Thị trường OTC là gì?

Chia sẻ: bongbong000

Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị trường được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định như thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung), mà dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Thị trường OTC là gì?

Thị trường OTC là gì?



Khái niệm




Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị

trường được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố

định như thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung),

mà dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh

tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các phương

tiện thông tin. Thị trường OTC không có một không gian giao dịch

tập trung. Thị trường này thường được các CTCK cùng nhau duy

trì, việc giao dịch và thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại

và Internet với sự trợ giúp của các thiết bị đầu cuối.
Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC

thường thấp hơn thị trường giao dịch tập trung, chứa đựng nhiều

rủi ro hơn, song cũng có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn.




Một số đặc trưng cơ bản




- NĐT và tổ chức của các NĐT: việc tham gia thị trường OTC rất

đơn giản. Tuy nhiên, hoạt động của các NĐT trên thị trường

không phải là độc lập, mà thường lập thành các nhóm, hội, diễn

đàn để trao đổi thông tin với nhau.




- Hàng hoá của thị trường: là các loại cổ phiếu của các DN cổ

phần, có triển vọng phát triển, chuẩn bị niêm yết trên thị trường
giao dịch tập trung hoặc có những lợi thế thương mại riêng biệt.




- Việc mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC được thực hiện theo

phương thức “thuận mua, vừa bán” mà không bị bất cứ một lực

bên ngoài nào (giới hạn giá, lượng cổ phiếu…) tác động. Nói

chung, cơ chế mua - bán các loại chứng khoán trên thị trường

OTC theo cơ chế thị trường.




- Phương thức mua bán, giao dịch:




+ Bên mua và bên bán trực tiếp gặp nhau để thương lượng,

quyết định việc mua - bán chứng khoán. Đây là phương thức phổ

biến hiện nay tại Việt Nam .
+ Bên mua và bên bán có thể giao dịch thông qua các nhà môi

giới chứng khoán. Hiện nay, phương thức này ít phổ biến hơn,

nhưng xu hướng phát triển của thị trường thì trong tương lai,

phương thức này sẽ chiếm ưu thế hơn so với phương thức trực

tiếp mua - bán.




- Thu thập thông tin của các loại cổ phiếu: để mua chứng khoán

trên thị trường OTC, NĐT thường tìm kiếm thông tin từ các nguồn

như:




+ Thông tin từ các báo cáo tài chính (BCTC): nhìn chung, các

CTCP chưa niêm yết không có BCTC được kiểm toán. Do những

mục đích khác nhau mà DN có nhiều hệ thống sổ sách kế toán,

BCTC. Mặt khác, việc có được một bản BCTC của DN đối với
một người bình thường là điều không hề đơn giản, nhất là trong

điều kiện mà ngay bản thân DN không biết thông tin nào nên

công bố, thông tin nào không nên. Do đó, việc thu thập thông tin

từ DN qua con đường chính thức khá khó khăn, nếu NĐT không

có những mối liên hệ nhất định với công ty đó.




+ Thu thập thông tin qua các cơ quan chức năng: Theo quy định,

DN phải báo cáo tình hình hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh

doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư). Tuy nhiên, việc tuân thủ quy

định này của các DN không thực sự nghiêm túc hoặc các thông

tin cũng rất chung chung. Và các cơ quan chức năng cũng không

có tránh nhiệm và nghĩa vụ công bố các thông tin của DN. Vì vậy,

việc có được thông tin từ các cơ quan này gần như là bất khả thi

đối với NĐT. Ngoài ra, còn có một tổ chức lưu trữ thông tin về
các DN, đó là Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân

hàng Nhà nước. Trung tâm này lưu trữ thông tin cơ bản của các

DN có quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tính

cập nhật của các thông tin này không cao.




+ Thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng: khi

không thể thu thập thông tin về DN từ các đầu mối thông tin nêu

trên, NĐT có thể thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin

đại chúng. Tuy nhiên, nhược điểm của nguồn dữ liệu này là rời

rạc, độ tin cậy không cao.




+ Thu thập thông tin từ các nguồn khác: thông tin từ những hội,

nhóm kinh doanh chứng khoán, thông tin không chính thức từ

bên trong DN… Nhìn chung, các nguồn thông tin nêu trên không
đủ căn cứ vững chắc và không chính xác để NĐT ra quyết định.

Nhưng trong thực tế, các chứng khoán vẫn được mua bán,

chuyển nhượng, thậm chí, tại những thời điểm cao trào, nhiều

loại chứng khoán được mua bán, chuyển nhượng rất sôi động.




Những rủi ro thường gặp khi mua bán cổ phiếu OTC




Một là, tranh chấp hay thiệt hại về quyền mua cổ phiếu (CP) mới

tăng vốn. Một trong những kỳ vọng lớn nhất về lợi ích của người

mua CP là quyền mua CP phát hành tăng vốn. Đây là một khoản

lợi lớn của người sở hữu CP. Tuy nhiên, thông thường trước khi

phát hành CP tăng vốn, công ty tiến hành chốt danh sách cổ

đông. Tại thời điểm đó, những ai sở hữu CP nằm trong danh

sách cổ đông của công ty sẽ được mua thêm CP mới.
Với những người mua CP trong giai đoạn giao thời hoặc khi danh

sách cổ đông đã được chốt, nếu không biết thì dù tiền đã thanh

toán cho người bán, CP đã nắm giữ, nhưng chưa làm xong thủ

tục chuyển nhượng, người mua vẫn mất quyền mua, quyền mua

CP mới vẫn thuộc về người bán. Như vậy, NĐT trên thị trường

OTC cần chú ý, phải luôn luôn thỏa thuận bằng hợp đồng chuyển

nhượng với người bán, ghi rõ quyền lợi mua CP mới tăng vốn

thuộc về ai. Loại rủi ro này phổ biến nhất trên thị trường OTC.




Hai là, tranh chấp hay thiệt hại về cổ tức. Cổ tức được chia cho

cổ đông dựa trên số lượng cổ phần họ đang nắm giữ. Thông

thường, công ty chia cổ tức sau khi kết thúc năm tài chính, một

số công ty tạm ứng cổ tức sau 6 tháng. Rủi ro giao dịch CP ở
chỗ, khi mua CP, người mua không nắm bắt được thông tin,

không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng chuyển nhượng. Do đó,

cũng tương tự như trường hợp trên, người mua mặc dù nắm giữ

CP, nhưng không được nhận cổ tức.




Ba là, rủi ro trong mua bán CP chưa được chuyển nhượng. Có

những CP theo quy định nội bộ của công ty, sau 1 năm mới được

chuyển nhượng, nhưng nhiều NĐT không nắm được thông tin

nên đã mua. Và trong thời hạn 1 năm đó, các quyền lợi như mua

thêm CP tăng vốn, nhận cổ tức… vẫn thuộc về người đứng tên

sở hữu CP (người bán), còn người đã bỏ tiền ra mua thì bị chiếm

đoạt quyền lợi.




Bốn là, rủi ro trong giao dịch nhận chuyển nhượng quyền mua.
Trong các đợt phát hành thêm CP mới để tăng vốn, cổ đông hiện

hữu, cổ đông chiến lược hay CBCNV được quyền mua CP. Khi

đó, nhiều người do không huy động được tiền hoặc vì nhiều lý do

khác đã bán quyền mua CP. Giá bán quyền mua thường thấp

hơn giá thị trường thời điểm đó. NĐT mới thấy giá thấp, hấp dẫn

thường chấp nhận mua. Nhưng từ khi nộp tiền để mua CP cho

đến khi nhận được CP là khoảng thời gian khá dài, nên đến khi

nhận được CP thì CP vẫn đứng tên chủ sở hữu là người bán. Khi

đó, nếu giá CP đứng yên, giảm hay người bán nghiêm túc, đứng

đắn thì việc làm thủ tục chuyển nhượng không vấn đề gì. Ngược

lại, gặp phải người không trọng chữ tín thì dễ dàng bị đánh tháo

và hứa hẹn trả lại số tiền trước kia đã nhận, kèm với lãi suất ngân

hàng.
Một vấn đề quan trọng là NĐT cần trang bị kiến thức về phân tích

và đánh giá CP trước khi ra quyết định đầu tư, họ cũng cần phải

tỉnh táo hơn đối với các tin đồn, tránh bị cuốn theo cơn lốc mua -

bán để rồi cuối cùng có thể sẽ bị thua thiệt.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản