Thị trường tiền tệ Việt Nam : Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: atk22051990

Tài liệu tham khảo về Thị trường tiền tệ Việt Nam : Thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Thị trường tiền tệ Việt Nam : Thực trạng và giải pháp

Thị trường tiền tệ Việt Nam,

Thực trạng và Giải pháp


Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN


1. Khái niệm thị trường tiền tệ
­ “Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn dưới một 

năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế” (Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh 

Hằng, 2006: 488).

­ Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ còn ít nên 

luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được phép giao dịch trên thị trường tiền tệ. Theo 

điều 9, luật sửa đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước (2003) định nghĩa: “Thị trường 

tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá, bao gồm tín phiếu 

kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác”.

 
2. Các loại thị trường tiền tệ 
  
Thị trường tiền tệ được phân loại căn cứ vào cách thức tổ chức hoặc loại công cụ.

2.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức:

Thị trường tiền tệ bao gồm:

­ Thị trường tiền tệ cổ điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng (TCTD) đặt 

dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương (NHTW). Hàng ngày, tại đây hình thành lãi suất chỉ 

đạo thị trường tiền tệ, như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền tệ London (London Inter Banking 

Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris (Paris Inter Banking Offered rate), 

SIBOR (thị trường tiền tệ Singapore)…

­ Thị trường tiền tệ mới: đây là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2 cấp:
+ Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn 

lần đầu.

+ Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu đã phát hành 

ở thị trường sơ cấp.

+ Thị trường mở (Openmarket operation): là thị trường mua bán các loại chứng khoán nhà nước 

ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ,... nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ trong 

nền kinh tế. Tức thông qua thị trường mở, NHTW có thể làm cho “tiền dự trữ” của các ngân hàng 

thương mại (viết tắt NHTM) tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến khả năng cung cấp 

tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nền kinh tế.



2.2. Phân loại theo đối tượng tham gia: Thị trường tiền tệ bao gồm:

­ Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM (hay thị trường liên ngân hàng – Interbank): Thị 

trường này dưới sự điều hành của NHTW nhằm mục đích điều tiết vốn trong hệ thống NHTM 

đồng thời tạo điều kiện cho NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng.

­ Thị trường các công nợ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, 

chứng chỉ tiền gửi, các khế ước cho vay . .. bao gồm cả thị trường phát hành và thị trường lưu 

thông, thị trường này biểu hiện cho sự phát triển thị trường tiền tệ.

­ Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại ngọai tệ và các phương tiện thanh tóan có 

giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trường tiền tệ. Thị trường ngọai hối 

mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đáp ứng những nhu cầu về thương mại, 

đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tạo điều kiện can thiệp của NHTW nhằm 

đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia. 

Công cụ hoạt động thị trường hối đoái, gồm: hợp đồng giao ngay (Spot), hợp đồng hoán đổi 

(Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng quyền chọn (Option)…. nhờ đó đáp ứng được 

phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức và làm cho thị trường ngoại hối trở nên nhộn 

nhịp hơn.

3. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ 
­ Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng là hình thức sơ khai 

của thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích cân đối, điều hòa vốn giữa các NHTM với các 

TCTD nhằm khai thông khả năng thanh toán cho các TCTD. Vì vậy, nếu xét theo chiều ngang, 

thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM, các TCTD. Còn nếu xét theo 

chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện mối quan hệ giữa NHTW và NHTM qua con đường tái 

chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết khấu là một công cụ linh hoạt để NHTW điều tiết vĩ mô nền 

kinh tế trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ.

Ngày nay, quy mô họat động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm vi điều tiết vốn, theo 

đó các chủ thể tham gia trên thị trường đa dạng hơn.

Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm: 

­ Chủ thể cung ứng nguồn vốn như: NHTW, NHTM, các TCTD khác… Việc đầu tư nguồn vốn 

ngắn hạn trên thị trường này có độ rủi ro thấp, do trong thời gian ngắn giá cả chứng khoán biến 

động không đáng kể.

­ Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM, các đơn vị kinh tế khác, kho bạc nhà nước... Thông 

qua thị trường tiền tệ, các chủ thể này có thể thu hút được nguồn vốn ngắn hạn dễ dàng và chi 

phí thấp.

­ Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM, Công ty chuyên môi giới.

4. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ
4.1. Nghiệp vụ vay và cho vay vốn ngắn hạn 

Nghiệp vụ này diễn ra chủ yếu giữa các NHTM, xuất phát từ họat động kinh doanh tiền tệ, tại 

một thời điểm nhất định một số NHTM tạm thời thừa vốn trong khi đó một số NHTM khác rơi vào 

tình trạng thiếu vốn tạm thời. Do đó để đảm bảo cho khả năng thanh toán, quan hệ điều tiết vốn 

giữa các NHTM diễn ra thông qua các hình thức sau:

­ Cho vay bằng tiền mặt: Khi NHTM thiếu hụt vốn tạm thời, có thể đi vay tại một NHTM khác 

đang thừa vốn tạm thời tại thời điểm đó để đảm bảo khả năng thanh toán. Giao dịch liên ngân 

hàng chủ yếu dưới hình thức tín chấp hoặc đảm bảo bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng 
cho vay…; Thời hạn cho vay rất ngắn: hàng ngày (qua đêm), định kỳ 1 tuần, 2 tuần, tháng… 

­ Cho vay dưới hình thức cầm cố hoặc chiết khấu các chứng từ có giá: Khi có nhu cầu lớn về 

vốn, các NHTM đã vay các TCTD khác nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thì NHTW có thể 

hỗ trợ bằng các nghiệp vụ sau:

+ Tái chiết khấu chứng từ có giá: NHTW sẽ nhận chiết khấu lại những chứng từ có giá mà trước 

đây NHTM đã chiết khấu cho khách hàng.

+ Bảo chứng lại: NHTW sẽ cho NHTM vay vốn trên cơ sở cầm cố các chứng từ có giá mà trước 

đây NHTM đã nhận cầm cố từ khách hàng.

4.2. Nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn 

Công cụ chủ yếu của nghiệp vụ này là các loại trái phiếu ngắn hạn được phát hành từ thị 

trường tiền tệ sơ cấp và bán lại ở thị trường thứ cấp.

Nghiệp vụ này phát sinh trong trường hợp một số chủ thể kinh tế cần bổ sung vốn bằng tiền của 

mình nên phát hành một lượng trái phiếu ngắn hạn ra thị trường, trong khi một số chủ thế khác 

đang muốn sinh lợi cho khoản vốn nhàn rỗi của mình bằng con đường kinh doanh trên thị trường 

tiền tệ, họ sẽ mua bán trái phiếu ngắn hạn. Ở nghiệp vụ này, ngoài trái phiếu ngắn hạn thì còn 

có kỳ phiếu thương mại, khế ước nợ, kỳ phiếu ngân hàng, các lọai thư tín dụng…. Và đặc biệt là 

họat động của thị trường mở ­ thực hiện việc mua bán ngắn hạn dưới 1 năm các giấy tờ có giá trị 

như tín phiếu, trái phiếu kho bạc. Thông qua nghiệp vụ này, NHTW điều tiết cung cầu về tiền tệ: 

tùy theo mục tiêu từng thời kỳ mà NHTW bơm tiền hay rút bớt tiền ra khỏi lưu thông.



Phần 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT NAM


Do sự bất ổn định trên thị trường tiền tệ thế giới vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008 mà 

cụ thể nhất là cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ do giá nhà đất sụt giảm làm cho đồng 

USD mất ổn định mà đỉnh điểm của sự mất giá đồng USD là ngày 15/04/2008 tỉ giá 

EUR/USD=1,6000 đi kèm với việc đồng USD mất giá là giá dầu thô và vàng liên tục lập những 

kỷ lục mới, có lúc vàng tiến đến 1031USD/ounces và dầu đã lập kỷ lục với mức 135USD/thùng 
đã làm cho lạm phát tăng cao trên toàn thế giới.Mặt khác trong thế giới ngày nay sự đan xen và 

phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia là không tránh khỏi đã gây nên những xáo trộn trên thị 

trường hối đoái của các nước trong đó có Việt Nam.

­ Song song với nguyên nhân trên còn có nguyên nhân là do sự yếu kém xuất phát từ nội tại của 

nền kinh tế trong điều hành chính sách vĩ mô nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ mà cụ thể 

là việc điều hành chính sách tỉ giá có lúc tỉ giá do NHNN công bố xuống 15.700 VND ăn 1 USD 

và trên thị trường tự do là VND/USD=15.500 trong tháng 02/2008 nhưng đến ngày 27/05/2008 

thì mọi chuyện hoàn toàn ngược lại tỉ giá chính thức do ngân hàng nhà nước công bố là 

VND/USD16.212 nhưng trên thị trường tự do VND/USD=17.550.

­ Một nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng do nhập siêu trong 5 tháng đầu năm 

2008 quá cao 14,4tỉ USD(do có lúc doanh nghiệp xuất khẩu không bán được USD) cộng với tâm 

lý của người dân khi lạm phát tăng cao(15,96%) nên đổ xô đi mua USD tích trữ làm cho thị 

trường ngoại tệ biến đổi khó lường trong thời gian qua trong khi đó trên thị trường quốc tế 

EUR/USD =1,579 tức đồng USD đang mất giá.

1. Thị trường liên ngân hàng
­ Thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời theo Chỉ thị 07/CT­NH1 ngày 07/10/1992 của Thống 

đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho phép các TCTD được thực hiện cho vay và đi vay lẫn 

nhau và chính thức hoạt động từ tháng 7/1993. Theo Quyết định số 114/QĐ­NH14 ngày 

21/6/1993 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng và Quyết định 

số 190/QĐ­NH14 ngày 06/10/1993 về việc bổ sung, sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của 

thị trường liên ngân hàng, thị trường nội tệ liên ngân hàng được hình thành dưới hình thức là một 

thị trường tập trung có tổ chức qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và gắn liền với các trung tâm 

thanh toán bù trừ (Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội) số lượng thành viên tham gia 

và doanh số hoạt động rất hạn chế; trong đó, những thành viên là NHTM Nhà nước có khả năng 

chi phối trên cả giác độ huy động vốn và cho vay vốn do có lợi thế về tài chính và uy tín. Từ năm 

1997, hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn 
nhau không thực hiện thông qua NHNN. Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch, thời 

hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm và có sự tham gia 

tích cực của NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đến nay, 

phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm 

bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; thậm chí một số ngân hàng đã thực hiện 

quan hệ vay mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau. 

* Kết quả đạt được 

­ Số lượng thành viên và doanh số hoạt động trên thị trường liên ngân hàng đã tăng đáng kể, 

phương thức giao dịch của thị trường ngày càng đổi mới, hầu hết các giao dịch đều thực hiện 

qua mạng, thời hạn của các giao dịch khá linh hoạt (qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 

tháng, 12 tháng).

Hiện nay, gần 30 NHTM đã thực hiện giao dịch vốn liên ngân hàng (gửi tiền/cho vay và nhận 

tiền gửi/đi vay) thông qua hệ thống của Hãng Reuters. Hãng Reuters đã xây dựng được trang lãi 

suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng Việt Nam (VNIBOR) trên cơ sở chào giá 

hàng ngày của một số ngân hàng.

­ “ Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng từ năm 2002 đến nay, theo đánh giá của 

các chuyên gia ngân hàng thì doanh số giao dịch tăng khoảng 20% mỗi năm” (Đoàn Phương 

Thảo). Kết quả trên đã chứng minh thị trường nội tệ liên ngân hàng đã thực hiện được vai trò 

điều tiết vốn ngắn hạn bằng đồng Việt Nam giữa các ngân hàng, làm tăng hiệu quả sử dụng 

nguồn vốn của các TCTD an toàn, hiệu quả.

­ Bên cạnh phát triển thị trường liên ngân hàng, nghiệp vụ tái cấp vốn đã được NHNN từng bước 

đổi mới, hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ, thực hiện vai trò là người cho 

vay cuối cùng của nền kinh tế:

+ “Đến nay, tái cấp vốn của NHNN cho các NHTM chủ yếu được thực hiện dưới các hình thức 

chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá. Các hình thức cho 

vay theo chỉ định của Chính phủ trước đây (từng chiếm tỷ trọng lớn trong cho vay tái cấp vốn) đã 

giảm mạnh qua các năm” (Phùng Khắc Kế, 2006). 
+ Cơ sở pháp lý cho các hoạt động nghiệp vụ tái cấp vốn hoàn thiện; thủ tục, quy trình nghiệp 

vụ tái cấp vốn được cải tiến theo hướng tinh giản và thuận lợi:

Năm 2003, Luật sửa đổi một số điều của luật NHNN đã cho phép giấy tờ có giá dài hạn như các 

loại trái phiếu của Chính phủ được sử dụng trong các giao dịch giữa NHNN và các ngân hàng; 

NHNN ban hành đầy đủ các quy chế nghiệp vụ tái cấp vốn. Thời gian xử lý đề nghị xin vay giảm 

xuống còn 2 ngày (trước đây 5 ngày). 

+ Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu ngày càng được điều hành linh hoạt, phù hợp với mục 

tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ năm 2003 đến nay, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất 

tái chiết khấu được điều chỉnh dần để hình thành khung lãi suất định hướng lãi suất thị trường. 

Cùng với việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu để trở thành lãi suất sàn, NHNN đã thực hiện phân 

bổ hạn mức chiết khấu cho từng ngân hàng. Qua đó, nghiệp vụ chiết khấu được điều hành như 

một kênh thường xuyên với giá rẻ từ NHNN. Trong khi đó nghiệp vụ cho vay có bảo đảm bằng 

cầm cố giấy tờ có giá áp dụng lãi suất tái cấp vốn là mức lãi suất trần để NHNN từng bước thực 

hiện vai trò là người cho vay cuối cùng trên thị trường. 




+ Hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã đóng góp không nhỏ trong việc đáp ứng kịp thời nhu cầu 

thanh khoản của các NHTM, nhất là vào các thời điểm cuối năm và gần Tết Nguyên đán. 

* Những bất cập, tồn tại và hạn chế 

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng thị trường liên ngân hàng vẫn còn nhiều bất 

cập, hạn chế cần hoàn thiện. Đó là:

­ Số lượng các thành viên tham gia và quy mô giao dịch còn hạn chế và phần lớn là để giải 

quyết nhu cầu về khả năng thanh toán: Trên thị trường nội tệ liên ngân hàng đã hình thành 

nhóm các ngân hàng thường cung ứng nguồn tiền VND chủ yếu là các NHTM Nhà nước và 

ngược lại nhóm các NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài 

là các ngân hàng thường có nhu cầu vay VND. Việc điều chuyển vốn thường chỉ diễn ra một 

chiều giữa nhóm các ngân hàng thường cho vay và nhóm ngân hàng thường đi vay. 
­ Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và lãi suất tái cấp vốn chưa phản ánh chính xác quan hệ 

cung cầu và xu hướng vận động của thị trường tiền tệ. 

­ Vai trò của NHNN trong việc thu thập thông tin diễn biến thị trường liên ngân hàng và tham gia 

điều tiết thị trường khá mờ nhạt, đặc biệt là cơ chế xử lý trong trường hợp cung lớn hơn cầu vốn 

trên thị trường. 

­ Hoạt động tái cấp vốn mới chỉ dừng lại ở mục đích bổ sung nguồn vốn ngắn hạn và phương 

tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng, các chức năng nhằm điều chỉnh các điều kiện tiền tệ 

theo mục tiêu chính sách tiền tệ, điều chỉnh quá trình phát triển kinh tế về quy mô và cơ cấu đầu 

tư dựa trên sự cấp vốn theo thời gian, theo lĩnh vực ngành kinh tế, theo từng vùng lãnh thổ chưa 

được phát huy.

­ Việc phân bổ hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN với các ngân hàng mới chỉ dựa trên 

các yếu tố như tổng dư nợ bằng đồng Việt Nam, tổng tài sản Có và vốn tự có của ngân hàng mà 

chưa tính tới khối lượng giấy tờ có giá mà các ngân hàng nắm giữ, do đó chưa phù hợp với nhu 

cầu và đặc biệt chưa kích thích việc tích cực nắm giữ giấy tờ có giá đủ điều kiện tái cấp vốn.

2. Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc 

­ Nghiệp vụ thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện từ tháng 5/1995 và trải qua các 

giai đoạn phát triển sau: 

+ Từ năm 1995 đến 1999: Phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc;

+ Từ năm 1999 đến 2003: Phát hành tín phiếu kho bạc;

+ Từ năm 2003 đến nay: Phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ (USD, kỳ hạn 5 

năm).

Theo Thông tư 19/2004/TT­BTC ngày 18/3/2004 của Bộ Tài chính, hiện nay có hai loại trái phiếu 

đang được đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước là: Tín phiếu kho bạc Nhà nước và Trái phiếu 

Chính phủ bằng ngoại tệ (trái phiếu ngoại tệ). 

­ Thành viên thị trường: Trước đây, số đơn vị được NHNN công nhận thành viên thị trường đấu 

thầu Trái phiếu kho bạc là 47 thành viên. Tuy nhiên trong quá trình tham gia, có một số thành 

viên đã không tham dự một phiên đấu thầu nào. Sau khi áp dụng Quy chế đấu thầu Trái phiếu 
chính phủ (TPCP) theo Quyết định 935/2004/QĐ­NHNN ngày 23/7/2004 và triển khai chương 

trình đấu thầu TPCP qua mạng, NHNN xem xét và công nhận tổng số thành viên thị trường đấu 

thầu TPCP đến nay là 20 thành viên (chi tiết phụ lục 01).



2.1. Kết quả đạt được

­ Việc đấu thầu tín phiếu Kho bạc qua NHNN đã mở ra một kênh huy động vốn với chi phí thấp 

cho Ngân sách Nhà nước. Doanh số và tỷ trọng tín phiếu Kho bạc phát hành dưới hình thức đấu 

thầu qua NHNN trong tổng doanh số huy động vốn của Kho bạc Nhà nước tăng qua các năm. 

Điều này phù hợp với xu thế phát triển thị trường và thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, thị trường 

đấu thầu tín phiếu Kho bạc đã trở thành nguồn cung cấp hàng hóa chủ yếu cho các giao dịch 

nghiệp vụ tiền tệ giữa NHNN với các NHTM, nhất là nghiệp vụ thị trường mở để thực thi chính 

sách tiền tệ quốc gia. 

Kỳ hạn tín phiếu Kho bạc đến nay đã đa dạng hơn trước, gồm 364 ngày, 273 ngày và 182 ngày. 

Bên cạnh các NHTM Nhà nước, các NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân 

hàng nước ngoài cũng đã từng bước trở thành thành viên tham gia thị trường. 

Khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành qua các năm:

Năm thực hiện Tín phiếu kho bạc Trái phiếu ngoại tệ

Số phiên Khối lượng trúng thầu

(tỷ đồng) Số phiên Khối lượng trúng thầu

(USD)

1995 (từ tháng 5) 4 243,60 

1996 16 823,40 

1997 37 2.917,50 

1998 46 4.020,70 

1999 45 3.011,60 

2000 43 4.441,00 

2001 46 3.915,00 
2002 50 8.410,00 

2003 51 15.901,00 5 9.000.000,00

2004 48 19.465,00 5 5.500.000,00

2005 60 22.120,60 7 Không có

2006 48 22.075,10 Không có

Tổng cộng 498 107.344,50 17 14.500.000,00

(Nguồn: www.sbv.gov.vn)

2.2. Một số hạn chế, bất cập 

­ Số lượng thành viên tham gia trên thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc vẫn còn hạn hẹp, 

thành viên chủ yếu vẫn là các NHTM.

­ Lãi suất trên thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc vẫn còn nhiều bất cập. Hiện nay, lãi suất áp 

dụng lãi suất chỉ đạo trong đấu thầu tín phiếu Kho bạc nên lãi suất trúng thầu chưa hình thành 

theo các nguyên tắc thị trường. 

­ Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn có những hạn chế nhất định.

3. Nghiệp vụ thị trường mở
­ Thị trường mở được chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 và vận hành theo Quy chế 

hoạt động thị trường mở được ban hành kèm theo Quyết định số 85/2000/QĐ – NHNN14 ngày 

09/3/2000. Qua quá trình hoạt động, NHNN đã không ngừng hoàn thiện cơ sở pháp lý để thị 

trường mở ngày càng phát huy vai trò, tác dụng trong sự phát triển của thị trường tiền tệ. 

­ Các công cụ tài chính được phép giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở bao gồm các loại giấy 

tờ có giá (GTCG) phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, TPCP (tín phiếu kho 

bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ phát 

hành công trái) và trái phiếu chính quyền địa phương do Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh và 

TP Hà Nội phát hành bằng đồng VN và có thời hạn còn lại tối đa là 91 ngày (Đối với trường hợp 

mua, bán hẳn) và dài hơn thời hạn mua, bán (Đối với trường hợp mua hoặc bán có kỳ hạn). 

3.1. Kết quả đạt được: 
­ Số thành viên tham gia tăng lên hàng năm. Đến nay có 35 thành viên tham gia (chi tiết phụ lục 

02).

­ Tần suất và khối lượng trúng thầu tăng dần qua các năm. Từ tháng 11/2004, NHNN đã tăng 

định kỳ giao dịch lên 3 phiên/ tuần và đến nay mỗi ngày có từ 2 đến 3 phiên giao dịch. Bên cạnh 

đó, NHNN còn mở các phiên giao dịch đột xuất hoặc các phiên giao dịch hàng ngày vào những 

dịp giáp Tết để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, không để xảy ra tình trạng mất khả năng 

thanh toán cũng như chậm trả đối với khách hàng. Nhờ đó, hoạt động ngân hàng được diễn ra 

bình ổn, củng cố uy tín của hệ thống ngân hàng. 




KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỞNG MỞ

(12/7/2000 – 31/12/2006)

Năm thực hiện Số phiên thực hiện Khối lượng trúng thầu theo các phương thức giao dịch (tỷ 

đồng)

Mua kỳ hạn Mua hẳn Bán kỳ hạn Bán hẳn Tổng cộng

2000 17 873,50 480,00 550,00 1.903,50

2001 48 3.253,81 60,00 50,00 570,00 3.933,81

2002 85 7.245,53 1.900,00 9.145,53

2003 107 9.844,15 11.340,00 21.184,15

2004 123 60.985,91 950,00 61.935,91

2005 159 100.679,15 700,00 1.100,00 102.479,15
2006 155 26.332,77 200,00 86.102,00 112.634,77

Tổng cộng 694 209.214,82 540,00 950,00 102.512,00 313.216,82

(Nguồn: www.sbv.gov.vn)

­ Các thủ tục giao dịch nghiệp vụ thị trường mở tiếp tục được cải tiến, cơ chế hoạt động tiếp tục 

được hoàn thiện. Năm 2004, NHNN đã ban hành Quy chế lưu ký giấy tờ có giá tại NHNN ban 

hành kèm theo Quyết định số 1022/2004/QĐ­NHNN ngày 17/8/2004. Đây là cơ sở pháp lý tạo 

điều kiện cho các TCTD thực hiện thống nhất việc lưu ký các giấy tờ có giá phục vụ cho các giao 

dịch trên thị trường tiền tệ. Ngoài ra, NHNN đã mở tài khoản lưu ký giấy tờ có giá tại Trung tâm 

giao dịch chứng khoán để tạo điều kiện cho việc lưu ký các giấy tờ có giá phát hành trên thi 

trường chứng khoán được thuận lợi, đơn giản hơn. Đặc biệt NHNN đã bắt đầu giao dịch đặt thầu 

và đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở qua mạng, tạo thuận lợi cho các thành viên tham gia thị 

trường. 

­ Chủng loại giấy tờ có giá được giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở được mở rộng. (Năm 

2004, NHNN cho phép trái phiếu công trình trung ương được sử dụng trong các giao dịch nghiệp 

vụ thị trường mở). 

3.2. Một số hạn chế, bất cập 

­ Luật công cụ chuyển nhượng đã có hiệu lực từ năm 2006 nhưng chưa có văn bản hướng dẫn 

thực hiện.

­ Các giấy tờ có giá có thể sử dụng trong các giao dịch trên thị trường tiền tệ vẫn tập trung chủ 

yếu ở các NHTM Nhà nước. Một số công cụ đã được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ 

các nước như thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi... nhưng hầu như vẫn chưa được hình thành, 

hoặc còn ít sử dụng ở Việt Nam. 

­ Kỳ hạn của các trái phiếu Chính phủ – công cụ chủ yếu sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở 

vẫn chưa thực sự đa dạng, nhất là tín phiếu Kho bạc với thời hạn ngắn dưới 6 tháng. 

­ Số lượng thành viên tham gia hạn hẹp nên lãi suất nghiệp vụ thị trường mở chưa phản ánh 

đúng quan hệ cung­cầu về vốn trên thị trường.

4. Thị trường hối đoái 
4.1. Kết quả đạt được

Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động 

kinh doanh hối đoái, đa dạng hoá các loại hình giao dịch trên thị trường; tạo các công cụ phòng 

ngừa rủi ro trước những biến động của tỷ giá và lãi suất trên thị trường trong tương lại; giúp cho 

các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, các đơn vị kinh tế chủ động trong kinh doanh; thúc đẩy và phát 

triển các giao dịch hối đoái để góp phần hoàn thiện thị trường hối đoái ở Việt Nam.

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chính thức được hình thành từ năm 1994. Thị trường này giúp 

kết nối cung cầu ngoại tệ cho các ngân hàng. Qua thị trường này, NHNN đã theo dõi được các 

giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, thấy được diễn biến cung cầu và tham gia thị 

trường với vai trò là người mua bán cuối cùng. NHNN tham gia thị trường này nhằm thực thi 

chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Kể từ năm 1999, ngoài điều hành linh hoạt tỷ giá, NHNN 

còn thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời tỷ giá trên thị trường giúp các NHTM cân đối 

ngoại tệ đã góp phần làm ổn định tỷ giá.

4.2. Một số hạn chế, bất cập

­ Thị trường ngoại hối của Việt Nam vẫn thuộc loại kém phát triển, ngay cả khi so với các nước 

trong khu vực, kể cả quy mô và chiều sâu do chất lượng quản lý không cao, thiếu thống nhất, 

các quy định lỏng lẻo, tạo điều kiện cho những hành vi vi phạm về quản lý. Phổ biến tình trạng 

niêm yết giá cả bằng ngoại tệ, thanh toán, mua bán ngoại tệ bất hợp pháp vẫn còn diễn ra phổ 

biến, các nguồn thu bằng ngoại tệ vẫn còn phân tán trong nhân dân, doanh nghiệp hoặc một số 

quỹ ngoại tệ khác, chưa được thu hút vào hệ thống ngân hàng, chưa nâng cao được tính chuyển 

đổi của đồng Việt Nam và chưa phát huy được tác dụng trong việc khắc phục tình trạng đô la 

hóa của nền kinh tế.

­ Những vấn đề hết sức quan trọng của kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập sâu và rộng 

như tỷ giá, thị trường ngoại hối, quản lý dự trữ mới chỉ được xác lập ở các nguyên tắc cơ bản mà 

chưa được điều chỉnh rõ ràng về các giao dịch. Đối với công cụ tỷ giá: Nếu như trước đây NHNN 

vẫn khống chế biên độ tỷ giá (±0.5%) trong một thời gian dài thì nay đã cho phép các NHTM 

giao dịch trong biên độ (±1%) điều này đã hạn chế quyền chủ động linh hoạt của các NHTM 
trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ có liên quan đến ngoại hối.

­ Các doanh nghiệp chưa quan tâm đến việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị 

trường ngoại hối.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản