng. Về bản chất, nếu "đơn độc" một mình thì giá trị lớn nhất mà logo đóng góp vào  việc xây dựng thương hiệu doanh nghiệp hay nhãn hiệu sản phẩm mới chỉ là xác  định được hình ảnh của doanh nghiệp. Thế nhưng, nếu logo được sử dụng kết hợp  với câu hiệu (slogan) và được xuất hiện thường xuyên, tác động của logo vào trí  nhớ khách hàng sẽ hiệu quả hơn. Cũng nhờ đó, thông điệp của slogan sẽ "ngấm"  vào logo, trở thành một ý nghĩa của logo được khách hàng biết tới. Nhờ đó, khi  nhắc đến slogan, khách hàng có thể hình dung ngay đến hình ảnh của logo và  ngược lại khi nhìn thấy logo, khách hàng có thể nhớ ngay đến câu slogan. Làm cho logo xuất hiện "tràn ngập" thị trường không phải là cách sử dụng logo  hiệu quả nhất. Điều quan trọng là phải tạo được cơ hội "xuất hiện" đúng lúc, kịp  thời cho logo trước các khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp một cách thường  xuyên thông qua nhiều hình thức.
  9. Theo tổng kết của tạp chí Entrepreneur, có 5 hình thức sử dụng logo được đánh  giá là đem lại hiệu quả khá cao. Hình thức thứ nhất là tài trợ cho các sự kiện. Ví dụ như tham gia tài trợ cho các  cuộc triển lãm thương mại, các cuộc hội thảo hay các cuộc thi... Đây là nơi có thể  thu hút sự chú ý của các đối thủ cạnh tranh, khách hàng thuộc nhóm đối tượng  tiềm năng. Trong hình thức này, hiệu quả của việc quảng bá nhãn hiệu, logo sẽ  tuỳ theo mức độ chi phí doanh nghiệp bỏ ra. Hiệu quả cao nhất của hình thức này  là logo của doanh nghiệp sẽ có mặt và nổi bật trong các chương trình hoạt động  hay các tài liệu tiếp thị . Hình thức thứ hai là tài trợ các đội tuyển thể thao. Doanh nghiệp nên xác định các  đội tuyển thể thao nào có thể tạo ra hình ảnh lớn nhất đối với khách hàng mục tiêu  để tài trợ. Đổi lại, logo của doanh nghiệp sẽ được xuất hiện trên những bộ trang  phục thi đấu, các bảng ghi thành tích hay các tài liệu tiếp thị. Hình thức thứ ba là sử dụng các sản phẩm khuyến mãi.  Hình thức thứ tư là in logo trên bao bì.  Hình thức thứ năm là doanh nghiệp có thể tạo ra những logo di động bằng cách  dán các logo lên một số phương tiện giao thông phù hợp. Nhờ đó, logo doanh  nghiệp sẽ có cơ hội và tần suất xuất hiện trong xã hội khá cao. Đây chỉ là 5 cách sử dụng logo điển hình để các doanh nghiệp tham khảo. Trên  thực tế, căn cứ đặc thù của sản phẩm hay hoạt động doanh nghiệp, mỗi trường  hợp khác nhau cũng sẽ tạo ra cơ hội sử dụng logo hiệu quả. Tất nhiên, hiệu quả  tới đâu còn tùy thuộc vào mục tiêu và phương thức quảng bá logo và thương hiệu  của chính doanh nghiệp. Theo VNPT  H­D­ 12­20­2006 Đăng ký thương hiệu ở nước ngoài theo cách nào?
  10. Mất "linh hồn", doanh nghiệp "mất mạng" Thương hiệu được ví như "linh hồn" của doanh nghiệp mà bất cứ doanh nghiệp  nào "đánh mất" hoặc bị "cướp mất linh hồn", doanh nghiệp đó coi như mất "mạng".  Những cái tên như bánh phòng tôm Sa Giang, kẹo dừa Bến Tre, cà phê Trung  Nguyên, Petro Vietnam, hay Vinataba... bị chiếm dụng ở nước ngoài không chỉ  những người sở hữu những cái tên đó lo lắng mà cả những doanh nghiệp  kháccũng phải giật mình vì không biết lúc nào đến lượt mình. Giám đốc cơ sở kẹo dừa Bến Tre đã phải sang tận Trung Quốc đòi thương hiệu vì  bị một đối tác "chơi khăm". Trung Nguyên, thương hiệu mới nổi tiếng vài năm gần  đây cũng bị đối tác "chơi xấu" và những nhà lãnh đạo Trung Nguyên mất mấy năm  đi kiện ở Mỹ. Vinataba, thương hiệu thuốc lá có tiếng ở Việt Nam, bị nặng hơn vì có  đến 12 nước chiếm dụng thương hiệu này và chỉ mới có một nước chịu trả lại cho  Vinataba. Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam khuyến cáo đã đến lúc doanh nghiệp Việt  Nam cần nghiêm túc nghĩ đến việc đăng ký thương hiệu ở nước ngoài, vì hội nhập  là cơ hội chiếm dụng tài sản của nhau kể cả những đối tác làm ăn lâu năm cũng  có thể trở thành "đối thủ" của doanh nghiệp. Năm 2006 là cái mốc của những cơ hội chiếm dụng thương hiệu đối với doanh  nghiệp vì đây là năm Việt Nam tham gia hoàn toàn AFTA và sắp bước vào WTO.  Việc "ăn cắp" thương hiệu ở nước ngoài không giới hạn ở hành vi của các đối thủ,  đơn vị kinh doanh mà cả những cá nhân, nhất là những người am hiểu pháp luật  nhằm "kiếm chác" trong thời kỳ hội nhập của những quốc gia còn "chân ướt chân  ráo" như Việt Nam. Theo Cục Sở hữu trí tuệ, hiện nay mới có khoảng 1.000 thương hiệu Việt Nam  được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài so với hàng trăm ngàn thương hiệu được sinh  ra ở Việt Nam. Quả là quá ít để tạo hành lang an toàn cho chính doanh nghiệp và  cho cả nền kinh tế quốc gia. Mất thương hiệu ở nước ngoài không chỉ đơn thuần  doanh nghiệp mất đi tài sản vô hình mà cả nền kinh tế quốc gia cũng bị mất đi giá  trị thương mại. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa vào hơn 50% từ giá trị xuất khẩu.  Xuất khẩu mạnh khi giá trị uy tín và thương hiệu được khẳng định.
  11. Theo công ước Madrid hay Cộng đồng châu Âu? Mất thương hiệu tức là chúng ta sẽ bị mất đi giá trị rất lớn từ xuất khẩu. Những  năm tiếp theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục trông chờ vào giá  trị xuất khẩu nếu xuất khẩu không tăng trưởng thì nền kinh tế khó phát triển như  mong muốn. Ngoài ra, mất thương hiệu hay nhãn hiệu, nguy cơ bị làm hàng nhái  sẽ tăng cao nhất là thông qua các cửa khẩu biên giới. Ông Nguyễn Thành Long, Luật sư của Pham & Associates, cho biết đăng ký  thương hiệu hay nhãn hiệu ở nước ngoài tương đối thuận lợi cho doanh nghiệp và  thương hiệu hay nhãn hiệu được bảo hộ chặt chẽ trong thời gian dài, 10 năm. Có ba cách doanh nghiệp đăng ký bảo hộ: đăng ký trực tiếp, theo nhóm quốc gia,  cộng đồng hoặc theo công ước quốc tế Madrid. Nếu muốn bảo hộ ở một nước, doanh nghiệp trực tiếp hoặc nhờ đại diện thương  mại của mình ở quốc gia đó đăng ký hộ. Với hình thức này, thương hiệu hay nhãn  hiệu chỉ được bảo hộ trên phạm vi quốc gia đó trong khi nếu đăng ký theo nhóm  như cộng đồng châu Âu hoặc theo công ước quốc tế thì việc bảo hộ có phạm vi  rộng hơn. Việt Nam là thành viên của công ước quốc tế Madrid, công ước về bảo hộ quyền  sở hữu trí tuệ và theo nguyên tắc, quyền bảo hộ được áp dụng cho 54 nước thành  viên mà không cần phải đăng ký ở tất cả các quốc gia tham gia công ước. Doanh nghiệp có thể thông qua Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam để được giúp đỡ  đăng ký thương hiệu hoặc nhãn hiệu theo nhóm hoặc theo Công ước Madrid.  Doanh nghiệp không nhất thiết phải áp dụng cùng lúc ba cách đăng ký mà nên  linh hoạt sử dụng nhằm tạo hiệu quả kinh tế cao nhất đồng thời đảm bảo mục tiêu  bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, việc đăng ký theo nhóm không tuân thủ  nguyên tắc như Công ước Madrid, ngược lại tính thống nhất chung lại quan trọng  hơn sự đồng ý của từng quốc gia riêng lẻ. Ví dụ như đăng ký thương hiệu hay nhãn hiệu tại cộng đồng châu Âu theo hệ  thống CTM (Community Trade Mark) với 25 nước thành viên, nếu một trong 25 
  12. nước không chấp nhận bảo hộ thì thương hiệu hay nhãn hiệu đó không được độc  quyền sử dụng ở các nước thành viên còn lại. Những điều cần biết khi đăng ký ở Mỹ Mỹ là quốc gia ít tham gia các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ và không là  thành viên của Manrid vì vậy các doanh nghiệp muốn đăng ký bảo hộ thương hiệu  và nhãn hiệu ở đây phải sử dụng hình thức đăng ký trực tiếp. Nhãn hiệu Cofidec của Việt Nam đang nộp đơn xin bảo hộ ở Mỹ nhưng nhãn hiệu  này đã bị phản đối bởi một công ty có mặt hàng tương tự vì nhãn hiệu sử dụng một  hình ảnh tương tự của công ty Mỹ đã được bảo hộ, đó là hình thoi biểu trưng của  công ty Mỹ mặc dù nội dung bên trong hình thoi hoàn toàn khác nhau không gì  nhầm lẫn. Đây là một trong những trường hợp bị phản đối và theo ông Long của  Pham & Associates việc nhãn hiệu Việt Nam bị phản đối ở Mỹ không phải là hiếm  vì phần nhiều doanh nghiệp không am hiểu qui định đăng ký. Bên cạnh việc không am hiểu, doanh nghiệp dễ bị đối tác "lừa" chiếm đoạt thương  hiệu hoặc nhãn hiệu ở nước ngoài, nhất là khi thực hiện các hợp đồng đại lý. Từ đó, khi đăng ký thương hiệu hay nhãn hiệu ở Mỹ, các doanh nghiệp cần chú ý  đến những vấn đề đến nguyên tắc bảo hộ ở Mỹ: doanh nghiệp đăng ký trước được  ưu tiên bảo hộ, doanh nghiệp sử dụng thương hiệu hay nhãn hiệu trước cũng được  ưu tiên hơn những doanh nghiệp khác. Các trường hợp nhãn hiệu Việt Nam bị  đăng ký ở nước ngoài đòi lại được là nhờ chứng minh thương hiệu hay nhãn hiệu  đã được sử dụng trước. Theo VNPT  H­D­ 12­20­2006 7 Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu Hơn tám năm thực hành xây dựng thương hiệu tại hai tập đoàn lớn là Unilever và  Colgate Palmolive, bài phát biểu về “Chiến lược xây dựng thương hiệu cho doanh  nghiệp VN” của ông Đoàn Sĩ Hiền (chuyên gia tư vấn Công ty AIM) đã để lại nhiều 
  13. ấn tượng tại hội nghị khách hàng các doanh nghiệp vừa và nhỏ do Ngân hàng  Sacombank tổ chức. TTCN trích lược và giới thiệu với bạn đọc. Thực tế, với thuốc nhức đầu, Panadol là một loại thuốc không kê toa với thành  phần paracetamol 500mg. Nhưng cũng với thành phần tương tự Dolodon của ICA  Pharmaceuticals đã không thể cạnh tranh vì không đủ ngân sách để tiếp tục kéo  dài “cuộc chiến” marketing với một đối thủ quá mạnh. Dầu gội đầu X­men thành  công vì khẩu hiệu: là dầu gội dành cho nam giới. Nên nhớ các tập đoàn lừng danh  về dầu gội: Unillever và P&G đã “quên” mất đàn ông cũng có nhu cầu riêng khi  chọn dầu gội đầu và đó là cái hay của X­men. Kinh nghiệm: Tránh đối đầu trực diện những thương hiệu quá mạnh trên thị trường  trong khi doanh nghiệp không đủ tiềm lực tài chính, kỹ năng quản trị thương hiệu  và lực lượng phân phối. Ngoài ra, doanh nghiệp nên xác định đối tượng tiêu dùng  cho sản phẩm của mình nhằm né tránh cạnh tranh và dễ thâm nhập hơn. Bột giặt Daso là một thương hiệu ra đời khá sớm tuy nhiên gần như không tạo  được ấn tượng gì khi vừa là bột giặt vừa là dầu gội, xà phòng tắm, nước rửa chén  để rồi khá “long đong” trong việc tìm khách hàng của mình. Xe Mercedes không có  xe rẻ tiền, bởi vì chủ thương hiệu biết chắc rằng nếu hạ thấp giá trị bằng các đời  xe khác sẽ phá hoại danh tiếng và đẳng cấp của Mercedes. Kinh nghiệm: Thương hiệu cần một đặc trưng, nếu không có đặc trưng sẽ không  có thương hiệu. Không thể có một sản phẩm cho mọi người, điều này sẽ dẫn đến  thương hiệu chẳng là gì và cũng chẳng của ai. Bạn hãy liên tưởng đến thức ăn trên  máy bay, đó là một sản phẩm theo kiểu dễ ăn cho toàn thế giới và vì vậy chẳng ai  ưa thức ăn trên máy bay. Do đó, doanh nghiệp cần phải biết hi sinh để bảo đảm  tính cạnh tranh mạnh mẽ cho thương hiệu. Nhãn hiệu Kiddi giúp trẻ hết biếng ăn. Quả là thương hiệu này có khả năng đó  nhưng chỉ với trẻ biếng ăn do nguyên nhân bệnh lý chứ hoàn toàn bó tay với trẻ  biếng ăn do nguyên nhân tâm lý. Trong khi đó, Colgate “không sâu răng” hoặc  CNN sẵn sàng trả mọi giá để người xem của mình “luôn là người biết trước” (“be  the first to know”).
  14. Kinh nghiệm: Cần tránh những tuyên bố nhưng thực hiện không được triệt để.  Doanh nghiệp cần làm thử nghiệm để bảo đảm một cách chắc chắn rằng thương  hiệu mang lại lợi ích như đã hứa với người tiêu dùng. Không có hệ thống phân phối và tổ chức bán hàng thì không thể biến các cơ hội  do marketing mang lại thành tiền: Ví dụ: bia Laser tung ra quảng cáo với khẩu hiệu  “thử mới tin” nhưng mọi nhà hàng đều bị Heineken và Tiger khóa chặt bằng hợp  đồng độc quyền. Vậy lấy đâu mà thử? Kinh nghiệm: Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống phân phối đi trước một bước  trước khi tung các chiến dịch marketing đồng bộ. Đang chiếm ưu thế về các sản phẩm sữa, có lẽ để phong phú, Vinamilk tung ra  nước tinh khiết đóng chai Vi@ và bị “lọt thỏm” giữa một “rừng” nước tinh khiết. Kinh nghiệm: Doanh nghiệp cần đầu tư vào những lĩnh vực mà đơn vị của mình có  ưu thế về nội lực (là ưu thế bên trong mà đối thủ khó có khả năng theo kịp). Thuốc nhức đầu Dolodon có chất lượng nhưng chỉ không có gì khác biệt so với  Panadol mà phải “chịu chết”. Trong khi đó, Efferalgan cũng là thuốc nhức đầu  nhưng khác biệt vì ở dạng sủi nên “sống” khỏe. Kinh nghiệm: Không có khác biệt có nghĩa là chết. Khi tung một sản phẩm không  có nghĩa bạn “đẻ” ra một lớp người tiêu dùng mới, mà là chiếm lấy người đang  dùng thương hiệu của đối thủ. Phải tạo ra sự khác biệt là lý do để họ phải sử dụng  sản phẩm của mình. “Kem đánh răng P/S muối mới bảo vệ... nướu răng” là điểm khác biệt, nhưng người  tiêu dùng VN phần lớn lại cần bảo vệ răng hơn nướu. Kinh nghiệm: Có khác biệt nhưng phải hiểu người tiêu dùng [i]Nguồn Tuổi Trẻ[/u]  H­D­ 12­20­2006
  15. 4 Kỹ năng giới thiệu sản phẩm Trên thực tế, rất nhiều trường hợp do việc bày hàng hóa thiếu sức lôi cuốn và ít khi   đủ sức thuyết phục để tạo động lực thôi thúc khách hàng đi đến quyết định mua  hàng. Dưới đây là 4 chiến lược giúp bạn tạo ra cách bày hàng có sức hấp dẫn mà   khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. 1. Giới thiệu hàng phù hợp với khách hàng tiềm năng của bạn Một trong những lỗi phổ biến nhất mà mọi người hay mắc phải là khi bàn bạc về  sản phẩm/dịch vụ đưa ra giới thiệu chung, họ thường đưa ra những thông điệp  chung như nhau trong những lần giới thiệu và hy vọng rằng nội dung nào đó sẽ tạo  sức hút đối với khách hàng tiềm năng. Việc bàn bạc lựa chọn sản phẩm giới thiệu  phải phù hợp với từng người, thay đổi để đưa ra những điểm đặc thù và độc đáo  với những khách hàng cụ thể. 2. Tạo ra mối liên hệ giữa sản phẩm/dịch vụ của bạn với khách hàng tiềm năng Trước khi giới thiệu sản phẩm/dịch vụ cho một khách hàng tiềm năng, bạn cần lựa  chọn và chuẩn bị mẫu sản phẩm. Nên nhớ xác định và khuếch trương những lợi  ích của việc sử dụng sản phẩm, chứ không phải là những đặc điểm của sản phẩm.  Cho khách hàng biết rõ cái mà họ sẽ được hưởng khi sử dụng sản phẩm của bạn. 3. Đi vào trọng tâm Trong thời buổi các doanh nhân quá bận rộn nên khó chấp nhận nghe những lời  giới thiệu dài dòng. Cần xác định rõ đâu là những điểm then chốt muốn cho khách  hàng biết. 4. Tạo sự sống động Đa số những cách giới thiệu sản phẩm đều tỏ nhàm chán và thiếu trí tưởng tượng.  Nếu bạn thật sự muốn nổi trội trong vô số sản phẩm được giới thiệu, hãy cố cách  trưng bày và giới thiệu sản phẩm một cách lôi cuốn và đầy sinh lực. Sử dụng giọng 
  16. nói hiệu quả hơn với những âm điệu uyển chuyển. Lỗi chung khi giới thiệu sản  phẩm là sử dụng giọng nói rất giống nhau đối với mọi sản phẩm và giọng điệu đều  đều, không thu hút được sự chú ý. Nguồn Đầu tư  H­D­ 12­20­2006 5 Bài học củng cố thương hiệu Trong khi nhiều thương hiệu hàng đầu thế giới đang lâm vào tình thế khó khăn vì   doanh thu giảm sút thì một số thương hiệu khác lại gặt hái thành công vì biết cách   xây dựng tên tuổi. Sau đây là năm bài học xây dựng thương hiệu từ các công ty kỳ cựu như Procter &  Gamble (P&G) cũng như những tên tuổi mới nổi như iPod của Apple hay  Starbucks. Tấy cả đều quản lý thương hiệu một cách khác biệt so với kiểu làm của  những thập niên trước. 1. Đổi mới P&G rất chú trọng củng cố Tide, thương hiệu bột giặt đứng đầu trong một thời gian  dài ở những thập niên 1960, 1970 và 1980. P&G đã kết hợp công nghệ cao với  chiến lược nghiên cứu thị trường để thúc đẩy tăng trưởng doanh số bán của Tide  thêm 2,6% trong năm ngoái (thị trường bột giặt chỉ có mức tăng trưởng chung chưa  đầy 1%). Bí quyết là việc cho ra đời một "đại gia đình" bột giặt và thuốc tẩy rửa từ sản phẩm  bột giặt nước lạnh Tide Coldwater cho đến dụng cụ tẩy vết bẩn Tide Kick đa năng. Sự đổi mới không phải luôn bắt đầu từ vạch xuất phát. Hãy xem P&G trở thành  chuyên gia trong việc chuyển giao kỹ thuật từ nhãn hiệu này sang nhãn hiệu khác  như thế nào. Bàn chải điện khử vết dơ Tide Stain Brush sử dụng cùng loại cơ chế  như bàn chải đánh răng Crest Spinbrush Pro cùng hãng.
  17. Tương tự, Hãng Gillette cũng sở hữu sản phẩm máy cạo râu được ưa chuộng  M3Power vốn là sự kết hợp của lưỡi dao cạo Gillette, pin Duracell và các phần linh  kiện nhỏ bé của sản phẩm Braun cùng hãng. Mặc dù có giá đắt hơn 50% so với  các sản phẩm cùng tính năng trước đây nhưng M3Power chiếm đến 35% thị phần  dao cạo tại Mỹ trong vòng chỉ có bảy tháng. 2. Nhanh hoặc thua cuộc Khách hàng không chỉ ham thích sự đổi mới, họ đang đòi hỏi có nó nhanh chóng  hơn. Nhà thiết kế túi xách Coach Inc. từng giới thiệu những sản phẩm mới mỗi quí  một lần nhưng giờ đây là mỗi tháng một lần. Trên trang web của hãng này, các  sản phẩm mới được thể hiện ở những vị trí trang trọng nhất, dễ thấy nhất. "Nếu muốn cạnh tranh được, các nhãn hiệu phải luôn vận động. Tính tự mãn  không có chỗ đứng trong thị trường hiện nay" ­ ông Lew Frankfort, giám đốc điều  hành Coach Inc., nhận xét. Theo ông, trong mỗi tháng các sản phẩm mới chiếm  đến 30% lượng hàng bán ra ở các siêu thị hay cửa hiệu tại Mỹ. 3. Không phải tiêu thụ nhiều ở siêu thị hàng đầu là tốt Siêu thị Wal­Mart là khách hàng chủ chốt của bất kỳ sản phẩm tiêu dùng nào ở  Mỹ. Tuy nhiên việc cân bằng doanh số bán với các siêu thị, cửa hiệu khác là điều  quan trọng vì thống kê cho thấy nhãn hiệu nào càng bán được cho Wal­Mart  chừng nào thì càng ít có lãi chừng nấy. Một cuộc nghiên cứu của nhà tư vấn Bain & Co. đối với 38 công ty bán trên 10%  sản phẩm của mình thông qua Wal­Mart cho thấy rất ít công ty duy trì được lợi  nhuận trên mức trung bình. Nguyên nhân nằm phần lớn ở chỗ: người tiêu dùng chú trọng sự thuận tiện bên  cạnh giá cả. Nhiều người có thói quen mua hàng ở những cửa hiệu nhỏ thuận  đường thay vì phải chạy xe đến Wal­Mart. 4. Tận dụng các kênh thông tin Bên cạnh những mẩu quảng cáo 30 giây trên truyền hình rất hiệu quả để một sản 
  18. phẩm ghi vào óc người tiêu dùng thì vẫn còn những hình thức thông tin hữu hiệu  khác như báo chí, đài phát thanh hoặc trang web. Sau khi hãng P&G biết được rằng các khách hàng nữ muốn hiểu rõ hơn về sản  phẩm Tampax, hãng này bắt đầu bớt đi việc quảng cáo trên truyền hình và đẩy  mạnh quảng cáo trên báo đồng thời lập ra một trang web riêng để giới thiệu. Phó giám đốc tiếp thị Ted Woehrle của P&G cho biết rất khó để chuyển tải hết  thông điệp chỉ trong 30 giây ngắn ngủi trên truyền hình nên quảng cáo trên báo và  web là điều tuyệt vời. 5. Tư duy phổ quát Thay vì chỉ định nghĩa về mình thông qua các sản phẩm, P&G đang vươn rộng  cánh tay để trở thành người giải quyết bất kỳ vấn đề gì phát sinh trong mỗi ngôi  nhà. Trong lúc đối thủ về kem đánh răng Colgate­Palmolive tập trung vào các ống  kem thì P&G chiếm lĩnh các thị phần khác "liên quan đến răng miệng" như bàn  chải điện giá rẻ và bộ dụng cụ làm trắng răng Whitestrips. Một thí dụ khác đến từ hãng chế tạo máy tính lừng danh Apple đang "thắng lớn"  với máy chơi nhạc kỹ thuật số iPod nhờ vào sự kết hợp giữa khả năng thiết kế  tuyệt vời và đầu óc tiếp thị. Người tiêu dùng chấp nhận một nhà chế tạo máy vi  tính chuyển sang sản xuất hàng điện tử gia dụng vì Apple đã thành công khi xây  dựng thương hiệu của mình như sự tưởng tượng phong phú và niềm vui trong cuộc  sống. Tương tự, Starbucks đang "ăn nên làm ra" với lợi nhuận trong những ngày nghỉ  tăng trên 31% vì đã biến các quán cà phê của mình không chỉ là nơi để người ta  đến nhấp từng ngụm cà phê mà là một nơi để "kết nối với những người khác hay  một nơi để thoát khỏi những bận rộn của cuộc sống". Mỗi tuần có 30 triệu người  đến với Starbucks. [i]Nguồn TBKTVN[/]  H­D­ 12­20­2006
  19. Xây dựng thương hiệu ­ Vấn đề sống còn thời hội nhập Trong cuộc sống hiện nay, người tiêu dùng biết đến các sản phẩm thông qua việc  quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng, đây là điều mà các doanh nghiệp  trong nước phải quan tâm và đầu tư mạnh nhằm xây dựng một thương hiệu mạnh,  gây ấn tượng tốt cho người tiêu dùng. Chỉ có thương hiệu mạnh thì doanh nghiệp  mới có thể cạnh tranh trong thời buổi kinh tế hội nhập. Chưa quan tâm đến thương hiệu Theo Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), hiện nay Việt Nam có  khoảng 200.000 doanh nghiệp, nhưng mới chỉ khoảng 25% trong số các doanh  nghiệp này có đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Như vậy, còn tới 75% doanh nghiệp vẫn chưa đăng ký để đầu tư xây dựng cho  mình một thương hiệu riêng khi đưa sản phẩm ra thị trường. Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc đăng ký bản  quyền, quảng bá thương hiệu mà còn khai thác các thương hiệu Việt thông qua  cách mua lại thương hiệu. Việt Nam đã gia nhập vào WTO, thương hiệu Việt đang phải đối đầu với nhiều  thương hiệu nổi tiếng trong mọi lĩnh vực của nước ngoài. Các thương hiệu trong  nhóm hàng thức ăn nhanh, thực phẩm tiêu dùng, may mặc thời trang như Pizza  Huts, Nike, Gucci, Adidas… đang ngấp nghé tìm hiểu thị trường để thâm nhập vào  Việt Nam. Tuy nhiên, các thương hiệu này cần phải có một thời gian để chuẩn bị và xây dựng  hệ thống phân phối, đây chính là lợi thế cho các thương hiệu Việt nhanh chóng  đẩy mạnh việc quảng bá các sản phẩm của mình, chiếm vị thế ngay tại “sân nhà”. Chất lượng cao chưa đủ ­ cần có thương hiệu Trong nước đã có rất nhiều thương hiệu mà người tiêu dùng biết đến, nhắc tới  ngành thực phẩm, ăn uống người tiêu dùng nói đến Phở 24, các sản phẩm của 
  20. Vinamilk; hàng may mặc thời trang người tiêu dùng nói đến thương hiệu F­House  của May Phương Đông, Vee Sendy của May Việt Tiến, hàng Veston của May Nhà  Bè… Các doanh nghiệp trong nước đã phải tiêu tốn tiền tỷ để xây dựng cho mình một  thương hiệu mà hiện nay người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến. Nhưng  thực tế còn rất nhiều sản phẩm có chất lượng cao nhưng ít được quảng bá và định  vị thương hiệu khiến cho ít người gọi đúng tên thương hiệu sản phẩm. Đây chính là điểm yếu mà các doanh nghiệp cần phải khắc phục khi tới đây phải  cạnh tranh với nhiều sản phẩm được nhập vào Việt Nam. Việt Nam gia nhập WTO thì việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu là việc sống còn  của doanh nghiệp. Nó sẽ giúp các doanh nghiệp có thể tránh được hàng gian,  hàng giả mang nhãn mác của mình, tạo được lòng tin của người tiêu dùng không  chỉ tại thị trường trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài. Đầu tư cho một thương hiệu không phải là đơn giản, ngoài chi phí nâng cao chất  lượng sản phẩm, còn phải đầu tư vào quảng bá hình ảnh sản phẩm (rất quan  trọng), gây ấn tượng tốt cho người tiêu dùng. Theo Sài Gòn giải phóng  H­D­ 12­20­2006 Thương hiệu rồi mới tới giá cả Theo một điều tra mới nhất của Câu lạc bộ Hàng Việt Nam chất lượng cao, thương  hiệu đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng. Cụ thể, yếu tố thương hiệu xếp ở vị trí thứ nhất ­ chiếm 56%, tăng hơn gấp đôi  năm ngoái (25%). Mức quan tâm và chọn mua vì giá có giảm đi một ít so với số  liệu điều tra năm 2006( khoảng 4%) nhưng vẫn chiếm vị trí thứ hai trong quyết  định chọn mua của người tiêu dùng, tỷ lệ cũng gần bằng yếu tố thương hiệu  (54,6%). (*)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản