Thế nào là ô nhiễm môi trường đất

Chia sẻ: Nguyen Chung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:6

0
1.033
lượt xem
315
download

Thế nào là ô nhiễm môi trường đất

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm". Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu theo nguồn gốc phát sinh có: Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt. Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp. Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thế nào là ô nhiễm môi trường đất

  1. Thế nào là ô nhiễm môi trường đất? "Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm". Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu theo nguồn gốc phát sinh có: • Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt. • Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp. • Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số tác nhân gây ô nhiễm có thể cùng một nguồn gốc nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt. Do đó, người ta còn phân loại ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm: • Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ v.v.), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit v.v...). • Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh trùng (giun, sán v.v...). • Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137). Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng đầu ra thì rất ít. Đầu vào có nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào, do con người trực tiếp "tặng" cho đất, mà cũng có thể không mời mà đến. Đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong đó. Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả năng này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức. Các hệ thống sản xuất tác động đến môi trường đất như thế nào? Dân số trên trái đất tăng lên, đòi hỏi lượng lương thực, thực phẩm ngày càng nhiều và con người phải áp dụng những phương pháp để tăng mức sản xuất và cường độ khai thác độ phì của đất. Những biện pháp phổ biến nhất là: • Tăng cường sử dụng các chất hoá học trong nông, lâm nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ. • Sử dụng các chất tăng cường sinh trưởng để có lợi cho việc thu hoạch. • Sử dụng công cụ và kỹ thuật hiện đại. • Mở rộng mạng lưới tưới tiêu. Tất cả các biện pháp này đều tác động mạnh đến hệ sinh thái và môi trường đất: • Làm đảo lộn cân bằng sinh thái do sử dụng thuốc trừ sâu. • Làm ô nhiễm môi trường đất do sử dụng thuốc trừ sâu.
  2. • Làm mất cân bằng dinh dưỡng. • Làm xói mòn và thoái hoá đất. • Phá huỷ cấu trúc của đất và các tổ chức sinh học của chúng do sử dụng các thiết bị, máy móc nặng. • Làm mặn hoá hay chua phèn do chế độ tưới tiêu không hợp lý. Đất ở các khu vực công nghiệp và đô thị bị ô nhiễm như thế nào? Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị cũng ảnh hưởng đến các tính chất vật lý và hoá học của đất. Những tác động về vật lý như xói mòn, nén chặt đất và phá huỷ cấu trúc đất do các hoạt động xây dựng, sản xuất và khai thác mỏ. Các chất thải rắn, lỏng và khí đều có tác động đến đất. Các chất thải có thể được tích luỹ trong đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường. Người ta phân chia các chất thải gây ô nhiễm đất làm 4 nhóm: Chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chất thải khí, chất thải hoá học và hữu cơ. • Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thuỷ tinh, ống nhựa, dây cáp, bê tông,... trong đất rất khó bị phân huỷ. • Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như Chì, Kẽm, Đồng, Ni ken, Cadimi... thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp. Các kim loại này tích luỹ trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ. • Các chất thải khí và phóng xạ phát ra chủ yếu từ các nhà máy nhiệt điện, các khu vực khai thác than, các khu vực nhà máy điện nguyên tử, có khả năng tích luỹ cao trong các loại đất giàu khoáng sét và chất mùn. • Các chất thải gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, mầu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hoá chất. Nhiều loại chất hữu cơ đến từ nước cống, rãnh thành phố, nước thải công nghiệp được sử dụng làm nguồn nước tưới trong sản xuất cũng là tác nhân gây ô nhiễm đất. nhiễm đất đô thị - Nguy cơ từ TP.HCM(13:33 20/09/2006) Tài nguyên đất ở TP.HCM đa dạng và phong phú với nhiều nhóm đất chủ yếu: đất cát biển, đất mặn (ở Cần Giờ); đất phèn phân bố chủ yếu ở vùng trũng: nam Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, bắc Cần Giờ; đất phù sa, đất xám và đất đỏ (ở Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Đức). Từ trước đến nay, người ta thường quan tâm nhiều đến khía cạnh KT – XH của tài nguyên đất mà ít đề cập hơn đến khía cạnh ô nhiễm và suy thoái đất, cũng như một số ảnh hưởng có thể của đất hoang hóa. Ô nhiễm đất chính là việc đưa vào môi trường đất các thành phần có hại đối với sự sống của cộng đồng và hệ sinh vật. Trong đó, có hai nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là tự nhiên và nhân tạo. Đối với nguồn ô nhiễm tự nhiên đa số là do xâm nhập mặn chủ yếu từ nước biển và nhiễm phèn hoặc là do nước mưa lôi kéo các chất bẩn bề mặt thấm qua lớp đất... Còn nguồn ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do hoạt động của con người đang là vấn đề đáng được quan tâm. Thành phố hầu như chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nên được thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận, kênh rạch và sông ngòi, từ đó gây ô nhiễm nước, đồng thời cùng tác động đến ô nhiễm đất. Thời gian qua, thành phố cũng quan tâm nhiều đến vấn đề ô nhiễm công nghiệp, đã có những chỉ
  3. đạo cụ thể triển khai công trình sản xuất sạch hơn, xử lý các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm trầm trọng và xử lý cuối đường ống; đồng thời, đưa ra chính sách khuyến khích và ưu đãi DN vay vốn để triển khai. Tuy nhiên, vấn đề cải thiện môi trường do hoạt động công nghiệp còn hạn chế nên vẫn có tác động lớn đến ô nhiễm môi trường nước và đất. Ngoài ra, ô nhiễm đất còn do các chất thải nông nghiệp, nhất là việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; do khai thác nước ngầm thiếu quy hoạch, không kiểm soát, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, xâm nhập mặn, lún sụt đất; do khai thác đất, cát trái phép và không kiểm soát nổi, gây sạt lở đất và ảnh hưởng lớn đến dòng chảy; do sự cố tràn dầu có khả năng gây ô nhiễm nước, đất trầm trọng, đáng lưu ý vụ chìm tàu Gemini (1996) 72 tấn dầu thô... Ngoài ra, ô nhiễm đất còn do bụi và khí thải sinh ra từ quá trình đốt nhiên liệu trong công nghiệp, bay trong không khí sau đó ngưng tụ và quay trở lại mặt đất; do nước thải các chất hữu cơ, chất tẩy rửa, nước thải bệnh viện, các kim loại nặng, hóa chất nguy hại, dầu mỡ; do chất thải rắn, nhất là nước rỉ của các bãi rác chôn lấp ở ngoại thành... Việc bảo vệ đất chưa sử dụng như thế nào cũng là một vần đề rất đáng được quan tâm. Năm 2006, toàn thành phố có 1.806,15 ha đất chưa sử dụng theo kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 thì diện tích đất chưa sử dụng sẽ giảm dần và đến năm 2010 còn 930 ha. Như vậy, thành phố cố gắng hết sức để đất chưa sử dụng không trở thành hoang hóa. Bởi cũng như ô nhiễm đất, đất hoang hóa cũng đưa đến các hậu quả môi trường đáng ngại như gây tác hại lớn cho môi trường sinh thái; suy thoái về chất lượng đất, mất mát dinh dưỡng trong đất; tăng ô nhiễm do người dân không có ý thức coi đó là bãi đổ chất thải, phát sinh nhiều sinh vật có hại: chuột, ruồi, muỗi và gây phức tạp về mặt xã hội. Do đó, việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất hợp lý trong khu vực đô thị hóa của TP.HCM có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung, nhất là khi dân số có xu hướng tăng cao mà quỹ đất lại có hạn. Bài toán đặt ra là quản lý và sử dụng đất có hiệu quả thiết thực, không để đất bị ô nhiễm, suy thoái và tác động xấu đến môi trường cần được đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó, vấn đề nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước... cũng góp phần đáng kể để chống ô nhiễm và suy thoái đất TP.HCM. Ô nhiễm đất Gs. Huỳnh Thu Hòa - Võ Văn Bé    
  4. Ô NHIỄM ÐẤT BỞI NÔNG NGHIỆP HIỆN ÐẠI. I. VẤN ÐỀ PHÂN BÓN. II. Các loại phân bón. 1. Ô nhiễm do phân bón. 2. Ô NHIỄM ÐẤT DO NÔNG DƯỢC. III. Các loại nông dược ( Pesticides). 1. Tính chất sinh thái học của nông dược. 2. RÁC THẢI. IV. HẬU QUẢ CỦA Ô NHIỄM. V. 1. Do phân bón. Ảnh hưởng của việc dùng nông dược. 2. ÐẤU TRANH SINH HỌC. VI. Phương pháp ảnh hưởng tử suất. 1. Phương pháp ảnh hưởng đến sinh suất. 2. Quản lý tổng hợp các loài dịch hại (IPM). 3.
  5. VI. ÐẤU TRANH SINH HỌC Dùng nông dược kéo theo nhiều bất lợi. Ngoài việc mất cân bằng sinh thái học còn là vấn đề sức khoẻ công cộng. Sự độc của nông dược khiến người ta phải lập các mức độ chịu đựng: ngưỡng tối đa chấp nhận được trong thức ăn của người. Ngoài ra, nông dược không chỉ diệt loài có hại mà cả loài có lợi. Sau cùng vấn đề kháng thuốc khá lớn. Số loài kháng tăng theo thời gian. Cho nên người ta tìm cách giảm số loài gây hại bằng cách sử dụng biện pháp sinh học, nhắm vào việc dùng sinh vật diệt các loài gây hại. Người ta tìm cách làm tăng tử suất và giảm sinh suất của chúng. 1. Phương pháp ảnh hưởng tử suất Nhằm làm tăng tử suất bằng cách dựa vào kẻ thù tự nhiên của loài gây hại, như thiên địch hay ký sinh của nó. Lịch sử mà nói thì từ năm 1888, nhà côn trùng học Riley đã giải quyết vấn đề sâu rầy Icerya purchari bằng cách nhập vào California, một trong những kẻ thù tự nhiên của nó là Bọ rùa Novius cardinalis. Nhiều sự nhập nội như thế đã cho nhiều kết quả tích cực. Nhưng cũng có khi những loài nhập nội không thích nghi: trường hợp nhập những kẻ thù của doryphore (phá hoại Khoai tây) . Phương pháp sử dụng các loài ăn côn trùng (entomophages) cho nhiều kết quả khả quan. Người ta cũng chú ý các loài ăn trứng (oophages). Kế đến, người ta chú ý các vi sinh vật gây bịnh cho loài gây hại (nấm ăn côn trùng và vi khuẩn diệt trùng). Ngoài ra, người ta cò sử dụng cả siêu khuẩn, như trường hợp virus Sanarelli, gây bịnh Myxomatose cho thỏ, đã tiêu diệt 99% số thỏ ở Pháp năm 1952. Chuyện cũng xảy ra như vậy ở Úc. 2. Phương pháp ảnh hưởng đến sinh suất Nhằm làm giảm sinh suất của những loài không muốn có. Lần đầu tiên, năm 1954, Knippling đã thả những cá thể cái của Cochliomyia hominivorax làm bất thụ bởi Co60 ở đảo Curacao, đã tiêu diệt hoàn toàn loài 2 cánh này, là tác nhân của bịnh myiases. Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc theo đó thì một cá thể bị bất thụ sẽ bành trướng sự bất thụ trong quần thể bởi vì nó gây cảm ứng (induction) cho bạn tình của nó. Trong trường hợp của Cochliomyia, thành công dễ dàng là do các con cái chỉ giao phối một lần trong đời. Người ta còn sử dụng các chất gây bất thụ như tia bức xạ ion trong hóa học. Hiện người ta sử dụng Phéromone và chất dẫn dụ. Năm 1960, Jacobson đã ly trích
Đồng bộ tài khoản