Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Chia sẻ: Trần Huệ Mẫn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

1
3.786
lượt xem
819
download

Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kế thừa những luận điểm của C.Mac và Ph.Ănghen, VI.Lênin đưa ra nhiều luận điểm quan trọng về đặc điểm của thời kỳ quá độ. Có thể nêu thành bốn đặc điểm chung như sau

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

  1. PHẦN MỞ ĐẦU Thời kỳ quá độ là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan niêu, bao cấp bộc lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả tập trung là cuộc cách mạng kinh tế-xã hội sâu sắc vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ năm của Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá tình hình đất nước, đặc iệt là trong lĩnh vực kinh tế ,luôn luôn ở tình trạng trì trệ , chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, tình hình trì trệ ấy có nguyên nhân khách quan khách quan như nền kinh tế đang gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài, viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ trong chiến tranh nhưng nguyên nhân chủ yếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn về kinh tế và xã hội vẫn là mô hình kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan. Chính những khó khăn của đất nước buộc Đảng ta phải suy nghĩ, phân tích tình hình nguyên nhân , tìm tòi các giải pháp , trong đó Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần, đây là mô hình kinh tế được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta, vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm của Lênin về “chính sách kinh tế mới” vào điều kiện lịch sử ở nước ta và thế giới ngày nay, đặc biệt là từ khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông âu sụp đổ. Thực hiện mô hình kinh tế mới nhằm mục tiêu căn bản cấp thiết là tăng nhanh lực lượng sản xuất , từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã hội cho việc từng bước hoá nền sản xã hội. Chính trong sự cấp thiết về tầm quan trọng của vấn đề “cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta” mà em đã chọn đề tài “Phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta mà đại hội Đảng IX đã nêu và ích lợi của việc sử dụng nó vào việc phát triển KT-XH ở trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam”. Em hi vọng bài viết của em sẽ nhận được sự đánh giá và góp ý của thầy để đề án được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
  2. NỘI DUNG I. Cơ sở khách quan của việc tồn tại kinh tế nhiều thành phần và các thành phần kinh tế tồn tại ở nước ta mà đại hội Đảng IX đã nêu trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. I.1 Quan điểm của Lênin: Kế thừa những luận điểm của C.Mac và Ph.Ănghen, VI.Lênin đưa ra nhiều luận điểm quan trọng về đặc điểm của thời kỳ quá độ. Có thể nêu thành bốn đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, thời kỳ quá độ là thời kỳ xét trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội , dều do thành phần không thuần nhất cấu tạo nên. Đó là thời kỳ có sự đan xen , thâm nhập vào nhau giữa CNTB va CNXH, đúng như VI.Lênin đã viết “Ngày nay, chúng ta không thể không đặt vấn đề CNTB nhà nước và CNXH, vấn đề chúng ta cần có thái độ như thế nào trong thời kỳ quá độ; trong thời kỳ này... một mẩu nhỏ CNTB và một mẩu nhỏ CNXH tồn tại cạnh nhau”. Thứ hai, đó là thời kỳ, sự phát triển của cái cũ , của những trật tự cũ đôi khi lấn át những mầm mống của cái mới. Lênin cho rằng, những mảnh vụn của trật tự cũ đôi khi chất đống lại một cách nhanh chóng, trong khi đó những mầm mống của cái mới đôi khi lại phát triển chậm chạp và không phải bao giờ cũng thấy rõ ngay được. Thứ ba, đó là thời kỳ xét về mọi phương diện, đều có sự phát triển của tính tự phát tiểu tư sản , là thời kỳ chứa đựng mâu thuẫn không thể dung hoà được giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản và tính vô chính phủ, vô kỷ luật của tầng lớp tiểu tư sản.
  3. Lênin cho rằng , tính tự phát tiểu tư sản là kẻ thù giấu mặt hết sức nguy hiểm và còn nguy hiểm hơn bọn phản cách mạng công khai. Mâu thuẫn giữa tính tự phát tiểu tư sản và tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản là một trong những đặc điểm nổi bật của “giai doạn đặc biệt” , giai đoạn quá độ. Thứ tư, đó là thời kỳ lâu dài, có rất nhiều khó khăn phức tạp , phải trải qua nhiều lần thử nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những hướng đi đúng đắn; và trong quá trình thử nghiệm ấy , nói như C. Mac, có thể phải trả giá cho những sai lầm trầm trọng. Lênin đã nhận thức được điều đó khi ông viết: “Còn chúng ta thì biết rằng việc chuyển từ CNTB lên CNXH là cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn. Nhưng chúng ta sẵn sàng chịu hàng nghìn khó khăn, thực hiện hàng nghìn lần thử, và khi chúng ta đã thực hiện được hàng nghìn lần thử rồi, thì chúng ta sẽ giữ cái lần thứ một nghìn lẻ một”. VI.Lênin còn nhận thấy những nước có nền kinh tế lạc hậu, chẳng hạn như nước Nga có nền kinh tế tiểu nông, khi quá độ lên CNXH càng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, càng phải trải qua nhiều bước quá độ , nhiều bước thử nghiệm. Ông nhắc lại nhiều lần quan điểm này vào những năm năm 1918-1921. Chẳng hạn, tháng 10-1921, Lênin đã nói: “Kể từ năm 1917, khi nhiệm vụ nắm chính quyền được đề ra và được những người bạn Bôn-sê-vích nói rõ cho toàn thể nhân dân biết , thì các tác phẩm lý luận của ta đã nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng: Tất yếu phải có một thời kỳ quá độ lâu dài và phức tạp từ XHTBCN (xã hội đó càng ít phát triển, thì thời kỳ đó càng dài)... tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa”. * Đặc điểm kinh tế -xã hội: Những năm sau cách mạng tháng Mười (trước chính sách kinh tế mới) VI. Lênin có nhiều luận điểm về sự không thuần nhất, sự đan xen giữa CNTB và CNXH trong thời kỳ quá độ . Đặc điểm đó được biểu hiện trong
  4. tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội, nhưng rõ nét nhất là trong lĩnh vực kinh tế. VI Lênin đã định nghĩa danh từ “ thời kỳ quá độ” trong lĩnh vực kinh tế : “Vậy danh từ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần , những bộ phận, những mảnh của cả CNTB lẫn CNXH không ? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có. Song không phải mỗi người thừa nhận điểm ấy đều suy nghĩ xem các thành phần của kết cấu KT-XH khác nhau hiện có ở Nga, chính là ntn. Mà tất cả then chốt của vấn đề lại chính là ở chỗ đó”. Như vậy, trước khi có chính sách kinh tế mới, Lênin mới chỉ vạch ra những nét đại thể của thành phần kinh tế phi XHCN , đó là tính tự phát của người tiểu tư hữu; là sự phản kháng ngoan cố của CNTB dưới nhiều hình thức. Nhưng ngay sau khi có chính sách kinh tế mới, cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn, Lênin lại thừa nhận có 5 thành phần kinh tế đồng thời tồn tại trong thời kỳ quá độ. Các thành phần kinh tế hoàn toàn mới so với trước là thành phần kinh tế tư bản và thành phần CNTBNN. Lênin đã xếp thứ tự 3 thành phần kinh tế thứ tự như sau: Thứ nhất, kinh tế tư gia trưởng; thứ hai, kinh tế hàng hoá nhỏ; thứ ba, kinh tế tư bản; thứ tư, kinh tế nhà nước TBCN; và thứ năm, kinh tế XHCN. Như vậy Lênin đã có sự thay đổi trong việc nhìn nhận về những đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ. Nừu như những năm đầu sau khi mới giành được chính quyền , ông cho rằng sự tồn tại của các thành phần kinh tế phi XHCN là bất đắc dĩ, là những ái chống lại XHCN là phải đấu tranh xoá bỏ chúng, thì đến năm 1921, sau khi đưa ra chính sách kinh tế mới. Lênin nhận thấy sự tồn tại 5 thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là tất yếu, là hợp qui luật; chúng cần tồn tại trong một thời gian cần thiết. I.2 Quan điểm của Đảng ta. *Thời kỳ 1976-1986.
  5. Đây là thời kỳ đất nước ta quá độ nên CNXH trong tình hình đất nước chịu những đảo lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc chiến tranh lâu dài , diễn biến trong tình hình thế giới có những mặt không thuận lợi . Đây là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu , bao cấp , bộc lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó ,là kết quả tập trung là cuộc cách mạng KTXH sâu sắc vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 của đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá tình hình đất nước từ những năm 1975-1980 là thời kỳ nền kinh tế ở trạng thái trì trệ, trên mặt trận kinh tế , đất nước ta đứng trước nhiều vấn đề gay gắt , kết quả thực hiện khoa học kỹ thuật 5 năm (1976-1980) chưa thu hẹp được những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân. Sản xuất phát triển chận trong khi dân số tăng nhanh, thu thập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng xã hội, một phần tiêu dùng XH dựa vào vay và viện trợ, nền kinh tế chưa tạo được tích luỹ lương thực , vai trò của các hàng tiêu dùng thiết yếu còn thiếu , tình hình cung ứng vật tư,giao thông vận tải rất căng thẳng ,chênh lệch lớn giữa thu và tri tài chính, giữa hàng và tiền , giữa xuất khẩu và nhập khẩu.Thị trường và vật giá không ổn định, số người lao động chưa được sử dụng còn đông, đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn. Chính những khó khăn của đất nước buộc Đảng ta phải suy nghĩ phân tích, tình hình và nguyên nhân , tìm tòi các giải pháp , từ đó đổi mới các cơ sở điạ phương, đề ra những chính sách cụ thể, có tính chất đổi mới từng phần như: Khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần ở miền Nam trong một thời gian nhất định, cải cách một phần mô hình hợp tác xã qua chỉ thị khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã cải tiến công tác khoa học hoá và hạch toán kinh tế ở các xí nghiệp quốc doanh nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp...
  6. Tóm lại, đã có những quan niệm chủ trương ban đầu đổi mới mô hình hình kinh tế cũ theo tư tưởng:” Làm cho sản xuất bung ra” nghĩa là đổi mới hình thức quan hệ sản xuất để giải phóng lực lượng sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất. Điều đáng ghi nhận nhất là ở thời kỳ này là tư tưởng mới từng bước được hình thành và phát triển. Biểu hiện chủ yếu ở nghị quyết hội nghị lần thứ 6 của ban chấp hành trung ương khoá IV. Đến đây mô hình quan niệm cốt lõi của nền kinh tế mới về cơ bản đã được hình thành . Sự phát triển tiên tiên này đã dẫn đến những bước nhảy vọt trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 về mô hình kinh tế mới. Đó là thời kỳ đổi mới toàn diện nền kinh tế thông qua những nghị quyết của đại biểu toàn quốc lần thứ 6,7,8 . Mô hình từ cũ bị xoá bỏ , mô hình kinh tế mới được xây dựng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế . Thời kỳ này đã diễn ra sự biến đổi trong mô hình kinh tế , từ mô hình gián tiếp tiến lên XHCN . Thực hiện mô hình kinh tế nhằm mục tiêu căn bản , cấp thiết là giải pháp tăng nhanh lực lượng sản xuất , từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã hội cho XHH từng bước nền SXHH. Từ những phương hướng chủ yếu của cuộc đổi mới đã được đại hội VI của Đảng đề ra đến chủ trương “phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trưồng có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ”. Được đại hội VI quyết định và dược đại hội Đảng IX phát triển theo chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế chính trị định hướng XHCN là những bước tiến quan trọng trong quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng ,đổi mới tư duy kinh tế, vượt qua những quan niệm sơ cứng về mô hình phát triển KT-XH và con đường đi lên CNXH.
  7. Trong đường lối chiến lược của Đảng ta, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân và phát huy dân chủ được thể hiện rất rõ ràng. Đại hội IX xác định “phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, tinh thần yêu nước , tự lực tự cường tự hào dân tộc, mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh và tôn trọng những khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc,xoá bỏ mặc cảm định kiến,phân biệt đối xử về vị thế giai cấp, thành phần xây dựng tình hình cởi mở, tin cậy về nhau hướng tới tương lai”. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mục tiêu đến năm 2010, hình thành về cơ bản và tiến hành thông suốt theo cơ chế thị trường, là chính sách nhất quán, lâu dài nhằm thực hiện đại đoàn kết toàn dân và phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế. Đại hội Đảng IX của Đảng đã nhấn mạnh : “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân”, phát triển kinh tế cũng là phát huy khả năng của mọi người dân, mọi thành phần kinh tế ... đều là bộ bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN...” trên đất nước ta. Chính sách này thể hiện một nhận thức mới, phù hợp với thực tế là mặc dầu có nhiều hình thưc sở hữu về tư liệu sản xuất , nhiều thành phần kinh tế, có nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội, nhưng “mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộn nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng” . Thực tế vừa qua rằng, chúng ta đã bước đầu phát huy được sức mạnh của sự thống nhất trong tính đa dạng của nền kinh tế, nhiều thành phần kinh tế thực sự đã là cơ sở tốt cho đại đoàn kết toàn dân. Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định, trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo,bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định và bền vững theo định hướng XHCN.
  8. Dẫu rằng kinh tế nhà nước đang còn một số mặt yếu kém nhưng trên thực tế, đã nắm những cân đối lớn của nền kinh tế và đang giữ vai trò chủ đạo .Trong mấy năm tới chúng ta tiếp tục đẩy nhanh quá trình đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở đó kinh tế nhà nước làm tốt hơn vai trò chủ đạo của mình. Hội nghị lần thứ III của ban chấp hành trung ương Đảng ( Khoá IX) .Đã có những quyết định quan trọng về vấn đề này, yêu cầu các cấp các ngành phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc để tạo ra một bước chuyển biến cơ bản trong những năm tới. Kinh tế nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo chính là để phát huy khả năng của kinh tế nhà nước và phát huy khả năng các thành phần kinh tế khác. Đảng và nhà nước ta đã xác định rõ: “ Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dàI, hợp tác, cạnh tranh, bình đẳng..”, xin được nhấn mạnh thêm bình đẳng là bình đẳng trước pháp luật , đường lối của Đảng phải được thể chế hoá thành pháp luật các cơ quan nhà nước và mọi người dân mọi doanh nghiệp , thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải nghiêm chỉnh chấp hành ,với ý nghĩa đó thành phần kinh tế nhà nước là hạt nhân của quan hệ .Sản xuất mới là một lực lượng kinh tế ,là một công cụ có sức mạnh vật chất để nhà nước Việt Nam thực hiện vai trò đIều tiết , hướng dẫn nền kinh tế nhiều thành phần phát triển đúng định hướng XHCN. Sau hơn mười năm đổi mới, cùng với việc phát triển các lĩnh vực khác , việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã đi vào thực tiễn góp phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế trong bối cảnh tình hình quốc tế không thuận lợi và tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thực tiễn đã nhắc nhở chúng ta thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thầnh phần , coi đó là con đường tất yếu quá độ lên XHCN, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.
  9. II.Vấn đề sử dụng các thành phần kinh tế ở nước ta: 2.1.Sự cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế ở nước ta : Trong thời kỳ quá độ lên XHCN ở Việt Nam , sự tồn tại của sản xuất hàng hoá là một tất yếu khách quan, bởi vì nước ta có lực lượng sản xuất còn rất thấp, đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau, sự phân công lao động xã hội gắn với nhiều chủ thể sở hữu khác nhau như các thực thể kinh tế độc lập . Trong những đIều kiện đó , việc trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể sản xuất với nhau không thể thực hiện theo nguyên tắc nào khác là nguyên tắc trao đổi ngang giá , tức là trao đổi hàng hoá thông qua thị trường , sản phẩm phải trở thành hàng hoá . Ở nước ta trong thời kỳ quá độ , muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất thì phải xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động. Quá trình ấy chỉ có thể diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế hàng hoá . Sản xuất càng xã hội hoá, chuyên môn hoá , thì càng đòi hỏi phát triển sự hiệp tác và trao đổi hoạt động trong xã hội, càng phải thông qua sự trao đổi hàng hoá giữa các đơn vị sản xuất để đảm bảo những nhu cầu cần thiết của các loại hoạt động sản xuất khác nhau. Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hoá mới làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động. Kinh tế tự nhiên , do bản chất của nó chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn. Trong cơ chế kinh tế cũ , vì coi thường quy luật kinh tế giá trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và động lực để phát triển sản xuất . Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử dụng quy luật giá trị , quy luật này buộc mỗi người sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về hàng hoá do mình làm ra . Chính vì thế mà nền kinh tế trở nên sống động . Mỗi ngừời sản xuất đều chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị trường sao cho sản phẩm của mình được xã hội thừa nhận và cũng từ đó họ mới có được thu nhập. Phát triển sản xuất hàng hoá là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội , cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng
  10. nhu cầu đa dạng của mọi người. Ơ nông thôn nước ta , sự phát triển kinh tế hàng hoá và việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho hàng hoá bán ra của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng lên, đồng thời các ngành nghề của nông thôn cũng ngày một phát triển , tạo cho nông dân nhiều việc làm . Đó cũng là đIều đã diễn ra ở thành phố, đối với những người lao động thành thị. Phát triển hàng hoá có thể đào tạo ngày càng nhiều cán bộ quản lý và lao động. Muốn thu được lợi nhuận , họ cần phải vận dụng nhiều biện pháp để quản lý kinh tế, thúc đẩy tiến bộ KT hạ giá thành sản phẩm làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường , nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế . Qua các cuộc cạnh tranh trên thị trường những nhân tài quản lý kinh tế và lao động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là một dấu hiệu quan trong của tiến bộ KT. Như vậy phát triển sản xuất hàng hoá đối với nước ta là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất , khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Kinh tế hàng hoá không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ tiến lên XHCN mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát triển mạnh mẽ hơn. Thực tiễn của những năm đổi mới chỉ ra rằng , việc chuyển sang mô hình kinh tế hàng hoá là hoàn toàn đúng đắn nhờ mô hình kinh tế đó , chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài giải phóng được năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển lực lượng sản xuất , gop phần quyết định đảm bảo nhip độ tăng trưởng GDP, bình quân hàng năm trong những năm 1991-1995 là 8,3% vượt mức đề ra là 5,5-6%.
  11. 2.2 Bản chất và cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ : 2.2.1 Bản chất của các thành phần kinh tế: Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, trong nền kinh tế của mỗi nước , số lượng của các thành phần kinh tế và tỷ trọng kinh tế có thể khác nhau tuỳ theo đặc đIúm cụ thể của từng nước và trong mỗi nước lại tuỳ từng giai đoạn , hiện nay, nền kinh tế nước ta có các thành phần sau đây: a) Kinh tế nhà nước : là thành phần kinh tế bao gồm các doanh nghiệp nhà nước các xí nghiệp quốc gia và tài sản thuộc quyền sở hữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển ngân sách , các quỹ dự trữ ngân hàng nhà nước ... Kinh tế nhà nước rộng và mạnh hơn doanh nghiệp nhà nước phân biệt được hai phạm trù này nhận thức đầy đủ vai trò kinh tế nhà nước là một bước phát triển về nhận thức thực tiễn nền kinh tế nước ta trong quá trình đổi mới . b). Kinh tế tập thể: là hình thức liên kết của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề của sản xuất , kinh doanh và đời sống. Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng từ thấp đến cao từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã theo tắc tự nguyện, bình đẳng ,cùng có lợi , quản lý dân chủ thực hiện đúng luật hợp tác xã. Kinh tế tập thể được phát triển , rộng rãi và đa dạng trong các ngành nghề ở nông thôn và thành thị , nó giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân . Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN , kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
  12. c).Kinh tế cá thể , tiểu chủ : (Của nông dân , thợ thủ công , người làm thương nghiệp và người làm cá thể) bao gồm những đơn vị kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân qui mô nhỏ về tư liệu sản xuất và hoạt động dựa vào sức lao động của từng hộ là chủ yếu. Trong một số ngành nghề ở nông thôn và thành thị kinh tế cá thể và tiểu chủ có vị trí quan trọng nó có khả năng tận dụng tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình , từng người lao động. Nhưng đến một trình độ nhất định , việc mở rộng sản xuất kinh doanh của kinh tế cá thể tiểu chủ sẽ bị hạn chế vì thiếu vốn , trình độ công nghệ thấp và khó tìm thị trường tiêu thụ , bởi vậy cần được sự hỗ trợ của nhà nước để khắc phục những hạn chế nói trên. Các đơn vị kinh tế cá thể tiểu chủ có thể tồn tại độc lập , hoặc tham gia các loại hình kinh tế tập thể , hay liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nhà nước dưới nhiều hình thức. d) Kinh tế tư bản tư nhân:là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản góp lại để sản xuất kinh doanh và thuê mướn nhân công. Kinh tế tư bản tư nhân có nhiều hình thức là xí nghiệp tư doanh hay công ty trách nhiệm hữu hạn. Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong đIều kiện quá độ lên CNXH ở nước ta, thành phần kinh tế này còn có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội. e). Thành phần kinh tế tư bản nhà nước: Đó là đơn vị kinh tế hình thành do sự liên doanh giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư bản tư nhân trong nước hoặc với tư
  13. bản tư nhân nước ngoàI, kinh tế tư bản nhà nước ra đời còn do nhà nước xã hội chủ nghĩa góp vốn cổ phần hoặc do tư nhân ở trong và ngoài nước thuê tài sản , kinh tế tư bản nhà nước là cầu nối giữa sản xuất nhỏ với sản xuất lớn . Đảng ta đã khẳng định kinh tế tư bản nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà tư bản , vì lợi ích của bản thân họ cũng như công việc xây dựng và phát triển đất nước . 2.2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế : Các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau , hoạt động đan xen vào nhau trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất . Vai trò của các thành phần kinh tế ,mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất , Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự đóng góp của chúng vào sự phát triển của nền kinh tế . Mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất tuy có sự độc lập tương đối và cơ bản có bản chất riêng, nhưng trong hoạt động sản xuất kinh doanh không có sự ngăn cách và có thể hỗn hợp , đan kết với nhau (cùng một chủ sở hữu có thể tham gia nhiều quan hệ sở hữu, cùng một đối tượng sở hữu có nhiều quan hệ sở hữu). Hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng trong nền kinh tế quốc dân thống nhất do nhà nước hướng dẫn, đIều tiết, kiểm soát ,cùng với việc nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau , bổ sung cho nhau vừa cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật. Đại diện cho mỗi thành phần kinh tế là giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định mà tổng hợp toàn bộ tạo thành cơ cấu xã hội- giai cấp.Trong cơ cấu xã hội giai cấp ấy mỗi giai cấp
  14. mỗi tầng lớp xã hội , các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế đều có những lợi ích kinh tế riêng, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau , hơn nữa nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động phát triển theo các quy luật kinh tế thị trường, đồng thời chịu sự đIều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN. III. Nền kinh tế nước ta hiên nay - Thực trạng và giải pháp quản lý vĩ mô. 3.1. Những tiến bộ chủ yếu đạt được khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH: Trong điều kiện xoá bỏ bao cấp , chuyển sang vận dụng cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn , song vẫn giữ nhịp độ năm sau tăng hơn năm trước . Trong những năm 1986-1990 , tính theo giá cố định năm 1982 hàng năm tổng sản phẩm xã hội tăng 4,4% , thu nhập quốc dân tăng 3,2% so với năm 1985 ,các chỉ tiêu tương ứng của năm 1990 tăng 25% và 20% . Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng nhanh nhu đIện tăng gần 60%, xi măng tăng 80%. Một số ngành công nghiệp mới ra đời và phát triển nhanh như thăm dò và khai thác dầu khí, lắp giáp đIện tử, đặc biệt trong nông nghiệp sản lượng lương thực qui thóc tăng từ 18,2 triệu tấn năm 1985 lên 21,5 triệu tấn năm 1990, tăng gần 18,1%. Lần đầu tiên trong lịch sử , Việt Nam đã giải quyết về cơ bản vấn đề lương thực , bảo đảm cân đối nhu cầu tối thiểu trong nước và một phần đáng kể để xuất khẩu, trong hai năm 1989-1990 đã xuất khẩu mỗi năm 1,3 triệu tấn. Sản xuất và xuất khẩu đã tăng lên đáng kể , đã hình thành một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như : Thuỷ sản , dầu thô , gạo.. Cùng với thị trường truyền thống Liên Xô (cũ ) và các nước Đông Âu , Việt Nam đã mở rộng quan hệ trao đổi hàng hoá với nhiều nước khác.
  15. Cơn sốt lạm phát đã thuyên giảm rõ rệt , thành công đáng kể là toàn bộ cơ chế hai giá đã chuyển sang cơ chế một giá , nhà nước chỉ qui dịnh giá đối với rất ít mặt hàng như đIện , xăng, dầu, xi măng ,sắt , thép, gạo.. Sáu tháng đầu năm 1991,tuy thị trường xuất khẩu truyền thống bị thu hẹp đột ngột (giảm tới 85% ) song sản xuất công nghiệp vẫn tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoáI, đIều đáng lưu ý là công nghiệp do trung ương trực tiếp quản lý đã phục hồi dần dần thích nghi với điều kiện kinh doanh mới ,nhờ vậy mức sản xuất đã tăng 7,4% so với 6 tháng đầu năm 1990 , trong đó bộ năng lượng tăng 3,2%. Bộ công nghiệp tăng 11,2 %. Bộ xây dựng tăng 11,8 % sản xuất nông nghiệp : Diện tích gieo trồng cây lương thực vụ đông xuân năm 1991 trong cả nước tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước trừ miền Bắc do thời tiết không bình thường và sai lầm trong chỉ đạo về cơ cấu giống lúa và thời vụ nên bị thất thu , miền Nam thu hoạch khá , tăng gần 30 vạn tấn qui thóc so với đông xuân năm 1990. Nhìn chung từ đầu năm 1991, Việt Nam bước vào thời kỳ gay gắt nhất từ trước đến nay trong khi nền kinh tế vẫn còn khủng hoảng ,nhiều khó khăn cơ bản và lâu dài chưa được khắc phục, lại xuất hiện những trở lực mới song sản xuất không những vẫn trụ được mà còn có phần phát triển. Nền kinh tế đang được đổi mới đúng hướng cả về cơ cấu ngành , cơ cấu thành phần kinh tế về sự kết hợp khai thác tiềm năng ở trong nước và ở nước ngoài , sự kết hơp giữa kinh tế với xã hội , kinh tế với quốc phòng. 3.2 Những tồn tại và những vấn đề lớn đang đặt ra trong nền kinh tế cần phải giải quyết : Ai cũng thấy rằng,những tiến bộ về kinh tế đã đạt được trong những năm qua là sự cố gắng lớn của Đảng và toàn dân, song chưa cơ bản và chưa vững chắc. Chúng ta thực hiện CNH trong đIều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu, hàng trục năm chiến tranh liên tục phá hoại các nguồn tiềm năng của đất nước. Đó là những nguyên nhân sâu xa của tình trạng kinh tế
  16. nghèo nàn, lạc hậu, cùng với hậu quả nặng nề do 1/3 thế kỷ ngự trị của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã hằn sâu trong nếp nghĩ, đã và đang chi phối hoạt động của mỗi người dân, mỗi tổ chức, và mọi quan hệ kinh tế xã hội không dễ dàng khắc phục. Sự tồn vong và phát triển của dân tộc đang đặt ra nhiệm vụ vô cùng nặng nề và cao cả là việc tính số và trả giá đối với những hậu quả của sai lầm quá khứ và trở lực hiện tại. Những biểu hiện chủ yếu đó là : 1. Một nền kinh tế thấp kém , chưa đủ tái sản xuất giản đơn , thu nhập quốc dân bình quân đầu người ở mức thấp nhất trong khu vực và trên thế giới. 2. Cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là kết cấu hạ tầng , trừ số rất ỉt trang thiết bị mới được đầu tư trong những năm gần đây, đại bộ phận rất lạc hậu không đồng bộ ,phải thải loại và thay thế mới có thể đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hoá hiện nay cùng với sự chuyển đổi cơ chế trong kinh tế quốc doanh 80-90% số cơ sở các quận, huyện 70-80 % số cơ sở cấp tỉnh, 20-30% số cơ sở cấp trung ương quản lý đang thô lỗ. Trong đó khoảng một nửa số đơn vị này đang gặp khó khăn gay gắt khó có thể tồn tại. 3. Thị trường vật tư và tiêu thụ sản phẩm ở khu vực bị thu hẹp đột ngột, khả năng tiếp thị với thị trường khu vực hai còn qua hạn chế , chủ yếu là về chất lượng sản phẩm và nguồn ngoại tệ mạnh. 4. Dân số tăng nhanh, số lượng lao động dôi ra từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh , hành chính sự nghiệp, quốc phòng , số học sinh bỏ học, số tốt nghiệp ở các trường và số thanh niên đến tuổi đến tuổi lao động ngày càng đông cùng với chế độ lạm phát còn cao, gây sức ép gay gắt về việc làm và đời sống.
  17. 5. Ngân sách nhà nước thất thu, bội chi lớn, mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán nội bộ nền kinh tế và kinh tế trong khi nợ nước ngoài lớn khó có khả năng thanh toán, càng gây sức ép về vốn cho sản xuất kinh doanh về bảo đảm thu nhập của công nhân viên chức, những người thuộc diện chính sách xã hội, khó kìm được tình trạng xuống cấp nhanh chóng trong lĩnh vực y tế, giáo dục, vh-xh. 6. Tệ nạn xã hội không ngăn chặn được là bao và vẫn phát sinh, lây lan dưới nhiều hình thức tinh vi hoặc trắng trợn hơn. 7. Công tác tổ chức, cán bộ vẫn sơ cứng,trì trệ, đại bộ phận cán bộ, nhân viên chưa được đào tạo lại, bồi dưỡng theo cơ chế quản lý nhà nước, tiềm năng chất xám khá lớn song vẫn còn để trôi nổi , phân tán , chưa được huy động, sử dụng đúng mức. 8. Chế độ tiền lương quá lạc hậu không được đổi mới đồng bộ với hệ thống giá và các hệ thống phân phối khác cùng với tình trạng sử dụng lãng phí của công, sự phân phối tuỳ tiện trong kinh tế quốc doanh, sự trốn thuế, lậu thuế trong các thành phần kinh tế , công bằng xã hội càng bị vi phạm, sự phân hoá giàu nghèo càng phổ biến và sâu sắc. Những nguyên tắc xã hội, đạo đức , phẩm cách, quan hệ con người, xã hội đang bị thế lực đồng tiền gặm nhấm, chi phối, không ít cán bộ , đảng viên bị sa đoạ, mất phẩm chất.. Nhìn chung những tệ nạn xã hội cũ chưa được khắc phục triệt để, nay tái phát cùng với những mặt trái của nền kinh tế thị trường như cạnh tranh vô chính phủ “cá lớn nuốt cá bé” làm và bán hàng giả, hàng không bảo đảm phẩm chất, gian lận, trốn thuế, lậu thuế, chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá , phân hoá giai cấp..
  18. Trong khi sự đIều tiết , kiểm tra , kiểm soát của nhà nước bị buông lỏng, hiệu lực của chính quyền nhà nước các cấp bị giảm sút , trong nền kinh tế đã xuất hiện và có xu hướng khá phổ biến tự phát lên TBCN, những nguyên tắc sống nhân đạo, tương thân, tương ái, công bằng … đang bị xói mòn, những cá nhân , đơn vị làm ăn chân chính lương thiện không được bảo hộ , ngược lại, những kẻ bất chấp pháp luật thì không bị nghiêm trị. Đây là sự biểu hiện muôn hình muôn vẻ của cuộc chiến tranh giai cấp trên mặt trận kt-xh, sự bộc lộ mâu thuẫn giữa hai con đường XHCN , TBCN ngày càng gay gắt trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta hiện nay.
  19. 3.3 Phương hướng và giải pháp để sử dụng các thành phần kinh tế. Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế và từ các quan điểm cơ bản nêu trên, có thể tìm các bước được cụ để nhằm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta bằng một số giải pháp chủ yếu sau: a) Một là đối với nền KTQD phải củng cố và phát triển để có thể củng giữ được vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, những bước đi và biện pháp phải đối mới. Đổi mới trước tiên và cấp bách là sửa chữa bước đi sai lầm trước đây bằng giải pháp xác định lại phạm vi kinh tế quốc doanh. Trước đây chúng ta đã phát triển kinh tế quốc doanh tràn lan, tạo nên quá trình XHH hình thức, do vậy đến nay phải lựa chọn lại theo hướng giảm bớt số cơ sở KTQD hiện có. Đấy là vấn đề dễ đạt được sự nhất trí nhưng giữ lại cái gì, giảm bớt ở chỗ nào và bằng biện pháp nào không phải là việc đơn giản, vì nó không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị và xã hội. Giải quyết vấn đề kinh tế quốc doanh đang là một trong những nội dung lớn của đường lối đổi mới kinh tế của nhiều nước, do vậy đã có hàng loạt biện pháp được áp dụng. ở Ân Độ đã tiến hành hiện đại hoá và đa dạng hoá sản xuất, sử dụng và bảo dưỡng máy móc thiết bị đúng tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm nâng cao công việc sử dụng công suất các cơ sở quốc doanh, cho phép các xí nghiệp quốc doanh tự chủ về vốn đầu tư, xây dựng mục đích và kinh doanh sản xuất, sửa đổi giá cho phù hợp, bãi bỏ hình thức trợ cấp giá, nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo xí nghiệp và học vấn của công nhân.ở Inđônêxia đã áp dụng các biện pháp đánh giá và phân loại hệ thống xí nghiệp quốc doanh, đổi mới cơ chế bằng cách thực hiện cơ chế hoạch toán chặt chẽ, cắt giảm các khoản trợ cấp không cần thiết, cải tổ bộ máy kết hợp với phong trào quần chúng chống tham nhũng chuyển một bộ phận KTQD sang tư nhân. Ngoài ra Inđônêxia còn áp dụng biện pháp chế hoá các đạo luật hoá văn bản về KTQD.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản