Thơ tình song ngữ

Chia sẻ: D Dd | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:87

0
130
lượt xem
70
download

Thơ tình song ngữ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Người dịch: Nguyễn Viết Thắng Apollinaire, Guilaume (1880-1918)

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thơ tình song ngữ

  1. Người dịch: Nguyễn Viết Thắng Apollinaire, Guilaume (1880-1918) CẦU MIRABEAU Dưới cầu Mirabeau êm đềm trôi dòng Seine Trôi cả tình yêu của anh và em Không biết anh có còn nên nhớ Niềm vui sẽ đến theo sau nỗi ưu phiền. Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh. Mặt đối mặt và tay trong tay nhau Vòng tay ta như cầu Dưới cầu dòng nước chảy ánh mắt rã rời vì li biệt dài lâu. Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh. Tình ra đi như dòng nước trôi nhanh Tình yêu của em và anh Cuộc đời ơi, sao mà chậm rãi Hy vọng sao mà dữ dội cuồng điên. Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh. Vẫn trôi đều ngày tuần, tháng năm Quá khứ và tình yêu quay trở lại không còn Chỉ một điều không bao giờ thay đổi Dưới cầu Mirabeau êm đềm trôi dòng Seine. Giờ cứ điểm, đêm cứ đến gần Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh. Le pont Mirabeau Sous le pont Mirabeau coule la Seine Et nos amours Faut-il qu'il m'en souvienne La joie venait toujours après la peine
  2. Vienne la nuit sonne l'heure Les jours s'en vont je demeure Les mains dans les mains restons face à face Tandis que sous Le pont de nos bras passe Des éternels regards l'onde si lasse Vienne la nuit sonne l'heure Les jours s'en vont je demeure L'amour s'en va comme cette eau courante L'amour s'en va Comme la vie est lente Et comme l'Espérance est violente Vienne la nuit sonne l'heure Les jours s'en vont je demeure Passent les jours et passent les semaines Ni temps passé Ni les amours reviennent Sous le pont Mirabeau coule la Seine Vienne la nuit sonne l'heure Les jours s'en vont je demeure. Aragon, Louis (1897 – 1982) TÌNH HẠNH PHÚC KHÔNG HỀ CÓ Con người chẳng có quyền gì. Không ở trong sức mạnh Không ở trong tim, trong sự yếu đuối của mình Khi giang rộng vòng tay – thì tai họa đứng sau lưng Xiết chặt vào lòng – là giết mình mãi mãi Sự hành hạ con người đôi cánh rộng mở ra Tình hạnh phúc không hề có. Bị tước mất vũ khí, đời người lính còn gì Khi người ta đem đặt thứ khác vào số phận Mỗi buổi sáng thức giấc thấy đời trống vắng Rồi chờ đợi buổi chiều với một nỗi buồn thương Không cần nước mắt đâu. Đó là cuộc đời anh
  3. Tình hạnh phúc không hề có. Tình của anh và nỗi đau, nỗi đau đớn của anh Như con chim bị thương, em trong tim anh đó Anh và em bước đi dưới ánh mắt thiên hạ. Anh bện vào những lời rồi nhắc lại những lời anh Vì đôi mắt của em mà người ta xin chết sẵn sàng Tình hạnh phúc không hề có. Không, ta đã muộn màng để học cách sống từ đầu Cứ để cho hai con tim trong buổi chiều cùng đau khổ Cần đau đớn để cho bài ca sinh hạ Và lòng thương, khi đám cháy đã không còn Cần thổn thức để cùng cây đàn ghi ta hát lên Tình hạnh phúc không hề có. Không có trên đời tình yêu mà không biết đến đau thương Không có trên đời tình yêu mà khổ đau không mang đến Không có trên đời tình yêu mà không sống bằng đau đớn Và anh cũng như em, vẫn yêu đất nước quê hương Không có tình yêu mà không có nước mắt, đau buồn Tình hạnh phúc không có nhưng tình vẫn sống Và đâu phải vì điều này mà anh hết yêu em. Il n'y a pas d'amour heureux Rien n'est jamais acquis à l'homme ni sa force Ni sa faiblesse ni son coeur et quand il croit Ouvrir ses bras son ombre est celle d'une croix Et quand il croit serrer son bonheur il le broie Sa vie est un étrange et douloureux divorce Il n'y a pas d'amour heureux Sa vie Elle ressemble à ces soldats sans armes Qu'on avait habillés pour un autre destin A quoi peut leur servir de se lever matin Eux qu'on retrouve au soir désoeuvrés incertains Dites ces mots Ma vie et retenez vos larmes Il n'y a pas d'amour heureux Mon bel amour mon cher amour ma déchirure Je te porte dans moi comme un oiseau blessé Et ceux-là sans savoir nous regardent passer Répétant après moi les mots que j'ai tressés Et qui pour tes grands yeux tout aussitôt moururent
  4. Il n'y a pas d'amour heureux Le temps d'apprendre à vivre il est déjà trop tard Que pleurent dans la nuit nos coeurs à l'unisson Ce qu'il faut de malheur pour la moindre chanson Ce qu'il faut de regrets pour payer un frisson Ce qu'il faut de sanglots pour un air de guitare Il n'y a pas d'amour heureux Il n'y a pas d'amour qui ne soit à douleur Il n'y a pas d'amour dont on ne soit meurtri Il n'y a pas d'amour dont on ne soit flétri Et pas plus que de toi l'amour de la patrie Il n'y a pas d'amour qui ne vive de pleurs Il n'y a pas d'amour heureux Mais c'est notre amour à tous les deux. Char, René (1907 – 1988) SỰ AN ỦI Tình yêu của tôi thơ thẩn trên đường phố. Chẳng lẽ còn ý nghĩa đi về đâu trong sự lựa chọn con đường? Đã lìa đứt sợi chỉ của thời gian. Giờ đã không còn là tình yêu tôi nữa
  5. mà mỗi người đều có thể chuyện trò. Tình đã quên tất cả, tình đã chẳng nhớ ra, ai đã trao cho tình linh hồn ngày đó. Tình bây giờ đi tìm người như thế trong sự hứa hẹn của những ánh mắt nhìn. Tình xuyên qua không gian mà sự thủy chung của tôi vẫn giữ gìn. Tình vẽ ra hy vọng rồi xóa đi niềm hy vọng thật vô tâm. Tình trăm trận trăm thắng không tham dự vào những chiến công. Tôi vẫn sống trong sâu thẳm của tình, giống như mảnh vỡ hạnh phúc của con tàu bị chìm. Tình không biết rằng sự cô đơn của tôi trở thành sự giàu có của tình. Trên đường kinh tuyến mênh mông, nơi đánh dấu sự thăng hoa của tình, tự do của tôi làm cho tình đổ vỡ. Tình yêu của tôi thơ thẩn trên đường phố. Chẳng lẽ còn ý nghĩa đi về đâu trong sự lựa chọn con đường? Đã lìa đứt sợi chỉ của thời gian. Giờ đã không còn là tình yêu tôi nữa mà mỗi người đều có thể chuyện trò. Tình đã quên tất cả, tình đã chẳng nhớ ra, ai đã trao cho tình linh hồn ngày đó, ai đã chiếu sáng cho tình từ xa, để cho tình khỏi ngã. Allégeance Dans les rues de la ville il y a mon amour. Peu importe où il va dans le temps divisé. Il n'est plus mon amour, chacun peut lui parler. Il ne se souvient plus; qui au juste l'aima? Il cherche son pareil dans le voeu des regards. L'espace qu'il parcourt est ma fidélité. Il dessine l'espoir et léger l'éconduit. Il est prépondérant sans qu'il y prenne part. Je vis au fond de lui comme une épave heureuse. A son insu, ma solitude est son trésor. Dans le grand méridien où s'inscrit son essor, ma liberté le creuse. Dans les rues de la ville il y a mon amour. Peu importe où il va dans le temps divisé. Il n'est plus mon amour, chacun peut lui parler. Il ne se souvient plus; qui au juste l'aima et l'éclaire de loin pour qu'il ne tombe pas? Prudhomme, Sully (1839 – 1907) GIỐNG NHAU Nếu em muốn biết được vì sao anh Lại yêu em chân thành, tha thiết vậy? Em yêu ạ, anh yêu em là bởi Em giống như thời tuổi trẻ của anh. ánh mắt em đầy hy vọng nhưng buồn Tỏa ánh sáng chói ngời như tia chớp Trong lòng em ngập tràn bao mơ ước Em giống như thời tuổi trẻ của anh. Thân hình em kì diệu và mong manh
  6. Như người đẹp thành Tơ-roa thuở trước Vẻ lộng lẫy trên mái tóc, trên ngực Em giống như thời tuổi trẻ của anh. Tình yêu chân thành, tha thiết cháy lên Mỗi giây phút lời “yêu em” anh nói Nhưng em bước đi, không thèm ngoái lại Em giống như thời tuổi trẻ của anh. Ressemblance Vous désirez savoir de moi D'ou me vient pour vous ma tendresse. Je vous aime, voici pourquoi! Vous ressemblez à ma jeunesse. Vos yeux noirs sont mouillés souvent Par l'espérance et la tristesse Et voux allez toujours rêvant: Vous ressemblez à ma jeunesse. Votre tête est de marbre pur Faite pour le ciel de la Grèce Où la blancheur luit dans l'azur: Vous ressemblez à ma jeunesse. Je vous tends chaque jour la main Vous offrant l'amour qui m'oppresse. Mais vous passez votre chemin, Vous ressemblez à ma jeunesse! Rimbaud, Athur (1854-1891) CẢM GIÁC Buổi chiều xanh, trên những con đường nhỏ Rảo bước chân trên hoa cỏ nhẹ nhàng Mơ ước trong đầu, trên tóc ngọn gió Tôi nhận ra hơi mát dưới bàn chân. Không nghĩ suy, không lời trên môi lặng Nhưng con tim yêu hết thảy trên đời Và ngọt ngào trong hoàng hôn thơ thẩn Thiên nhiên tựa hồ như người đẹp cùng tôi.
  7. SENSATION Par les soirs bleus d'été j'irai dans les sentiers, Picoté par les blés, fouler 1'herbe menue : Rêveur, j'en sentirai la fraîcheur à mes pieds, Je laisserai Ic vent baigner ma tête nue ! Je ne parlerai pas, je ne penserai rien. Mais 1 'amour infini me montera dans l'âme : Et j'irai loin, bien loin, comme un bohémien, Par la Nature, — heureux comme avec une femme. Verlaine, Paul (1844 – 1896) La Chanson des Ingénues Những mắt xanh thơ ngây Từ trong câu chuyện cổ Khăn xếp quấn trên đầu Người đời không còn nhớ. Ta thân thiết vô vàn Ánh sáng ngày tinh khiết Như bí ẩn kín thầm Như màu xanh mơ ước. Ta chạy ra đồi cây Chỉ bóng đêm rơi xuống Cùng chuyện trò, bắt bướm Cười vui suốt cả ngày. Đội trên đầu mũ rơm Che cho ta ánh nắng Vải áo quần nhẹ mỏng Còn màu nào trắng hơn! Caussades hay Richelieux Hay chàng Faublas Ta nghe tiếng thầm thì Và những mắt mỏi mệt. Nhưng thở than vô ích Các chàng chỉ đứng nhìn Những chiếc váy thì thầm Lời mỉa mai chua chát.
  8. Trêu tức vẻ hình dung Những chàng trai tinh nghịch Vẻ kiêu kỳ trinh bạch Tránh lời nói dịu dàng. Nhưng dù sao trong tim Những ý nghĩ kín thầm Ngày mai rồi yêu mến Điều hú họa gì chăng. La Chanson des Ingénues Nous sommes les Ingénues Aux bandeaux plats, à l'oeil bleu, Qui vivons, presque inconnues, Dans les romans qu'on lit peu. Nous allons entrelacées, Et le jour n'est pas plus pur Que le fond de nos pensées, Et nos rêves sont d'azur ; Et nous courons par les prés Et rions et babillons Des aubes jusqu'aux vesprées, Et chassons aux papillons ; Et des chapeaux de bergères Défendent notre fraîcheur Et nos robes - si légères - Sont d'une extrême blancheur ; Les Richelieux, les Caussades Et les chevaliers Faublas Nous prodiguent les oeillades, Les saluts et les "hélas !" Mais en vain, et leurs mimiques Se viennent casser le nez Devant les plis ironiques De nos jupons détournés ; Et notre candeur se raille Des imaginations De ces raseurs de muraille,
  9. Bien que parfois nous sentions Battre nos coeurs sous nos mantes À des pensers clandestins, En nous sachant les amantes Futures des libertins. Goethe, Johann Wolfgang von (1749-1832) GỬI MIGNON Bay trên trời chiếu sáng Xe mặt trời màu vàng Tỏa sáng tận xa xăm Nhưng than ôi, gần sáng Trong con tim sâu thẳm Thức dậy nỗi đau buồn. Đêm nghiệt ngã cùng ta Vỗ về những giấc mơ Giờ khắc trôi chầm chậm Nhưng than ôi, gần sáng Trong con tim sâu thẳm Đan kết nỗi buồn xưa. Tưởng nhớ tháng ngày qua Dưới bầu trời mờ xa
  10. Những con tàu cập bến Nhưng ở trong lòng ta Một nỗi buồn cay đắng Không đi khỏi bao giờ. Ta ngỡ là khỏe mạnh Mặc áo quần sang trọng Chỉ dành cho ngày vui Nhưng những ai chào đón Có ai người cảm nhận Trong tim ta ngậm ngùi. Mặc lòng khóc cay đắng Nhưng nước mắt ta chùi Giá như đau khổ này Đưa ta về ngôi mộ Thì từ lâu ta đã Ngủ yên trong đất rồi. AN MIGNON Über Tal und Fluß getragen, Ziehet rein der Sonne Wagen. Ach, sie regt in ihrem Lauf, So wie deine, meine Schmerzen, Tief im Herzen, Immer morgens wieder auf. Kaum will mir die Nacht noch frommen, Denn die Träume selber kommen Nun in trauriger Gestalt, Und ich fühle dieser Schmerzen, Still im Herzen Heimlich bildende Gewalt. Schon seit manchen schönen Jahren Seh ich unten Schiffe fahren, Jedes kommt an seinen Ort; Aber ach, die steten Schmerzen, Fest im Herzen, Schwimmen nicht im Strome fort. Schön in Kleidern muß ich kommen, Aus dem Schrank sind sie genommen, Weil es heute Festtag ist; Niemand ahnet, daß von Schmerzen
  11. Herz im Herzen Grimmig mir zerrissen ist. Heimlich muß ich immer weinen, Aber freundlich kann ich scheinen Und sogar gesund und rot; Wären tödlich diese Schmerzen Meinem Herzen, Ach, schon lange wär ich tot. Szymborska, Wislawa (1923-) NHÀ GA Sự không có mặt của em đến thành phố N Đã theo đúng thời gian biểu. Em đã báo trước với anh Bằng bức điện mà rồi em không gửi. Và anh đã không kịp tới Theo thời gian hẹn hò. Con tàu đi vào đường thứ ba Có rất nhiều người ra đón. Trong đám đông, em hướng về phía cổng Không có người đưa đón của mình. Một vài người phụ nữ vội vàng Nhìn theo em Bước đi vội vã. Có ai đấy chạy đến bên một người phụ nữ Người này em không quen Nhưng người phụ nữ nhận ra người đàn ông Chỉ trong khoảnh khắc. Họ hôn nhau thắm thiết Không bằng nụ hôn của chúng mình Và chiếc va li bị lấy cắp Không phải là chiếc va li của em. Nhà ga thành phố N Đã trả thi rất giỏi
  12. Về sự tồn tại khách quan. Cái chung vẫn còn nguyên vẹn Cái riêng đã hoàn thành Theo như số trời định sẵn. Và ngay cả lần hò hẹn Cũng đã định trước rồi. Nhưng, than ôi Sau khi chúng mình có mặt. Và thiên đường đã mất Giống như chân lý cuộc đời. Ở đâu, chứ không phải ở đây Ở đâu, chứ không phải ở đây Vang lên những lời thánh thót. Dworzec Nieprzyjazd mój do miasta N. odbył się punktualnie. Zostałeś uprzedzony niewysłanym listem. Zdążyłeś nie przyjść w przewidzianej porze. Pociąg wjechał na peron trzeci. Wysiadło dużo ludzi. Uchodził w tłumie do wyjścia brak mojej osoby. Kilka kobiet zastąpiło mnie pośpiesznie w tym pośpiechu. Do jednej podbiegł ktoś nie znany mi, ale ona rozpoznała go natychmiast. Oboje wymienili
  13. nie nasz pocałunek, podczas czego zginęła nie moja walizka. Dworzec w mieście N. dobrze zdał egzamin z istnienia obiektywnego. Całość stała na swoim miejscu. Szczegóły poruszały się po wyznaczonych torach. Odbyło sie nawet umówione spotkanie. Poza zasięgiem naszej obecności. W raju utraconym prawdopodobieństwa. Gdzie indziej. Gdzie indziej. Jak te słówka dźwięczą. Puskin, Alexander (1799-1837) CÒN LẠI GÌ CHO EM Còn lại gì cho em trong tên gọi Sẽ chết đi như tiếng dội buồn thương Của ngọn sóng vỗ bờ xa mòn mỏi Như rừng sâu tiếng vọng giữa đêm trường. Cái tên gọi trong những dòng lưu bút Để lại cho em dấu chết, tựa như Lời ai điếu giữa những viền hoạ tiết Mà lời văn nghe u ẩn, mịt mù. Cái tên gọi đã từ lâu quên lãng Trong những cơn xúc động mới cuồng điên Chẳng hề gợi trong hồn em một thoáng Hoài niệm xưa bao tha thiết êm đềm. Nhưng nếu gặp ngày âm thầm đau đớn
  14. Phút u buồn xin em hãy gọi tên Và hãy nói: vẫn còn đây kỷ niệm Em vẫn còn sống giữa một trái tim(1). *** Что в имени тебе моем? Оно умрет, как шум печальный Волны, плеснувшей в берег дальний, Как звук ночной в лесу глухом. Оно на памятном листке Оставит мертвый след, подобный Узору надписи надгробной На непонятном языке. Что в нем? Забытое давно В волненьях новых и мятежных, Твоей душе не даст оно Воспоминаний чистых, нежных. Но в день печали, в тишине, Произнеси его тоскуя; Скажи: есть память обо мне, Есть в мире сердце, где живу я... Rubtsov, Nicolai (1936-1971) ANH ĐÃ QUÊN MẤT RẰNG YÊU LÀ GÌ Anh đã quên mất rằng yêu là gì Khi bước đi dưới trăng trên đường phố Đã thốt ra biết bao lời nguyền rủa Giờ nhớ về bỗng thấy tối tăm ghê. Có một lần anh áp mặt vào tường Theo dấu vết một hình thù quái gở Rồi một mình kêu lên trong giấc ngủ Khi thức giấc, anh cất bước lên đường. Cánh cửa mở ra trong đêm muộn màng Em không vui, gương mặt còn ngái ngủ Anh đứng bên bục cửa như con thú Khao khát vô cùng ấm áp tình thương.
  15. Anh đi đi! Em tái nhợt kêu lên Tình cảm chúng mình chỉ là quá khứ Giờ với anh, em không còn gì nữa Anh đi đi! Em khóc, chớ đứng nhìn… Và anh quay lại theo con đường rừng Trên con đường đã đi nhiều đám cưới Không tự chủ được mình, rất tăm tối Anh lo âu đi trong bão tuyết đêm… РАСПЛАТА Я забыл, что такое любовь, И под лунным над городом светом Столько выпалил клятвенных слов, Что мрачнею, как вспомню об этом. И однажды, прижатый к стене Безобразьем, идущим по следу, Одиноко я вскрикну во сне И проснусь, и уйду, и уеду... Поздно ночью откроется дверь. Невеселая будет минута. У порога я встану, как зверь, Захотевший любви и уюта. Побледнеет и скажет: - Уйди! Наша дружба теперь позади! Ничего для тебя я не значу! Уходи! Не гляди, что я плачу!.. И опять по дороге лесной Там, где свадьбы, бывало, летели, Неприкаянный, мрачный, ночной, Я тревожно уйду по метели... Severianin, Igor (1887-1941) GẶP GỠ ĐỂ RỒI CHIA XA Gặp gỡ để rồi chia xa Yêu để mà không yêu nữa. Ta muốn cười lên hề hề Ta muốn khóc lên nức nở!
  16. Thề thốt để nuốt lời thề Ước mơ để rồi nguyền rủa… Thật khổ cho người hiểu ra Tất cả những trò vô bổ. Ở quê muốn lên thành phố Ở phố muốn về quê chơi Đâu đâu cũng gương mặt người Mà sao lòng lang dạ thú… Sắc đẹp thường hay quái gở Quái hình có vẻ đẹp xinh Thường có cao thượng đê hèn Vô tội cả điều ác dữ. Làm sao không khóc nức nở Làm sao không cười hề hề Khi nào có thể chia xa Khi nào thì không yêu nữa? Встречаются, чтоб расставаться Встречаются, чтоб расставаться Встречаются, чтоб расставаться, Влюбляются, чтоб разлюбить. Мне хочется расхохотаться И разрыдаться, и не жить! Клянутся, чтоб нарушить клятвы, Мечтают, чтоб клянуть мечты... О, горе тем, кому понятны Все наслаждения тщеты. В деревне хочется столицы... В столице хочется души... И всюду человечьи лица Бесчеловеческой души... Как часто красота уродна И есть в уродстве красота... Как часто низость благородна И злы невинные уста. Так как же не расхохотаться, Не разрыдаться, как же жить, Когда возможно расставаться, Когда возможно разлюбить? Soloviev, Vladimir (1853 – 1900) ANH CHẲNG TIN CHÚT NÀO
  17. Anh chẳng tin chút nào, em yêu ạ Chẳng ánh mắt, tình cảm, chẳng lời em Và anh cũng không tin mình, mà chỉ Tin những ngôi sao sáng giữa trời đêm. Những ngôi sao, dải Ngân hà trải rộng Gửi cho anh những giấc mộng chân thành Ươm cho anh trên đồng hoang vô tận Những bông hoa không có ở miền anh. Giữa hoa này, trong mùa hè muôn thuở Được tưới đầy màu ánh bạc thanh thiên Và trong ánh sao trời em tuyệt quá Như tình tự do, thanh sạch, trinh nguyên! *** Милый друг, не верю я нисколько Ни словам твоим, ни чувствам, ни глазам, И себе не верю, верю только В высоте сияющим звездам. Эти звезды мне стезею млечной Насылают верные мечты, И растят в пустыне бесконечной Для меня нездешние цветы. И меж тех цветов, в том вечном лете, Серебром лазурным облита, Как прекрасна ты, и в звездном свете Как любовь свободна и чиста! Rasul Gamzatov (1924 – 2004) NẾU MỘT NGHÌN ĐÀN ÔNG Nếu trong đời có một nghìn đàn ông Nhờ mối mai trước nhà em tập hợp Hãy nhớ rằng trong một nghìn đàn ông Có tên anh – Rasul Gamzatov. Nếu từ lâu đã yêu em say đắm Đứng trước nhà một trăm kẻ đàn ông Trong số họ có một người trông ngóng Người miền rừng có tên gọi: Rasul.
  18. Nếu yêu em chỉ còn lại mười người Đứng trong hàng nóng lòng như lửa đốt Có một kẻ vừa buồn khổ, vừa vui Đó là anh – Rasul Gamzatov. Nếu yêu em tất cả còn chỉ một Kẻ điên cuồng thề thốt mãi tình chung Thì kẻ đó từ đỉnh cao chót vót Người miền rừng có tên gọi: Rasul. Còn nếu như em cô đơn buồn khổ Không còn ai yêu nữa buổi hoàng hôn Thì nghĩa là chốn cao nguyên đất đỏ Trên núi cao Gamzatov không còn. Если в мире тысяча мужчин Снарядить к тебе готовы сватов, Знай, что в этой тысяче мужчин Нахожусь и я – Расул Гамзатов. Если пленены тобой давно Сто мужчин, чья кровь несется с гулом, Разглядеть меж них не мудрено Горца, нареченного Расулом. Если десять влюблены в тебя Истинных мужей, огня не спрятав, Среди них, ликуя и скорбя, Нахожусь и я – Расул Гамзатов. Если без ума всего один От тебя, не склонная к посулам, Знай, что это – с облачных вершин Горец, именуемый Расулом. Если не влюблен в тебя никто И грустней ты сумрачных закатов, Значит, на базальтовом плато Погребен в горах Расул Гамзатов. Berggolts, Olga (1910- 1975) MÙA RỤNG LÁ CÂY
  19. Mùa thu ở Matxcơva, trên đường phố treo những tấm biển đề dòng chữ “Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!” Mùa thu! Giữa trời Matxcơva Những đàn sếu bay về trong sương khói Những chiếc lá màu vàng sẫm tối Đang cháy lên trong những khu vườn. Những tấm biển treo dọc theo con đường Những tấm biển nhắc nhở cùng tất cả Dù ai có lứa có đôi, ai người đơn lẻ: “Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!” Ôi, con tim của tôi sao mà cô đơn Trên con đường xa lạ! Buổi chiều lang thang bên những ô cửa sổ Và khẽ rùng mình dưới những cơn mưa. Tôi ở đây một mình có phải để cho Một người mà tôi vui, một người mà tôi quí? Không hiểu vì sao lòng tôi lại nhớ: “Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!” Lúc này đây đã không có gì cần Thì cũng có nghĩa chẳng còn gì để mất Ngay cả người thân yêu, người gần gũi nhất Đã không còn có thể gọi bạn thân. Thì tại vì sao tôi lại cứ buồn Rằng đến muôn đời tôi đành vĩnh biệt Một kẻ không vui, một kẻ không hạnh phúc Một kẻ cô đơn. Chỉ đáng nực cười hay thiếu cẩn trọng chăng Hay phải biết đợi chờ, hay chịu đựng… Không – thật vô cùng khiếp đảm Vẻ dịu dàng khi vĩnh biệt, như mưa. Cơn mưa tối sầm, mưa ấm áp nhường kia Mưa lấp loá và mưa run rẩy thế Mong anh hạnh phúc và mong anh vui vẻ Trong phút giây này vĩnh biệt, như mưa. … Tôi một mình đi bộ ra ga Một mình thôi, không cần ai tiễn biệt Tôi chưa nói với anh mọi điều đến hết Nhưng mà thôi, không nói nữa bây giờ. Con đường nhỏ tràn đầy trong đêm khuya
  20. Những tấm biển dọc đường như vẫn nói Với những kẻ cô đơn trên đường qua lại: “Mùa rụng lá cây, xin hãy dè chừng!” Листопад Осенью в Москве на бульварах вывешивают дощечки с надписью "Осторожно, листопад!" Осень, осень! Над Москвою Журавли, туман и дым. Златосумрачной листвою Загораются сады. И дощечки на бульварах всем прохожим говорят, одиночкам или парам: "Осторожно, листопад!" О, как сердцу одиноко в переулочке чужом! Вечер бродит мимо окон, вздрагивая под дождем. Для кого же здесь одна я, кто мне дорог, кто мне рад? Почему припоминаю: "Осторожно, листопад"? Ничего не нужно было,- значит, нечего терять: даже близким, даже милым, даже другом не назвать. Почему же мне тоскливо, что прощаемся навек, Невеселый, несчастливый, одинокий человек? Что усмешки, что небрежность? Перетерпишь, переждешь... Нет - всего страшнее нежность на прощание, как дождь. Темный ливень, теплый ливень весь - сверкание и дрожь! Будь веселым, будь счастливым на прощание, как дождь.
Đồng bộ tài khoản