THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Chia sẻ: kimku11

15 năm thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hôi chủ nghĩa nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng kể : tăng trởng kinh tế cao ổn đjnh (tốc độ tăng trởng kinh tế luôn 7% năm ) . Công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, ngành công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN




I.MỞ ĐẦU
15 năm thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hôi
chủ nghĩa nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng kể : tăng trởng kinh tế cao ổn đjnh (tốc
độ tăng trởng kinh tế luôn >7% năm ) . Công nghiệp đạt tốc độ tăng trởng rất cao ( trên
14% ) đạc biệt các ngành công nghệ mới , ngành công nghệ thông tin phát riển nhanh
chóng và đang đợc ứng dụng rộng rãi ; thành tựu trong nông nghiêp đã đa nớc ta không
những thoát khỏi sự thiếu lơng thực mà còn đa nớc ta trở thành nớc xuát khẩu gạo đứng
thứ hai thế giới (>4 triệu tấn /năm ) . Hàng hoá trên thị trờng ngày càng phong phú đa
dạng , các doanh nghiệp mới đợc thành lập ngày càng nhiều , đời sống của ngời dân ngày
càng cao . Những thành tựu đó đã khẳng định đờng lối kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà
nớc . Nhng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề lớn nh: làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trởng đó
đòng thời tiến tới phát triển bền vững , đồng thời với các doanh nghiệp ra đời ngày càng
nhiều là thiếu vốn ,khả năng cạnh tranh kém ,Nhà nớc cần ngân sách để xây dựng cơ sở
hạ tầng , đờng sá vv…và vấn đề không thiếu tầm quan trọng là làm sao xây dựng nền kinh
tế nớc ta trở thành kinh tế thị trờng theo đúng nghiã . Một giải pháp đó là xây dựng thị
trờng chứng khoán .Và ngày 20/7/2000 đánh dấu bớc ngoặt trong nền kinh tế thị trờng
của nớc ta với sự ra đời của thị trờng chứng khoán Việt Nam với việc đa vào vận hành
trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh .
1.Vài nét về lịch sử thị trờng chứng kho án
Thị trờng chứng khoán đợc xem là đặc trng cơ bản , là biểu tợng của nền kinh tế
hiện đại .Ngời ta có thể đo lờng và dự tính sự phát triển kinh tế qua diển biến trên thị trờng
chứng khoán . Là một bộ phận cấu thành của thị tròng tài chính , thị trờng chứng khoán
đơc hiểu một cách chung nhất , là nơi diễn ra các hoạt động mua bán ,trao đổi các chứng
khoán –các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc mua bán trao
đổi này đựoc thc hiện theo những quy tắc nhất định .
Hình thức sơ khai của thị trờng chứng khoán đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm.
Vào khoảng thế kỷ 15 , ở các thành phố trung tâm thơng mại của các nớc phơng tây , trong
các chợ phiên hay hội chợ , các thơng gia thờng tụ tập tại các quán cà phê để thơng lợng
mua bán trao đổi hàng hoá . Đăc điểm của hoạt động này là các thơng gia chỉ trao đổi
bằng lời nói vơí nhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiện của bất cứ hàng
hoá giấy tờ nào . Đến cuối thế kỷ 15 , “khu chợ riêng “ đã trở thành thờng xuyên với những
qui ớc xác định cho các cuộc thơng lợng . Những qui ớc này dần trở thành các qui tắc bắt
buộc với các thành viên tham gia .
Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1943 tại một lữ quán của gia đình Vanber tại thành
phố Bruges (Vơng quốc Bỉ ) .Trớc lữ quán có 1 bảng hiệu vẽ hình ba túi da và chữ .Ba túi
da tợng trng choc ho ba nội dung của thị trờng chứng khoán :thị trờng hàng hoá , thị trờng
ngoại tệ , và thị trờng chứng khoán động sản ; còn chữ Bourse có nghĩa là mậu dịch thị
trờng hay còn gọi là “ nơi buôn bán chứng khoán “.
Đến năm1547 , thị trờng ở thành phố Bruges sụp đổ do cửa biển Envin –nơi dẫn các
tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố bị cát biển lấp mất .
Tuy nhiên vào năm 1531 ,thị trờng này đã đợc dời đến thành phố cảng Anvers
(Bỉ) ,từ đó , thị trờng này phát triển nhanh chóng .Một thị trờng nh vậy cũng đợc thành lập
tại London (Vơng quốc Anh ) thế kỷ 18 và sau đó là một loạt thị trờng ra đời tại Pháp,
Đức , ý và một số nớc Bắc Âu và Mỹ cũng đợc thành lập. Sau một thời gian hoạt động , thị
trờng đã chứng tỏ khả năng không đáp ứng đợc yêu cầu cả ba loại giao dịch khác nhau .Vì
thế , thị trờng hàng hoá đợc tách thành các khu thơng mại , thị trờng ngoại tệ đợc tách ra
và phát triển thành thị trờng hối đoái . Thị trừơng chứng khoán động sản trở thành thị
trờng chứng khoán . Nh vậy , thị trờng chứng khoán đợc hình thành cùng với thị trờng
hàng hoá và thị trờng hối đoái .
Quá trình phát triển của thị trờng chứng khoán đã trải qua nhiều bớc thăng trầm .
Lịch sử đã ghi nhận hai đợt khủng hoảng lớn , đó là khi các thị trờng chứng khoán lớn ở
Mỹ ,Tây Âu ,và Bắc Âu ,Nhật Bản bị sụp đổ chỉ trong vài giờ vào “ ngày thứ năm đen tối
“ 29/10/1929 và “ ngày thứ hai đen tối “ 19/10/1987 và vừa qua là cuộc khủng hoản tài
chính châu á mà khởi nguồn là từ Thái Lan . Song trải qua các cuộc khủng hoảng ,cuối
cùng thị trờng chứng khoán lại đợc phục hồi và tiếp tục phát triển , cho tới nay đã có trên
160 sở giao dịch trên toàn thế giới . Thị trờng chứng khoán đã trở thành một thể chế tài
chính không thể thiếu đợc trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng
Hiên nay trớc xu thế kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của Tổ chức thơng mại
thế giới (WTO) , của Liên minh Châu Âu , của các khối thị trờng chung , đòi hỏi các quốc
gia thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao .Thực tế phát triển kinh tế ở các
quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của thị trờng chứng khoán trong
phát triển kinh tế
2.Vai trò của thị trờng chứng khoán
Thứ nhất , thị trờng chứng khoán với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản
cao, có thể tích tụ , tập trung và phân phối vốn , chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế.
ở Hàn Quốc thị trờng chứng khoán đã đóng vai trò không nhỏ trong sự tăng trởng
kinh tế trong hơn ba mơi năm cho tới cuối thập kỷ 90 . Thị trờng chứng khoán Hàn Quốc
lớn mạnh đứng hàng thứ 13 trên thế giới , với tổng giá trị huy động là 160 tỷ đôla Mỹ , đã
góp phần tạo mức tăng trởng kinh tế đạt mức trung bình 9% năm , thu nhập quốc dân đầu
ngời năm 1995 là trên 10000 USD
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trờng sẽ đảm bảo cho việc phân phối
vốn một cách có hiệu quả . Thị trờng tài chính là nơi tiên phong áp dụng công nghệ mới và
nhạy cảm với môi trờng thờng xuyên thay đổi . Thực tế trên thị trờng chứng khoán , tất cả
các thông tin đợc cập nhật và đợc chuyển tải tới tất cả các nhà đầu t , nhờ đó họ có thể
phân tích và định giá cho chứng khoán . Chỉ những công ty có hiệu quả bền vững mới có
thể nhận đợc vốn với chi phí rẻ trên thị trờng .
Thị trờng chứng khoán tạo một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trờng tài chính ,
điều này buộc các ngân hàng thơng mại và các tổ chức tài chính phải quan tâm tới hoạt
động của chính họ và làm giảm chi phí tài chính .
Việc huy đông vốn trên thị trờng chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có của các
công ty và giúp họ tránh các khoản vay chi phí cao cũng nh sự kiểm soát chặt chẽ của các
ngân hàng thơng mại . Thị trờng chứng khoán khuyến khích tính cạnh tranh của các công
ty trên thị trờng . Sự tồn tại của thị trờng chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút
vốn đầu t nớc ngoài . Đây chính là yếu tố đảm bảo cho sự phân bố có hiệu quả các nguồn
lực trong một quốc gia cũng nh trong phạm vi quốc tế .
Thứ hai ,thị trờng chứng khoán góp phần tái phân phối công bằng hơn , thông qua
việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng , giải toả sự tập
trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn song vẫn tập trung vốn cho việc phát triển kinh
tế . Việc tăng cờng tầng lớp trung lu trong xã hội ,tăng cờng sự giám sát của xã hội đối với
quá trình phân phối đã giúp nhiều nớc tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và dân chủ .
Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công bằng hơn qua
đó tạo hiệu quả và tăng cờng kinh tế .
Thứ ba , thị trờng chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản
lý doanh nghiệp .Khi qui mô của doanh nghiệp tăng lên , môi trờng kinh doanh trở nên
phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo . Thị trờng chứng khoán tạo
điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám , tạo điều kiện thúc đẩy cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nớc . Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát chặt chẽcủa thị trờng
chứng khoán đã làm giảm các tiêu cực trong quản lý ,tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi
ích của chủ sở hữu , nhà quản lý và ngời làm công.
Thị trờng chứng khoán
Thứ t , là hiệu quả quốc tế hoá thị trờng chứng khoán . Việc mở cửa thị trờng
chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trờng quốc tế . Điều này cho phép
các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn , tăng cờng đầu t từ nguồn tiết kiệm bên
ngoài , đồng thời tăng cờng khả nâng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh
của các công ty trong nớc .
Hàn Quốc , Singapore , Thailand , Malaysia là những minh chứng điển hình về việc
tận dụng các cơ hội do thị trờng chứng khoán mang lại . Tuy nhiên , chúng ta cũng phải
xem xét các tác đọng tiêu cực có thể xảy ra nh việc tăng cung tiền quá mức , áp lực lạm
phát , vấn đề chảy máu vốn , hoặc sự thâu tóm của ngời nớc ngoài trên thị trờng chứng
khoán .
Thứ năm ,thị trờng chứng khoán tạo cơ hội cho chính phủ huy động các nguồn tài
chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện
chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ . Đây chính là điểm thể hiện rõ nhất vị trí quan
trọng của thị trờng chứng khoán trong nền kinh tế và hệ thống tài chính quốc gia .
Thứ sáu ,thị trờng chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh
doanh trong tơng lai . Viêc thay đổi giá chứng khoán có xu hớng đi trớc chu kỳ kinh
doanh , cho phép chính phủ cũng nh các công ty đánh giá kế hoạch đầu t cũng nh việc
phân bổ nguồn lực cho họ . Thị trờng chứng khoán cũng tạo điều kiện tái cấu trúc lại nền
kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên , thị trờng chứng khoán cũng có những tiêu cực
nhất định . Thị trờng chứng khoán làm việc trên cơ sở thông tin hoàn hảo . Sng ở các thị
trờng mới nổi , thông tin đựơc chuyển tải tới các nhà đầu t không đầy đủ và không giống
nhau . Việc quyết định giá cả , mua bán chứng khoán của các nhà đầu t cơ sở thông tin và
xử lý thông tin . Nh vậy . giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của
công ty và không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn lực .
Một số tiêu cực khác của thị trờng chứng khoán nh hiện tọng đầu cơ , hiện tợng
xung đột quyền lực làm thiệt hại cho các cổ đông thiểu số , việc mua bán nội gián , thao
tong thị trờng làm nản lòng nhà đầu t và nh vậy , sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu
t . nhiêm vụ của các nhà quản lý thị trờng là giảm thiểu các tiêu cực của thị trờng nhằm
bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu t và đảm bảo cho tính hiệu quả của thị trờng .
Nh vậy , vai trò của thị trờng chứng khoán đợc thể hiện trên nhiều khía cạnh khác
nhau . Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trờng chứng khoán có thực sự đợc phát
huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia vào thị trờng và sự quản lý
của Nhà nớc .
II.Các khái niệm cơ bản về thị trờng chứng khoán
1.Chứng khoán
1.1Khái niêm và đặc điểm của chứng khoán
Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhợng , xác định số
vốn đầu t ( t bản đầu t ) ; chớng khoán xác định quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp
pháp , bao gồm các điều kiện về thu nhập và tàI sản trong một thời hạn nào đó
Chứng khoán là một tài sản tài chính có các đặc điểm cơ bản sau :
Tính thanh khoản ( tính lỏng ) : Tính lỏng của tàI sản là khả năng chuyển tài sản đó
thành tiền mặt . Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian và chi phí cần
thiết cho việc chuyển đỏi và rủi ro của việc giảm sút giá trị của tàI sản đó do chuyển đổi .
Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác , thể hiện qua khả năng chuyển
nhợng trên thị trờng và nói chung , các chứng khoán khác nhau có khả năng chuyển nhợng
khác nhau .
Tính rủi ro : Chứng khoán là tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn
của rủi ro , bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống . Rủi ro có hệ thống
hay rủi ro thị trờng là loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản . Loại rủi ro
này chịu tác động của ccác điều kiện kinh tế chung nh : lạm phát , sự thay đổi tỷ giá hối
đoái , lãi suất vv.. Rủi ro không có hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động tới một tài sản hoặc
một nhóm các tài sản . Loại rủi ro này thờng liên quan tới điều kiện của nhà phát hành Các
nhà đầu t thờng quan tâm tới việc xem xét , đánh giá các rủi ro liên quan , trên cơ sở đó đề
ra các quyết định trong viêc lựa chọn , nắm giữ hay bán các chứng khoán , điều này phản
ánh mói quan hệ giữa lợi tức và rủi ro hay sự cân bằng về lợi tức – ngời ta sẽ không chịu
rủi ro tăng thêm nếu không đợc bù đắp bằng lợi tức tăng thêm .
Tính sinh lợi . Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó , nhà đầu t
mong mu ốn nhận đợc một thu nhập lớn hơn trong tơng lai .Thu nhâp này đợc đảm bảo
bằng lợi tức đợc phân chia hằng năm và việc tăng giá trên thị trờng . Khả năng sinh lợi bao
giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản , thể hiện trong nguyên lý – mức độ chấp
nhân rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn .
1.2Phân loại chứng khoán
Tuỳ theo cách chọn tiêu thức , ngòi ta có thể phân loại khứng khoán thành nhiều
loại khác nhau , có ba loại tiêu thức chủ yếu , đó là theo tính chất của chứng khoán , theo
khả năng chuyển nhợng và theo khả năng thu nhập .
Tuy nhiên, ở đây ta chỉ giới thiệu sơ quavề các loại chứng khoán thờng thấy nhất
trên thị trờng chứng khoán :
Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn đợc phát hành dới dạng chứng chỉ hoặc bút
toán ghi sổ , xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tàI sản hoặc vốn của một
công ty cổ phần . Cổ phiếu là công cụ tài chính có thời hạn thanh toán là vô hạn
Khi tham gia mua cổ phiếu , các nhà đầu t trở thành các cổ đông của các công ty cổ
phần . Cổ đông có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty cổ phần, đợc chia lời (cổ tức)
theo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần: đợc quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý,
ban kiểm soát. Cổ phiếu có thể đợc phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc lúc công ty
cần thêm vốn để mở rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh.Một đặc điểm của cổ phiếu là
cổ đông đợc chia cổ tức theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ đông
có thể đợc hởng lợi nhuận nhiều hơn giá trị của cổ phiếu và cũng có thể bị mất trắng khi
công ty làm ăn thua lỗ. Cổ đông không đợc quyền đòi lại số vốn mà ngời đó đã góp vào
công ty cổ phần, họ chỉ có thể thu lại tiền bằng cách bán cổ phiếu đó ra trên thị trờng
chứng khoán theo qui định pháp luật
Trái phiếu , điển hình của chứng khoán nợ là một loại chứng khoán quy định nghĩa
vụ của ngời phát hành ( ngời đi vay ) phải trả cho ngời đứng tên sở hữu chứng khoán
( ngời cho vay ) một khoản tiền nhất định bao gồm cả vốn lẫn lãi trong những khoảng thời
gian cụ thể
Nhờ phát hành trái phiếu mà chính phủ , các tổ chức công cộng ( có t cách pháp
nhân ) , các công ty cổ phần tạo ra đợc các nguồn vốn ổn định .Với loại chứng khoán này ,
do rủi ro thấp hơn so với chứng khoán có thu nhập biến đổi nên sự thay đổi về giá là thấp
hơn , tỷ lệ lợi tức quyết đinh chủ yếu tới khả năng sinh lời của chứng khoán . Bị ảnh hởng
của rủi ro lãi suất, cả ngời mua và ngời bán đều quan tâm tới tỷ lệ lợi tức ở từng thời điểm .
Ngoài ra , trên thị trờng chứng khoán còn phát hành hình thức hỗn hợp chứng khoán
nhằm thích ứng với nhu cầu đặc biệt của thị troừng vốn .Chứng khoán hỗn hợp có những
loại chủ yếu sau
Trái phiếu công ty có khả năng chuyển đổi : Loại trái phiếu này có một mức lãi suất
cố định , ngoài ra nó còn đảm bảo cho ngời có quyền sở hữu quyền đổi tráI phiếu thành
côr phiếu trong một thời hạn với những điều kiện xác định . Giá trị của quyền chuyển đổi
không chỉ phụ thuộc vào quyền chuyển đổi mà còn phụ thuộc vào chất lợng cổ phiếu của
công ty
Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu : Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu tơng tự nh
trái phiếu nói chung nhng ngoàI khoản lợi tức cố địng đợc nhận , nó còn có quyền mua
một số lợng cổ phiếu nhất định của công ty đang phát hành với một tỷ lệ và thời hạn u đãi
nh đối với cổ đong thực thụ . Loại chứng khoán này có một “ chứng chỉ quyền mua “ đợc
tách ra sau khi phát hành chứng khoán . Về nguy ên tắc “chứng chỉ quyền mua “đợc
Thị trờng chứng khoán tách ra sau khi phát hành chứng khoán một thời gian và đợc lu
thông độc lập trên thị trờng
Trái phiếu thu nhập bổ sung : loại chứng khoán này đảm bảo một khoản lợi tức cố
đinh nhng ngời ngời sở hữu có thể nhận đợc một khoản thu nhập bổ sung theo sự dao đọng
tăng của cổ tức mà các cổ đong đợc hởng
2.Khái niệm và bản chất của thị trờng chứng kho án
2.1 Thị trờng tài chính
2.1.1Khái niệm
Thị trờng tài chính là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ ngời d thừa vốn tới những ngời
thiếu vốn .Thị trờng tài chính cũng có thể đợc định nghĩa là nơi phát hành , mua bán , trao
đổi và chuyển nhợng những công cụ tài chính theo các qui tắc và luật lệ nhất định
Trong nền kinh tế thị trờng , s tồn tại và phát triển của thị trờng tài chính là tất yếu
khách quan . Hoạt động trên thị trờng tài chính có những tác động , hiệu ứng trực tiếp tới
hiệu quả đầu t của các cá nhân của các doanh nghiệp và hành vi của ngời tiêu dùng ,và tới
động thái chung của toàn bộ nền kinh tế .
2.1.2Cấu trúc thị trờng tài chính
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau , ngời ta phân loại thị trờng tài chính thành các
thị trờng bộ phận
* Thị trờng nợ và thị trờng vốn cổ phần
Căn cứ vào phơng thức huy động vốn của tổ chức phát hành ,thị trờng tài chính đợc
phân thành thị trờng nợ và thị trờng vốn cổ phần
Thị trờng nợ là thị trờng mà hàng hoá tại đó là các công cụ nợ . Các công cụ nợ có
thời hạn xác định , có thể ngắn hạn , trung hạn hay dài hạn . Tín phiếu và trái phiếu là 2 ví
dụ điển hình của công cụ nợ
*Thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn
Căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn , thị trờng tài chính đợc chia thành thị trơng
tiền tệ và thị trờng vốn
Thị trờng tiền tệ là thị trờng tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn ( có thời han
dới một năm ) đợc mua bán , ccòn thị trờng vốn là thị trờng giao dịch ,mua bán các công
cụ tài chính trung và dài hạn ( gồm các công cụ vay nợ dài hạn và cổ phiếu ).Các hàng hoá
trên thỉtờng tiền tệ có đặc điểm là thời gian đáo hạn ngắn hạn nên có tính lỏng cao , độ rủi
ro thấp và ổn định . Thị trờng tiên tệ bao gồm :thị trờng liên ngân hàng , thị trờng tín
dụng ,thị trờng ngoại hối .
2.2 Khái niệm và bản chất thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi các loại
chứng khoán Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng
khoán ,và nh vậy , thực chất đây là quá trình vận động của t bản ,chuyển từ t bản sở hữu
sang t bản kinh doanh
Thị trờng chứng khoán không giống với các thị trờng các hàng hoá thông thờng
khác vì hàng hoá của thị trờng chứng khoán là loại hàng hoá đặc biệt , là quyền sở hữu về t
bản . Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử dụng . Nh vậy , có thể nói , bản chất
của thị trờng chứng khoán là thị trờng thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu
t nào đó , giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn
đầu t . Thị trờng chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lu thông
hàng hoá
3. Vị trí và cấu trúc thị trờng chứng khoán .
3.1 Vị trí của TTCK trong thị trờng tài chính
Thị trờng chứng khoán là một bộ phận của thị trờng tàichính . Vị trí của thị trờng
chứng khoán trong tổng thể thị trờng tài chính thể hiện


Thị trờng chứng khoán
-Thị trờng chứng khoán là hình ảnh đặc trng của thị trờng vốn 1




Thời gian đáo hạn 1 năm t
Nh vậy , trên thị trờng chứng khoán giao dịch 2 loại công cụ tài chính:công cụ tại
chính trên thị trờng vốn và công cụ tài chính trên thị trờng tiền tệ
-Thị trờng chứng khoán là hạt nhân trung tâm của thị trờng tàI chính nơi diễn ra quá
trình phát hành , mua bán các công cụ Nợ và công cụ Vốn (các công cụ sở hữu)




3.2 Cấu trúc thị trờng chứng khoán
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu , cấu trúc TTCK có thể đợc phân loại theo nhiều cách
khác nhau . Tuy nhiên, ở đây ta chỉ xét cách phân loại theo quá trình luân chuyển
vốn .Theo cách phân loại này ,TTCK đợc phân thành thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp
Thị trờng sơ cấp hay thị trờng cấp 1 (Primary Market) là thị trờng phát hành các
chứng khoán hay là nơi mua bán chứng khoán đầu tiên. Tại thị trờng này , giá cả các
chứng khoán là giá phát hành .Việc mua bán chứng khoán trên thị trờng sơ cấp làm tăng
vốn của nhà phát hành . Thông qua việc phát hành chứng khoán ,Chính phủ có thêm
nguồn thu để tàI trợ cho các dự án đầu t hoặc chi tiêu dùng cho chính phủ ,các doanh
nghiệp huy động vốn trên thị tròng nhằm tài trợ cho các dự án đầu t .
Thị trờng thứ cấp hay thị trờng cấp 2 ( Secondary Market ) là thị trờng giao
dịch ,mua bán ,trao đổi những chứng khoán đã đợc phát hành nhằm kiếm lời , di chuyển
vốn đầu t hay di chuyển tài sản xã hội .
Quan hệ giữa thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp thể hiện trên các góc độ sau :
Thứ nhất , thị trờng thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đợc phát hành .
Việc này làm tăng sự a chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi roc cho các nhà đầu t .
Các nhà đầu t sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc , lựa chọn , thay đổi kết cấu trong danh
mục đầu t , trên cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà phát hành trong việc huy động và
sử dụng vốn ,Việc tăng tính lỏng của tài sản sẽ tao điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản
lý , làm tăng hiệu quả quản lý doanh nghiệp .
Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc chuyển đổi thời hạn
vốn , từ vốn ngắn hạn sang vốn trung hạn và dàI hạn , đồng thời tạo điều kiệ cho việc phân
phối vốn một cách có hiệu quả . Sự di chuyển vốn trong nền kinh tế đợc thực hiện thông
qua cơ chế “ bàn tay vô hình “ , co chế xác định giá chứng khoán và thông qua hoạt đọng
thâu tóm , sáp nhập doanh nghiệp trên thị trờng thứ cấp .
Thứ hai , thị trờng thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã đợc phát hành trên thị
trờng sơ cấp . Thị trờng thứ cấp đợc xem là thị trờng định giá các công ty
Thứ ba , thông qua việc xác định giá , thị trờng thứ cấp cung cấp một danh mục chi
pphí vốn tơng ứng cho các mức độ rủi ro khác nhau của từng phơng án đâu t , tạo cơ sở
tham chiếu cho các nhà phát hành cũng nh các nhà đầu t trên thị trờng sơ cấp . Thông qua
cơ chế “bàn tay vô hình “ , vốn sẽ đợc chuyển đến tới những công ty nao làm ăn có hiệu
quả nhất , qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội
Tóm lại , thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp có quan hệ mật thi ết , hỗ trợ lẫn nhau .
Về bản chất mối quan hệ giữa thị trờng sơ cấp và thị trờng là mối quan hệ nội tại , biện
chứng .Nếu không có thị trờng sơ cấp sẽ không có thị trờng thứ cấp , đồng thời , thị trờng
thứ cấp lại tạo điều kiện phát triển thị trờng sơ cấp. Hai thị trờng đợc ví dụ nh hai bánh xe
của một chiếc xe, trong đó thị trờng sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, thị trờng thứ cấp là động
lực. Nếu không có thị trờng sơ cấp thì sẽ chẳng có chứng khoán để lu thông trên thị trờng
thứ cấp và ngợc lại, nếu không có thị trờng thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán
thành tiền sẽ bị khó khăn, khiến cho ngời đầu t sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy
động vốn trong nền kinh tế.
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp không phải là sự
khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của từng loại thị
trờng. Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trờng sơ cấp là nhằm thu hút mọi
nguồn vốn đầu t và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế. Còn ở thị trờng thứ cấp, dù
việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la chứng
khoán đợc mua đi bán lại, nhng không làm tăng thêm qui mô đầu t vốn, không thu hút
thêm đợc các nguồn tài chính mới. Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng
khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán. Do
đó, mục đích cuối cùng của các nhà quản lý là phải tăng cờng huy động vốn trên thị trờng
sơ cấp , vì chỉ có tại thị trờng này , vốn mới thực sự hoạt động từ ngời tiết kiệm sang ngời
đầu t , còn sự vận động vốn trên thị trờng thứ cấp chỉ là t bản giả , không tác động trực tiếp
tới việc tích tụ , tập trung vốn
.Việc phân biệt thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết.
Trong thực tế tổ chức thị trờng chứng khoán không có sự phân biệt đâu là thị trờng sơ cấp
và đâu là thị trờng thứ cấp. Nghĩa là, trong một thị trờng chứng khoán vừa có giao dịch
của thị trờng sơ cấp vừa có giao dịch của thị trờng thứ cấp. Vừa có việc mua bán chứng
khoán theo tính chất mua đi bán lại.
Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trờng sơ cấp, vì đây là thị trờng phát
hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải giám sát chặt chẽ thị trờng
thứ cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị trờng để đảm bảo thị trờng chứng khoán
trở thành công cụ hữu dụng của nền kinh tế.
3. Thị trờng chứng khoán phi tập trung (OTC)
Thị trờng chứng khoán phi tập trung (OTC ) là loại thị trờng chứng khoán xuất hiện
sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trờng chứng khoán . Thị trờng này
đợc mang tên OTC (Over the Counter )có nghĩa là “ Thị trờng qua quầy “ . Điều này xuất
phát từ đặc thù thị trờng là các giao dịch mua bán đợc thực hiện trực tiếp tại các quầy của
các ngân hàng hoặc các công ty chứng khoan mà không phảI thông qua các trung gian môI
giới để đa vào đấu giá tập trung .
3.1.Khái niệm
Thị trờng OTC là thị trờng không có trung tâm giao dịch chứng khoán tập trung ,
đó là một mạng lới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với
các nhà đầu t , các hoạt động giao dịch của thị trờng OTC đợc diễn ra tại các quầy (sàn
giao dịch ) của các ngân hàng và các công ty chứng khoán .
Đặc điểm quan trọng nhất của thị trờng chứng khoán OTC để phân biệt với thị
trờng chứng khoán tập trung ( tại các Sở giao dịch chứng khoán ) là cơ chế lập giá bằng
hình thức thơng lợng và thoả thuận song phơng giữa ngời bán và ngời mua là chủ yếu, còn
hình thức xác lập giá bằng đấu lệnh chỉ đợc áp dụng hạn chế và phần lớn là các lệnh nhỏ .
Thời kỳ ban đầu của thị trờng , việc thơng lợng giá theo thoả thuận trực tiếp – “ mặt đối
mặt” song cho đến nay với sự phát triển của công nghệ thông tin , việc thơng lợng có thể
đợc thực hiện qua diện thoại và hệ thống mạng máy tính điện tử diện rộng .
Thị trờng OTC đóng vai trò của một thị trờng thứ cấp , tức là thực hiện vai trò điều
hoà , lu thông các nguồn vốn ,đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn
dể đầu t phát triển kinh tế .
Quá trình phát triển của thị trờng OTC là quá trình phát triển từ hình thái thị trờng
tự do , không có tổ chức đến thị trờng có tổ chức có sự quản lý ccủa Nhà nớc hoặc của các
tổ chức tự quản và đợc phát triển từ hình thức giao dịch truyền thống ,thủ công sang hình
thức giao dịch điện tử hiện đại . Hiện nay , thị trờng OTC đợc coi là thị trờng chứng khoán
bậc cao , có mức dộ tự động hoá cao độ .
3.2. Những đặc điểm cơ bản của thị trờng OTC
Thị trờng OTC ở mỗi nớc có những đặc điêmr riêng , phù hợp với điều kiện và đặc
thù mỗi nớc . Tuy nhiên , hệ thống thị trờng OTC trên thế giới hiện nay đợc xây dựng theo
mô hình thị trờng NASDAQ của Mỹ . Vì vậy , có thể khái quát một số đặc điểm chung ở
các nớc nh sau
Về hình thức tổ chức thị trờng . Thị trờng OTC đợc tổ chức theo hình thức phi tập
trung , không có địa điểm giao dịch mang tính tập trung giữa bên mua và bán . Thị trờng
sẽ diễn ra tại các điểm giao dịch của các ngân hàng , các công ty chứng khoán , và các địa
diểm thuận lợi cho ngời mua và bán .
Chứng khoán giao dịch trên thị trờng OTC bao gồm hai loại : Thứ nhất , chiếm phần
lớn là các chứng khoán cha đủ điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch song đáp ứng các điều
kiện về tính thanh khoản và yêu cầu tài chính tối thiểu của thị trờng OTC , trong đó chủ
yếu là các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ , công ty công nghệ cao và có tiềm
năng phát triển . Thứ hai là các loại chứng khoán đã niêm yết trên sở giao dịch chứng
khoán . Nh vậy , chứng khoán niêm yết và giao dịch trên thị trờng OTC rất đa dạng vàcó
độ rủi ro cao hơn so với các chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán
Cơ chế lập giá trên thị trờng OTC chủ yếu đợc thực hiện qua phơng thức thơng lợng
và thoả thuận song phơng giữa bên bán và bên mua , khác với cơ chế đấu giá chứng khoán
trên Sở giao dịch chứng khoán . Hình thức khớp lệnh trên thị trờng OTC rất ít phổ biến và
chr dợc áp dụng đối với các lệnh nhỏ . Giá chứng khoán đợc hình thannhf qua thơng lợng
và thoả thuận riêng biệt nên sẽ phụ thuộc vào từng nhà kinh doanh đối tác trong giao dịch
và nh vậy sẽ có nhiều mức giá khác nhau đối với một loại chứng khoán tại một thời điểm .
Tuy nhiên , với sự tham gia của các nhà tạo lập thị trờng và cơ chế báo giá tập trung qua
mạng máy tính điện tử nh ngày nay dẫn ddến sự cạnh tranh giá mạnh mẽ giữa các nhà kinh
doanh chứng khoán và vì vậy , khoảng cách chênh lệch giữa các mức giá sẽ thu hẹp do
diẽn ra sự “ đấu giá “ giữa các nhà tạo lập thị trờng với nhau , nhà đầu t chỉ viẹc chọn lựa
giá tốt nhất trong các báo giá của các nhà tạo lập thị trờng
Thị trờng có sự tham gia của các nhà tạo lập thị trờng đó là các công ty giao dịch –
môi giới . Các công ty này có thể hoạt động giao dịch dới hai hình thức : Thứ nhất là mua
bán chứng khán cho chính mình bằng nguồn vốn của công ty - đó là hoạt động giao dịch.
Thứ hai là làm môI giới đại lý cho khách hàng để hởng hoa hồng - đó là hoạt động môI
giới
Khác với Sở giao dịch chứng khoán chỉ có một ngời tạo ra thị trờng cho mỗi loại
chứng khoán đó là các chuyên gia chứng khoán , thị trờng OTC có sự tham gia và vâvj
hành của các nhà tạo lập thị trờng ( Market Maker ) cho một loại chứng khoán bên cạnh
các nhà môi giới tự doanh . Nhiệm vụ quan trọng nhất và chủ yếu của các nhà tạo lập thị
Thị trờng chứng khoán trờng là tạo tính thanh khoản cho thị trờng thông qua viêc nắm giữ
một lơngj chứng khoán để sẵn sàng giao dịch với khách hàng . Để tạo ra chỉ thị trờng cho
một loại chứng khoán ,các công ty giao dịch – môi giới sẽ xớng mức giá cao nhất sẵn sàng
mua ( giá đặt mua ) và giá thấp nhất sẵn sàng bán (giá chào bán ) , các mức giá này là giá
yết của các nhà tạo thị trờng và họ sẽ đợc hởng chênh lệch giá thông qua việc mua và bán
chứng khoán . Hệ thống các nhà tạo lập thị trờng đợc coi là động lực cho thị trờng OTC
phát triển . Muốn tham gia trên thị trờng OTC , các công ty môI giới phải đăng ký hoạt
động với các cơ quan quản lý ( Uỷ ban chứng khoán , Sở giao dịch chứng khoán hoặc hiệp
hội các nhà kinh doanh chứng khoán ) và có trách nhiệm tuân thủ các chuẩn mực về taì
chính , kỹ thuật , chuyên môn và đạo đức hành nghề
Là thị trờng sử dụng hệ thông mạng máy tính điện tử diện rộng liên kết tất cả các
đối tợng tham gia thị trờng . Vì vậy , thị trờng OTC còn đợc gọi là thị trờng mạng hay thị
trờng báo giá điện tử . Hệ thông mạng của thị trờng đợc các đối tợng tham gia trên thị
trờng sử dụng để đặt lệnh giao dịch , đàm phán , thơng lợng giá , truy cập và thông báo các
thông tin liên quan đến các giao dịch chứng khoán … Chức năng của mạng đợc sử dụng
rộng rãi trong giao dịch mua bán và quản lý trên thị trờng OTC
Quản lý thị trờng OTC . Cấp quản llý trên thị trờng OTC tơng tự nh quản lý hoạt
động của thị trờng chứng khoán tập trung và đợc chia làm hai cấp
* Cấp quản lý Nhà nớc : do cơ quan quản lý thị trờng chứng khoán trực tiếp quản lý
theo pháp luật về chứng khoán và các luật có liên quan , cơ quan này thờng gọi là Uỷ quan
chứng khoán nhà nớc
*Cấp tự quản : có thể do hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quản lý nh ở
Mỹ , Nhật , Thái Lan , Hàn Quốc … hoặc do trực tiếp sở giao dịch đồng thời quản lý mh ở
Anh Pháp ,Canada …Nhìn chung , nội dung và mức độ quản lý ở mỗi nớc khác nhau m
tuỳ thuộc vào điều kiện và đặc thù từng nớc nhng đều có chung mục tiêu là đảm bảo sự ổn
định và phát triển liên tục của nền kinh tế thị trờng
Cơ chế thanh toán trên thị trờng OTC là linh hoạt và đa dạng . Do phần lớn các giao
dịch mua bán trên thị trờng OTC đều thực hiện trên cơ sở thơng lợng và thoả thuận nên
phơng thức thanh toán trên thị trờng OTC linh hoạt gữa ngời mua và bán , khác với phơng
thức thanh toán bù trừ đa phơng thống nhất nh trên thị trờng tập trung . Thời hạn thanh
toán không cố định nh trên thị trờng tập trung mà rất đa dạng T+0,T+1, T+2,T+x trên cùng
một thị trờng, tuỳ theo thơng vụ và sự phát triển của thị trờng
3.3.Vị trí và vai trò thị trờng OTC
3.3.1 Vị trí của thị trờng OTC
Thị trờng OTC là một bộ phận cấu thành thị trờng chứng khoán ,luôn tồn tại và phát
triển song song với thị trờng chứng khoán tập trung ( các Sở giao dịch chứng khoán ). Tuy
nhiên , do đặc đểm khác biệt với thị trờng tập trung ở cơ chế xác lập giá thơng lợng và
thoả thuận là chủ yếu , hàng hoá trên thị trờng da dạng . Vì vậy , thị trờng OTC có vị trí
quan trọng trong cấu trúc thị trờng chứng khoán ,là thị trờng bộ phận hỗ trợ thị trờng tập
trung
3.2 Vai trò thị trờng OTC
Hỗ trợ và thúc đẩy thị trờng chứng khoán tập trung phát triển
Hạn chế , thu hẹp thị trờng tự do góp phần đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của thị
trờng chứng khoán
Tạo thị trờng cho các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ , các chứng khoán
cha đủ điều kiện niêm yết
Tạo môi trờng đầu t linh hoạt cho các nhà đầu t
4. Sở giao dịch chứng khoán
4.1.Khái niệm , chức năng của Sở giao dịch chứng khoán
1.1 Khái niệm
Thị trờng chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là thị trờng giao dịch chứng khoán đợc thực
hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch chứng khoán ( trading floor) hoặc
thông qua hệ thống máy tính
Các chứng khoán đợc niêm yết tại SGDCK thông thờng là chứng khoán của các
công ty lớn , có danh tiếng và đã từng trảI qua thử thách trên thị trờng và đáp ứng đợc các
tiêu chuẩn niêm yết ( gồm các tiêu chuẩn định tính và dịnh lợng do SGDCK đặt ra )
Lịch sử phát triển thị trờng chứng khoán gắn liền với sự ra đời và phát triển của
SGDCK , từ buổi sơ khai ban đầu hoạt động của SGDCK với phơng thức thủ công (bảng
đen , phấn trắng ) diễn ra tại sàn giao dịch , sau này có sự trợ giúp của máy tính (bàn tính
thủ công ) và ngày nay hầu hết các thị trờng chứng khoán mới nổi , đã điện toán hoá hoàn
toàn , không còn khái niệm sàn giao dịch.
1.2 Chức năng của SGDCK
Việc thiết lập một thị trờng chứng khoán có tổ chức , vận hành liên tục với các
chứng khoán có chọn lựa là một trong những chức năng quan trọng nhất của SGDCK .
Mặc dù hoạt động của SGDCK kkhông mang lại vốn trực tiếp cho tổ chức phát hành ,
nhng thông qua SGDCK các chngs khoán phát hành đợc giao dịch liên tục , làm tăng tính
thanh khoản và khả mại cho các chứng khoán . Các tổ chức phát hành có thể phát hành để
tăng vốn qua thị trờng chứng khoán ,các nhà đầu t có thể dễ dàng mua hoặc bán chứng
khoán niêm yết một cách nhanhchóng
Chức năng xác định giá công bằng là cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra một thị
trờng liên tục .Giá cả không do SGDCK hay thành viên SGDCK áp đặt mà đợc SGDCK
xác định dựa trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán chứng khoán . Giá cả đợc xác địng
bởi cung- cầu trên thị trờng . Qua đó , SGDCK mới có thể tạo ra đợc một thị trờng tự do,
công khai và công bằng . Hơn nữa , SGDCK mới có thể đa ra các báo cáo một cách chính
xác , liên tục về các chứng khoán , tình hình hoạt động các tổ chức niêm yết , các công ty
chứng khoán
4.2. Niêm yết chứng khoán
4.2.1Khái niêm
Niêm yết chứng khoán là quá trình định danh các chứng khoán đáp ứng đủ các tiêu
chuẩn đợc giao dịch trên SGDCK . Cụ thể đay là quá trình SGDCK chấp thuận cho các
công ty phát hành có chứng khoán đợc phép niêm yết và giao dịch trên SGDCK nếu công
ty đó đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về định lợng cũng nh định tính mà SGDCK đề ra
Niêm yết chứng khoán thờng bao hàm việc yết tên tổ chức phát hành và giá các
chứng khoán
Hoạt động niêm yết đòi hỏi phải đảm bảo sự tin cậy đối với thị trờng cho các nhà
đầu t . Cụ thể , các công ty niêm yết phảI đáp ứng những điều kiện niêm yết . Điều kiện
này đợc quy định cụ thể trong quy định về niêm yết chứng khoán do SGDCK ban hành .
Thông thờng , có hai loại quy định cính về niêm yết là yêu cầu về công bố thông tin của
công ty và tính khả mại của chứng khoán . Các nhà đầu t và công chúng phả nắm đợc đầy
đủ các thông tin và có cơ hội nắm bắt thông tin do công ty phát hành công bố ngang nhau ,
đảm bảo sự công bằng trong tiếp nhận thông tin , kể cả thông tin mang tính chất định kỳ
hoặc thông tin tức thời có tác động đén giá cả , khối lợng giao dịch
2.2 Mục tiêu của việc niêm yết
Thiết lập quan hệ hợp đồng giữa SGDCK với tổ chức phát hành có chứng khoán
niêm yết , từ đó quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức phát hành trong vệc công bó
thông tin , đảm bảo tính trung thự , công khai và công bằng
Nhằm mục đích hỗ trợ thị trờng hoạt động ổn định , xây dựng lòng tin của công
chúng với thị rờng chứng khoán bằng cách lựa chọn các chứng khoán có chất lợng cao để
giao dịch .
Cung cấp cho các nhà đầu t những thông tin về các tổ chức phát hành
Thị trờng chứng khoán
Giúp cho việc xác định giá chứng khoán đợc công bằng trên thị trờng đấu giá vì
thông qua việc niêm yết công khai , giá chứng khoán đợc hình thành dựa trên s tiếp xúc
hiệu quả giữa cung và cầu chứng khoán
4.2.3 Vai trò việc niêm yết chứng khoán đối với tổ chức phát hành
*Thuận lợi
Công ty dễ dàng trong việc huy động vốn : Niêm yết nhằm mục đích huy động vốn
thông qua phát hành chứng khoán . Công ty đợc niêm yết có thể thu hút vốn dàI hạn với
chi phí thấp . Thông thờng , công ty niêm yết đợc công chúng tín nhiệm hơn công ty
không đợc niêm yết , bởi vậy , khi trở thành một công ty đợc niêm yết thì họ có thể dễ
dàng hơn trong việc huy động vốn
Tác động đến công chúng : Niêm yết góp phần “ tô đẹp “ thêm hình ảnh của công ty
trong mắt các nhà đầu t , các chủ nợ , ngời cung ứng , các khách hàng và những ngòi làm
công , nhờ vậy công ty niêm yết có “ sức hút “ đầu t hơn đối với các nhà đầu t
Nâng cao tính thanh khoản cho các chứng khoán : Khi các chứng khoán đợc niêm
yết , chúng có thể đợc nâng cao tính thanh khoản , mở rộng phạm vi chấp nhận làm vật thế
chấp và dễ dàng đợc sử dụng phục vụ cho các mục đích về tàI chính , thừa kế và các mục
đích khác . Hơn nữa , các chứng khoán đợc niêm yết có thể đợc mua với một số lợng nhỏ ,
do đó các nhà đầu t có vốn nhỏ vẫn có thể dễ dàng trở thành cổ đông công ty
Ưu đãi về thuế
Thông thờng ở các thị trờng chứng khoán mới nổi , công ty tham gia niêm yết đợc
hởng những chính sách u đãI về thuế trong hoạt động kinh doanh nh : mi ễn giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp trong một số năm nhất định
Đối với các nhà đầu t mua , chứng khoán niêm yết sẽ đợc hởng các chính sách y đãI
về thuế thu nhập ( mi ễn, giảm ) đối với các cổ tức , lãi hoặc chênh lệch mua bán chứng
khoán ( lãi vốn ) từ các khoản đầu t vào thị trờng chứng khoán
*Hạn chế
Nghĩa vụ báo cáo nh một công ty đai chúng : Công ty niêm yết phải có nghĩa vụ
thông tin một cách chính xác , đầy đủ , và kịp thời liên quan đến các mặt hoạt động của
công ty cũng nh các biến động có ảnh hởng đến giá cả chứng khoán niêm yết . Nghĩa vụ
công bố thông tin trong một số trờng hợp làm ảnh hởng đến bí quyết , bí mật kinh doanh,
gây phiền hà cho công ty
Những cản trở trong việc thâu tóm và sát nhập : Niêm yết bộc lộ nguồn vốn và phân
chia quyền biểu quyết của côg ty cho những ngời mua là những ngời có thể gây bất tiện
cho những cổ đông chủ chốt và công việc quản lý điều hành hiện tại cảu công ty . Công ty
có thể gặp nhiều cản trở trong việc thực hiện mục tiêu thâu tóm hay sát nhập của mình
5. Công ty chứng khoán
5.1. Khái niệm và phân loại CTCK
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ
tren thị trờng chứng khoán
Ở Việt Nam , theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm 1998
của UBCKNN ,CTCK là công ty cổ phần ,công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập hợp
pháp tại Việt Nam , đợc Uỷ ban chứng khoán nhà nớc cấp giấy phép thực hiên một số loại
hình kinh doanh chứng khoán
Do đặc điểm một CTCK có thể kinh doanh chứng khoán nhất định do đó ,hiện nay ,
có quan điểm phân chia CTCK nh sau
Công ty môi giới cứng khoán : là công ty CK chỉ thựchiện việc trung gian mua bán
chứng khoán cho khách hàng để hởng hoa hồng
Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán : là CTCK chủ yếu thực hiện nghi ệp vụ tự
doanh , có nghiã là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh
Công ty trái phiếu : là CTCK chuyên mua bán các loại tráI phiếu
Thị trờng chứng khoán
Công ty chứng khoán không tập trung : là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị
trờng OTC và họ đóng vai trò các nhà tạo lập thị trờng
5.2. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
CTCK hoạt động theo hai nhóm nguyên tắc đó là nhóm nguyên tắc đạo đúc và
nhóm nguyên tắ mang tính tài chính
Nhóm nguyên tắc đạo đức
CTCK phải đảm bảo tính trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng
Kinh doanh có kỹ năng , tận tuỵ , có tinh thaanf trách nhiệm
Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trớc khi thực hiện lệnh của công ty
Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng , không đợc tiết lộ các thông tin về tàI khoản
khách hàng khi cha đợc khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của cơ quan
quản lý nhà nớc
CTCK khi thực hiện nhiệm vụ t vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin chokhách hàng
và giảI thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu ,đồng thời họ
không đợc khẳng định về lợi mhu ận các khoản đầu t mà họ t vấn
CTCK không đợc phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao
thông thờng cho dịch vụ t vấn của mình
Ở nhiều nớc ,các CTCK phả đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu t chứng khoán
để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trờng hợpCtCK mất khả năng thanh toán
Nghiêm cấm thực hện các gio dịch nội gián , các công ty chứng khoán không đợc
phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình , gây thiệt hại
đến lợi ích khách hàng
Các CTCK không đợc tiến hành các hoạt động có thể lamf cho khách hàng và công
chúng hiểu lầm về giá cả , giá trị và bản chất của chứng khoán hoặccác hoạt động khác
gây thiệt hại cho khách hàng
Nhóm nguyên tắc tài chính
Đảm bảo các yêu cầu về vốn , cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán ,báo cáo theo qui
định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc . Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh
doanh chứng khoán với khách hàng
Công ty chứng khoán không đợc dùng tiền khách hàng làm nguồn tài chính để kinh
doanh , ngoại trừ trờng hợp số tiền đó dùng phụcvụcho giao dịch khách hàng
Công ty chứng khoán phảI tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài
sản của mình . Công ty chứng khoán không đợc ding chứng khoán của khách hàng làm vật
thế chấp để vay vốn trừ trờng hợp đợc khách hàng đồng ý bằng văn bản
5.3. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuọc vào loại hình nghiệp vụ chứng
khoán mà công ty thực hiện cũng nh qui mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó .
Tuy nhiên , chúng đều có những đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng đợc
chia thành nhóm 2 khối khác nhau là khối nghiệp vụ và khối phụ trợ
Khối nghiệp vụ ( front office ) là khối thực hiện các giao dịch kinh doanh và dịch vụ
chứng khoán . Khối này đem lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu khách
hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó . Tơng ứng với các nghiệp vụ do khối
này phụ trách sẽ có những bộ phòng ban nhất định
Phòng môi giới
Phòng tự doanh
Phòng bảo lãnh phát hành
Phòng quản lý danh mục đầu t và quĩ đầu t
Phòng t vấn tài chính đầu t
Phòng kỹ quĩ
Tuy nhiên , căn cứ vào quy mô thị trờng và sự chú trọng vào các nghiệp vụ mà công
ty chứng khoán có thể chuyên sâu từng bộ phận hoặc tổng hợp các nghiệp vụ trong bộ
phận
Thị trờng chứng khoán
Khối phụ trợ (back office ) là khối không trực tiếp thực hiên các ngiệp vụ kinh
doanh , nhng nó không thể thiếu đợc trong vận hành của công ty chứng khoán vì hoạt động
của nó mang tính chất ttrợ giúp cho khối nghiệp vụ . Khối này bao gồm các bộ phận sau
Phòng nghi ên cứu phát triển
Phòng phân tích và thông tin thị trờng
Phòng kế hoạch công ty
Phòng phát triển sản phẩm mới
Phòng công nghẹ tin học
Phòng pháp chế
Phòng kế toán , thanh toán và kiểm soát nội bộ
Phòng ngân quĩ , kí quĩ
Phòng tổng hợp hành chính , nhân sự
Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối nh vậy , do mức độ phát triển của công ty chứng
khoán và thị trờng chứng khoán mà có thể có thêm các bộ phạn khác nh : mạng lới chi
nhánh , văn phòng trong và ngoàI nớc , văn phòng đại lý … vv, hoặc các phòng ban liên
quan đến các nghiệp vụ khác từ ngân hàng , bảo hiểm (tín dụng chứng khoán , bảo hiểm
chứng khoán )
5.4. Vai trò , chức năng của công ty chứng khoán
Hoạt động của thị trờng chứng khoán trớc hết cần những ngời môi giới trung gian ,
đó là các công ty chứng khoán – một định chế tài chính trên thị trờng chứng khoán , có
nghiệp vụ chuyên môn , đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù hợp để thực
hiện vai trò trung gian môI giới mua- bán chứng khoán , t vấn đầu t và một số dịch vụ
khác cho cả ngời đầu t lẫn tổ chức phát hành
Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nói
chung và thị trờng chứng khoán nói riêng . Nhờ các công ty chứng khoán nà chứng khoán
đợc lu thông từ nhà phát hành tới ngời đầu t và có tính thanh khoản cao , qua đó huy động
nguồn vốn từ nơI nhàn rỗi để phân bổ vào nơI sử dụng có hiệu quả
Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán
Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa ngời có tiền nhàn rỗi đến những ngời sử
dụng vốn ( thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh )
Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch ( thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh)
Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán ( hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt và
ngợc lại từ tiền mặt ra chứng khoán moat cách dễ dàng )
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trờng ( thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò
tạo lập thị trờng )
Vai trò của công ty chứng khoán
Với những đặc điểm trên , công ty chứng khoán có vai trò rất quan trọng đối với
những chủ thể khác nhau trên thị trờng chứng khoán
Đối với tổ chức phát hành . Mục tiêu khi tham gia vào thị trờng chứng khoán của
các TCPH là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán . Vì vậy , thông qua
hoạt động đại lý phát hành , bảo lãnh phát hành , các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra
cơ chế cơ chế huy động phụcvụ các nhà phát hành
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán là nguyên tắc
trung gian . Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu t và những nhà phát hành không đợc
mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán . Các công ty
chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian mua bán cho cả ngời đầu t và ngời phát hành .
Và khi thực hiện công việc này , các công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn
cho nèn kinh tế qua thị trờng chứng khoán
Đối với các nhà đầu t .Thông qua các hoạt động nh môi giới , t vấn đầu t , quản lý
danh mục đầu t , công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch ,
do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu t . Đối với hàng hoá thông thờng ,
Thị trờng chứng khoán mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho ngời mua và bán .
Tuy nhiên , đối với thị trờng chứng khoán , sự biến động thờng xuyên của giá cả chứng
khoán cũng nh mức độ
rủi ro cao sẽ làm cho các nhà đầu t tốn kém chi phí , công sức và thời gian tìm kiếm thông
tin trớc khi quyết định đầu t. Nhng thông qua công ty chứng khoán , với trình độ chuyên
môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu t thực hiện các khoản đầu t một cách
hiệu quả nhất
Đối với thị trờng chứng khoán . Với thị trờng chứng khoán , công ty chứng khoán
thể hiện 2 vai trò chính
(1)Góp phần tạo lập giá cả , điều tiết trên thị trờng . Giá cả chứng khoán là do thị
tròng quyết định . Tuy nhiên , để đa ra mức giá cuối cùng , ngời mua và ngời bán phảI
thông qua các công ty chứng khoán vì họ không đợc tham gia trực tiếp vào quá trình
mua –bán . Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trờng , do vậy họ cũng
góp phần tạo lập giá cả thị trờng thông qua đấu giá . Trên thị trờng sơ cấp , các công ty
chứng khoán cùng các nhà phát hành đa giá đầu tiên . Chính vì vậy , giá cả mỗi loại chứng
khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị
trờng . Để bảo vệ nhứng khoản đầu t của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình ,
nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò
bình ổn thị trờng
(2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính
Thị trờng chứng khoán có vai trò là môi trờng làm tăng tính thanh khoản của các tàI
sản tài chính . Nhng các công ty chứng khoán mới la ngời thực hiện tốt vai trò đó vì công
ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trờng . Trên thị trờng cấp 1 , do thực hiện
các hoạt động nh bảo lãnh , phát hành , chứng khoán hoá , các công ty chứng koán không
những huy động một lợng vốn lớn đa vào sản xuất kinh doanh cho các nhà phát hành mà
còn làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính đợc đầu t vì các chứng khoán qua đợt
phát hành sẽ đợc mua bán trên thị trờng cấp 2 . Điều này làm giảm rủi ro , tạo tâm lý yên
tâm cho ngời đầu t . Trên thị trờng cấp 2 , do thực hiện các giao dịch mua bán , các công ty
chứng khoán giúp ngời đầu t chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngợc lại . Những
hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của nhứng tàI sản tài chính
Đối với các cơ quan quản lý thị trờng . Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp
thông tin về thị trờng chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trờng để thực hiện mục tiêu
đó . Các công ty chứng khoán thực hiện đựoc vai trò này vì họ vừa là ngời bảo lãnh cho
các chứng khoán mới , vừa là trung gian mua bán và thực hiện các giao dịch trên thị trờng .
Một trong những yêu cầu của thị trờng chứng khoán là các thông tin cần phải đợc công
khai hoá dới sự giám sát của cơ quan quản lý thị trờng . Việc cung cấp thông tin vừa là qui
định của hệ thống luật pháp , vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán
vì công ty chứng khoán cần minh bạch và công khai trong hoạt động . Các thông tin công
ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các cổ phiếu , trái phiếu và các tổ
chức phát hành , thông tin về các nhà đầu t vv… Nhờ các thông tin này , các cơ quan quản
lý thị trờng có thể kiểm soát và chống các hoạt động thao túng , lũng đoạn và bóp méo thị
trờng
Tóm lại , công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trờng chứng
khoán , có vai trò cần thiết và quan trọng với các nhà đầu t , các nhà phát hành , đối với
các cơ quan quản lý thị trờng và đối với thị trờng chứng khoán nói chung . Những vai trò
này đợc thể hiện thông qua các nghi ệp vụ hoạt động của các công ty chứng khoán
6. Giao dịch trên chứng khoán
6.1.Lệnh giao dịch
Trên các thị trờng chứng khoán quốc tế , có rất nhiều loại lệnh giao dịch đợc sử
dụng . Trên thực tế , phần lớn các lệnh giao dịch đợc ngời đầu t sử dụng là lệnh giao dịch
và lệnh thị trờng
Lệnh thị trờng ( market order ) là loại lệnh đợc sử dụng rất phổ biến trong các
giao dịch chứng khoán . Khi sử dụng lệnh này , nhà đầu t sẵn sàng chấp nhận mua hoặc
bán theo mức giá của thị trờng hiện tại và lệnh của nhà đầu t luôn đợc thực hiện . Tuy
nhiên , mức giá do quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trờng quyết định . Vì vậy , lênh
thị trờng còn đợc gọi là lệnh không ràng buộc
Lệnh thị trờng là một công cụ hữu hiệu có thể đợc sử dụng để nâng cao doanh số
giao dịch trên thị trờng , tăng cờng tính thanh khoản của thị trờng . Lệnh thị trờng cũng tỏ
ra thuân tiện cho ngời đầu t vì họ chỉ cần chỉ ra khối lợng giao dịch mà không càc chỉ ra
mức giá giao dịch cụ thể và lệnh thị trờng đợc u tiên thực hiện trớc so với các loại lệnh
giao dịch khác . NgoàI ra , nhà đầu t cũng nh công ty chứng khoán sẽ tiết kiệm đợc các chi
phí do ít gặp phảI sai sót hoặc không phảI sửa lệnh cũng nh huỷ bỏ lệnh
Tuy nhiên , hạn chế nhất định của lệnh thị trờng là dế gây sự biến động giá bất
thờng , ảnh hởng đến tính ổn định giá của thị trờng , do lệnh luôn tiềm ẩn khả năng đợc
thực hiện ở một mức giá không thể dự tính trớc . Vì vậy, các thị trờng chứng khoán mới đa
vào vận hành thờng ít sử dụng lệnh thị trờng và lệnh thị trờng thông thờng chỉ áp dụng với
các nhà đầu t lớn , chuyên nghiệp ,đã có thông tin liên quan đến mua bán và xu hớng vận
động giá cả chứng khoán trớc , trong và sau khi lệnh đợc thực hiên . Lệnh thị trờng đợc áp
dụng chủ yếu trong các trờng hợp bán chứng khoán vì tâm lý ngời bán thờng là mu ốn bán
nhanh theo giá thị trờng và đối tợng lệnh này thờng là các chứng khoán “ nóng “ , nghĩa là
các chứng khoán đang có sự thiếu hụt hoặc d thừa tạm thời
Lệnh giới hạn (limit order ) là loại lệnh giao dịch trong đó ngời đặt lệnh đa ra mức
giá mua hay bán có thể chấp nhận đựoc . Lệnh giới hạn mua chỉ ra mức giá cao nhất mà
ngời ua chấp nhạn thực hiện giao dịch ; lệnh giới hạn bán chỉ ra mức giá bán thấp nhất mà
bán chấp nhận giao dịch
Một lệnh giới hạn thông thờng không thể thực hiện ngay , do đó ngời đầu t phải xác
định thời gian cho phép đến khi có lệnh huỷ bỏ .Trong khoảng thời gian lệnh giới hạn mua
cha đợc thực hiện , khách hàng có thể thay đổi mức giá giới hạn . Khi đã hết thời gian qui
định , lệnh cha đợc thực hiện hoặc thực hiện cha đầy đủ mặc nhiên sẽ hết giá trị
Lệnh giới hạn có u và nhợc điểm . Về u điểm , lệnh giới hạn giúp các nhà đầu t dự
tính đợc mức lời hoặc lỗ khi giao dịch đợc thực hiện . Tuy nhiên , lệnh giới hạn có nhợc
điểm là nhà đầu t khi ra lệnh giới hạn có thể nhận rủi ro mất cơ hội đầu t , đặc biệt là trong
trờng hợp giá thị trờng bỏ xa mức giá giới hạn (ngoàI tầm kiểm soát của khách hàng ) .
Trong một số trờng hợp , lệnh giới hạn có thể không đợc thực hiện ngay cả khi giới hạn
đợc đáp ứng vì không đáp ứng đựoc các nguyên tắc u tieen trong khớp lệnh
Lệnh dừng ( stop order )là loại lệnh đặc biệt để đảm bảo cho các nhà đầu t có thể
thu lợi nhuận tại một mức độ nhất định ( bảo vệ lợi nhuận ) và phòng chống rủi ro trong
trờng hợp giá chứng khoán chuyển động theo chiều hớng ngợc lại
Sau khi đặt lệnh , néu giá thị trờng đạt tới hoặc vợt qua mức giá dừng thì khi đó lệnh
dừng thực tế sẽ trở thành lệnh thị trờng Lệnh dừng thờng đợc các nhà đầu t chuyên nghiệp
áp dụng và không có sự bảo đảm nào cho giá thực hiện sẽ là giá dừng . Nh vậy , lệnh dừng
khác lệnh giới hạn ở chỗ , lệnh giới hạn bảo đảm đợc thực hiện với giá giới hạn hoặc tốt
hơ n
Lệnh dừng giới hạn ( stop limit order )là lệnh sử dụng nhằm khắc phục sự bất định
về mức giá thực hiện tiềm ẩn trong lệnh dừng . Đối với lệnh dừng giới hạn , ngời đầu t
phải chỉ rõ hai mức giá .Một mức giá dừng và một mức giá giới hạn. Khi giá thị trờng đạt
tới hoặc vợt qua mức giá dừng thì sẽ trở thành lệnh giới hạn thay vì lệnh thị trờng
Hạn chế của lệnh dừng giới hạn là không đợc áp dụng trên thị trờng OTC vì không
có sự cân bằng giữa giá của nhà môi giới và ngời đặt lệnh
Lệnh mở là lệnh có hiệu lực vô thời hạn . VớI lệnh này , nhà đầu t yêu cầu nhà môI
giới mua hoặc bán chứng khoán tại các mức giá cá biệt và lệnh có gia trị thờng xuyên cho
đến khi bị huỷ bỏ
Lệnh sửa đổi là lệnh do nhà dầu t đa vào hệ thống để sửa đổi một số nội dung vào
lệnh gốc đã đặt trớc đó ( giá , khối lợng, mua hay bán ) .Lệnh sửa đổi chỉ đợc chấp nhận
khi lệnh gốc cha đợc thực hiện
Lệnh huỷ bỏ ( cancel order ) là lệnh do khách hàng đa vào hệ thống để huỷ bỏ lệnh
đặt trớc đó . Lệnh huỷ bỏ chỉ đợc chấp nhận khi lệnh gốc cha đợc thực hiện
6.2. Đơn vị giao dịch
Trên thị trờng chứng khoán , chứng khoán đợc giao dịch không theo từng chứng
khoán riêng lẻ mà theo từng đơn vị giao dịch còn gọi là lô ( lot) chứng khoán. Căn cứ vào
lô chứng khoán để phân chia thành các khu vực thơng mại khác nhau . Việc qui định đơn
vị giao dịch lớn hay nhỏ sẽ có ảnh hởng đến khả năng tham gia của các nhà đầu t cũng nh
khả năng xử lý lệnh của hệ thống thanh toán bù trừ trên thị trờng . Đơn vị giaodịch đợc qui
định cụ thể cho từng loại chứng khoán ( cổ phiếu , trái phiếu , chứng chỉ , quĩ đầu t , công
cụ phát sinh )
Lô chẵn ( round lot ). Một lô chẵn đối với cổ phiếu , chứng chỉ quĩ đầu t thông
thờng là 100 cổ phieeus hoặc chứng chỉ quĩ đầu t . Một lô chẵn đối với tráI phiếu thông
thờng là 10 tráI phiếu
Lô lẻ ( odd lot ) là giao dịch có khối lợng dới lô chắn ( dới 100 cổ phiếu hoặc 6% ). Tỷ lệ tăng trởng kinh tế bình
quân trong 5 năm trở lại đây luôn đợc duy trì ổn định ở mức > 7%. Công nghiệp , nông
nghiệp dịch vụ đều có những thành tựu vợt bậc. Nền kinh tế thị trờng đã bắt đầu ổn định,
đang thâm nhập trong chính đời sống hằng ngày của ngời dân. Thu nhập của dân c đã tăng
và trong nội bộ nền kinh tế đã có tích luỹ.
Nhng liệu có sớm quá không khi mà nền kinh tế của nớc ta tuy trên quan điểm của
Đảng là từ năm 1986 xây dựng kinh tế thị trờng nhng thực chất mới thực sự phát triển từ
những năm 90. Hệ thống thể chế tài chính của nớc ta vẫn cha hoàn chỉnh , còn rất nhiều
chỗ hổng , hơn thế nữa ,việc đa nền kinh tế thị trờng -vốn là đặc trng của CNTB- theo định
hớng XHCN không phải là một chuyện dễ dàng trong ngày một , ngày hai . Kinh tế thị
trờng gắn liền với doanh nghi ệp, mà hệ thống doanh nghiệp của nớc ta chủ yếu là doanh
nghiệp Nhà nớc , vốn chậm thay đổi và phát triển . Bởi vậy , Nhà nớc đã ban hành nhiều
chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển , sửa đổi và bổ sung luật
doanh nghiệp, và từ năm 1993 , Nhà nớc có chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp .Tuy
nhiên ,các doanh nghiệp của chúng ta vẫn còn yếu kém về nhiều mặt : thiếu vốn , thiếu
kinh nghiệm quản lý ,khả năng cạnh tranh kém vv…
Nh vậy nền kinh tế thị trờng nớc ta vẫn còn nhiều yếu điểm, mà thị trờng chứng
khoán lại là một sự phát triển bậc cao của nền kinh tế thị trờng ,thế thì việc thành lập
TTCK là sớm quá chăng. Nhng chính TTCK lại là một trong những giải pháp tốt nhất cho
những câu hỏi lớn mà nền kinh tế đang gặp phải, đồng thời nó cũng là hớng phát triển đầy
triển vọng trong tơng lai. Thật vậy ,TTCK có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế và
hệ thống tài chính quốc gia Muốn xem xét điều này , chúng ta hãy so sánh nguồn vốn của
ngân hàng , nguồn vốn từ ngân sách và nguồn vốn từ TTCK .
Nguồn vốn ngân sách trong nền kinh tế thị trờng đợc cung cấp để xây dựng cơ sở hạ
tầng , dịch vụ công cộng . Đây là nguồn vốn đáng kể , và đối với các nớc đang phát triển
thì lại càng có ý nghĩa to lớn . Song , cơ chế phân phối nguồn vốn này có những hạn chế
nhất định và có thể gây ra các hiện tợng tiêu cực . Nguồn vốn thứ hai đóng vai trò quan
trọng đối với nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển là nguồn vốn từ các ngân hàng ,
song cũng cần nhìn nhận những hạn chế của nguồn vốn này . Vì nhu cầu thực tiễn của xã
hội nên ngân hàng phải cho vay các chơng trình phát triển nông thôn , các công trình đầu t
công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nớc . Khối lợng cho vay mỗi năm một tăng lên , trong
khi việc trả nợ không theo kịp , vì việc cho vay ngắn hạn có rủi ro thu hồi vốn cao , còn
việc cho vay dài hạn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi vốn ngắn hạn
sang vốn dài hạn . Ngoài ra , nền kinh tế thế giới luôn luôn biến động và có thể đẩy ngân
hàng vào tình thế khó khăn và nguy cơ khủng hoảng .Đối với các nớc đang phát triển , vay
nợ nớc ngoài , thì những biến động kinh tế thế giới càng tác động nghiêm trọng hơn đối
với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng .
Khác với hai nguồn vốn nói trên , nguồn vốn từ thị trờng chứng khoán , thứ nhất ,
đợc huy đông và phân phối theo đúng cơ chế tị trờng , vì vậy nó phải tuân theo qui luật
nghiêm ngặt của thị trờng . Việc phân phối vốn qua ngân hàng cũng theo qui luaatj thị
trờng , nhng vẫn bị tác động của ý chí chủ quan ,vì việc cho vay vẫn phải qua thẩm định
dự án và đánh giá của ngân hàng . Thứ hai , TTCK đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa
nh ngân hàng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế . Thậm chí , trong từng giai đoạn
phát triển , khi ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn thì TTCK có thể là hệ thống huy
động vốn thay thế
TTCK Việt Nam nếu đợc thành lập sẽ có tiềm năng rất lớn phát triển vì đã có hệ
thống các công ty cổ phần , có nhiều doanh nghiệp CPH . Quá trình CPH doanh nghiệp và
phadt triển TTCK có thể thúc đẩy lẫn nhau . Vốn trong dân đã tích tụ nhiều cũng là điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển TTCK. Các công ty niêm yết trên thị trờng chứng khoán
là các công ty đại chúng , do nhiều ngời đầu t . Khi tham gia trên thị trờng chứng khoán thì
các công ty phải công bố công khai mọi thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất , kinh
doanh của mình . Việc thay đổi hành vi công ty có nghiã là hội đồng quản trị và ban giám
đốc phải thay đổi phơng thức quản lý theo xu hớng hội nhập quốc tế , cạnh tranh – phát
triển và cùng tồn tại . Đây chính là giảI pháp hoàn hảo để tạo ra một môi trờng cạnh tranh
công bằng cho các doanh nghiệp
Vậy ,sự thành lập TTCK là vô cùng cần thiết nhng trong lúc này ,ta cha thể có một
TTCK đúng nghĩa .Trong tình hình đó , Nhà nớc ta quyết định thành lập thị trờng chứng
khoán nhng lúc đầu chỉ xây dựng mô hình để tập dợt, tìm ra những kinh nghiệm để từng
bớc xây dựng một thị trờng chứng khoán hoàn chỉnh trong tơng lai
2. Hiện trạng thị trờng chứng khoán Việt Nam
Thị trờng chứng khoán Việt Nam tính đến nay đã hoạt động đợc trên 3 năm .. Sau 3
năm hoạt động , nhìn tổng thể kết quả đạt đợc là thiết lập đa vào hoạt động một TTCK có
tổ chức cho giai đoạn ban đầu , thể hiện trên các mặt sau
2.1 Về công tác tổ chức và vận hành trung tâm giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)
TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh đợc tổ chức theo mô hình tập trung qui mô nhỏ,
thực hiện chức năng xác định giá chứng khoán theo quan hệ cung cầu và tạo cơ hội luân
chuyển cho các nhà đầu t chứng khoán
Khi thị trờng bắt đầu hoạt động ,chỉ có 2 cổ phiếu đợc niêm yết ,giao dịch tại
TTGDCK với tổng giá trị vốn niêm yết là 270 tỷ , đến nay tổng giá trị chứng khoán niêm
yết là gần 6.600 tỷ đồngbao gồm trên 1000 tỷ đồng cổ phiếu của 21 công ty cổ phần và
trên 5.550 tỷ đồng trái phiếu chính phủ (TPCP) và trái phiếu ngân hàng đầu t và phát triển
(NHĐT&PT) . Thời gian đầu TTGDCK chỉ thực hiện 3 phiên / 1tuần , từ tháng 3/2002
nâng lên 5 phiên một tuần . Tính đến 30/6/2003 TTGDCK đã tổ chức 570 phiên giao dịch
chứng khán liên tục , an toàn ,cđạt giá trị giao dịch chứng khoán gần 3700 tỷ đồng trong
đó giao dịch cổ phiếu khoảng 88% và giao dịch trái phiếu gần 12%
TTGDCK đã thực hiện tốt chức năng của một trung tâm lu ký chứng khoán trong
điều kiện cơ sở kỹ thuật cũng nh nhân lực còn rất hạn chế . Hệ thống lu kí hoạt động tơng
đối có hiệu quả , vì thế đã rút ngắn thời gian thanh toán từ 4 ngày xuống còn 3 ngày.
NgoàI việc lu ký 100% trái phiếu niêm yết ,số lợng cổ phiếu niêm yết đợclu ký đều trên
50% giúp cho hoạt động thanh toán giao dịch chứng khán nhanh gọn , giảm nhiều rủi ro.
TTGDCK đã chủ động thực hiện việc cung cấp thông tin kịp thời thông qua các công ty
chứng khoán tới ngời đầu t , đến nay đã thực hiện cung cấp thông tin trực tuyến thay cho
việc cung cấp thông tin tại sàn thông qua đại diện giao dịch của các công ty chứng khoán
Từ ngày 20/5/2003 TTGDCK đã áp dụng một số giải pháp kỹ thuật nh hạ thấp lô
giao dịch cổ phiếu , tăng từ 1 lên 2 lần khớp lệnh trong phiên giao dịch , bổ sung lệnh
giao dịch tại mức giá khớp lệnh (ATO ), giảm tỷ lệ ký quĩ tối thiểu xuống 70% . Việc áp
dụng những giải pháp trên bớc đầu có tác dụng thu hút thêm các nhà đầu t , đa dạng hình
thứclệnh giao dịch , tăng thêm lựa chọn cho nhà đầu t , tập dợt cho việc khớp lệnh liên tục
Nhìn chung , trong 3năm hoạt động ,TTCK đã thực hiện tốt công tác quản lý , niêm
yết thành viên ,giao dịch và công bố thông tin trên thị trờng ngày càng chủ động hơn
trong tổ chức ,vận hành và quản lý giao dịch chứng khoán . Tuy nhiên vẫn còn những bấy
cập trong giám sát giao dịch chứng khóan , giám sát thực hiện chế độ công bố thông tin
của công ty niêm yết
2.2 Về phát triển hàng hoá trên thị trờng chứng khoán
Đến nay , Uỷ ban chứng khoán đã cấp giấy phép đăng ký niêm yết cổ phiếu cho 21
công ty cổ phầnvới tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là 1.086 tỷ đồng ; cấp phép niêm yết cho
Ngân hàng đầu t và phát triển (NHĐT&PT )với tổng giá trị trái phiếu niêm yết là 157 tỷ
đồng ; TTGDCK TP.HCM đã phối hợp với bộ tài chính , tổ chức đấu thầu hơn 50 đợt
TPCP, trái phiếu của Quĩ hỗ trợ đầu t và phát triển đợc hơn 5400 tỷ đồng đa ra niêm yết
trên TTGDCK . UBCKNN cũng đã cấp giấy phép phát hành cho 5 công ty với tổng giá trị
trên 155,4 tỷ đồng . Hiện nay , UBCKNN đang xem xét hồ sơ xin đăng ký niêm yết cổ
phiếu của 2 công ty ( Cty Cơ khí xăng dầu và Cty cp bông Bạch Tuyết )
Qua hơn 3 năm hoạt động cho thấy , công tác tạo hàng hoá cho TTCK là rất quan
trọng , thời kỳ đầu việc triển khai công tác này có nhiều khó khăn , nhng đến nay số lợng
hàng hoá niêm yết trên 6000 tỷ đồng là một gắng rất lớn của UBCKNN
Các công ty niêm yết bớc đầu đã thực hiện tốt các qui định về công bố thông tin trên
TTCK và chú trọng nâng cao chất lợng quản trị công ty . Tuy nhiên ,do TTCK là một lĩnh
vực mới , phức tạp nên các Cty niêm yết cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định . Các
Cty niêm yết còn thụ động trong việc công bố thông tin liên quan đến hoạt động của công
ty . Trong thời gian qua , một số công ty niêm yết đã có những vi phạm về nghĩa vụ công
bố thông tin gây mất lòng tin công chúng đầu t nh : chậm nộp và công bố báo cáo tài
chính . Nhìn chung , các công ty niêm yết đều hoạt động tốt , tuy nhên có Cty niêm yết
thực hiện đầu t dàn trải , thiếu hiệu quả , ảnh hởng không tốt tới tình hình tài chính cũng
nh sự phát triển của công ty ( trờng hợp của Bibica )
Hiện nay , việc phát triển hàng hoá cho TTCK đang gặp nhiều khó khăn . Số lợng
hàng hoá có tăng nhng rất chậm. , các Cty niêm yết chủ yếu vẫn là những công ty qui mô
nhỏ , cha có phát hành trái phiếu công ty , trái phiếu công trìng niêm yết trên TTGDCK ;
việc đấu thầu TPCP qua TTGDCK triển khai còn ít , cha đáp ứng đợc yêu cầu
2.3 Về hoạt động của các tổ chức trung gian trên thị trờng
a) Hoạt động của công ty chứng khoán ( CtyCK)
Đến 30/6/2003 ,UBCKNN đã cấp phép hoạt động cho 12 công ty chứng khoán với
tổng số vốn điều lệ là 465 tỷ đồng , hoạt động các nghi ệp vụ : môI giới , bảo lãnh phát
hành, quản lý danh mục đầu t và t vấn đầu t
Qua hơn 3 năm tham gia thị trờng , về cơ bản , các Cty CK đều tuân thủ các qui
định của pháp luật về chứng khoán và TTCK . Bớc đầu các Cty Ck đã tập trung hoàn thiện
bộ máy tổ chức , nâng cao năng lực phục vụ khách hàng , một số công ty đã tăng vốn điều
lệ , sử dụng phơng thức nhận lệnh giao dịch gián tiếp qua Fax , mạng thông tin trực
tuyến … ,mở thêm các chi nhánh , phòng giao dịch , đại lý nhận lệnh tại các tỉnh , thành
phố Hà Nội ,TP.HCM , HảI Phòng , Bình Dơng ,Đồng Nai , Long An , Đà nẵng . Các
công ty chứng khoán đã xây dựng đợc một đội ngũ nhân viên nghiệp vụ kinh doanh đợc
đào tạo tốt
Nhìn chung , các công ty chứng khoán đã thực hiện vai trò trung gian trong việc môi
giới , mua bán chứng khoán , tích cực tham gia t vấn niêm yết và thực hiện cung cấp thông
tin đến các nhà đầu t , góp phần cvào thành công của thị trờng . Tuy nhiên , hạn chế trong
hoạt động của các công ty chứng khoán là một số công ty cha tuân thủ nghiêm túc các yêu
cầu về hoạt đôngj , cha thể hiện và trò tích cực , chủ động phát triển thị trờng; chất lợng t
vấn đầu t chứng khoán và t vấn niêm yết cha cac , cha đẩy mạnh nghiệp vụ tự doanh , nhà
đầu t còn cha thật sự tin tởng vào tính công bằng và khách quan trong hoạt động môi giới ,
t vấn đầu t , đội ngũ nhân viên cha đáp ứng đợc nhu cầu công việc
b) Hoạt động của các tổ chức trung gian hỗ trợ khác
UBCKNN đã lựa chọn NHĐT&PT Việt Nam làm ngân hàng chỉ định thanh toán ,
thực hiên thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán . Tính đến 30/6/2003 , ngân hàng
thanh toán đã thực hiên thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán một cách kịp thời,
hính xác với tổng số tiền khoảng 1000 tỷ đồng . Hiện nay , ngân hàng thanh toán đang
triển khai hoạt động theo hớng vừa là ngânhàng lu kí , vừa là ngân hàng phục vụ hoạt động
TTCK
Để phục vụ cho triển khai chứng khoán nhanh chóng , an toàn và thực hiện dịch vụ
liên quan đến quyền của ngời nắm giữ chứng khoán , đến nay đã có 5 ngân hàng lu kí ( 2
ngân hàng trong nớc , ba ngân hàng nớc ngoàI ) và 11 công ty chứng khoán đợc cấpgiấy
phép thực hiện dịch vụ lu ký chứng khoán . Hiện nay , TTCK đã có hệ thống lu ký chứng
khoán tập trung , hoạt động ổn định và đã cho phép ngời nớc ngoài mở tài khoản tại các
Cty CK , ngân hàng trong nớc tạo điều kiện để ngời đầu t trong nớc và ngoài nớc tham gia
thị trờng . Tuy nhiên cơ sở vật chất còn yếu kém , ngiệp vụ lu ký , đăng ký và thanh toán
bù trừ cha đợc tự động hoá , phải xử lý thủ công làm tăng thời gian và chi phí, độ an toàn
thấp
Đến nay ,UBCKNN đã chấp thuận cho 07 tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán các
báo cáo tài chính của các tổ chức phát hành , niêm yết chứng khoán và tổ chức kinh doanh
chứng khoán gồm 06 tổ chức kiểm toán trong nớc và 1 tổ chức kiểm toán nớc ngoài . Các
tổ chức kiểm toán đợc chấp thuận đã đáp ứng đợc yêu cầu kiểm toán cho các đối tợng
tham gia TTCK .Tuy nhiên trong quá trình triển khai nghi ệp vụ này , nhiều tổ chức kiểm
toán cũng có những thiếu sót nhất định , chất lợng báo cáo kiểm toán cha cao ,UBCKNN
đã phối hợp chătj chẽ với Bộ tài chính trong việc quản lý các tổ chức kiểm toán đựơc chấp
thuận cũng nh có biện pháp xử lý kịp thời
2.4 Về tham gia của nhà đầu t trong và ngoài nớc
Mặc dù thị trờng chứng khoán Việt nam mới hình thành và hoạt động đợc 3 năm
nhng đã thu hút đợc sự tham gia của các nhà đầu t trong và ngoài nớc . Số lợng các nhà
đầu t tham gia trên thị trờng liên tục tăng ; cuối năm 2000 có gần 3000 tài khoản giao dịch ;
cuối năm 2001 có gần 9000 tài khoản và đến 30/6/2003 có hơn 14.500 tài khoản
giao dịch trong đó hơn 90 nhà đầu t cố tổ chức và 35 nhà đầu t nớc ngoài . Sự tham gia của
các nhà đầu t nớc ngoài đã góp phần quan trọng cho sự phát triển của thị trờng chứng
khoán Việt Nam . Một trong những điểm nổi bật ở đối tợng các nhà ĐTNN là tính chuyên
ngiệp và bản lĩnh đầu t . Sự góp mặt của các nhà ĐTNN đã phần nào làm hạn chế sự suy
giảm của thị trờng , thâm chí có những thời điểm đã hâm nóng nhiệt độ thị ttrờng .
Tuy nhiên , số lợng nhà đầu t tham gia TTCK chủ yếu là nhà đầu t cá nhân , ít vốn ,
tham gia thị trờng mang tính chất thăm dò , khi thị trờng có dấu hiệu bất ổn thì rút khỏi thị
trờng . Số lợng tài khoản thờng xuyên giao dịch khoảng 1000 tài khoản . Nhà đầu t có tổ
chức quá ít . Nhà đầu t nớc ngoài phần lớn đang c trú tại Việt Nam , do qui mô thị trờng
còn bé , các chính sách đối với nhà ĐTNN còn cha rõ ràng , cơ chế mở tàI khoản lu ký ,
giao dịch cho nhà ĐTNN còn phức tạp nên cha thu hút đợc đông đảo nhà ĐTNN đặc biệt
là ngời không c trú tại Việt Nam
2.Đánh giá thị trờng chứng khoán sau hơn 3 năm hoạt động
Qua 3 năm hoạt động , thị trờng chứng khoán Việt Nam đã đạt đợc những kết quả
nh sau
Một là , đã mở ra một TTCK theo mô hình tập trung với qui mô nhỏ . Hoạt động
của thị trờng chứng khoán mặc dù cha phát triển nh mong muốn song bớc đầu đã đợc triển
khai suôn sẻ , không gây ra những biến cố lớn hoặc tác động tiêu cực tới đời sống kinh
tế – xã hội của đất nớc
Hai là , đã huy động đợc một khối lợng vốn nhất định cho ngấnachs Nhà nớc thông
qua cơ chế đấu thầu và bảo lãnh phát hành trên 5400 tỷ đồng TPCP , trái phiếu Quỹ hỗ trợ
phát triển để niêm yết trên thị trờng . Đã có 05 Cty phát hành thêm cổ phiếu để mở rộng
sản xuất kinh doanh , tăng vốn điều lệ với tổng vốn tăng thêm 155,4 tỷ đồng
Ba là , đã xây dựng đợc một hệ thống các tổ chức trung gian tham gia trên TTCK ,
bao gồm các Cty CK , các tổ chức lu ký , ngân hàng chỉ định thanh toán . Các trung gian
tàI chín đã làm tốt vai trò môi giới , mua bán chứng khoán trên thị trờng tập trung , tích
cực tham gia bảo lãnh phát hành và t vấn cho các công ty trong việc niêm yết và cung cấp
thông tin cho các nhà đầu t , thực hiện tốt việc thanh toán bù trừ các giao dịch chứng
khoán trên thị trờng
Bốn là , công chúng dần làm quen với với thị trờng chứng khoán . TTCK Việt Nam
đợc xây dựng là một thị trờng CK mang tính đại chúng , vì thế , mỗi cổ phiếu theo qui
định tại nghị định 48/1998/NĐ -CP chỉ có mệnh giá là 10.000 đồng đẻ ngời dù ít tiền cũng
có thể tham gia . Nhờ vậy , trong một thời gian ngắn , số lợng các nhà đầu t tăng lên rất
nhanh
Năm là , hoạt động quản lý , vận hành thị trờng của UBCKNN và TTGDCK
TPHCM đã có nhiều cải tiến và từng bớc hoàn thiện trên cơ sở rút kinh ngihi êm từ hoạt
động thực tiễn
Sáu là , hoạt động cuẩ TTCK góp phần thúc đẩy tiến trình CPH doanh nghiệp Nhà
nớc và áp dụng những công nghệ tốt nhất trong quản trị doanh nghiệp trong đó việc thực
hiện công khai thông tin về hoạt động sản xuất , kinh doanh và quản trị doanh nghiệp có ý
ngiã đặc biệt quan trọng tạo ra tiền đề phấn đấu cho sự phát triển vững chắc của doanh
nghiệp nói chung và Cty niêm yết nói riêng
2.2 Những hạn chế
Thứ nhất , TTCK Việt Nam phải chăng còn quá trầm lặng . Ta xem xét kể từ phiên
giao dịch chứng khoán đầu tiên, ngày 28/7/2000 , liên tiếp giá cổ phiếu tăng . Đến phiên
giao dịch ngày 26/6/2001 chỉ số chứng khoán VN. Index đạt con số kỷ lục là 571, 04 điểm,
trị giá trong phiên đạt 23.570.700.000 đồng . Tại thời điẻm đó , giá các cổ phiếu giao dịch
đã đạt tới mức cực đỉnh . Chỉ trong vòng một năm đầu chỉ số giao dịch đã tăng liên tục .
Nhng đó cũng là lời cảnh báo về sự tụt dốc tất yếu sẽ xảy ra . Và điều đó đã xảy ra ,chỉ số
VN.Index liên tục sụt giảm trong những tháng tiếp theo cùng với sự nguội lạnh dần của thị
trờng . Đến tháng 3 năm 2003 , giá các cổ phiếu đồng loạt sụt giảm , VN, Index giảm đến
mức kỷ lục145,41 điểm vào ngày 31/3 . Cung cầu của thị trờng cổ phiếu có những biểu
hiện khó nắm bắt . Các nhà đầu t trong tình trạng thiếu thông tin thị trờng trong khi những
thông tin tác động đa chiều luôn đợc chuyênr tải . Một số công ty niêm yết dờng nh đang
bị xói mòn hình ảnh tốt đẹp trong mắt các nhà đầu t . Sau đó , TTCK “ phục hồi" nhng từ
đó đến nay chỉ số chứng khoán chỉ trongphạm vi 150- 160 điểm ,tổng giá trị giao dịch
khớp lệnh từng phiên giao dịch chỉ đạt 2- 10 tỷ đồng . Thêm vào đó , mặc dù còn ở giai
đoạn phát triển ban đầu những hiện tợng đầu cơ , thao túng thị trờng … đã có dấu hiệu
manh nha trên thị trờng chứng khoán Việt Nam , và gây khó khăn không ít cho hoạt động
quản lý và điều hành thị trờng
Đồng thời do tổng mệnh giá các chứng khoán niêm yết còn quá nhỏ vì vậy ,sự thay
đổi giá cả của chúng cha phản ánh đợc động tháI của nền kinh tế quốc dân. Cho nên chỉ số
chứng khoán VN.Index không những không phát huy đợc tác dụng dự báo trớc xu hớng
mà còn phản ánh không đúng thực trạng nền kinh tế . Trong những năm gần đây , nền kinh
tế Việt Nam luôn tăng trởng cao , ổn định >7% trong khi đó ,chỉ số chứng khoán thì liên
tục biến thiên giảm .Nh vậy , TTCK cha thể đóng vai trò “ hàn thử biểu “ của nền kinh tế
Thứ hai , nền kinh tế Việt Nam còn khó khăn , thu nhập dân chúng thấp , nguồn
vống lại bị phân tán ,đầu t vào các tàI sản thay thế nh tiền gửi , ngân hàng , đầu t bất động
sản , ngoại tệ … cha có chính sách phù hợp để khai thác nguồn lực tàI chính trong dân .
TTCK cha thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dàI hạn cho đầu t páht triển .
Hiện nay tỉ lệ vốn đầu t vào chứng khoán còn quá nhỏ bé , tổng giá trị thị trờng mới chiếm
1,6% GDP
Thứ ba , hệ thống doanh nghiệp Việt Nam còn mang nặng t tởng của cơ chế kế
hoạch hoá tập trung , còn trông chờ vào nguồn vay u đãi không mu ốn huy động vốn trên
thị trờng . Các doanh nghiệp e nhại kiểm toán và công bố thông tin khi niêm yết trên thị
trờng chứng khoán . Các doanh nghiệp niêm yết không phải là các doanh nghiệp lớn , có
khả năng phát triển hấp dẫn ngời đầu t . Ngoài ra ở một số Cty niêm yết tỷ lệ vốn thuộc sở
hữu nhà nớc còn khá cao ,do vậy khối lợng cổ phiếu thực sự đa vào giao dịch rất thấp. Các
tổ chức niêm yết cha they hết dợc tầm quan trọng của việc công khai thông tin nên cha chủ
động , tự giác cung cấp thông tin cho công chúng đầu t , chính điều này phần nào ảnh
hởng đến lòng tin và quyết định tham gia thị trờng của ngời đầu t
Thứ t , Đảng và chính phủ chủ trơng phát triển hệ thống tài chính trong đó có thị
trờng vốn , TTCK ; tuy nhiên trong điều hành thì hệ thống thị trờng bị chia cắt : Thị trrờng
tiền tệ do Ngân hàng Nhà nớc quản lý , thị bảo hiểm do Bộ tài chính điều hành , TTCK do
UBCKNN giám sát . Các bộ ngành đều xây dựng chiến lợc phát triển của ngành mình,
song cha có sự tổng hợp thống nhất chiến lợc phát triển thị trờng tài chính nói chung. Vì
vậy định hớng và các giảI pháp thiếu đồng bộ ; cha coi việc phát triển thị trờng vốn, TTCK
là khâu đột phá trong chiến lợc phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN
Thứ năm , quản lý Nhà nớc về chứng khoán và TTCK còn nhiều bất cập, khó khăn.
UBCKNN đã tăng cờng công tác quản lý giám sát , xử lý kịp thời các vi phạm , tuy nhiên
cơ chế quản lý điều hành cha đáp ứng đòi hỏi thị trờng , thể hiện ở các mặt nh hệ thống
pháp lý cha đồng bộ , thâm chí mâu thuẫn ( ví dụ giữa các văn bản về tham gia mua cổ
phiếu của các nhà ĐTNN) ; chính sách khuyến khích các đối tợng tham gia thị trờng
( thuế , phí .. )cha thống nhất và cha thực sự đợc phát huy tác dụng ( ví dụ đối với nhà đầu
t cá nhân đợc miễn thuế , nhng các nhà đầu t có tổ chức thì cha đợc mi ễn thuế); ha kịp thời
xử lý các tình huống đặc biệt là lúc thị trờng lên xuống thất thờng
Hoạt động của TTGDCK còn hạn chế về mô hình tổ chức và trình độ kỹ thuật ; việc
cung cấp thông tin thị trờng cha đợc thuận lợi cho ngời quan tâm .
2.3 Nguyên nhân tồn tại
Những tồn tại và hạn chế nêu trên , bắt nguồn từ các nguyên nhân cơ bản sau
Một là , TTCK là một bộ phận cấu thành của thị trờng tài chính nhng đợc xây dựng
và phát triển một cách riêng rẽ , thiếu chiến lợc tổng thể phát triển thị trờng tài chính cũng
nh sự phối hợp cha chặt chẽ giữa các bộ , các ngành liên quan trong việc hoạch định và
thực thi chính sách
Hai là ,chứng khoán niêm yết còn hạn chế về số lợng , chất lợng cha cao . Nhiều
doanh nghiệp cha tiếp cân kịp thời với thị trờng vốn mà còn ỷ lại vào sự u đãI , bao cấp
của nhà nớc hoặc thói quen vay ngân hàng , mặt khác doanh nghiệp còn ngại công bố
thông tin , công khai tàI chính khi tham gia niêm yết
Ba là , thị trờng còn thiếu vắng các nhà đầu t có tổ chức ( Ngân hàng , bảo hiểm ,
quỹ đầu t ,các tổ chức đầu t chứng khoán chuyên nghiệp ) nên ảnh hởng đến tính ổn định
của thị trờng do tác động tâm lý của các nhà đầu t nhỏ , thiếu chuyên nghiệp
Bốn là ,việc quản lý và điều hành thị trờng của UBCKNN , TTGDCK còn bất cập ,
hạn chế do sự thiếu chủ động và thiếu kinh nghiêm của đội ngũ quản lý thị trờng
Năm là , vai trò của nhà nớc hỗ trợ thị trờng là rất quan trọng nhng cha đợc quan
tâm đúng mức nh các chính sách khuyến khích u đãi về thuế đối với các tổ chức tham gia
thị trờng
Sáu là , những biến động trong thời gian qua về thị trờng bất động sản , giá vàng ,
lãI suất ngân hàng tăng … cũng tác động, ảnh hởng xấu đến thị trờng chứng khoán
IV. Giải pháp và định hớng phát triển Thị trờng chứng khoán
1.Giải pháp trớc mắt
Để củng cố và phát triển TTCK Viêt Nam , theo em , trớc hết cần những biện pháp
cơ bản sau
Một là , phát triển thị trờng tiền tệ một cách đồng bộ ( tiền đề của sự củng cố và
phát triển TTCK ) bao gồm TTCK ngắn hạn , thị trờng liên ngân hàng và thị trờng ngoại
tệ . Do ccác chứng khoán ngắn hạn cho phép hạn chế rủi ro bởi các nhân tố nh lạm phát ,
thiên tai , chiến tranh , các nhân tố chính trị … đồng thời sự phát triển của thị trờng tiền tệ
tạo điều kiện cho cong chúng và các nhà đầu t làm quen và tạo ra thói quen giao dịch , đầu
t – kinh doanh chứng khoán . Do vậy , TTCK Việt Nam chỉ có thể phát triển trên cơ sở sự
phát triển mạnh mẽ của thị trờng tiền tệ – nghĩa là trớc mắt cần tăng cờng việc phát hành
và lu thông chứng khoán ngắn hạn
Hai là , củng cố và phát triển TTCK sơ cấp –là nguồn duy nhất cung cấp các sản
phẩm tàI chính ( các chứng khoán ) cho thị trờng thứ cấp và TTCK nói chung . Vì vậy , thị
trờng sơ cấp phảI đủ mạnh đảm bảo đủ lợng chứng khoán trên thị trờng và đạt tới mức đòi
hỏi phảI phát sinh một lĩnh vực đầu t và kinh doanh độc lập ( đầu t – kinh doanh chứng
khoán ) . Hơn nữa kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng : lợng chứng khoán cơ bản lu thông
ttrên thị trờng tập trung chỉ chiếm 10-20 % lợng chứng khoán đợc phát hành trên thị trờng
sơ cấp ; ở Việt Nam hiên nay mới chỉ có 21 công ty cổ phần thực hiện niêm yết chứng
khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán và đều là các công ty CP có qyi mô vừa và
nhỏ ; việc phát hành chứng khoán chính phủ đang vấp nhiều khó khăn ( đã nhiều lần liên
tục đấu giá trái phiếu chính phủ không thành công) và cha thu hút đợc sự quan tâm của các
nhà đầu t
Để củng cố và phát triển TTCK sơ cấp , trớc hết cần phải kích thích bằng lợi ích vật
chất đối với các công ty cổ phần , các công ty liên doanh tham gia niêm yết trên TTCK (nh
u đãI về thuế …) ; đổi mới chế độ tín dụng trên cơ sở thay thế dần nguồn vốn vay ngân
hàng bằng nguồn vốn phát hành chứng khoán
Ba là , tiến hành cổ phần hoá đại bộ phận các doanh nghiệp Nhà nớc – một trong
những con đờng chủ yếu cung cấp các sản phẩm tài chính cho TTCK trong bớc quá độ
sang nền kinh tế thị trơngf ở Việt Nam . Mặc dù quá trình cổ phần hoá trên qui mô lớn bắt
đầu từ năm 1998 , nhng cho đến tháng 10/ 2002 mới chỉ cổ phần hoá đợc 800 doanh
nghiệp –chiếm khoảng 2% tổng giá trị vốn và tàI sản của các doanh nghi ệp thuộc khu vực
kinh tế Nha nớc . Để thúc đẩy quá trình này , Chính pủ đã thực hiện hàng loạt các giảI
pháp nh : thực hiện các chế dộ u đãI đối với các doanh ngiệp và ngời lao động khi tiến
hành cổ phần hoá ; xây dựng và triển khai kế hoạch đến từng doanh nghiệp phải cổ phần
hoá ; tuyên truyền và động viên ngời lao động trong các doanh nghiệp Nhà nớc , quần
chúng và các nhà đầu t tham gia quá trình cổ phần hoá ; thiết lập thị trờng tàI mà chủ yếu
là TTCK … nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hoá . Nhng hầu hết việc cổ phần hoá các
doanh nghiệp Nhà nớc vẫn không thực hiện đợc và đang lâm vào tình trạng bế tắc ; mô
hình kế hoạch hoá tập trung nền kinh tế quốc dân ( trớc đây )dựa tên chế độ công hữu về t
liệu sản xuất đã tạo ra thói quen chờ đợi , ỷ lại nhà nớc ; sự phản ứng nội bộ của đội ngũ
cán bộ chủ chốt ở các doanh nghiệp cần cổ phần hoá do sợ bị thu hẹp , mất đI quyền lãnh
đạo , quản lý doanh nghiệp ; sợ phảI báo cáo công khai hoạt động tàI chính ; .. mặt khác
do nghèo nên ngời lao động không thể mua tàI sản của các doanh nghiệp , còn ngời đầu t
cha tin tởng vào cơ chế quản lý tàI chính của công ty cổ phàn và những lợi ích kinh tế mà
việc đầu t mang lại . Theo em đẻ tiến hành nhanh chóng quá trình cổ phần hoá ta có thể áp
dụng giải pháp nh các nớc XHCN cũ đó là phát hành cho công nhân các chứng chỉ cổ phần
hoá “ không phải trả tiền “ rồi chuyển thành cổ phiếu
Bốn là tăng cung hàng hoá cho thị trờng về số lợng , chất lợng và chủng loại , đẩy
mạnh cầu chứng khoán.
Nghiên cứu ban hành các chính sách khuyến khích đa thêm các loại cổ phiếu của
các ngân hàng thơng mại (NHTT) , cổ phiếu của các công ty lớn , cổ phiếu u đãi , quyền
mua cổ phiếu , trái phiếu công trình , trái phiếu doanh nghiệp , chuyể đổi chứng chỉ quỹ
đầu t vào niêm yết . Hỗ trợ các Cty niêm yết trong việc quản trị doanh nghiệp theo thông
lệ quốc tế ; thực hiện chế độ kiểm toán thao tiêu chuẩn quốc tế
Áp dụng nhiều biên pháp thu hút nhà đầu t cá nhân tham gia thị trờng ; phát triển
các nhà đầu t có tổ chức tham gia thị trờng nh quỹ đaauf t , quỹ hu trí , bảo hiểm , tổ chức
tài chính , khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài. Nghiên cứu ban hành các chính sách phát
triển nh chơng trình bán cổ phiếu cho ngời lao động trong doanh nghiệp , nới lỏng các quy
định hạn chế với các tổ chức tín dụng , tài chính , thúc đẩy thành lập các công ty t vấn đầu
t , tăng cờng khả năng tiếp cận thị trờng cho các nhà đầu t nhỏ . Nới lỏng hạn chế đầu t của
ngời nớc ngoài , ban hành các chính sách u đãi về thúê ;
Sáu là đa dạng hoá dạng hoá các loại hình chứng khoán . Hiện nay , chứng khán trên
thị trờng Việt Nam chủng loại còn rất đơn điệu . Việc đa dạng hoá các loại hình chứng
khoán không chỉ tạo ra sự phong phú ,đa dạng của sản phẩm tài chính ,tạo điều kiện tăng
thêm dung lợng thị trờng …mà vấn đề hết sức quan trọng lácho phép tăng thêm khả năng
lựa chọn các phơng án lựa chọn phơng án trong danh mục đầu t – một trong những tiền đề
thúc đẩy sự phát triển , sự vận động của thị trờng chứng khoán . Bởi vậy , đối với hệ
thống chứng khoán chính phủ cần phát hành các loại hình tráI phiếu có thời hạn khác
nhau , với lãI suất thay đổi ( căn cứ vào tình hình thực tế của thị trờng tàI chính ) trên cơ
sở bảo vệ lợi ích của ngời đầu t ; đối với các chứng khoán công ty , không chỉ thuần tuý
phát hành cổ phiếu nh hiện nay , mà còn phải tổ chức phát hành tráI phiếu : trái phiếu
chuyển đổi ( có thể chuyển thành các cổ phiếu khác nhau), trá phiếu có kỳ hạn và lãi suất
thay đổi , trái phiếu công trình , trái phiếu đợc đảm bằng vàng hoặc ngoại tệ mạnh
Bảy là củng cố và phát triển kết cấu hạ tầng của TTCK bao gồm : sở giao dịch
chứng khoán ( trung tâm giao dịch chứng khoán ) , hệ thống các công ty chứng khoán , các
công ty đầu t , t vấn về nghiệp vụ đầu t kinh doanh chứng khoán ; hệ thống lu ký , thanh
toán bù trừ , hệ thống báo giá … ; đồng thời phải đào tạo đợc đội ngũ cán bộ nghi ệp vụ ,
các nhà đầu t đủ mạnh để cung ứng cho TTCK . Sắp xếp , hoàn thiện bộ máy của
UBGDCK , TTGDCK theo tinh thần ngị định 30/20003/NĐ-CP ngày 1/4/2003 của chính
phủ nhằm nâng cao khả năng điều hành , giám sát thị trờng một cách linh hoạt ,có hiệu
quả . Tăng cờng quản lý , giám sát thị trờng thông qua việc tổ chức hoàn thiện các hoạt
động theo dõi kiểm tra , thanh tra các hoạt động thị trờng để kịp thời ban hành chính sách
điều chỉnh phù hợp và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật . Có nh vậy mới thực hiện vấn
đề bảo vệ lợi ích kinh tế các nhà đầu t – một trong những nguyên tắc tối cao của thị trờng
chứng khoán – là động lựu thúc đẩy sự tham gia của công chúng và các nhà đầu t
trênTTCK . Sự chao đảo của TTCK Việt Nam đã khiến cho nhiều nhà đầu t phải xa lánh
thị trờng . Vì vậy , cần phải xây dựng bộ luật về chứng khoán và TTCK- cơ sở pháp lý của
tất cả các hoạt động liên quan đến phát hành và lu thông chứng khoán , đồng thời bảo vệ
lợi ích công chúng và nhà đầu t - động lực thúc đẩy họ tham gia TTCK
2.Định hớng phát triển
2.1 Xây dựng thị trờng giao dịch chứng khoán cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tiến tới xây dựng thị trờng chứng khoán phi tập trung (OTC ) tại Hà Nội
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ là nơi niêm yết cổ phiếu của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ thoả mãn điều kiện có số vốn từ 5 tỷ VNĐ trở lên , kinh doanh có lãi
một năm và có tối thiểu 30 cổ đông bên ngoài nắm giữ tối thiểu 20% cổ phần , có cổ phiếu
lu ký tập trung và báo cáo định kỳ trên cơ sở kiểm toán độc lập
Theo số liệu thống kê , số lợng doanh nghi ệp cổ phần đã đáp ứng đợc các điều kiện
nh trên không dới 500 doanh nghiệp , và nếu chơng trình CPH đợc thúc đẩy mạnh mẽ hơn ,
cộng với chính sách của Chính phủ nâng cao vai trò các doanh nhân trong nền kinh tế , số
lợng doanh nghiệp tham gia thị tròng này sẽ còn tăng nhanh
Tuy nhiên,trên thực tế ít doanh nghiệp đủ điều kiện sẽ mong muốn niêm yết , đặc
biệt lại là niêm yết tại bảng loại hai . Bởi vì họ cha thấy rõ ngay lợi ích của việc niêm yết
mang lạ , trong khi niêm yết lại phảI chịu áp lực thờng xuyên về hoạt động và quản trị
công ty , công bố thông tin và nhiều yêu cầu khác từ TTGDCK , đồng thời phảI theo dõi
và tìm cách nâng cao giá trị cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trờng
Nh vậy muốn phát triển thị trờng chứng khoán bảng II, ta cần thực hiện một số biện
pháp sau:
Thứ nhất , chủ động tạo ra các nguồn vốn dài hạn và có chất lợng , có nhu càu đầu t
vào các chứng khoán trớc niêm yết và chứng khoán niêm yết thông qua việc cho phép tổ
chức các tổ chức đầu t , trong đó công ty quản lý quỹ đầu t và các quỹ đầu t đóng vai trò
quan trọng .
Thứ hai , nâng cao các điều kiện u đãi nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đủ điều
kiện tham gia niêm yết , xác định rõ doanh nghi ệp khi niêm yết phải đầu t nâng cao giá trị
của mình nếu không mu ốn bị đào thải .
Thứ ba , ban hành các văn bản nhà nớc không chỉ khuyến khích mà còn đồng thời
áp dụng các biện pháp áp đặt , thúc đẩy mạnh hơn tiến trình CPH doanh nghiệp Nhà nớc ,
mở rộng CPH sang nhiều lĩnh vực quan trọng hơn và các doanh nghiệp có vốn lớn hơn ,
trớc mắt cần ban hành ngay thông t hớng dẫn nghị định 64/CP , trong đó việc bán 30% cổ
phiếu cho các cổ đông bên ngoàI doanh nghiệp nên đa thành điều kện bắt buộc
Thứ t , nhìn nhận việc nớc ngoàI tham gia TTCK theo quan theo quan điểm tích
cực , qua đó khuyến khích các nhà ĐTNN , thờng là những tổ chức và cá nhân có vốn
lớn ,và đầu t dàI hạn tham gia đầu t gián tiếp bằng các u đãI nhiều hơn ,cấp phép đầu t dễ
dàng hơn ; nâng cao hơn các giới hạn sở hữu của phía nớc ngoài trong các doanh nghiệp
Thứ năm , tăng cờng mối liên kết giữa các cơ quan quản lý thị trờng nh Uỷ ban
chứng khoán nhà nớc và các tổ chức cá nhân tham gia thị trờng nh các nhà dầu t , các công
ty chứng khoán ,các quỹ đầu t trong và ngoàI nớc , các công ty bảo hiểm … thông qua một
hệ thống thông tin hai chiều rõ ràng , minh bạch
TTGDCK Hà nội sẽ tạo ra một sân chơI mới công khai và minh bạch cho các doanh
ngiệp nhng năng động ,mong mu ốn huy động vốn với chi phí thấp để tăng trởng .
TTGDCK Hà Nội cũng sẽ góp phần tạo nên một TTCK Việt nam hoàn thiện hơn
2.2 Xây dựng quỹ đầu t chứng khoán
Quỹ đầu t chứng khoán (quỹ DTCK) là một cơ chế hoạt động mà trong đó một số
đông các nhà đầu t riêng lẻ góp vốn để hình thành một quỹ chung , rồi sau đó uỷ thác quản
lý cho các nhà đầu t chuyên nghiệp tiến hành đầu t nhằm thu lợi nhuận cao và số lợi
nhuận thu đợc từ hoạt động của quỹ đợc phân chia cho các nhà đầu t riêng theo tỉ lệ số vốn
đã đóng góp . Quỹ DTCK là một khái niệm còn mới lạ ở Việt Nam nhng loại quĩ
Thị trờng chứng khoán này rất cần đợc thành lập và phát triển dể góp phần huy động vốn
cho nền kinh tế nói chung và phát triển thị trờng chứng khoán (TTCK) một cách ổn định.
thuận lợi và khó khăn
Nền kinh tế tăng trởng ổn định , thu nhập của dân c ngày càng tăng. TTCK đã đi
vào hoạt động và bớc đầu hoạt động suôn sẻ. Hàng hoá chứng khoán có xu hớng ngày
càng phong phú . Sự có mặt của các quỹ đầu t nớc ngoài tại Việt Nam tạo ra một yếu tố
thúc đẩy sự ra đời các quỹ đầu t trong nớc tại Việt Nam
Tuy nhiên , chúng ta thiếu đội ngũ các nhà quản lý , đầu t chuyên nghiệp . TTCk
hiện nay qui mô còn nhỏ , hàng hoá chứng khoán còn ít . Cơ sở pháp lý cho việc hình
thành và phát triển quỹ đầu t cha hoàn chỉnh . sự hiểu biết của công chúng về quỹ đầu t
còn nhiều hạn chếMột số giải pháp thúc đẩy sự hình thành và phát triển quỹ đầu t chứng
khoán ở Việt nam Về mô hình quỹ đầu t Quỹ đầu t chứng khoán ở Việt Nam là quỹ đầu t
dạng hợp đồng
Mô hình này hiên nay đang đợc tổ chức khá thành công ở Nhật bản và Hàn Quốc .C
ó hai yếu tố quyết định sự thành công của mô hìnnày ở hai quốc gia nói trên là có đội ngũ
các nhà quản lý đầu t chuyên nghiệp , có trình độ cao và hệ thống pháp lý tơng đối hoàn
chỉnh , chặt chẽ . Hai yếu tố này tạo cơ sở vững chắc cho các nhà đầu t riêng lẻ hay nói
cách khác đilà công chúng đặt niềm tin vào quỹ đầu t
Mô hình quỹ đầu t cần đợc giải quy ết một số vấn đề sau
Thứ nhất ,cần tiếp tục nghiên cứu và nên cho phép triển khai cả mô hình Quỹ đầu t
theo dạng công ty
Việc thực hiên nh vậy cho phép ngời đầu t có thể cân chắc lựa chọn tuỳ theo cách
đánh giá của từng ngời đầu t để quyết định đầu t vào quỹ đầu t theo tín thác hay dạng công
ty . ở đây cũng cần nhận thấy , trong khi ở Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng mô hình Công
ty đầu t lại phát triển mạnh mẽ và thành công hơn ở Mỹ . Ở Việt Nam ,ngoài quỹ đầu t
theodạng hợp đồng nh hiện hành nên cho phép thành lập cả quỹ đầu t theo dạng công ty
nhng cơ chế tổ chức nên đơn giản hơn so mô hình Quỹ tơng hỗ của Mỹ
Quỹ đầu t dạng công ty nên thành lập và hoạt động theo dạng tơng tự công ty cổ
phần quy định trong luật doanh nghiệp . Trong đó ngời đầu t góp vốn vào quỹ dới hình
thức mua cổ hiếu và trở thành cổ đông có các quyền của cổ đông phổ thông . Hội đồng
quản trị là ngời đại diện của Quỹ hợp đồng thuê công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám
sát bảo quản tài sản của quỹ đồng thời Hội đồng quản trị (HĐQT ) cũng là ngời giám sát
hoạt động của ngời điều hành Quỹ do Công ty quản lý quỹ cử đến . Nh vậy , ngời điều
hành quỹ hoạt động với t cách là giám đốc của quỹ mà HĐQT dã thuê từ công ty quản lý
quỹ . Việc phân chia lợi nhuận của Quỹ sẽ do đại hội cổ đông quyết định
Thứ hai , cần bổ sung hoàn thiên quy chế về tổ chức hoạt động của Quỹ đầu t theo
dạng hợp đồng hiên hành . Trong đó cần xem xét một số điểm sau
Để gắn trách nhiệm và quyền lợi hơn nữa của ccông ty quản lý quỹ với ngời đầu t
cần quy định trong 3 năm đầu Công ty quản lý phảI nắm giữ một tỉ lệ tối thou là 25%
chứng chỉ Quỹ đầu t đang lu hành
Việc phân chia lợi nhuận cho ngời đầu t . Trong quy chế hiện hành không đề cập
đến vấn đề chia lợi nhuận của quỹ đầu t . ở đây , một vấn đề đặt ra là nếu việc phân chia
lợi nhuân thực hiện dứt điểm hằng năm thì sẽ xảy ra tình trạng những năm hoạt ddộng của
quỹ gặp thuụân lợi thì số lợi nhuận thu đợc sẽ thu đợc sẽ lớc , số lợi tức chia cho một hứng
chỉ quỹ sẽ tăng nhiều . Nhng những năm hoạt động của quỹ khó khăn , lợi nhuận thu đợc ít
hoặc bị thhua lỗ , ngời đầu t đợc chia ít hoặc thua lỗ thì dễ dẫn đến chán nản . Vậy nên
chăng quy điịnh cho phép hằng năm quỹ đợc trích một tỷ lệ từ lợi nhuân sau thuế để lập
một loại quỹ có tính chất dự trữ đẻ bổ sung cho phàn lợi nhuận phân chia cho ngời đầu t ở
những năm quỹ thu đợc lợi nhuận thấp . Chẳng hạn hằng năm đợc trích 10% lợi nhuận sau
truế để lập quỹ dự trữ điều hoà lợi tức cho đến quy mô của quỹ đạt tới giới hạn 10% vốn
điều lệ của Quỹ thì thôi không trích nữa
Nhà nớc cần khuy ến khích và hỗ trợ tích cực cho việc hình thành và phát triển
quỹ đầu t
Khi TTCK đã đi vào hoạt động thì việc hình thành các quỹ đầu t là hết sức cần thiết
để tạo điều kiện cho công chúng có thể tham gia vào TTCK . Tuy nhiên , Quỹ đầu t chứng
khoán hiện nay còn là vấn đề rất mới và trong điều kiện hiện nay còn nhiều khó khăn để
quỹ ra đời và hoạt động , do vậy rất cần có sự trợ giúp của Nhà nớc nh :
Nhà nớc cần đi tiên phong trong việc thành lập công ty quản lý quỹ và thiết lập các
Quỹ đầu t
Trợ giúp trong việc tạo hàng hoá cho sự hoạt động của quỹ
Thực hiện chính sách u đãi về thuế với hoạt động đầu t chứng khoán của quỹ đầu t
Chú trọng nghiên cứu , đồng thời phổ biến rộng rãi kiến rthức về quỹ đầu t ra
công chúng
Những vấn đề về tín thác đầu t và Quỹ đầu t còn rất mới mẻ tại Việt Nam . Do
vậy ,một mặt cần tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận và kinh nghiệm của các nớc trong việc
phát triển hệ thông tín thác đầu t , Mặt khác , cần phổ biến rộng rãI về quỹ đầu t ra công
chúng qua sách báo và các phơng tiện thông tin đại chúng . Đối tợng thu hút các nhà đầu t
tham gia Quỹ đầu t chủ yếu là công chúng .Vì thế sự thành công của quỹ phụ thuộc rất lớn
vào sự hiểu biết và tham gia của công chúng
2.3 Thành lập Hiệp hội các nhà đầu t – kinh doanh chứng khoán Việt nam
Để khắc phục những hiện tợng tiêu cực nh sự cạnh tranh không lành mạnh , thao
túng lũng đoạn …trên thị trờng và nhằm mục tiêu làm giảm bớt các chi phí giao dịch , tăng
cờng sự liên minh , liên doanh , liên kết trong quá trình đầu t – kinh doanh chứng khoán -
đặc biệt là do khuynh hớng phát triển ngày càng mạnh mẽ của thị trờng “ OTC “, việc
thành lập tổ chức tự quản , phi chính phủ của các nhà đầu t – kinh doanh chứng khoán là
tất yếu khách quanvà là hện thực ở hầu hết các TTCK trên thế giới . Hiệp hội các nhà đầu t
kinh doanh chứng khoán Việt Nam thành lập sẽ là một bớc quan trọng tiến tới xây dựng
trung tâm TTCK “OTC “ tại Việt Nam


KẾT LUẬN


Sự hình thành và phát triển của thị trờng vốn có vai trò quan trọng trong việc thực
hiện thắng lợi các nhiệm vụ của quá trình đổi mới đặt ra: chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế,
đảm bảo nền kinh tế tăng trởng nhanh vững chắc. Song các thị trờng vốn là các tổ chức
phức tạp, đôi khi mỏng manh và luôn phụ thuộc vào tơng quan đồng bộ giữa môi trờng
kinh tế và môi trờng chính trị. Muốn nền kinh tế phát triển nhanh, cần thiết phải tạo dựng
một thị trờng vốn phát triển mà đỉnh cao của nó là thành lập thị trờng chứng khoán. Sự ra
đời của thị trờng chứng khoán tại Việt Nam là một quá trình tất yếu. Tuy nhiên vấn đề
quan trọng là phải chuẩn bị tốt để tổ chức và điều hành hoạt động của thị trờng chứng
khoán có hiệu quả góp phần tích cực vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân./.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản