Thông báo số 679/TB-BGDĐT

Chia sẻ: Son Pham | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
39
lượt xem
1
download

Thông báo số 679/TB-BGDĐT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thông báo số 679/TB-BGDĐT về việc kết luận của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc họp ban chỉ đạo công nghệ thông tin Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 07/01/2008 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thông báo số 679/TB-BGDĐT

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ----- Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------- Số: 679/TB-BGDĐT Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2008 THÔNG BÁO KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG, BỘ TRƯỞNG NGUYỄN THIỆN NHÂN TẠI CUỘC HỌP BAN CHỈ ĐẠO CÔNG NGHỆ THÔNG TIN BỘ GD&ĐT NGÀY 07/01/2008 Ngày 07/01/2008, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân - Trưởng Ban Chỉ đạo Công nghệ thông tin (CNTT) Bộ đã chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo. Tham dự cuộc họp có: Thứ trưởng Trần Văn Nhung, Phó Trưởng ban thường trực và các thành viên Ban Chỉ đạo. Sau khi nghe lãnh đạo Cục CNTT báo cáo tình hình triển khai thực hiện các hoạt động CNTT năm 2007, phương hướng, kế hoạch triển khai các nhiệm vụ CNTT năm 2008, ý kiến của Thứ trưởng Trần Văn Nhung, Phó Trưởng ban thường trực và ý kiến đóng góp của các thành viên Ban Chỉ đạo, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã kết luận như sau: Báo cáo của Cục CNTT đã được chuẩn bị tốt, khá đầy đủ, cụ thể và đáp ứng yêu cầu về những nhiệm vụ CNTT của Bộ. Báo cáo cho thấy, trong năm qua Bộ ta đã làm được nhiều việc về CNTT và đã đề ra được nhiều nhiệm vụ và giải pháp cụ thể cho năm 2008. Tuy nhiên, báo cáo cần được cấu trúc lại theo hướng gom lại đầu việc lớn, thành một số nhóm vấn đề trọng tâm cho năm 2008, theo các đề án chính và thể hiện rõ sự kết nối các công việc của những năm trước với năm 2008 này. Kiện toàn lại Ban chỉ đạo CNTT do đã có một số thay đổi về nhân sự, đề nghị bổ sung đại diện Vụ Hợp tác quốc tế vào Ban chỉ đạo. Về việc chuẩn bị cho năm học 2008-2009 là năm học CNTT: Đây là một nhiệm vụ trọng tâm, rất quan trọng, rất có ý nghĩa và sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động CNTT trong các cơ sở giáo dục và đào tạo. Vì vậy, giao Cục CNTT xây dựng ngay kế hoạch chuẩn bị. Cần xác định rõ mục tiêu, nội dung hoạt động, trúng các yêu cầu, có sự chỉ đạo chặt chẽ, có lộ trình cụ thể cho từng bậc học và phải có giải pháp thực hiện rõ ràng. Phải xác định được các tiêu chuẩn, tiêu chí để phấn đấu và đánh giá. Làm sao để sau năm học 2008-2009, các đơn vị, các cơ sở giáo dục có thể tự mình xác định được mục tiêu, nội dung và lộ trình cụ thể về công tác giảng dạy tin học và ứng dụng CNTT trong các trường đến năm 2010 và những năm tiếp theo của đơn vị. Dự thảo kế hoạch cần được gửi sớm cho các Vụ, Cục để
  2. lấy ý kiến, tổng hợp và báo cáo Lãnh đạo Bộ; kế hoạch này sẽ được phổ biến trong Hội nghị CNTT của Bộ vào tháng 4/2008. Về các dự án ODA và các chương trình, dự án khác có thành phần CNTT: Cục CNTT là đơn vị đầu mối giúp Bộ trưởng quản lí về CNTT. Bộ yêu cầu các dự án có trách nhiệm báo cáo về Cục CNTT toàn bộ tình hình kinh phí, kết quả, hiệu quả triển khai các hạng mục hoạt động về CNTT của dự án từ 5 năm trở lại đây. Cục CNTT phối hợp với Vụ KHTC xây dựng báo cáo và đánh giá về tình hình triển khai hoạt động CNTT của các dự án thuộc sự quản lý của Bộ để báo cáo Lãnh đạo Bộ vào đầu tháng 2/2008. Để tránh chồng chéo, lãng phí và thống nhất quản lí về CNTT, Bộ trưởng đã yêu cầu các dự án khi triển khai các hoạt động mới về CNTT cần phải có ý kiến thẩm định, thấy có cần không, đánh giá trước và sau khi thực hiện, điều phối nhu cầu… của Cục CNTT trước khi trình lên Lãnh đạo Bộ phê duyệt. Cục CNTT cũng có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp, đánh giá hiệu quả các hoạt động này để báo cáo Bộ trưởng, Trưởng ban chỉ đạo CNTT. Các dự án ODA phải tuân thủ các qui định của Chính phủ, của Bộ về việc triển khai các hoạt động CNTT. Khuyến khích các dự án đưa các sản phẩm của mình lên mạng giáo dục để phát huy hiệu quả, như Dự án Phát triển giáo viên tiểu học đã đưa sản phẩm của Dự án là hơn 100 tài liệu tập huấn phát triển giáo viên tiểu học vào Thư viện giáo trình điện tử của Bộ là rất tốt, cũng như dự án Phát triển THCS 2 đã kết hợp đưa thư viện đề thi trắc nghiệm lên mạng giáo dục. Dự án ODA về Hỗ trợ và phát triển đào tạo đại học và sau đại học về CNTT của Đại học Bách Khoa Hà Nội do Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật bản tài trợ, là một dự án có nguồn vốn rất lớn. Ban chỉ đạo CNTT cần nắm thông tin về nội dung hoạt động và xem xét tính hiệu quả của các hoạt động của dự án này để báo cáo lãnh đạo Bộ có ý kiến chỉ đạo kịp thời. Phải có kế hoạch cụ thể về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT ở cơ quan Bộ trong năm 2008, giữ vững vị trí thứ Nhất về ICT Index của Bộ GD và ĐT so với các Bộ, ngành khác như Ban chỉ đạo 58, Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội Tin học đã xếp hạng trong năm 2007. Đây là sự ghi nhận và đánh giá cao của xã hội về các hoạt động ứng dụng CNTT của Bộ GD và ĐT. Cục CNTT là đơn vị chủ trì triển khai công tác tin học hoá giáo dục nói chung, hệ thống mạng của Bộ, hệ thống phần mềm quản lí nhà trường, các phần mềm quản lý của Bộ, thống nhất xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục như cơ sở dữ liệu học sinh, giáo viên… để đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ quản lí, điều hành của lãnh đạo Bộ. Các dự án không được phát triển hoặc thuê mướn làm những hệ thống thông tin quản lý, phần mềm quản lý, phần mềm dạy học… khi chưa có ý kiến thống nhất của Cục CNTT.
  3. Năm 2008 phải phát động được sự kết nối, liên kết của xã hội và doanh nghiệp với ngành giáo dục thông qua các chương trình hỗ trợ cụ thể. Ví dụ như cam kết giảm giá dịch vụ kết nối và sử dụng Internet cho ngành giáo dục, nhằm gia tăng kinh phí đầu tư cho phát triển CNTT và thúc đẩy sự quan tâm, đầu tư của xã hội, của doanh nghiệp đối với ngành. Hoan nghênh việc chuẩn bị văn bản kí kết hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Thông và Truyền thông về phát triển đào tạo nguồn nhân lực CNTT và phát triển mạng giáo dục, văn bản ghi nhớ hợp tác giữa Cục Công nghệ thông tin (thay mặt Bộ) và Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel về phát triển mạng giáo dục và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực. Cần có kế hoạch phối hợp với doanh nghiệp để xã hội hoá, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT cho khối phổ thông. Cần rà soát và có kế hoạch xoá điểm trắng, vùng lõm về Internet, CNTT (là những nơi đang còn rất yếu kém về ứng dụng CNTT trong ngành), cho từng cấp học, từng đối tượng, dứt điểm việc kết nối Internet ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo. Chương trình mục tiêu có thể hỗ trợ việc này. Thúc đẩy các hoạt động ứng dụng CNTT trong việc đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả giảng dạy. Phải có tiêu chí rõ ràng để có thể theo dõi và đánh giá. Có thể áp dụng những giải pháp như: tổ chức các cuộc thi, cuộc vận động xây dựng kho phần mềm, tư liệu, giáo án điện tử, bài giảng điện tử để chia sẻ dùng chung cho toàn ngành. Triển khai các phần mềm quản lí trường phổ thông và đại học. Xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu ngành. Triển khai ứng dụng CNTT cần gắn với với việc nâng cao trình độ tiếng Anh, ngay cả trong trường phổ thông. Trước hết là ở các trường chuyên tỉnh, thành phố; có thể tổ chức kết nghĩa với các trường nước ngoài (Vụ Hợp tác quốc tế hỗ trợ các trường việc này), xây dựng các website để trao đổi, tăng cường sử dụng tiếng Anh, triển khai việc khai thác, sử dụng và đào tạo phần mềm mã nguồn mở... Vụ Kế hoạch – Tài chính chủ trì, bố trí ngay ngân sách chi thường xuyên cho Cục CNTT để giải quyết dứt điểm việc nâng cấp đường truyền mạng cơ quan Bộ ngay từ đầu năm, tăng dung lượng đường truyền Internet, đảm bảo cho tất cả các máy tính cơ quan Bộ được kết nối mạng và hoạt động tốt. Văn phòng Bộ và Cục CNTT cùng rà soát danh sách các hội nghị, hội thảo, cuộc họp năm 2008 để đề xuất với Lãnh đạo Bộ những cuộc nào có thể và cần tổ chức thực hiện qua mạng và cầu truyền hình. Đây là một biện pháp hữu hiệu góp phần cải cách hành chính của Bộ. Vì vậy Vụ Kế hoạch – Tài chính bố trí ngân sách cùng Văn phòng Bộ và Cục CNTT đầu tư và triển khai các điểm cầu truyền hình chính yếu để họp thường xuyên. Văn phòng xin thông báo tới các đơn vị và các dự án thuộc Bộ biết và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân. TL. BỘ TRƯỞNG
  4. Nơi nhận: CHÁNH VĂN PHÒNG - PTT, Bộ trưởng (để b/c); - Các Thứ trưởng (để b/c); - Các đơn vị, các dự án thuộc Bộ (để thực hiện); - Các Sở GD và ĐT; - Website Bộ; - Lưu: VT, Cục CNTT. Trần Quang Quý
Đồng bộ tài khoản