Thảo luận Tài chính quốc tế: Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Chia sẻ: banhmybi_abc

Câu hỏi: Các nguồn tài trợ cho thiếu hụt cán cân vãng lai là gì? Có nên để cho cán cân vãng lai tự bù đắp thiếu hụt? Trả lời: Để trả lời câu hỏi, trước hết chúng ta hãy xem qua tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai ở VN trong những năm gần đây. Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á xảy ra năm 1997, cán cân vãng lai của Việt Nam sau gần một thập kỷ thâm hụt đã bắt đầu thu hẹp từ năm 1998 và chuyển sang thặng dư từ năm 1999....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Thảo luận Tài chính quốc tế: Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai



Học viện Ngân Hàng
Nhóm 1 lớp NHC-K10.


Thảo luận TCQT

Các thành viên:
1. Nguyễn Thị Hoàng Hoa
2. Hoàng Thị Hải Anh
3. Nguyễn Văn Vui
4. Nguyễn Phương Loan
5. Vũ Thùy Linh
6. Trần Tuyết Ngọc
7. Phạm Phương Minh
8. Trần Thị Thu Thủy
9. Nguyễn Thị Lan Anh
10. Lê Thị Thanh Huyền



Hà Nội, tháng 11 năm 2009




Nhóm 1_NHC_K10. 1
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai



Câu hỏi:
Các nguồn tài trợ cho thiếu hụt cán cân vãng lai là gì? Có nên để cho cán
cân vãng lai tự bù đắp thiếu hụt?
Trả lời:
Để trả lời câu hỏi, trước hết chúng ta hãy xem qua tình trạng thâm hụt cán
cân vãng lai ở VN trong những năm gần đây.
Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á xảy ra năm 1997,
cán cân vãng lai của Việt Nam sau gần một thập kỷ thâm hụt đã bắt đầu
thu hẹp từ năm 1998 và chuyển sang thặng dư từ năm 1999. Tuy nhiên,
thặng dư cán cân vãng lai của Việt Nam không ổn định trong giai đoạn
1991- 2001 và kể từ năm 2002, cán cân vãng lai lại chuyển sang thâm hụt,
đặc biệt trong năm 2007 thâm hụt thương mại ở mức lớn 11 tỷ USD,
thâm hụt vãng lai khoảng 7 tỷ USD ( 11%GDP). Thông thường với các
nước trên thế giới, thâm hụt ở mức 5% GDP đã là rất đáng lo ngại.




Nhóm 1_NHC_K10. 2
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Để có một cái nhìn khách quan về tình hình nhập siêu và thâm hụt tài
khoản vãng lai ở VN, chúng ta cần so sánh tình hình của các nước điều
kiện và hoàn cảnh gần gũi ta


Tài khoản vãng lai của các nước khu vực châu Á năm 2007 (% của GDP)




( Nguồn: Báo cáo của Merrill Lynch )
Ngoại trừ Ấn Độ cũng thâm hụt tài khoản vãng lai, VN là nước duy nhất
trong khối ASEAN thâm hụt tài khoản vãng lai. Nhưng kể cả so với Ấn
Độ thì về mặt tương đối, mức độ thâm hụt ở VN là quá lớn, lên tới gần
10% GDP ( Ấn Độ chỉ 2%). So với các nước trong khu vực như Trung
Quốc, Singapo, Thái Lan, Malayxia… thì tình hình thâm hụt tài khoản vãng
lai ở VN là rất đáng lo ngại.
Có thể nói trong điều kiện của một nền kinh tế mở thì tình trạng thặng
dư hay thâm hụt tài khoản vãng lai là một điều hoàn toàn bình thường.
Với riêng VN, trong điều kiện nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ở
giai đoạn đầu của sự phát triển, thâm hụt tài khoản vãng lai là điều hết
sức bình thường, và nhiề khi là cần thiết để có thể tận dụng được nguồn
vốn từ bên ngoài để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy


Nhóm 1_NHC_K10. 3
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

nhiên nếu con số chỉ ở mức vừa phải (thường là dưới 5%) thì không đáng
lo ngại, nhưng khi vượt ngưỡng này thì sẽ gây rủi ro cho nền kinh tế.


Tài khoản vãng lai các thị trường mới nổi 2007 (% của GDP)




( Nguồn: Báo cáo của Merrill Lynch )



Nhìn biểu đồ trên thì VN không phải là nước duy nhất thâm hụt tài khoản
vãng lai trong các nước được đánh giá là nền kinh tế mới nổi, nhưng về
mức độ so sánh thì VN vượt xa các nước khác.
Vậy các nguồn để có thể bù đắp cho sự thâm hụt tài khoản vãng lai là gi?
Ta thấy: CA + K + OFB = BOP
Như vậy, để bù đắp thâm hụt của cán cân vãng lai, ta có thể sử dụng
nguồn từ cán cân vốn hoặc từ OFB hoặc có thể để cho CA tự bù đắp
bằng cách phá giá nội tệ.

1. Bù đắp thâm hụt CA bằng K hoặc OFB.
Có thể bù đắp cán cân vãng lai từ các nguồn sau:

 Kiều hối


Nhóm 1_NHC_K10. 4
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

 Cán cân vốn

• Cán cân vốn dài hạn:

 Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp

 Vay dài hạn

• Cán cân vốn ngắn hạn

• Chuyển giao vốn một chiều

 Sd OFB




Nhóm 1_NHC_K10. 5
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Bảng tổng kết cán cân vãng lai và cán cân vốn của Việt Nam từ 1999 đến
năm 2008 và dự tính năm 2009




Từ bảng tổng kết trên ta có thể rút ra nhận xét rằng: CA liên tục thâm hụt
từ năm 2005 đến năm 2008 và mức độ thâm hụt ngày càng tăng dần. trong


Nhóm 1_NHC_K10. 6
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

khi đó K từ năm 2005 đến năm 2008 liên tục thặng dư vì Việt Nam đã sử
dụng K để bù đắp thâm hụt của CA là chủ yếu.

Ví dụ: Thiếu hụt năm 2007 được giải quyết bằng ba nguồn tài chính từ
nước ngoài đổ vào: (1) Kiều hối chuyển về nước 6,3 tỉ USD bằng 9,8%
GDP, (2) đầu tư trực tiếp của nước ngoài khoảng 4 tỉ USD, và (3) phần
còn lại là đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng khoán và vay mượn ngắn
hạn.

Xét các nguồn cụ thể:

1.1. Lượng ngoại tệ chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam:

Từ năm 1999 đến năm 2008 lượng ngoại tệ chuyển vào Việt Nam không
ngừng tăng:

Năm 1999, lượng ngoại tệ chuyển vào Việt Nam đạt 1,18 tỷ USD, năm
2005 là 3,8 tỷ USD thì năm 2007 đã đạt 6,43 tỷ USD. Trong đó quan trọng
nhất là nguồn kiều hồi chuyển về Việt Nam.
Các quy định về quản lý ngoại hối thể hiện trong nghị định
63/1999NĐ-CP đến pháp lệnh ngoại hối năm 2005 đã từng bước tự do
hóa các giao dịch vãng lai, đặc biệt là chính sách kiều hối ngày càng thông
thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Người nhận kiều hối không phải
đóng thuế thu nhập, giá trị kiều hối chuyển về nước không hạn chế, các
đơn vị chi trả kiều hối đừa tiền đến tận nhà cho người thụ
hưởng….ngoài ra Việt Nam trở thành thành viên tổ chức thương mại thế
giới WTO cùng với những ổn định về chính trị, sự tăng trưởng cao về
kinh tế, sự sôi động của thị trường chứng khoán và thị trường bất động
sản, sự cải thiện mạnh mẽ về môi trường đầu tư, thị trường lao động


Nhóm 1_NHC_K10. 7
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

khởi sắc và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế cao trong những năm qua…
cho phép thu hút lượng kiều hối chuyển về nước liên tục tăng nhanh.
Kiều hối hiện nay được chuyển về nước theo nhiều con đường như
chuyển tiền qua ngân hàng, qua các công ty chuyển tiền nhanh, qua các
đại lý làm dịch vụ kiều hối,chuyển tiền tự do, tự mang vào khi nhập cảnh
nên càng tạo điều kiện ngoại hối vào Việt Nam.
Viện trợ chính thức không hoàn lại là 0,188 tỉ USD. Đây là nguồn
quan trọng góp phần gia tăng dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong thời
gian này.

Kiề hố (triệ USD)
u i u
8000
7200
7000
5500 5700
Triệ USD




6000
5000 4500
3800
u




4000
3200 2830
2700
3000
1820 2100
1757
2000
1000
0
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Jun- Proj
09 2009
Kiề hối (triệ USD)
u u

Nguồn: Thời báo Kinh tế - Kinh tế VN và thế giới 2005 – 2006;
website: vnexpress.net

Dự báo năm 2009 giảm nhiều so với năm 2008:

Hôm 17 tháng 6, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói
rằng kiều hối trong năm 2009 có thể đạt mức 5,6 đến 5,7 tỉ đô la, thấp
hơn 20% so với năm trước. Dự báo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
xuất phát từ tình hình thực tế là trong 6 tháng đầu năm nay, lượng kiều
hối mà Việt Nam nhận được chỉ là 2,83 tỷ đô la.


Nhóm 1_NHC_K10. 8
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Giải thích về nguyên nhân khiến cho kiều hối chuyển về Việt Nam giảm
sút, giới quan sát đã nêu bật yếu tố khủng hoảng toàn cầu. Kiều hối nói
chung xuất phát từ hai nguồn chính : tiền dành dụm của người Việt Nam
trong nước đi xuất khẩu lao động gởi về cho gia đình, và tiền của người
Việt định cư ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân trong nước.
Do khủng hoảng kinh tế, nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động
Việt Nam đã bắt đầu sa thải nhân viên có sẵn, hay đình chỉ việc thu nhận
nhân công mới. Hệ quả là nguồn kiều hối đến từ giới này cạn dần. Theo
một ghi nhận của chính bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam
vào đầu tháng 9, thì trong 8 tháng đầu năm nay, mới chỉ có hơn 45.000 lao
động Việt Nam được gởi ra nước ngoài làm việc, trong lúc chỉ tiêu toàn
năm của Nhà nước là xuất khẩu được 90.000 lao động. Trước đó, báo chí
Việt Nam liên tục loan tin về những trường hợp công nhân Việt Nam từ
Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Cộng Hoà Séc, Slovakia... phải hồi hương
vì bị mất công ăn việc làm.
Tuy nhiên, số tiền gởi về nước của các lao động Việt Nam hiện ở nước
ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ trong số kiều hối gởi về nước. Theo nhật
báo Mỹ Wall Street Journal, gần 2 phần ba lượng kiều hối mà Việt Nam
nhận được trong thời gian qua đến từ Hoa Kỳ, nơi có một cộng đồng
người Việt hải ngoại đông đảo. Kinh tế Hoa Kỳ đang trải qua một giai
đoạn khó khăn, nạn thất nghiệp gia tăng, các yếu tố này tất nhiên tác
động đến lượng tiền gởi về Việt Nam. Theo Wall Street Journal, chính
quyền Mỹ đã ước tính là kiều hối mà cộng đồng người Việt tại Mỹ
chuyển về Việt Nam trong năm nay có thể giảm khoảng 10%.


1.2.Cán cân vốn



Nhóm 1_NHC_K10. 9
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

a. Đầu tư trực tiếp

• Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh từ 2000-2008.

Đó là do môi trường kinh doanh được cải thiện hơn, lợi thế về chi phí
đầu tư như chi phí lao động đang cạnh tranh với các nước trong khu vực.
Đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, luật pháp được hoàn thiện
cho phù hợp với luật quốc tế. Nguồn FDI thu hút ngày càng tăng còn do
cơ sở hạ tầng của Việt Nam được nâng cấp nhanh, đặc biệt là các cảng
biển, đường giao thông và các nhà máy điện. Ngoài ra, thủ tục hành chính
tuy còn phức tạp nhưng đã được cải thiện rất nhiều trong thời gian qua.
Việc công khai minh bạch trong vấn đề thông tin, các chính sách, cơ chế
quản lý dần tạo được niềm tin của các nhà đầu tư đối với Việt Nam. Hơn
nữa, môi trường chính trị ổn định, giá nhân công rẻ cũng là ưu điểm
củaViệt Nam trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Vốn thực hiện của đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng đều đặn từ 2000 đến
2007, đặc biệt 2007 được coi là năm đột biến trong thu hút vốn FDI.
Trong giai đoạn 2001- 2005 cam kết đầu tư FDI bình quân tại Việt Nam
đạt trên 3 tỷ USD/năm, cam kết nguồn vốn ODA bình quân đạt gần 3 tỷ
USD/năm. Trong đó giải ngân FDI và ODA trung bình khoảng 1,5 tỷ
USD/năm. Đặc biệt năm 2007 giả ngân FDI là 6,55 tỷ USD tăng mạnh so
với những năm trước. trong năm 2008, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đăng ký đạt mức kỷ lục 64 tỷ USD, gần gấp 3 lần năm 2007, trong
đó 60,3 tỷ USD là vốn đầu tư đăng ký mới, 3,7 tỷ USD là vốn đăng ký
tăng thêm. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 54,1% tổng vốn đăng
ký tương đương 32,6 tỷ USD; lĩnh vực dịch vụ 27,4 tỷ USD, chiếm




Nhóm 1_NHC_K10. 10
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

45,5%. Tuy nhiên con số trong khoản mục đầu tư trực tiếp nước ngoài
ròng thì chúng ta chỉ tính đến con số giải ngân thực tế.
Đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoại mở rộng sang các nước
Nga, Mĩ, Đức và các nước trong khu vực vào các lĩnh vực khai khoáng,
chế biến nông sản, thương mại…Tuy nhiên so với luồng vốn FDI thu hút
vào Việt Nam thì đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài không
đáng kể. Đáng chú ý là thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển,
trong đó giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài vào chứng khoán do
người cư trú Việt Nam phát hành cũng góp phần làm tăng cung ngoại tệ.
Cầu ngoại tệ cho các mục đích chi dịch vụ, chi thu nhập đầu tư vẫn tăng
nhưng tốc độ tăng không nhanh bằng tốc độ tăng của cung ngoại tệ.

2000
FDI cam kết
tỷ USD




2001

70,000 2002
60,217
60,000
2003
50,000

40,000
2004

30,000 2005
20,300
20,000
10,200 10,453 2006
10,000 5,814
2,695 3,230 2,963 3,145 4,222
2007
0
2008

25/8/2009

Nguồn: Thời báo kinh tế - Kinh tế VN;
Tổng cục thống kê; Bộ kế hoạch và đầu tư
• FDI giảm mạnh trong năm 2009:
Trong năm 2009, vốn FDI đăng ký vào giải ngân chắc chắn sẽ suy giảm
so với năm 2008. Nhìn vào cơ cấu vốn đăng ký FDI năm 2008 có thể thấy
rằng Malayxia, Đài Loan, Nhật Bản và Xingapo đã chiếm tới 80% vốn


Nhóm 1_NHC_K10. 11
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

đăng ký. Nền kinh tế các nước này dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn hơn
nữa trong năm 2009, cộng với việc vốn tự đó của các dự án đăng ký chỉ
chiếm khoảng 30% giá trị dự đăng ký. Thực tế tình hình thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài FDI suy giảm mạnh, đạt 10,453 tỷ USD và chỉ
bằng 18,4% so với cùng kỳ năm ngoái, Cục Đầu tư nước ngoài công bố
ngày 25/8. Hai tháng trước, trung bình mỗi tháng có thêm hơn 1 tỷ USD bổ
sung vào vốn FDI cả nước nhưng riêng tháng 8, cả nước chỉ thu hút được
thêm 350 triệu USD vốn FDI.

b. Vay dài hạn
Đặc biệt năm 2005 lần đầu Việt Nam phát hành 750 triệu USD trái phiếu
Chính phủ ra thị trường quốc tế nên khoản đầu tư vào giấy tờ có giá
thặng dư 750 triệu USD. Đây cũng là một nguồn quan trọng bổ sung
ngoại tệ cho Việt Nam đồng thời cũng tăng uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế và có thể tạo điều kiện, tạo kinh nghiệm cho các đợt phát
hanhf tiếp theo. Tuy nhiên, nó tạo áp lực trả nợ lên Việt Nam trong những
năm sau này nếu chúng ta không đảm bảo nguồn dự trữ ngoại hối đủ lớn.

Chính phủ tiếp tục thực hiện việc phát hành trái phiếu quốc tế trong
năm 2009-2010 và giao Bộ Tài chính lựa chọn thời gian cụ thể thích hợp.
Bộ Tài chính được chủ động xác định thời hạn và lãi suất của trái phiếu
trong quá trình chào bán và định giá trái phiếu với điều kiện đảm bảo lãi
suất trái phiếu thời hạn 10 năm không quá 7%/năm (lãi suất của các trái
phiếu có kỳ hạn khác tương ứng với điều kiện trên).

Số tiền thu được từ việc bán trái phiếu quốc tế để hoàn trả ngân sách nhà
nước 700 triệu USD, số còn lại giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp




Nhóm 1_NHC_K10. 12
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

với Bộ Tài chính lựa chọn dự án phù hợp, có khả năng trả được nợ, trình
Thủ tướng Chính phủ quyết định trong thời gian chuẩn bị phát hành.

Việc phát hành trái phiếu này tuân thủ theo Nghị quyết 7/2007/NQ-CP
ngày 1/6/2007 và Nghị quyết 54/2007/NQ-CP của Chính phủ. Theo nội
dung của 2 Nghị quyết trên, Việt Nam phát hành 1 tỷ USD trái phiếu
Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế. Kỳ hạn trái phiếu quốc tế phát hành
trong năm 2007 mở rộng từ 10-30 năm, trong đó ưu tiên kỳ hạn 15 và 20
năm.

Số trái phiếu quốc tế phát hành theo 2 Nghị quyết trên được dành cho Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty
Sông Đà và Tổng công ty Lắp máy Việt Nam vay lại để thực hiện đầu tư
các Dự án: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Dự án mua tàu vận tải, Dự án
Thủy điện Xê Ca Mản 3 và Nhà máy thủy điện Hủa Na.
Tính đến ngày 9/9, đã có 40 đợt phát hành trái phiếu bằng tiền đồng và 2
đợt phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ do Chính phủ bảo lãnh phát hành
trong năm 2009. Tuy nhiên, mới chỉ có 2.310 tỷ đồng và 230 triệu USD
được huy động.
Có 36 đợt phát hành trái phiếu tiền đồng hoàn toàn thất bại khi không thu
được một đồng nào. Lần phát hành gần đây nhất nối dài chuỗi phiên phát
hành không thành công là ngày 9/9, do Công ty Đầu tư Phát triển Đường
cao tốc Việt Nam phát hành 1.000 tỷ đồng nhu cầu trái phiếu chia đều cho
hai kỳ hạn 3 năm và 5 năm hoàn toàn không được bán ra phần nào.
Phần lớn số tiền phát hành (2.000 tỷ đồng) được tập trung ở kỳ hạn 2
năm (kỳ hạn ngắn nhất) thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, phát
hành trong tháng 6 với lãi suất bình quân là 8,93%/năm.
Nguyên nhân trực tiếp dễ nhận thấy của sự thất bại trong huy động vốn

Nhóm 1_NHC_K10. 13
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

bằng trái phiếu của Chính phủ là lãi suất không hấp dẫn.


Trong hầu hết các đợt phát hành, lãi suất trần mà tổ chức phát hành đưa ra
đều thấp hơn lãi suất thấp nhất mà các nhà thầu đăng ký. Tính trung bình
qua các đợt phát hành, mức chênh lệnh này là 0,88%/năm.
Thông thường, trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán phi rủi
ro về mặt thanh khoản trên thị trường tài chính. Tuy nhiên, nếu lãi suất
của loại công cụ nợ này không đủ lớn để chiến thắng được mức bù rủi ro
lãi suất mà thị trường yêu cầu thì các nhà đầu tư sẽ không mặn mà với
việc “ôm” vào loại chứng khoán này.
Rủi ro lãi suất trong giai đoạn hiện nay chủ yếu là khả năng giảm lãi
suất thực do lạm phát có thể xảy ra.
Các thành viên tham gia đấu thầu trái phiếu Chính phủ chủ yếu là các
ngân hàng thương mại. Trong thời gian vừa qua cũng như hiện nay, các
ngân hàng thương mại cạnh tranh khá quyết liệt trong lĩnh vực huy động
tiền gửi nhằm tài trợ cho các khoản tín dụng mở rộng theo mục tiêu gói
kích thích kinh tế của Chính phủ và để đề phòng khả năng lạm phát có
thể xảy ra. Cuộc cạnh tranh này đã đẩy mặt bằng lãi suất huy động lên
cao và vô hình chung đẩy lãi suất yêu cầu của các tổ chức này đối với lãi
suất trái phiếu lên cao.
Vậy tại sao các tổ chức phát hành vẫn cứ “khăng khăng” giữ mức lãi
suất không hấp dẫn với các nhà đầu tư qua nhiều lần “kiên trì” tổ chức
đấu thầu, nhưng không thành.
Một số chuyên gia phân tích kinh tế cho rằng Chính phủ không sẵn sàng
với mức lãi suất huy động trái phiếu đủ cao do chi phí cơ hội từ việc
chậm giải ngân lớn. Thực tế, theo thông tin từ ủy ban Thường vụ Quốc
hội, trong sáu tháng đầu năm 2009, Chính phủ mới chỉ giải ngân được

Nhóm 1_NHC_K10. 14
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

khoảng 27% so với kế hoạch 37.000 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ
ban đầu.
Tình trạng chậm giải ngân trong lĩnh vực đầu tư công xưa nay vẫn tồn
tại dai dẳng do những bất cập cố hữu về cơ chế. Tuy nhiên hiện nay
đang là giai đoạn đặc biệt, một số vướng mắc có thể được giải quyết
đặc cách nhằm khai thông cho dòng vốn chảy nhanh nhất vào khu vực sản
xuất qua đó kích thích cả tổng cầu và tổng cung.
Có ý kiến cho rằng, để giải quyết tình thế cấp thiết, trong ngắn hạn,
Chính phủ nên chấp nhận mức lãi suất cao nhằm huy động được vốn cho
các gói kích thích kinh tế.
Nhu cầu huy động vốn để tài trợ cho các gói kích thích kinh tế là không
hạn chế. Trong số các kênh huy động tiền để tài trợ cho mục tiêu cấp
thiết trên, phát hành trái phiếu là kênh tối ưu hơn cả so với phát hành tiền
do tính chất “tiện ích kép” của nó, đó là vừa huy động được tiền, vừa góp
phần kìm chế lạm phát do không làm tăng tổng phương tiện thanh toán.
Tuy nhiên, Chính phủ không thể huy động trái phiếu bằng mọi giá do
có sự xung đột với mục tiêu kích thích tín dụng của chính sách tiền tệ
hiện nay. Cùng với gói hỗ trợ lãi suất, việc duy trì lãi suất cơ bản 7%/năm
đối với cho vay kinh doanh là để tạo mặt bằng chi phí vốn thấp cho các
doanh nghiệp.
Đây chính là rào cản đối với lãi suất trái phiếu. Chính phủ không thể
áp dụng hai hệ thống lãi suất thiếu thống nhất cũng giống như người ta
không thể duy trì hai mực nước chênh lệch giữa hai bình thông nhau. Mặt
khác, Chính phủ cũng không thể làm điều duy ý chí là “đông cứng” thị
trường tài chính.
Biết trước những bất cập nan giải đối với lãi suất trái phiếu, các nhà
phát hành trái phiếu Chính phủ vẫn kiên trì tổ chức đấu thầu với “hi

Nhóm 1_NHC_K10. 15
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

vọng” sẽ “khớp” được với danh mục đầu tư của một nhà thầu nào đó.
Trong lúc đang cần vốn để kích thích kinh tế nhưng thất bại trong việc
huy động bằng phát hành trái phiếu, Chính phủ đã đạt được thỏa thuận
vay 500 triệu USD từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Khoản cho vay
này đã được ADB chính thức phê duyệt hôm 15/9/2009. Thủ tướng Chính
phủ cũng đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch
và Đầu tư nghiên cứu phương án giải ngân khoản vay có thời hạn 5 năm
này.
Ngoài việc góp phần bổ sung nguồn vốn cho gói kích thích kinh tế,
khoản ngoại tệ 500 triệu USD này cũng được hy vọng sẽ góp phần vào
việc bình ổn thị trường ngoại hối vẫn còn chưa “hạ nhiệt”.

Năm 2008 giải ngân ODA ước tính đạt 1,227 tỉ USD và 6 tháng đầu
năm 2009, giải ngân ODA đạt 1,27 tỷ USD. Theo trang web dddn.com.vn
Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) lần thứ 15 (diễn ra
ngày 4-5/12/2008) cho biết mức cam kết ODA được nhóm các nhà tài trợ
quốc tế đưa ra cho Việt Nam trong năm 2009 đạt 5,014.67 tỷ USD, thấp
hơn mức cam kết đưa ra năm ngoái là 8%. Sở dĩ các nhà tài trợ vẫn đưa ra
những tín hiệu tích cực về cam kết ODA cho Việt Nam là do các nhà tài
trợ đều đánh giá Việt Nam sử dụng khá hiệu quả nguồn vốn này. Một báo
cáo của Vụ Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) vừa được công bố, cho
biết Việt Nam luôn theo đuổi chính sách quản lý nợ thận trọng. Chính phủ
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến quản lý vay, trả nợ
nước ngoài; xây dựng và quản lý hệ thống chỉ tiêu nợ, thu thập, báo cáo
thông tin nợ, bảo lãnh, cho vay lại... Vì vậy, các chỉ số nợ nước ngoài của
Việt Nam từ 2000 đến nay luôn trong giới hạn an toàn, được WB và IMF
đặt trong danh sách nhóm các nước có mối nguy thấp về nợ nước ngoài.



Nhóm 1_NHC_K10. 16
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai


c. Cán cân vốn ngắn hạn
Cán cân ngắn hạn bao gồm nhiều hạng mục phong phú và chủ yếu
là: tín dụng thương mại ngắn hạn, hoạt động tiền gửi, mua bán các giấy
tờ có giá ngắn hạn, các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn, kinh doanh
ngoại hối…




Nhóm 1_NHC_K10. 17
Triệu 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
USD *
Vay -118 -29 -22 7 26 -54 46 -30 79 261 0,270
ngắn
hạn(8)

Cán cân vốn ngắn hạn thặng dư có thể do: tín dụng thương mại quốc
tế, tín dụng ngân hàng quốc tế (các hình thức tài trợ ngoại thương của các
ngân hàng thương mại), trái phiếu thương mại ngắn hạn (Những công ty
lớn có mức tín dụng cao thường bán trái phiếu thương mại ngắn hạn để
cấp vốn cho các nhu cầu trước mắt của mình. Đây là một giải pháp có chi
phí thấp hơn thay cho việc vay ngân hàng ngắn hạn. Trái phiếu thương
mại ngắn hạn là một giấy bảo lãnh nợ ngắn hạn, nhìn chung có thời hạn
thanh toán từ 2 đến 270 ngày. Hầu hết trái phiếu này được bán ở mức
chiết khấu so với mệnh giá của nó và có thể khôi phục mệnh giá khi đến
hạn. Sự khác biệt giữa giá bán chiết khấu và mệnh giá tượng trưng cho
lãi dành cho người mua trái phiếu. Các nhà đầu tư có các khoản dư tiền
mặt tạm thời thường là người mua trái phiếu thương mại ngắn hạn. Đối
với họ đây là cách an toàn hợp lý để sinh lợi trên tiền nhàn rỗi của họ).
Tuy nhiên Việt Nam chưa phát triển trong hoạt động tín dụng (cơ sở hạ
tầng của tín dụng VN chưa đáp ứng được các quy chuẩn tiên tiến để tham
gia các phương thức hoạt động tín dụng bậc cao), vì vậy, xét trên khía
cạnh bù đắp cho thâm hụt CA, luồng vốn ngắn hạn chảy vào Việt Nam
dựa trên các nguồn:

Tín dụng thương mại quốc tế

Là hoạt động tài trợ ngoại thương giữa các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu. Công cụ của tín dụng thương mại như hối phiếu, kỳ phiếu…
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Tín dụng của doanh nghiệp xuất khẩu đối với doanh nghiệp nhập
khẩu. Ví dụ: một nhập khẩu giày Việt Nam nhận lô giày trị giá 3.000
USD từ một nhà xuất khẩu Trung Quốc với thời hạn thanh toán trong 60
ngày. Sau 60 ngày, hóa đơn mới đến hạn. Tức là, nhà cung ứng đã cấp
vốn cho phần hàng đó mà không tính phí, đối với nhà nhập khẩu thì đây là
một vụ thỏa thuận tốt hơn là dùng hạn mức tín dụng ngân hàng hay một
hình thức khác phải trả lãi suất.
Tín dụng của doanh nghiệp nhập khẩu đối với doanh nghiệp xuất
khẩu: ứng trước tiền hàng.

Tiền gửi

Triệu USD 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009*
Tiền gửi ròng -787 -2,088 -1,197 624 1,372 35 -634 -1,535 2,623 1,700 1,100
Tiền gửi trong tài khoản vốn biến động thất thường, đây không phải
là nguồn bù đắp thường xuyên chủ yếu cho thâm hụt cán cân vãng lai.
Dựa vào số liệu trên, có thể thấy lượng tiền gửi của nước ngoài ở Việt
Nam âm trong các năm từ 1999 đến 2001, 2005-2006, trong khi dương
trong các năm 2002-2004 và đặc biệt năm 2007 và quý 1 năm 2008 tăng
mạnh. Cụ thể, năm 2007 là 2,623 tỷ USD (chiếm 3,7% GDP) và quý
1/2008 là 3,302 tỷ USD (chiếm tới 17,9% GDP). Trong năm 2008, chúng ta
chứng kiến sự suy giảm dòng tiền gửi từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, trong năm
2008, lượng tiền gửi từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển
giảm từ mức 2% của năm 2007 xuống mức 1,8% GDP của cac nước đang
phát triển. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, ước tính lượng
tiền gửi trong năm 2008 cũng chỉ vào khoảng 1,8% GDP (bằng một nửa tỷ
lệ năm 2007), tương đương 1,57 tỷ USD. Dự báo cả năm 2009, lượng
tiền gửi vào Việt Nam đạt khoảng 1,1 tỷ USD.

Nhóm 1_NHC_K10. 19
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

d. Chuyển giao vốn một chiều
- Các khoản viện trợ không hoàn lại cho mục đích đầu tư
- Các khoản nợ được xóa (Một vài VD tiêu biểu)
Tháng 12/2000, theo thỏa thuận được ký kết, Bỉ sẽ thực hiện xóa nợ
cho Việt Nam khoảng 21,8 triệu USD, tương đương với 75% tổng số dư
nợ. Phần nợ 25% còn lại, tương đương 7,28 triệu USD sẽ được chuyển
đổi thành viện trợ để Việt Nam lập một quỹ đối ứng, sử dụng cho các dự
án được Vương quốc Bỉ viện trợ trong khuôn khổ chương trình hợp tác
phát triển giữa hai nước giai đoạn 2001-2003. Các lĩnh vực mà Chính phủ
Bỉ ưu tiên viện trợ theo chương trình hợp tác song phương là xóa đói giảm
nghèo, hỗ trợ nông nghiệp và phát triển nông thôn, cải cách hành chình, y
tế và giáo dục.
Năm 2002, Chính phủ Italia đã xóa nợ cho Việt Nam 40 tỷ Lia (khoảng
trên 20 triệu EURO) trong tổng số 54 tỷ Lia nợ của các dự án thuộc giai
đoạn 90-92 và ký thêm 6 dự án mới trị giá 17 triệu Euro (trong đó 3,5 triệu
cho không và 13,5 triệu vay ưu đãi, lãi suất từ 0,25% đến 0,5%/năm, thời
hạn trả 35 năm, ân hạn 15 năm).

1.3. OFB
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hôm 29/7 tuyên bố, đến trước năm 2014 sẽ
cung cấp cho các nước nghèo khoản vay lên đến 17 tỷ USD, nhằm trợ
giúp những nước này ứng phó với bão tố tài chính.
IMF nới lỏng việc cho vay

TT - Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra những cải cách lớn trong cách
thức và thủ tục cho vay với 185 nước thành viên. Đây được coi là một




Nhóm 1_NHC_K10. 20
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

phần trọng tâm trong nhiệm vụ của tổ chức này giúp bình ổn tài chính
toàn cầu.

Trong một động thái mà AFP đánh giá là “đột phá”, IMF đã công bố
chương trình Hạn mức tín dụng linh hoạt (FCL) không bao gồm điều
kiện, không giới hạn số tiền được vay và có thể được vay bất cứ lúc nào,
được dùng để đối phó khủng hoảng hay như “một phương tiện ngăn
ngừa” khủng hoảng. FCL sẽ thay thế chương trình Công cụ thanh khoản
ngắn hạn (SLF) cũ. Theo những điều khoản của FCL, thời gian trả nợ vay
được nới rộng từ ba tháng tới năm năm, thay vì tối đa là chín tháng như
SLF.
Ngoài việc tác động vào K và OFB để cải thiện CA, chúng ta có thể để
cho CA tự cải thiện bằng cách phá giá nội tệ

2. Phá giá nội tệ để CA tự cải thiện.
Chúng ta biết cán cân vãng lai bao gồm: cán cân thương mại, cán cân dịch
vụ, cán cân thu nhập và cán cân chuyển giao vãng lai một chiều. Song,
Yếu tố tỉ giá thay đổi khi phá giá nội tệ hầu như ko ảnh hưởng cán cân
thu nhập và cán cân chuyển giao vãng lai một chiều, do đó khi nghiên cứu
ảnh hưởng của nhân tố tỷ giá lên cán cân vãng lai, chúng ta coi cán cân
thương mại và cán cân dịch vụ chính là cán cân vãng lai.

Xem xét vấn đề này theo 2 phương pháp tiếp cận:
 Phương pháp tiếp cận hệ số co giãn
 Phương pháp tiếp cận chi tiêu.
2.1. Phương pháp tiếp cận hệ số co giãn – Điều kiện Marshall
Lerner
Giả định:


Nhóm 1_NHC_K10. 21
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

 cung hàng hóa xuất khẩu có hệ số co giãn hoàn hảo
 cầu hàng hóa nhập khẩu cũng có hệ số co giãn hoàn
hảo.
 Cán cân vãng lai chỉ bao gồm cán cân thương mại và
cán cân dịch vụ.
 Tỉ giá được yết theo phương pháp trực tiếp.
Phá giá làm cho tỉ giá danh nghĩa tăng nên làm tỉ giá thực tăng, từ đó
cải thiện được sức cạnh tranh thương mại quốc tế, nghĩa là kích thích
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Khối lượng xuất khẩu tăng và khối
lượng nhập khẩu giảm nhưng chưa chắc làm cán cân vãng lai cải thiện do
trong cán cân vãng lai ta quan tâm đến giá trị xuát nhập khẩu chứ không
phải là khối lượng. Phương pháp tiếp cận hệ số co giãn sẽ giúp chúng ta
xem xét được trong điều kiện như thế nào thì cán cân vãng lai được cải
thiện khi phá giá tiền tệ.
Nội dung của phương pháp này là phân tích hai nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp đến cán cân vãng lai khi phá giá tiền tệ là: nhân tố là cải thiện
cán cân vãng lai và nhân tố làm xấu đi cán cân vãng lai.

2.1.1. Hệ số co giãn nhập khẩu và xuất khẩu

Cán cân vãng lai tính bằng nội tệ:

CAVND = P.XQ – E.P* .MQ (1)

P : giá của hàng hóa trong nước tính bằng nội tệ
XQ: khối lượng xuất khẩu
E: tỉ giá
MQ: khối lượng nhập khẩu.
Với X: giá trị xuất khẩu tính bằng nội tệ (PXQ)



Nhóm 1_NHC_K10. 22
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

M: giá trị nhập khẩu tính bằng ngoại tệ (P*MQ)

Ta có thể viết lại: CA = X – E.M (2)

Đạo hàm hai vế có: dCA = dX – E.dM – M.dE (3)
Chia 2 vế cho sự thay đổi tỉ giá dE có:
dCA dX dM dE
= −E −M (4)
dE dE dE dE

−Hệ số co dãn xuất khẩu:
dX / X
Ta có: η x
=
dE / E

η X
là hệ số co dãn xuất khẩu
dE
→ dX = η X X (5)
E

− Hệ số co dãn nhập khẩu:
dM / M
η M
=−
dE / E

η M
là hệ số co dãn nhập khẩu
dE
→ dM = −η M (6)
M E

Thay (5) và (6) và (4) ta được:

dCA η X X
= +η M − M
dE E m


dCA  X 
→ = M η +η − 1 (7)
dE  X EM m


Giả sử trạng thái ban đầu của cán cân vãng lai là cân bằng:
X – E.M = 0 hay X/EM = 1
(7) được viết lại là:
dCA
dE x m
(
= M η +η − 1 ) (8)



Nhóm 1_NHC_K10. 23
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Phương trình (8) là điều kiện Marshall-Lerner. Điều kiện này được phát
biểu như sau:
Nếu trạng thái xuất phát của cán cân vãng lai là cân bằng thì khi phá giá
nội tệ sẽ dẫn đến:
- Cải thiện được cán cân vãng lai, tức là dCA/dE >0 chỉ khi tổng hệ
số co dãn nhập khẩu và hệ số co dãn xuất khẩu lớn hơn 1, nghĩa là:

η +η
x m
>1

- Thâm hụt cán cân vãng lai, tức dCA/dE 1.
Trong ngắn hạn, khối lượng nhập khẩu và xuất khẩu không nhiều
thay đổi ( không co giãn) nên hiệu ứng giá cả trọi hơn so với hiệu ứng
khối lượng nên CA bị xấu đi trong ngắn hạn sau khi phá giá. Sau một thời
gian nhất định ( từ 6 tháng trở đi) khối lượng xuất khẩu bắt đầu tăng và
khối lượng nhập khẩu bắt đầu giảm, hiệu ứng khối lượng dần dần trội
hơn so với hiệu ứng giá cả vì thế CA được cải thiện dần.
Nguyên nhân khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu không co dãn
trong ngắn hạn mà cô dãn trong dài hạn là:
 Phản ứng của người sản xuất diễn ra chậm: Tuy phá giá tiền tệ
tạo điều kiện cạnh tranh cho xuất khẩu nhưng nhà sản xuất cần phải có
thời gian để mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu.
 Các hợp đồng nhập khẩu đã kí từ trước không dễ để hủy bo
trong ngắn hạn.
 Phản ứng của người tiêu dung diễn ra chậm: bởi vì họ cần thời
gian để thay đổi thói quen tiêu dùng. Cả người tiêu dùng trong và ngoài
nước đều cần thời gian vì họ lo lắng về các vấn đề: chất lượng hàng hóa,
độ tin cậy, danh tiếng của hãng sản xuất.




Nhóm 1_NHC_K10. 32
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

 Thị trường không hoàn hảo; nếu như nhà sản xuất nước ngoài
có thị phần lớn, khi có phá giá tiền tệ, để duy trì thị phần họ có
thể hạ giá hàng hóa xuất khẩu và hạ giá hàng hóa ở nước họ để
cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu và xuât khẩu rẻ hơn ở nước
phá giá tiền tệ.
Do hiệu ứng giá cả có tác dụng lập tức ngay sau khi phá giá trong khi hiệu
ứng khối lượng chỉ có tác dụng trong một thời gian sau nhất định vì khối
lượng xuất khẩu và nhập khẩu co giãn trong dài hạn, gần như không co
giãn trong ngắn hạn. Vậy có thể thấy điều kiện Marshall- lerner chỉ có
thể duy trì trong dài hạn.


3.2. Phương pháp tiếp cận chi tiêu:


Hạn chế cơ bản trong phương pháp tiếp cận hệ số co giãn là đã dựa
trên giả định các yếu tố khác không thay đổi. Tuy nhiên khi khối lượng
xuất nhập khẩu thay đổi sẽ làm cho thu nhập quốc dân và chi tiêu trong
nước thay đổi.
Trong phương pháp này, chúng ta tiếp cận dưới góc độ cán cân thanh
toán là 1 bộ phận của thu nhập quốc dân, và qua đó sẽ xem xét hiệu ứng
phá giá tới CA thông qua việc tác động của nó tới thu nhập quốc dân và
chi tiêu trong nước.
Y = C + I + G + X - M (2.1)
Nếu định nghĩa chi tiêu trong nước là A=C+I+G, thì PT trên có thể viết
thành:
CA = X – M = Y - A. (2.2)
Pt (2.2) nói lên rằng cán cân vãng lai CA biểu diễn chênh lệch giữa thu
nhập quốc dân và chi tiêu trong nước.


Nhóm 1_NHC_K10. 33
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Đạo hàm 2 vế PT (2.2) ta được:

dCA = dY - dA (2.3)

Từ đó có thể thấy hiệu ứng của phá giá tới CA phụ thuộc vào việc phá
giá ảnh hưởng như thế nào tới Y và A:
 Nếu phá giá dẫn đến Y tăng tương đối so với A thì CA được cải thiện.
 Nếu phá giá dẫn đến Y giảm tương đối so với A thì CA trở nên xấu
hơn.

Xét về chi tiêu trong nước (A). Phần tăng thêm của A gồm có 2 bộ phận:
- Chi tiêu tăng thêm do thu nhập tăng thêm. Phần tăng thêm theo
thu nhập được xácđịnh bằng chi tiêu biên, kí hiệu: a.dY
- Chi tiêu tăng thêm trực tiếp do hiệu ứng phá giá đem lại, kí
hiệu : dAd
 Tổng thay đổi chi tiêu, kí hiệu:
dA = a.dY + dAd (2.4)
Thay vào Pt (2.3):

dCA = (1-a).dY - dAd (2.5)

=> Điều kiện để phá giá cải thiện được cán cân vãng lai là:
(1-a)dY > dAd (2.6)
tức là CA chỉ được cải thiện nếu bất cứ một sự thay đổi trong thu nhập mà
không được chi tiêu phải lớn hơn bất cứ sự thay đổi nào trong chi tiêu trực
tiếp.
Bây giờ chúng ta sẽ xét riêng hiệu ứng của phá giá lên Y và A:
a) Hiệu ứng phá giá lên thu nhập quốc dân
Nền kinh tế có thể có 2 trạng thái: có và không có công ăn việc làm
đầy đủ. Trong trường hợp NềN KINH Tế có công ăn việc làm đầy đủ thì


Nhóm 1_NHC_K10. 34
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

không thể làm tăng thêm thu nhập cho NềN KINH Tế. Còn đối với NềN
KINH Tế không có công ăn việc làm đầy đủ (chưa đạt Y*) thì CA chỉ
được cải thiện khi thu nhập tăng và a1
trong ngắn hạn, do đó khi thu nhập tăng sẽ làm CA trở nên xấu hơn.
Đối với VN (NềN KINH Tế không có công ăn việc làm đầy đủ): nếu
nhìn vào tỷ trọng xuất khẩu trong nền kinh tế Việt Nam (77% GDP năm
2007 và khoảng 90% GDP năm 2008) và thâm hụt cán cân thương mại (-
9,9% GDP năm 2007 và -11% GDP năm 2008) thì có vẻ nên phá giá VND
để tăng sức cạnh tranh về giá . Tuy nhiên giải pháp này không tạo ra được
ổn định kinh tế lâu dài và còn có thể làm cho cán cân vãng lai xấu đi vì nó
làm cho TNQD giảm. Việc giảm thu nhập khiến giảm sức mua của người
tiêu dùng trong nước và nếu sức mua giảm trong dài hạn và lớn hơn sự
giảm giá của đồng nội tệ, áp lực xã hội sẽ gia tăng, đặt ra nhiều khó khăn
cho chính sách tài khóa và phân phối thu nhập.
Còn trong trường hợp NềN KINH Tế có công ăn việc làm đầy đủ
thì không thể tăng Y, do đó chỉ có thể cải thiện CA thông qua việc giảm
chi tiêu trực tiếp.

b) Hiệu ứng phá giá tiền tệ lên chi tiêu trực tiếp

Giả thiết:
- ảnh hưởng của phá giá tiền tệ lên thu nhập quốc dân bằng
0(dY=0)
- dCA = - dAd
Kết luận rút ra: Nếu phá giá làm giảm chi tiêu trực tiếp(dAd < 0) thì cán
cân vãng lai sẽ được cải thiện (dCA > 0) và ngược lại.


Nhóm 1_NHC_K10. 36
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Để xem xét ảnh hưởng của phá giá lên chi tiêu trực tiếp cần đề cập tới
Hiệu ứng cầu tiền thực tế.

Hiệu ứng cầu tiền thực tế:

Nói một cách đơn giản: nhu cầu nắm giữ tiền chính là nắm giữ lượng
tiền thực tế( là lượng tiền danh nghĩa đã loại trừ yếu tố lạm phát). Nếu
mức giá tăng lên gấp 2 thì các chủ thể sẽ có nhu cầu tiền danh nghĩa cũng
tăng gấp 2 nhưng cầu tiền thực tế thì vẫn ko thay đổi. Do đó, đẳng thức
cầu tiền thực tế có thể biểu diễn như sau:

M / P1 = K

Trong đó: K: cầu tiền thực tế
P1: chỉ số giá trung bình
M: lượng tiền cung ứng danh nghĩa

Ý NGHĨA: cho biết lượng hàng hóa mà một lượng tiền danh nghĩa có thể
mua được, tức là để mua được một lượng hàng hóa là K, mức giá cả là P
thì nhu cầu tiền danh nghĩa là M

Chỉ số giá cả trung bình P1 được biểu diễn như sau:

P1=αP + (1- α)E.P*

Trong đó: α : tỉ lệ % chi tiêu lên hàng nội địa
P: giá cả hàng nội địa
P*: giá hàng hóa nhập khẩu ( tính bằng ngoại tệ)
E: tỉ giá
Ví dụ:




Nhóm 1_NHC_K10. 37
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Giả sử giá hàng hóa nội địa P= 15000 VND, trong khi nước ngoài là P * = 2
usd. Tỷ giá trước khi phá giá E0 = 18000. Gỉa sử người tiêu dùng chi 60%
tiền của họ lên hàng hóa nội địa, tức α= 0.6. Gía trung bình là :
P1=0.6 × 15000 + (1-0.6)×18000×2 = 23400 VND

Nếu VND phá giá và tỉ giá mới là E1=21600 thì giá trung bình là :

Ρ = 0.6 × 15000 + (1-0.6) × 21600 ×2 =
'
1 26280.
Như vậy, với 20% phá giá của VND làm cho mặt bằng giá cả tăng lên
12.3%.
Đến đây, chúng ta giả thiết rằng: Lượng tiền cung ứng danh nghĩa không
thay đổi (M không đổi)( giả thiết *)
Phá giá tiền tệ ( E tăng) làm tăng mặt bằng giá cả (P 1 tăng), lạm phát
đã xảy ra. Như đã nói ở trên, các chủ thể sẽ muốn duy trì lượng tiền thực
tế của mình (K không đổi), do đó họ sẽ phải tăng lượng tiền danh nghĩa
tương ứng với mức tăng của giá cả → các chủ thể trong nền kinh tế sẽ
phải bán các trái phiếu họ đang nắm giữ để thu tiền về → cung trái phiếu
tăng → giá trái phiếu giảm → lãi suất tăng. Lãi suất tăng làm hạn chế đầu
tư và tiêu dùng, do đó làm giảm chi tiêu trực tiếp, cải thiện cán cân
thương mại.
Hiệu ứng cầu tiền thực tế chỉ trở nên hiện thực nếu như NHTW
không cung ứng thêm tiền để cân đối khoản cầu tiền tăng thêm ( để thỏa
mãn giả thiết *) vì nếu cung tiền danh nghĩa tăng (M tăng) tương ứng với
mức tăng của P1 thì tỉ số M / P1 sẽ không thay đổi → K=M / P1 không đổi
→ các chủ thể sẽ không có động lực bán trái phiếu để duy trì K như ở
trên, từ đó sẽ không tác động đến lãi suất, đầu tư và tiêu dùng và sẽ
không tác động tới chi tiêu trực tiếp.




Nhóm 1_NHC_K10. 38
Các nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai

Việc bù đắp cán cân vãng lai từ nguồn nào cần được cân nhắc kỹ.
Thông thường trong ngắn hạn, nguồn bù đăp cho cán cân vãng lai thường
từ cán cân vốn và OFB, còn việc phá giá có thể gây nên nhiều tác động tới
nền kinh tế nên có nên để cho cán cân vãng lai tự bù đắp cho chính nó
không cần phải xem xét rất kỹ. Không những thế phá giá không phải bao
giờ cũng thành công, cũng làm cho cán cân vãng lai được cải thiện. Những
nguồn tài trợ cho cán cân vãng lai kể trên là những nguồn tiêu biểu, chúng
em tìm hiểu được. Do hạn chế về kiến thức và thời gian nên bài thảo
luận còn nhiều thiếu sót, mong được cô giáo góp ý và bổ sung.




Nhóm 1_NHC_K10. 39
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản