thiết kế hệ thống IMS trong NGN, chương 18

Chia sẻ: Nguyen Van Dau | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
114
lượt xem
72
download

thiết kế hệ thống IMS trong NGN, chương 18

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một trong các thành phần chức năng trong một phiên cơ bản mà có thể thiết lập sự chuyển hướng là P-CSCF của thuê bao đích. Trong sự điều khiển thiết lập một phiên lối vào, thông thường PCSCF gửi yêu cầu INVITE tới UE đích và truyền lại nó nếu cần thiết để nhận được báo nhận chỉ thị chấp nhận của UE. Trong trường hợp thuê bao đích không thể đến được phân hệ IM CN (vì chuyển mạng ra ngoài vùng phục vụ hoặc do mất Pin nhưng đăng kí vẫn còn hiệu lực) thì P-CSCF có...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: thiết kế hệ thống IMS trong NGN, chương 18

  1. Chương 18: Chuyển hướng phiên được thiết lập bởi P-CSCF Một trong các thành phần chức năng trong một phiên cơ bản mà có thể thiết lập sự chuyển hướng là P-CSCF của thuê bao đích. Trong sự điều khiển thiết lập một phiên lối vào, thông thường P- CSCF gửi yêu cầu INVITE tới UE đích và truyền lại nó nếu cần thiết để nhận được báo nhận chỉ thị chấp nhận của UE. Trong trường hợp thuê bao đích không thể đến được phân hệ IM CN (vì chuyển mạng ra ngoài vùng phục vụ hoặc do mất Pin nhưng đăng kí vẫn còn hiệu lực) thì P-CSCF có thể thiết lập một sự thay đổi về phiên. P-CSCF truyền thông tin cho S-CSCF về sự đổi hướng phiên này, mà không cần chỉ rõ vị trí, S-CSCF xác định đích mới và thực hiện theo các phiên 1, 2 hoặc 3 phía trên tùy theo loại đích. Điều này được thể hiện như luồng thông tin sau đây: Hình 3.43 Chuyển hướng phiên được khởi tạo bởi P-CSCF.
  2. 1. Yêu cầu INVITE SIP được gửi từ UE tới S-CSCF#1 băng các thủ tục luồng khởi tạo. 2. S-CSCF#1 thực hiện bất kì một logic điều khiển dịch vụ nào phù hợp để thiết lập phiên. 3. S-CSCF#1 thực hiện phân tích địa chỉ đích để xác định thuê bao thuộc về nhà khai thác mạng nào. yêu cầu INVITE được gửi từ I-CSCF tới nhà khai thác mạng đó và có thể tùy chọn qua một I-CSCF(THIG) nếu S-CSCF nằm trong một mạng khác với I-CSCF. 4. I-CSCF truy vấn HSS về thông tin vị trí hiện thời của thuê bao đích. 5. HSS đáp lại địa chỉ của Serving CSCF hiện thời (S- CSCF#2) cho thuê bao kết cuối. 6. I-CSCF gửi yêu cầu INVITE tới S-CSCF#2-nơi sẽ điều khiển kết cuối phiên. 7. S-CSCF#2 thực hiện bất kì một logic điều khiển dịch vụ nào phù hợp để thiết lập phiên. 8. S-CSCF#2 gửi yêu cầu INVITE tới P-CSCF#2. 9. P-CSCF#2 gửi yêu cầu INVITE tới UE#2. 10. Khi đã hết thời gian để P-CSCF đợi đáp ứng từ UE#2. Thì P-CSCF thừa nhận rằng UE#2 không thể với tới được. 11. P-CSCF#2 đưa ra một đáp ứng không khả thi, không cần chứa một đích mới và gửi bản tin này tới S-CSCF#2.
  3. 12. S-CSCF#2 thực hiện bất kì một logic điều khiển dịch vụ nào phù hợp để thiết lập chuyển hướng phiên này. nếu người dùng không thuê bao dịch vụ chuyển hướng phiên hoặc không cung cấp một sự chuyển tiếp đích, thì S-CSCF có thể kết thúc thiết lập phiên bằng một thông báo lỗi. Mặt khác, S-CSCF#2 cung cấp một URL đích mới, có thể là một số điện thoại, một địa chỉ email, một trang web hay bất kì một thứ nào khác mà có thể được thể hiện như một URL. Xử lí sẽ được tiếp tục theo các phần con 1, 2 và 3 trên tùy theo loại URL đích. 3.10.4.5 Chuyển hướng phiên được thiết lập bởi UE Thành phần chức năng tiếp theo trong một phiên cơ bản có thể thiết lập một sự thay đổi hướng phiên là UE của thuê bao đích. UE có thể thực hiện xử lí đặc điểm đặc tả khách hàng và quyết định của nó để chuyển hướng phiên này dựa vào những thứ như nhận dạng chủ gọi, các phiên hiện tại đã thành công, các ứng dụng khác hiện tại đang được truy nhập vv. UE gửi đáp ứng đổi hướng SIP tới P-CSCF của nó, P-CSCF này lại gửi theo tuyến báo hiệu tới S- CSCF#1, S-CSCF#1 thiết lập một phiên tới đích mới. Dịch vụ được bổ sung từ các luồng thông tin này điển hình là “chuyển tiếp phiên bận”, “chuyển tiếp phiên khả biến” hoặc “chuyển tiếp phiên chọn lựa”. Điều này được thể hiện theo các luồng thông tin sau:
  4. Hình 3.44 Chuyển hướng phiên được thiết lập bởi UE. Từng bước xử lí như sau: 1. Yêu cầu INVITE được gửi từ UE tới S-CSCF#1 bằng các thủ tục luồng khởi tạo. 2. S-CSCF#1 thực hiện bất kì một logic điều khiển dịch vụ nào phù hợp để thiết lập phiên. 3. S-CSCF#1 thực hiện phân tích địa chỉ đích để xác định thuê bao đích thuộc về nhà khai thác mạng nào. Bản tin INVITE được gửi từ I-CSCF tới nhà khai thác mạng đó và có thể tùy chọn qua một I-CSCF(THIG) nếu S-CSCF#1 nằm trong mạng của nhà vận hành khác với I-CSCF. 4. I-CSCF truy vấn HSS về thông tin vị trí hiện thời của thuê bao đích. 5. HSS đáp lại bằng địa chỉ của Serving CSCF hiện thời (S- CSCF#2) cho thuê bao kết cuối.
  5. 6. I-CSCF gửi yêu cầu INVITE tới S-CSCF#2 –là nơi điều khiển kết cuối phiên. 7. S-CSCF#2 thực hiện bất kì một logic điều khiển dịch vụ nào để thiết lập phiên. 8. S-CSCF#2 gửi yêu cầu INVITE tới P-CSCF#2. 9. P-CSCF#2 gửi yêu cầu INVITE tới UE#2. 10. UE#2 xác định rằng phiên sẽ bị chuyển hướng với tùy chọn cung cấp URL đích mới. URL đích mới này có thể là một số điện thoại, một địa chỉ email, một trang web, hay bất kì một thứ nào khác mà có thể đưa ra như một URL. Đáp ứng chuyển hướng phiên được gửi tới P-CSCF#2. 11. P-CSCF#2 gửi đáp ứng chuyển hướng tới S-CSCF#2. 12. S-CSCF#2 thực hiện bất kì một điều khiển dịch vụ nào phù hợp để chuyển hướng phiên này. Nếu UE#2 không thuê bao dịch vụ chuyển hướng phiên hoặc không cung cấp một URL đích mới nào thì S-CSCF#2 có thể cung cấp một hoặc có thể kết thúc thiết lập phiên bằng một bản tin thông báo lỗi. URL đích mới có thể là một số điện thoại, một địa chỉ email, một trang web hay bất kì cái gì có thể thể hiện như một URL. Quá trình xử lí sẽ được tiếp tục bằng các thủ tục trong phần 1, 2 hoặc 3 ở trên tùy theo loại URL. 3.10.4.6 Chuyển hướng phiên được thiết lập sau khỉ thiết lập mạng mang UE của thuê bao đích có thể yêu cầu phiên được chuyển hướng sau khoảng thời gian báo hiệu chuông thuê bao. UE cũng có thể xử
  6. lí các đặc điểm đặc tả khách hàng để nó quyết định chuyển hướng phiên này dựa và những thứ như nhận dạng chủ gọi, các phiên đang tiến hành, và các ứng dụng khác hiện tại đang được truy nhập vv. UE gửi đáp ứng chuyển hướng SIP tới P-CSCF của nó, P- CSCF này gửi quay lại theo tuyến báo hiệu tới điểm đầu cuối khởi tạo, điển đầu cuối khởi tạo thiết lập một phiên tới đích mới. Dịch vụ được triển khai từ luồng thông tin này điển hình là “chuyển tiếp phiên không trả lời”. Chuyển hướng phiên tới một đầu cuối IMS được thể hiện như các luồng thông tin sau:
  7. Hình 3.45 Chuyển hướng phiên sau khi đã thiết lập mạng mang Từng bước xử lí như sau: 1-10. Điều khiển thiết lập phiên cơ bản thông thường, thiết lập kênh mang và thông báo cho thuê bao đích. 11. Vì lí do hết giờ hoặc các chỉ thị khác, UE#2 quyết định phiên hiện tại sẽ được chuyển hướng tới một URL đích mới. URL đích mới này có thể là một số điện thoại, một địa chỉ email, một trang web hay một một cài gì đó được thể
  8. hiện như một URL. Đáp ứng thay đổi hướng được gửi tới P- CSCF#2. 12. P-CSCF#2 thu hồi lại tài nguyên QoS đã trao quyền cho phiên hiện tại. 13. P-CSCF#2 gửi đáp ứng thay đổi hướng tới S-CSCF#2. 14. S-CSCF#2 thực hiện bất kì một điều khiển dịch vụ nào phù hợp để đổi hướng cho phiên này. Nếu UE#2 không thuê bao dịch vụ chuyển hướng phiên hoặc không cung cấp một URL đích mới thì S-CSCF#2 có thể kết thúc thiết lập phiên này bằng đáp ứng lỗi. URL đích mới có thể là một số điện thoại, một địa chỉ email, một trang web hay bất kì thứ gì khác có thể thay mặt một URL. S-CSCF#2 đưa ra một URL riêng để tự đánh địa chỉ cho nó, chứa đựng đích mới. 15. S-CSCF#2 gửi đáp ứng chuyển hướng SIP quay lại I- CSCF chứa địa chỉ URL riêng tới S-CSCF#2. 16. I-CSCF gửi đáp ứng đổi hướng quay lại S-CSCF#1 chứa đựng đích chuyển hướng. 17. S-CSCF#1 của sự chuyển hướng mà đã xuất hiện trong sự thiết lập phiên này, và nếu như quá mức thì sẽ bỏ qua phiên. S-CSCF#1 lưu trữ thông tin đích mới và đưa ra một địa chỉ URL của chính nó tới thông tin lưu trữ và đưa ra một đáp ứng chuyển hướng phiên thay đổi với URL riêng. 18. S-CSCF#1 gửi đáp ứng chuyển hướng đã được thay đổi tới P-CSCF#1. 19. P-CSCF#1 gửi đáp ứng chuyển hướng tới UE#1.
  9. 20. UE#1 đặt lại và giải phóng tất cả các tài nguyên của phiên trước đây, và thiết lập một yêu cầu INVITE mới tới địa chỉ đã được cung cấp trong đáp ứng chuyển hướng. Yêu cầu INVITE mới này được gửi tới P-CSCF#1. 21. P-CSCF#1 gửi yêu cầu INVITE tới S-CSCF#1. 22. S-CSCF#1 lây lại thông tin thuê bao đích đã được lưu trong bước 17 và thực hiện thực hiện bất kì một điều khiển dịch vụ nào khác mà phù hợp để thiết lập phiên mới này. 23. S-CSCF#1 xác định nhà khai thác mạng của địa chỉ đích mới. Bản tin INVITE được gửi tới I-CSCF#2 24. I-CSCF#2 gửi INVITE tới S-CSCF#2. 25. S-CSCF#2 giải mã URL riêng đó để xác định nhà khai thác mạng của đích mới và gửi yêu cầu INVITE tới I-CSCF của nhà khai thác mạng đó. 26. Phần còn lại để hoàn thành phiên này được tiến hành như thông thường. 3.11 Các thủ tục phiên kết cuối di động với thuê bao chưa biết Phần này mô tả luồng thông tin cho thủ tục kết cuối di động với một thuê bao chưa được biết. Thuê bao chưa biết là trường hợp mà yêu cầu phiên được tạo từ một nhận dạng người dùng chung không đúng, không được đưa ra hoặc đã bị xóa bỏ Xác định thuê bao chưa được biết được tiến hành trong HSS và/hoặc SLF.
  10. 3.11.1 Xác định thuê bao chưa biết trong HSS Hình sau đây thể hiện trạng thái chưa biết của một người được yêu cầu được xác định trong HSS. I-CSCF yêu cầu thông tin về thuê bao được với tới và HSS đáp ứng lại I-CSCF bằng một chỉ thị về thuê bao là không biết. I-CSCF sử dụng chỉ thị rằng thuê bao chưa được biết gửi lại người khởi tạo để truyền thông tin rằng thuê bao là chưa được biết. Hình 3.46 HSS xác định thuê bao chưa biết 1. I-CSCF nhận một INVITE 2. I-CSCF truy vấn HSS về thông tin vị trí hiện tại. 3. HSS đáp ứng lại băng chỉ thị rằng thuê bao là chưa được biết. 4. I-CSCF đáp ứng cho người khởi tạo rằng thuê bao là chưa biết. 3.11.2 Xác định thuê bao chưa biết trong SLF Trạng thái chưa được biết của người dùng được yêu cầu được quyết định trong SLF. I-CSCF yêu cầu thông tin về thuê bao được với tới và SLF đáp ứng lại I-CSCF bằng một chỉ thị rằng thuê bao
  11. là không biết. I-CSCF sử dụng chỉ thị rằng thuê bao là không biết gửi lại người khởi tạo rằng thuê bao đích là không biết. Hình 3.47 SLF xác định thuê bao chưa biết. 1. I-CSCF nhận một yêu cầu INVITE và bây giờ phải truy vấn vị trí dữ liệu của thuê bao. 2. I-CSCF gửi Dx-SLF-Query tới SLF chứa các tham số nhận dạng thuê bao đặt trong yêu cầu INVITE. 3. SLF tìm trong cơ sở dữ liệu của nó nhận dạng thuê bao được truy vấn. 4. SLF trả lời bằng một chỉ thị rằng thuê bao là không biết. 5. I-CSCF đáp ứng cho người đã khởi tạo yêu cầu rằng thuê bao là không biết.
Đồng bộ tài khoản