Thành cổ Hà Nội

Chia sẻ: hoangdung

Thành cổ Hà Nội là một khái niệm tương đối rộng và tùy theo cách hiểu của mỗi người nó có thể bao gồm những thành phần khác nhau. Chưa có một định nghĩa thống nhất cho cụm từ này. Theo cách hiểu của người viết bài, Thành cổ Hà Nội bao gồm Kinh thành Thăng Long qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Thành cổ Hà Nội

THÀNH CỔ HÀ NỘI
Thành cổ Hà Nội là một khái niệm tương đối rộng và tùy theo cách hiểu của mỗi
người nó có thể bao gồm những thành phần khác nhau. Chưa có một định nghĩa thống
nhất cho cụm từ này. Theo cách hiểu của người viết bài, Thành cổ Hà Nội bao gồm
Kinh thành Thăng Long qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều
Nguyễn.


Hoàng thành Thăng Long từ thế kỷ X đến thế kỷ XV
Mùa thu năm 1010, sau khi công bố Thiên đô chiếu Lý Công Uẩn cùng các quần thần
đã gấp rút xây dựng những công trình cơ bản của Kinh thành Thăng Long. Đến đầu
năm 1011 thì hoàn thành. Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng
theo mô hình Tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh
thành, vòng thành thứ hai là Hoàng Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của
cư dân, lớp thành còn lại là Tử cấm thành hay Cấm thành hay Long Phượng thành là
nơi ở của nhà vua. Các thời sau đều theo cách ấy mà phân chia.

Ngay từ năm 1010, khi mới định đô Thăng Long, Lý Công Uẩn đã khởi công xây dựng
Hoàng Thành và hàng loạt cung điện ở trong Hoàng Thành. Hoàng thành đắp bằng đất,
phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại
Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc. Tuy còn những ý kiến khác nhau, nhưng căn
cứ vào sử liệu và di tích còn lại, có thể xác định cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông
và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã. Cửa Quảng
Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa
Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô
Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay. Những cung điện chính còn thấy trong
sử sách như: điện Càn Nguyên là nơi thiết triều đặt trên núi Nùng tức núi Long Đỗ, hai
bên tả hữu là điện Tập Hiền và điện Giảng Vũ. Bên trái mở cửa Phi Long thông với
cung Nghinh Xuân, bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính Bắc
dựng điện Cao Minh. Thềm các quan chầu vua gọi là Long Trì có hành lang chạy xung
quanh. Đằng sau điện Càn Nguyên là điện Long An và điện Long Thụy làm nơi nhà
vua nghỉ ngơi. Bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng
sau là cung Thúy Hoa là nơi ở của các phi tần.
Sơ đồ tham quan di tích thành cổ Hà Nội

Năm 1029, Lý Thái Tôn xây dựng lại toàn bộ khu cấm thành sau khi nơi đây bị tàn phá
bởi vụ Loạn tam vương. Trên nền cũ điện Càn Nguyên, Lý Thái Tôn cho dựng điện
Thiên An làm nơi thiết triều. Hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và điện Thiên Phúc.
Phía trước điện Diên An là sân Rồng có đặt một quả chuông lớn. Hai bên tả hữu sân
rồng có đặt gác chuông. Phía đông, tây sân Rồng là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ,
phía trước sân rồng là là điện Phụng Tiên, trên Điện có lầu Chính Dương là nơi báo
canh báo khắc. Sau điện Diên An là điện Thiên Khánh hình Bát Giác. Sau điện Thiên
Khánh là điện Trường Xuân. Trên điện Trường Xuân có gác Đồ Long. Từ điện Thiên
Khánh nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng Hoàng
Năm 1293, vua Lý Cao Tôn bắt đầu một đợt xây dựng mới. Cung điện mới được xây ở
phía tây tẩm điện. Bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Chính Nghi, ở
trên xây điện Kính Thiên, thềm gọi là Lệ Giao. ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải
mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng. Đằng sau xây điện Thắng Thọ. Bên trái
xây gác Nhật Kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh dựng hành lang thềm
gọi là Kim Tinh. Bên trái gác Nguyệt Bảo là tòa Lương Thạch, phía tây xây gác Dục
Đường (nhà tắm). Phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng Tiêu. Phía sau dựng
cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư trên ao xây đình Ngoạn Y. Ba mặt đình có trồng hoa
thơm cỏ lạ nước thông với sông. Ngoài ra các cung điện khác cũng được xây dựng liên
tục, không đòi nào không có không mấy năm không có. Mỗi cung điện thường đèu có
tường bao xung quanh và làm cửa thông với cung điện khác. Ngoài cung điện, các vị
vua nhà Lý còn cho xây dựng nhiều công trình văn hóa tín ngưỡng khác để phục vụ
cho vua và hoàng tộc như: đền Quan Thánh, chùa Chân Giáo (nơi vua Lý Huệ Tôn đã tu
hành), đài Chúng Tiên dựng năm 1161 tầng trên lợp ngói bạc, hồ ao làm cảnh cũng
được lập khá nhiều trong Hoàng Thành. Năm 1049, đào hồ Kim Minh vạn tuế, đắp núi
đá cao ba ngọn trên mặt hồ và xây cầu Vũ Phượng đi vào, 10 năm sau lại xây thêm
điện Hồ Thiên bát giác ở đấy. Năm 1051 đào hồ Thụy Thanh, Hồ Ứng Minh. Năm
1098, đào hồ Phượng Liên và xây tại đây điện Sùng Uyên, bên trái lập điện Huy
Dương, đình Lai Phượng bên phải dựng điện Ánh Thiềm, đình Át Vân, phía trước xây
lầu Trường Minh, phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa Nhiều vườn ngự cũng được dựng nên
trong Hoàng Thành. Mùa thu năm 1048, mở luôn 3 vườn ngự: vườn Quỳnh Lâm, vườn
Thắng Cảnh và vườn Xuân Quang. Năm 1065, mở thêm vườn Thượng Lâm. Giữa thế
Kỷ 14 lại dựng một vườn ngự nữa nối liền với hậu cung. Theo sử cũ còn ghi giữa
vườn có đào một cái hồ lớn: "Trong hồ chất đá làm núi, trên bờ hồ trồng thông, trúc
và nhiều thứ kỳ hoa diệu thảo khác thêm vào đấy là chim quý thú lạ. Bốn mặt khai cho
sông nước thông vào, gọi hồ ấy là hồ Lạc Thanh Trì. Về phía tây hồ trồng hai cây
quế, dựng một tòa điện gọi là điện Lạc Thanh. Lại đào các hồ nhỏ khác, bắt người ở
Hải Đông chở nước măn chứa vào hồ ấy, đẻ nuôi các loài hải sản như đồi mồi cá
biển và các loại ba ba. Rồi bắt người Hóa Châu bắt cá sấu thả vào đấy. Lại có hồ
Thanh Ngư dể nuôi cá Thanh Phụ (cá diếc đuôi đỏ vảy biếc)... Lại làm dãy hành lang
ở tây điện thẳng đến cửa Hoàng Phúc, dựng dãy Trường Lang từ gác Nguyên Huyền
đến cửa Đại Triều phía tây

Hoàng thành Thăng Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ
XVIII
Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là
Đông Đô rồi Đông Kinh (1430). Về cơ bản Đông Đô thời Lê không khác nhiều Thăng
Long đời Lý Trần Hồ chỉ có điều cung điện đền đài đã bị phá phách hết cả nhà Lê mới
dần dần sửa chữa xây dựng thêm.




Bản đồ thành Thăng Long thời Lê

Từ năm 1490 cho đến thế kỷ 16 kinh thành mới có nhiều thay đổi. Trong thời gian này
tường hoàng thành cũng như Đại La thành luôn được xây đắp mở rộng thêm ra. Năm
1490, để đề phòng những nạn loạn đảng như Nghi Dân đang đêm trèo tường vào giết
Lê Nhân Tôn ở trong cung, Lê Thánh Tôn cho xây lại Hoàng Thành mở rộng thêm 8
dặm nữa. Công việc xây dựng trong 8 tháng mới xong. Trong Hoàng Thành Lê Thánh
Tôn cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng lâm để nuôi bách thú. Năm
1512, Lê Tương Dực giao Vũ Như Tô đứng ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung
điện nguy nga, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài mà như sử cũ miêu tả là tuy chưa
hoàn thành mà bóng rợp nửa hồ Tây. Năm 1514, Lê Tương Dực mở rộng Hoàng Thành
thêm mấy nghìn trượng (mỗi trượng là 3m60)bao bọc cả điện Tường Quang, Quán
Trấn Vũ và chùa Kim Cổ Thiên Hoa. Từ năm 1516 đén năm 1527 là năm nhà Mạc
cướp ngôi nhà Lê kinh thành Thăng Long chìm trong loạn lạc. Hầu hết các cung điện
kho tàng đền chùa cũng như phường phố bị thiêu đốt tàn phá nhiều lần. Trong nửa
cuối thế kỷ 16, cục diện Nam Bắc triều với một bên là nhà Mạc và một bên là Lê-
Trịnh diễn ra quyết liệt với ưu thế ngày càng thuộc về phe Nam triều. Họ Trịnh lần
lượt chiếm được nhiều tỉnh phía bắc như Ninh Bình, Hà Nam, Bắc Ninh... và đánh đến
tận Thăng Long. Nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành chạy lánh nạn nơi này nơi khác.
Thăng Long ngày một điêu tàn. Đến năm 1585, không chịu nổi kiếp sống lưu vong
trường kỳ như vậy, Mạc Mậu Hợp quyết định trở lại Thăng Long. Một đợt xây dựng
đại quy mô được khởi động. Từ đó về sau cũng không có lần nào Hoàng Thành được
xây dựng quy mô như thế nữa. Năm 1599 Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao
Bằng tiến về tiếp quản Thăng Long. Hoàng Thành được tu sửa trong một tháng để
đón vua Lê ra. Rồi từ ấy trở đi những cung điện mới xây ở đều nằm trong phủ Chúa.
Hoàng Thành bị bỏ hoang phế nhiều.

Thành Hà Nội từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ
XX
Sự chuyển đổi từ Kinh thành Thăng Long sang Tỉnh thành Hà Nội

Năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị đem đại quân 29 vạn
người sang chiếm Thăng Long không tốn một hòn tên mũi đạn. Dựa thế quân Thanh
Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh. Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống đốt trụi
cháy ròng rã một tuần mới hết. Tất cả những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng
Long bị phá sạch. Kinh thành lại một lần nữa ra tro. Đầu năm 1789, Quang Trung
Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang Trung
Quốc, triều Hậu Lê kết thúc, Quang Trung định đô ở Phú Xuân. Thăng Long chỉ còn là
Bắc thành. Năm 1802 sau khi tiêu diệt xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế.
Kinh đô vẫn được đặt ở Phú Xuân. Thăng Long vẫn mang tên gọi là Thăng Long
nhưng chữ "Long" là rồng bị chuyển thành chữ "Long" nghĩa là thịnh vượng ý rằng
nhà vua không còn ở đấy. Đồng thời những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau những
trận đại hủy diệt cuối thế kỉ 18 cũng lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt
vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính
Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi Ngự giá
Bắc thành.
Bản đồ Hà Nội đầu thế kỉ 19

Năm 1805, Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành cũ vì cho rằng đây chỉ còn là
Trấn Bắc thành mà Hoàng Thành Thăng Long thì rộng lớn quá. Gia Long cho xây dựng
thành mới theo kiểu Vauban của Pháp. Về quy mô thì nhỏ hơn thành cũ nhiều. Năm
1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành
tỉnh Hà Nội. Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888 khi nhà Nguyễn chính thức nhượng
hẳn Hà Nội cho Pháp. Người Pháp đổi Hà Nội thành thành phố. Đến khi chiếm xong
toàn Đông Dương họ lại chọn đây là thủ đô của Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp.
Thành Hà Nội bị phá đi hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính cho người Pháp.
Ngoại trừ cửa Bắc và cột cờ những gì còn sót lại của thành Hà Nội đến hôm nay chỉ là
di chỉ khảo cổ và phục dựng.

Tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn

Thành Hà Nội do Gia Long xây dựng cũng làm theo thể thức các tỉnh thành khác và
điều chủ yếu là không được to rộng hơn Phú Xuân. Thành vuông xây theo kiểu
Vauban của Pháp. Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số xung quanh là hào nước
sâu. Bốn bức tường thành tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình
Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường
Hùng Vương ở phía Tây.

Hình:Hanoi-1885. gif
Hình vuông trên bản đồ là Thành Hà Nội thời Nguyễn

Tường thành xây bằng gạch hộp chân thành xây băng đá xanh và đá ong. Tường cao
1trượng 1thước, dày 4 trượng. Thành mở ra 5 cửa là: cửa Đông (tương ứng với phố
cửa Đông bây giờ), cửa Tây (tương ứng với phố Bắc Sơn hiện nay), cửa Bắc (nay vẫn
còn), cửa Tây Nam (tương ứng với chợ Cửa Nam hiện nay), cửa Đông Nam (tương
ứng với đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học bây giờ). Đường vào cửa
xây vòm xuyên qua tường thành dài 23 m. trên mỗi cửa có lầu canh gọi là thú lâu.
Cửa Nam thành Hà Nội sau khi bị người Pháp tấn công

Xung quanh tường thành là một dải đất rộng 6-7m rồi đến một con hào rộng 15-16 m,
sâu 5 m thông với sông Tô Lịch và sông Hồng. Hào lúc nào cũng có nước nhưng
thường chỉ cao khoảng 1 m. Phía ngoài các cổng thành có xây một hàng tường đắp liền
trên bờ hào gọi là Dương mã thành, dài 2trượng 9 thước, cao 7 thước 5 tấc. các Dương
mã thành đều cố một cửa bên gọi là Nhân Môn. Từ ngoài thành đi vào đều phải đi qua
Nhân Môn rồi mới đến cổng thành. Phía trong thành được bố trí như sau:




Ở trung tâm thành là điện Kính Thiên được xây dựng từ thời Lê trên núi Nùng. Điện
dựng trên những cột gỗ lim lớn người ôm không xuể. Thềm điện có hai đôi rồng đá
rất đẹp cũng từ thời Lê. Sau điện này bị người Pháp phá hủy và xây trên nền cũ tòa
nhà Con Rồng để làm trụ sở pháo binh Pháp. Sau năm 1954 nhà con Rồng lại trở thành
trụ sở của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đây cũng chính là nơi
diễn ra cuộc họp Bộ chính trị mở rộng ngày 21/3/1975 hạ quyết tâm giải phóng miền
Nam trong hai năm 75-76.




Phía đông thành là nhiệm sở của Tổng trấn Bắc thành Phía tây là kho thóc, kho tiền, và
dinh bố chính là viên quan phụ trách những kho ấy. Năm 1812 dựng Cột cờ Hà Nộiở
phía nam thành Năm 1835, vì cho răng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế, Minh
Mạng cho xén bớt 1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5 m Năm 1848, vua
Tự Đức cho tháo dỡ hết những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế.
"Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng
tịch dương"-những di tích còn lại của Thành cổ
Hà Nội
Cột cờ Hà Nội

Cột cờ Hà Nội được xây dựng cùng thời với thành Hà Nội dưới triều nhà Nguyễn
(vào năm 1812). Kiến trúc cột cờ bao gồm ba tầng đế và một thân cột.

Miêu tả
Các tầng đế hình chóp vuông cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch.

• Tầng 1: Mỗi chiều 42,5 m; cao 3,1 m
• Tầng 2: Mỗi chiều 27 m; cao 3,7 m; có 4 cửa, trừ cửa Bắc, 3 cửa còn lại đều
có đắp 2 chữ tuỳ theo từng hướng:
o Cửa Đông - Nghênh Húc (đón nắng ban mai)
o Cửa Nam - Hướng Minh (hướng về ánh sáng)
o Cửa Tây - Hồi Quang (ánh sáng phản hồi)
• Tầng 3: Mỗi chiều 12,8 m; cao 5,1 m

Từ tầng 1 đến tầng 3 đều có cầu thang xoắn dẫn lên.

Trên tầng 3 là thân cột Cờ hình trụ có 8 cạnh thon dần lên phía trên, mỗi cạnh 2,13 m
với thân cao 18,2 m. Trụ hình thang xoáy trôn ốc gồm 54 bậc; được rọi sáng (và thông
hơi) bằng 39 ô cửa sổ hình hoa thị và 6 ô cửa sổ hình dẻ quạt. Những ô cửa này được
đặt dọc các cạnh, mỗi cạnh có tới 5 hoặc 6 cửa sổ.

Đỉnh cột cờ được cấu tạo thành một cái lầu hình bát giác, cao 3,3 m có 8 cửa sổ tương
ứng 8 cạnh. Giữa lầu là một trụ tròn, đường kính 0,4 m và cao đến đỉnh lầu, là chỗ để
cắm cán cờ (cao 8 m).

Toàn phần xây từ đế đến trụ này cao 33,4 m gồm 3 tầng đế cao 12 m, cột cao 18,2 m,
lầu 3,3 m. Nếu kể cả trụ treo cờ thì trên 40 m.

Hiện Cột cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
(trước đây là Bảo tàng Quân đội), trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình.

Đoan Môn

Đoan Môn là cửa vòm cuốn dẫn vào điện Kính Thiên. Đoan Môn gồm năm cổng xây
bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triều Nguyễn Gia Long phá,
xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng sững).
Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đã tìm
thấy “lối xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý. Nếu khai quật tiếp,
sẽ có thể thấy cả con đường từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên ở phía Bắc và cửa
Tây Nam thành Hà Nội.

Điện Kính Thiên và khu A thành Hoàng Diệu

Rồng đá điện Kính Thiên

Điện Kính Thiên, vốn là trung tâm của Hoàng Thành thời Lê rồi tỉnh thành Hà Nội thời
Nguyễn, bị người Pháp phá hủy khi họ chiếm được thành Hà Nội. Thềm điện gồm 9
bậc, được ngăn thành ba lối lên. Rồng đá điện Kính Thiên (ảnh) là một di sản kiến
trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ. Được chạm
trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, đầu to, mắt tròn lồi, sừng dài có nhánh, bờm
lượn ra sau, miệng há nhỏ, ngậm hạt ngọc.

Thân rồng uốn lượn mềm mại thành nhiều vòng cung, nhỏ dần về phía nền điện, trên
lưng có đường vây dài nhấp nhô như vân mây, tia lửa. Hai thành bậc ở hai bên thềm
điện là hai khối đá chạy dài, chính là hai con rồng được cách điệu hoá. Nền điện Kính
Thiên và đôi rồng chầu đã phần nào phản ánh được quy mô hoành tráng của điện Kính
Thiên xưa.

Nhà Con Rồng

Nhà D67

Từ Tổng hành dinh - Nhà D67 Khu A Bộ quốc phòng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung
ương đã đưa ra những quyết định lịch sử đánh dấu những mốc son của cách mạng
Việt Nam. Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 Cuộc Tổng tiến công năm 1972
Đánh thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh cao là 12 ngày đêm cuối năm 1972. Tổng
tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh .

Nhà D67

Hầm ngầm D67
Phòng họp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong hầm ngầm D67

Khu hầm lớn nhất nằm dưới khoảng sân nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67 dành
cho Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương gọi là hầm D67.

Hai đường dẫn xuống hầm bắt nguồn từ hai phòng làm việc của tướng Giáp và tướng
Dũng trong nhà D67, đường hầm rộng 1, 2m, có 45 bậc thang bêtông, trát đá granite. Đi
sâu xuống 10m là hệ thống văn phòng của tổng hành dinh ngầm gồm bốn phòng rộng
50m2, chung một hành lang bên phải.

Phòng họp hình chữ nhật toàn khối, nền lát gạch, có một cửa ra vào. Các phòng bên
dành cho ban thư ký và phòng để máy móc, điện đài. Cuối cùng là phòng chứa hệ
thống thông hơi, lọc khí đồ sộ chạy điện được chế tạo tại Liên Xô. Các lối lên xuống
của hai đường hầm và cửa ra vào có tới sáu cửa thép sơn xanh dày 12cm, có nhiều tay
nắm và hệ thống gioăng cao su có thể ngăn nước và khí độc.

Toàn bộ hệ thống hầm ngầm đều liên hoàn đường điện máy phát. Hệ thống thông tin,
liên lạc, hậu cần, lương thực… đều đầy đủ. Đầu ra của hai cửa hầm này dẫn lên
phòng làm việc của hai đại tướng tại nhà con rồng. Ngoài hệ thống hầm ngầm này,
khu A thành cổ còn nhiều hệ thống hầm ngầm khác. Riêng những bộ phận đã được
bàn giao cho ban quản lý thành cổ là bốn khu hầm.

Ngoài hầm của Bộ Chính trị vừa nói còn có hầm trước cửa nhà “con rồng” (dưới nền
điện Kính Thiên), hầm gần khu làm việc của Cục Tác chiến và hầm của Ban cơ yếu
có qui mô nhỏ hẹp, đơn giản hơn nhưng cũng chống được bom và tên lửa hạng nặng.

Thượng tướng Lê Ngọc Hiền cho biết: những năm 1965- 1966 Mỹ bắn phá miền Bắc,
Bộ Tổng tham mưu lập kế hoạch bảo đảm an toàn cho cơ quan đầu não tại thành cổ
với ba mức: báo động, xuống hầm và di tản. Hệ thống hầm ngầm sẽ được sử dụng ở
mức báo động 2.

Ông kể: Nhiệm vụ thiết kế, xây dựng nhà, hầm được giao cho Bộ tư lệnh Công binh.
Một số bộ phận như máy thông hơi, lọc khí, cửa sắt, điện đài… được nhập khẩu từ
Liên Xô. Khoảng 300 cán bộ từ nhiều trung đoàn chuyên môn được huy động đào, xây
hầm.

Hằng đêm, vào giờ giới nghiêm, thắp điện làm việc trong sự canh phòng cẩn mật. Hệ
thống nhà, hầm được xây dựng sáu tháng thì hoàn tất. Bộ Chính trị, Quân ủy trung
ương dời địa điểm làm việc từ nhà “con rồng” xuống nhà D67. Thời kỳ Mỹ ném bom
thỉnh thoảng Bộ Chính trị mới phải làm việc dưới hầm ngầm Tại hầm ngầm dành
riêng cho Cục Tác chiến trong thành cổ Hà Nội hôm nay vẫn còn rất nhiều máy điện
thoại thời chiến.

Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu-"Nơi trung tâm của trung tâm"

Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thành Đại La dưới
thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà Trần, tiếp theo là một
phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là một phần của trung tâm tòa thành
tỉnh Hà Nội thế kỷ 19.

Giáo sư Nguyễn Thừa Hỷ nói riêng về bề mặt Lý-Trần ở tầng hai có rất nhiều hiện
vật được phát hiện, như những nền cung điện, có kích thước một chiều hơn 60 mét,
chiều kia 27 mét. Có 40 chân cột, rồi cả giếng cổ, gạch, phù điêu. "Có tượng rồng,
phượng mà được các nhà nghiên cứu mỹ thuật khẳng định là mô típ hoa văn thời Lý.
Rồi đến những tầng lớp bên trên, thời Lê, Nguyễn đều tìm được nhiều hiện vật. Tổng
cộng là ba triệu hiện vật. "




Khu 18 Hoàng Diệu là hình vuông màu đỏ trên bản đồ

Khi tiến hành khai quật ở hố B16 (400m2) thuộc địa điểm dự kiến xây dựng toà nhà
Quốc hội mới, nhà khảo cổ học Bùi Vinh (Viện khảo cổ học) đã phát hiện một toà lâu
đài 3 tầng lầu, 4 mái, dạng hình tháp toạ lạc trên một diện tích xấp xỉ 1000m2 (hai
chiều ngang dọc, mỗi chiều dài trên 30m) thuộc hệ thống các cung điện Thăng Long
xưa.

Theo đánh giá của ông Bùi Vinh thì đây là công trình đầu tiên, có tầm cỡ và giá trị nhất
được tìm thấy từ trước đến nay ở VN.

Việc phát hiện ra lâu đài này được coi là bằng chứng rõ ràng nhất về sự hoành tráng
của kinh thành Thăng Long từ thời Lý-Trần.

Mặc dù trước đây các nhà khảo cổ đã đoán định được di chỉ này nằm trong khu vực
hoàng thành, thậm chí là cấm thành Thăng Long suốt từ thời Lý, Trần đến Lê nhưng
do tiến hành khai quật quá nhanh khiến cho nhiều tầng lớp kiến trúc không thể hiện
rõ.

Giai đoạn đầu, tại các hố A1, A1MR, A2, A2MR, A3, A4, A9, A10, A11, A12, A13
trong các lớp đất ở độ sâu trung bình trên dưới – 1, 50m so với “cốt” cao độ của mặt
bậc thềm đá Đoan Môn, (được lấy làm “cốt” chuẩn 0. 00 cho cả khu vực khai quật)
xuất lộ những ô sỏi trộn lẫn đất sét. Sỏi ở đây khá thống nhất về kích thước, chỉ
khoảng bằng hoặc to hơn đầu ngón chân cái, chứng tỏ đã được chọn lọc. Hiện vật thu
được trong các lớp đất này được xác định có niên đại thời Lý. Các ô sỏi này thường có
hình gần vuông, mỗi cạnh khoảng 1, 30m và ăn sâu xuống các lớp dưới, dày trên dưới
1, 00m. Điều này chứng tỏ đây là các hố đào có chủ đích để đầm - nhồi sỏi cuộn với
đất sét. Đáy của các hố sỏi này nằm trong lớp đất chứa các hiện vật được xác định có
niên đại Đinh - Tiền Lê.




Rồng trang trí nền Điện Kính Thiên

Các ô sỏi nói trên xuất hiện trong các hố từ A1 đến A18. Tổng cộng có tất cả 40 ô sỏi,
xếp thành 04 hàng dọc (hai hàng phía đông có 10 ô trong một hàng, hai hàng phía tây
mỗi hàng chỉ có 09 ô). Chúng tôi cho rằng đây chính lá các hố sỏi gia cố dưới các chân
tảng đá kê dưới chân các cột. Nói chính xác, theo ngôn ngữ kiến trúc – xây dựng, đó là
các móng trụ. Kết quả đo đạc đã giúp khẳng định đây là phế tích của một kiến trúc có
bộ khung chịu lực bằng gỗ có 04 hàng chân cột. Khoảng cách giữa các cột Quân với
các cột Cái là khoảng 3, 00m. Khoảng cách giữa các cột Cái là khoảng 6, 00m. Từ Bắc
xuống Nam đã xác định được 10 vì, nghĩa là ít nhất kiến trúc này có 09 gian. (Chúng tôi
chưa thể khẳng định về số gian bởi dấu vết của kiến trúc này còn phát triển kéo dài
về phía Bắc, ngoài khu vực khai quật).

Bước gian (khoảng cách giữa hai vì) của kiến trúc này rất lớn, khoảng 5, 80m – 6,
00m. Trên thực tế, bước gian của các di tích kiến trúc bằng gỗ cổ truyền hiện còn
đứng vững trên mặt đất thường nhỏ hơn. Tuy nhiên, theo PGS. Trần Lâm Biền hai di
tích chùa Thầy (Hà Tây) và đền Lê (Thanh Hoá) cũng có bước gian 6, 00m.

Chưa lý giải được nguyên nhân của sự chênh lệch về số lượng các móng trụ của các
hàng móng trụ phía Tây nhưng theo chúng tôi ở đây chắc chắn đã có 04 móng trụ sỏi
gia cố cho 01 chân tảng cột Cái và 03 chân tảng cột Quân. Khoảng cách giữa hai hàng
móng trụ sỏi cuối cùng chỉ là 4, 1m chứng tỏ đây chính là không gian của chái phía
Nam.
Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía Đông khoảng 4, 5m và chạy
dài suốt chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” nói trên còn thấy xuất lộ một cống thoát
nước được xây-xếp bằng gạch (hoàn toàn không thấy dấu vết của chất kết dính dạng
vôi vữa), lòng cống rộng 0, 17m – sâu 0, 20m. Ngoài lớp gạch đặt nằm làm đáy, hai
bên thành của rãnh thoát nước này được xếp nghiêng hai lớp gạch. Kích thước trung
bình của gạch ở đây là 0, 36m x 0, 20m x 0, 05m). Về phía Đông, sát cạnh cống thoát
nước này là một thềm gạch rộng 0, 76m chạy dọc suốt chiều dài đường cống. Gạch
lát thềm là gạch vuông 0, 38m x 0, 38m x 0, 07m. Có chỗ còn lát lẫn cả gạch in hoa.

Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía tây khoảng 2, 5m cũng xuất
lộ một cống thoát nước khác. Dấu vết của cống phía tây bị đứt quãng ở góc Tây Nam
“toà nhà nhiều gian”, khu vực bị mất 04 móng trụ gia cố chân tảng. Gạch xây-xếp
cống thoát nước này là loại chuyên dụng, được sản xuất chỉ để dùng làm cống-rãnh.
Các viên dùng lát đáy có mặt cắt hình thang cân (cạnh ngắn 0, 16m - cạnh dài 0, 22m -
dầy 0, 08). Những viên dựng hai bên thành có hình bình hành (cạnh ngắn 0, 07m, cạnh
dài 2, 44m). Với hình dáng đặc biệt như vậy nên chỉ cần đào rãnh, đặt các viên gạch
chuyên dụng này xuống là thành cống (đáy rộng 0, 22m - miệng rộng 0, 32m – sâu 0,
30m).

Cách tim của các hố sỏi gia cố chân tảng cột Quân phía nam khoảng 4, 5m lại cũng
xuất lộ một đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng tương tự. Các đoạn cống xây
xếp bằng gạch chuyên dụng phía tây và phía nam “toà nhà nhiều gian” nếu còn nguyên
vẹn sẽ “bắt” vuông góc chái Tây Nam.




Tượng đầu chim phượng tìm thấy tại hố A2

Theo chúng tôi, các đường cống này chính là các rãnh thoát nước mưa của “toà nhà
nhiều gian”. Các cống này đều không có nắp để có thể hứng nước mưa rơi thẳng
xuống từ hàng ngói lợp cuối cùng của mái (dân gian thường gọi là giọt gianh). Nghĩa là
các rãnh thoát nước mưa này chính là giới hạn của mặt bằng mái. Nói cách khác, số đo
giữa các rãnh thoát nước này cho biết về chiều rộng và chiều dài của công trình kiến
trúc. Khoảng cách từ tim rãnh thoát nước phía Tây đến tim rãnh thoát nước phía Đông
là 17, 65m. Đó chính là kích thước chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” này. Chiều dài
của kiến trúc này hiện chưa khẳng định được. Nhưng nếu giả định “toà nhà nhiều
gian” có 09 gian thì kích thước này sẽ là khoảng 67m.

Theo số đo, phế tích này cho thấy một công trình kiến trúc to lớn theo đúng nghĩa đen.
Tuy nhiên chưa thể xác định công năng của kiến trúc này. Chỉ biết rằng “toà nhà nhiều
gian” này chạy dài theo trục Bắc – Nam, mở cửa ra cả hai hướng Đông và Tây.
Về phía Tây của toà nhà nhiều gian, cách tim các móng trụ sỏi gia cố hàng chân tảng
cột Quân phía tây 4, 90m, đã tìm thấy những móng trụ gia cố chân tảng khác. Vật liệu
gia cố có phần đa dạng hơn, ngoài sỏi (tương tự như sỏi ở các hố đã nêu trên) còn có
cả ngói vỡ vụn, được nhồi đầm theo chu kỳ 1 lớp sỏi lại 1 lớp ngói vụn. Hình dạng
của các hố đào cũng khác, có hố tròn (đường kính từ 1, 10m đến 1, 30m), có hố vuông
(1, 20m x 1, 20m). Bố cục của các móng trụ chân tảng này khá đặc biệt: 06 trụ móng
tròn quây quanh một số trụ móng ở chính giữa. Khoảng cách trung bình giữa tim của
các móng trụ tròn (làm thành một hình lục giác gần đều) là khoảng 1, 30m. Tim móng
trụ vuông trùng với tâm của đường tròn ngoại tiếp hình lục giác, cách tim các móng
trụ tròn một khoảng 1, 30m

Các cụm móng trụ gia cố chân tảng này trải dài suốt mặt phía tây của toà nhà nhiều
gian. Khoảng cách giữa các cụm (đếm được tất cả 11 cụm), không thật đều, xê xích
từ 8, 00m đến 12, 00m. Chúng tôi cho rằng một cụm móng trụ gia cố chân tảng như
vậy là phế tích của một kiểu lầu lục giác nhỏ, được dựng nhằm phục vụ nhu cầu
thưởng ngoạn.

Theo GS. Trần Quốc Vượng, Việt Sử lược có ghi nhận về loại hình kiến trúc này, gọi
là các Trà đình. Trong các hố A19, A20, A20MR và A21 cũng xuất lộ nhiều móng trụ
sỏi.




Gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo (1507) tìm thấy tại hố B1

Ngay gần chái phía Nam của toà nhà nhiều gian thuộc phạm vi hố A19 có một số
móng chân tảng nhưng kết quả đo đạc không xác định được thật rõ ràng về kiến trúc
từng tồn tại ở đây. Phía Bắc hố A20 xuất lộ hai hàng móng trụ sỏi gia cố, mỗi hàng 05
móng trụ, khoảng cách giữa tim hai hàng là 3, 40m. Hiện trạng và số đo cho phép giả
định đây là một kiến trúc có hướng chạy dài theo trục Đông - Tây (vuông góc với toà
nhà nhiều gian). Số đo bước gian đo được của kiến trúc này theo chiều từ Đông sang
Tây là: 3, 30m - 5, 45m - 5, 30m. Các khoảng cách khác chưa khẳng định được vì một
số móng trụ sỏi đã bị mất và vì kiến trúc này còn tiếp tục kéo dài về phía Đông, ra
ngoài khu vực khai quật. Theo chúng tôi, đây có lẽ là phế tích của một toà nhà có 3
gian hai chái.

Ở phía Nam hố A20 đã xuất lộ một cụm phế tích rõ ràng hơn.

Khác với các phế tích vừa mô tả, cụm phế tích này còn cả chân tảng đá đặt nguyên vị
trí (in situ) trên hố gia cố. Thực tế này đã khẳng định chính xác về công năng của các
hố sỏi. Hố gia cố chân tảng ở đây hình vuông (1, 30m x 1, 30m). Vật liệu gia cố hỗn
hợp cả sỏi nhỏ, gạch, đá vụn. Tất cả còn 09 chân tảng, xếp hành 04 hàng. Theo trục
Đông - Tây, các chân tảng cách đều nhau một khoảng 5, 75m.

Các chân tảng đều được làm bằng sa thạch (grès) màu xám. Mặt chân tảng chạm cánh
sen mang phong cách nghệ thuật Lý. Đường kính trong của vành hoa sen này là 0, 49m.
Trên mặt nhiều chân tảng còn rất rõ dấu vết cho biết cột gỗ dựng trên đó có đường
kính 0, 43m. Tuy nhiên ở vị trí sẽ đặt xà ngưỡng, mặt tảng để trơn, không chạm cánh
sen. Nối dài hai bên (đông, tây) một số chân tảng cũng còn giữ nguyên một số viên
gạch (0, 38m x 0, 15m x 0, 11m) của hàng gạch đỡ dưới xà ngưỡng. Với dấu vết của
các xà ngưỡng này, chúng tôi cho rằng đây là hai kiến trúc dạng hành lang, chạy dài
theo Đông - Tây. Đặc biệt, cụm phế tích này còn giữ nguyên vẹn một số đoạn thềm
hiên lát gạch ở phía ngoài xà ngưỡng, rộng trên dưới 1, 00m tính từ tim chân tảng.
Thềm gạch này được xây xếp bởi 8 hàng gạch (0, 39m x 0, 20m x 0, 05m) cao hơn
mặt sân 0, 36m. Sân gạch chạy giữa hai hành lang này được lát gạch vuông (0, 38m x
0, 38m x 0, 06m).

Theo các nhận định ban đầu cho rằng các phế tích kiến trúc ở phía Bắc khu A là của
một tổ hợp kiến trúc có liên quan mật thiết với nhau, bao gồm: một tòa nhà nhiều
gian có chiều rộng 17, 65m, chạy dài ít nhất 09 gian (khoảng 67m) và một dãy các lầu
lục giác. Điều đáng quan tâm là sự liên hệ, tiếp nối giữa các kiến trúc này. Hiện
trường còn rất rõ một số mảng nền lát gạch vuông (0, 38m x 0, 38m x 0, 08m), nối
liền từ mép rãnh thoát nước phía Tây tòa nhà nhiều gian với các lầu lục giác.

Chiều rộng của nền gạch này đo được 2, 60m. Nhiều viên gạch vuông của nền gạch
nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0, 39m x 0, 18m x 0, 06m)
xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.




Gạch làm bằng đất nung trang trí hoa cúc

Căn cứ vào dấu vết của nền lát gạch vuông này, chúng tôi cho rằng tòa nhà nhiều gian
và các lầu lục giác có cùng một niên đại khởi dựng.
Về niên đại: Để định niên đại cho các dấu tích kiến trúc đã xác định ở khu A, chúng tôi
dùng phương án đối chiếu và so sánh tổng hợp, kết hợp với việc phân tích địa tầng.

Trước hết chúng tôi tập trung vào các trụ móng sỏi có chuẩn niên đại tương đối. Như
đã trình bày, ở khu A20 còn có 8 trụ móng sỏi còn nguyên chân tảng đá xếp tại chỗ.
Các chân tảng đều bằng đá cát, các cánh sen thon thả, trau chuốt, đẹp tương tự như
chân tảng đá hoa sen thời Lý ở tháp Tường Long (Hải Phòng) năm 1057, tháp Chương
Sơn (Nam Định)... Chiều rộng của nền gạch này đo được 2, 60m. Nhiều viên gạch
vuông của nền gạch nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0,
39m x 0, 18m x 0, 06m) xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.

Căn cứ vào dấu vết của nền lát gạch vuông này, chúng tôi cho rằng tòa nhà nhiều gian
và các lầu lục giác có cùng một niên đại khởi dựng.

Về niên đại: Để định niên đại cho các dấu tích kiến trúc đã xác định ở khu A, chúng tôi
dùng phương án đối chiếu và so sánh tổng hợp, kết hợp với việc phân tích địa tầng.

Trước hết chúng tôi tập trung vào các trụ móng sỏi có chuẩn niên đại tương đối. Như
đã trình bày, ở khu A20 còn có 8 trụ móng sỏi còn nguyên chân tảng đá xếp tại chỗ.
Các chân tảng đều bằng đá cát, các cánh sen thon thả, trau chuốt, đẹp tương tự như
chân tảng đá hoa sen thời Lý ở tháp Tường Long (Hải Phòng) năm 1057, tháp Chương
Sơn (Nam Định)... Chiều rộng của nền gạch này đo được 2, 60m. Nhiều viên gạch
vuông của nền gạch nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0,
39m x 0, 18m x 0, 06m) xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.

Căn cứ vào dấu vết của nền lát gạch vuông này, chúng tôi cho rằng tòa nhà nhiều gian
và các lầu lục giác có cùng một niên đại khởi dựng.

Về niên đại: Để định niên đại cho các dấu tích kiến trúc đã xác định ở khu A, chúng tôi
dùng phương án đối chiếu và so sánh tổng hợp, kết hợp với việc phân tích địa tầng.

Trước hết chúng tôi tập trung vào các trụ móng sỏi có chuẩn niên đại tương đối. Như
đã trình bày, ở khu A20 còn có 8 trụ móng sỏi còn nguyên chân tảng đá xếp tại chỗ.
Các chân tảng đều bằng đá cát, các cánh sen thon thả, trau chuốt, đẹp tương tự như
chân tảng đá hoa sen thời Lý ở tháp Tường Long (Hải Phòng) năm 1057, tháp Chương
Sơn (Nam Định)... Đồng thời tại khu vực hố A20 có khá nhiều các di vật lá đề và gốm
sứ thời Lý. Các loại gạch có thềm hiên nhà đều còn nguyên vẹn và dáng hình, sắc màu
đều giống hệt như các viên gạch xây các tháp Lý vừa dẫn. Từ các dẫn liệu trên đây
chúng tôi tin rằng đây là dấu tích kiến trúc của thời Lý. Niên đại này được củng cố khi
so sánh mặt bằng của hai kiến trúc này là tương đương với địa tầng chuẩn Lý - Trần
ở Đoan Môn đều ở độ sâu khoảng 2m. Khi đó có các móng trụ có niên đại tương đối ta
có thể so sánh tìm hiểu niên đại của các móng trụ khác. Ta sẽ thấy, móng trụ sỏi ở
kiến trúc nhiều gian, ở lầu lục giác giống hệt về kỹ thuật, vật liệu, kích thước với
các trụ móng sỏi Lý ở khu A20.
Về địa tầng các trụ móng đó cùng độ sâu 1, 80m - 2, 20m với các kiến trúc ở A20, tức
là đều nằm trong khoảng niên đại khoảng thời Lý.




Gạch Đại Việt Quốc quân thành chuyên thế kỷ 10 khai quật được tại hố A1 18 Hoàng
Diệu




Một số sưu tập đồ gốm, sứ trong Thành cổ Hà Nội

Hơn nữa xét về mặt kỹ thuật xây dựng, các móng trụ ở đây cũng đều thuộc kỹ thuật
của thời Lý và thời Trần. Trong thời Lý, kỹ thuật gia cố sỏi đặc biệt thấy rõ ở chùa
Lạng (Hưng Yên), tháp Chương Sơn (Nam Định), tháp Phổ Minh (Nam Định).

Các trụ móng sỏi ở thời Lý thường được gia cố rất chặt chẽ. Điều này khác với các
trụ móng sỏi thời muộn hơn (có thể là thời Lê), có gia cố sỏi nhưng sơ sài hơn rất
nhiều và ở độ sâu cao hơn. Nói cách khác các trụ móng sỏi Lê nằm ở mặt bằng cao
hơn mặt bằng Lý - Trần.

Hơn nữa, như đã nói trên, phủ trên mặt bằng của khu vực của các trụ móng thời Lý là
một lớp di vật có niên đại Lý nên có thế tin rằng hầu hết các trụ móng ở đây đều
thuộc thời Lý.
Điều này còn được khẳng định thêm khi phát hiện một hồ nước cổ hình chữ nhật phía
Nam khu kiến trúc nhiều gian bị lấp đầy vật liệu Lý, Trần. Điều này chứng tỏ hồ
nước này đã bị lấp trong thời Trần. Hồ nước này đã phá vào móng kiến trúc lầu lục
giác và một phần móng trụ của 'kiến trúc nhiều gian . Chúng tôi cho rằng hồ này được
đào vào đầu thời Trần và bỏ đi vào khoảng cuối thời Trần. Do đó ta cũng thấy các trụ
móng sỏi đã xuất lộ ở cùng mặt bằng đều thuộc thời Lý.




Thạp gốm hoa nâu thế kỷ 13-14 trong số các hiện vật gốm, sứ của Thành cổ Hà Nội

Kiến trúc cổ truyền Việt là các công trình có hệ chịu lực bằng khung gỗ, với cấu kiện
cơ bản là hệ thống cột. Vì vậy, người Việt chỉ chú trọng gia cố nền mà không cần
đến móng. Sức nặng của công trình được phân tán qua hệ cột nên chân các cột đá
được gia cố bằng các chân tảng đá có kích thước lớn gấp nhiều lần đường kính cột.

Hiện trạng khảo cổ học (tầng văn hoá, hiện vật) và kết quả khảo sát địa chất khu vực
này cho phép khẳng định có một dòng chảy cổ (theo hướng Bắc - Nam) ở phía Tây các
phế tích nói trên. Nền đất tự nhiên chịu tải kém nên các công trình kiến trúc ở đây đều
có hệ thống hố gia cố chân tảng. Đây là một thành tựu, một tiến bộ kỹ thuật của
người Việt trong xây dựng. Với khảo cổ học kiến trúc (hay khảo cổ học đô thị), các
phế tích nói trên còn cung cấp những hiểu biết mới, có tính chất lý thuyết về việc gia
cố chân tảng, về cách thức xác định kích thước - quy mô của một kiến trúc qua các
dấu vết của phế tích. Kỹ thuật này đã được thấy ở cố đô Hoa Lư thời Đinh - Lê. Ở kỹ
thuật xây trụ móng được thực hiện bằng các móng bè bằng gỗ lim cao 5 lớp kết hợp
với lớp móng trụ đá ở bên trên. Đến thời Lý và thời Trần, kỹ thuật này bây giờ xử lý
hoàn toàn bằng sỏi và gạch vụn, sành vụn. Móng trụ bằng sỏi thời Lý và thời Trần có
quy mô và chắc chắn nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.

Các phế tích kiến trúc ở khu A còn cần được nghiên cứu kỹ hơn. Kiến giải của chúng
tôi về một số phế tích chỉ là những nhận định ban đầu. Tuy chưa thể khẳng định về
quy mô và công năng của tất cả các công trình nhưng rõ ràng các phế tích này cho thấy
một quần thể kiến trúc toà ngang dãy dọc khá phong phú. Dung mạo của một bộ phận
Hoàng Thành Thăng Long xưa đã hiển hiện qua dấu vết vật chất chứ không chỉ là hình
ảnh của sách vở, chữ nghĩa.
Cùng những phát hiện quan trọng về các dấu tích kiến trúc, một số lượng lớn đồ gốm
sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong Hoàng cung qua nhiều thời kỳ cũng được
tìm thấy. Những khám phá này đã thực sự mở ra một cánh cửa mới cho việc nghiên
cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong Hoàng cung Thăng Long qua các triều đại.

[sửa] Hậu Lâu




Hậu Lâu

Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc lâu) là một toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc điện Kính
Thiên là hành cung của thành cổ Hà Nội. Tuy ở sau hành cung nhưng lại là phía bắc,
xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên bình phía bắc hành cung, nên mới có tên là Tĩnh Bắc
lâu và còn có tên là Hậu lâu (lầu phía sau), hoặc là lầu Công chúa do cho rằng đây là
nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống vua Nguyễn ra ngự giá Bắc thành.

[sửa] Cửa Bắc




Cửa Bắc nhìn từ bên ngoài




Cửa Bắc bên trong

Tên Hán Việt là Bắc Môn là một trong năm cổng của thành Hà Nội thời Nguyễn. Khi
Pháp phá thành Hà Nội chúng giữ lại cửa Bắc vì nơi đây còn hai vết đại bác do pháo
thuyền Pháp bắn từ sông Hồng năm 1882 khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Ngày
nay trên cổng thành là nơi thờ hai vị tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Tri Phương và Hoàng
Diệu.

Theo http://vi.wikipedia.org
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản