Thông tin tổng quan về bệnh Sỏi Thận và các phương pháp điều trị (Kỳ 2)

Chia sẻ: Carol Carol | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
149
lượt xem
39
download

Thông tin tổng quan về bệnh Sỏi Thận và các phương pháp điều trị (Kỳ 2)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

D-Nguyên nhân gây sỏi thận? - Không phải lúc nào cũng biết rõ tất cả những nguyên nhân tạo thành sỏi. - Trong khi một số loại thực phẩm có thể thúc đẩy sự hình thành sỏi ở những người nhạy cảm, các nhà khoa học không tin rằng việc ăn bất kỳ thực phẩm cụ thể nào lại có thể gây ra sỏi ở những người không nhạy cảm. - Người có tiền sử sỏi thận trong gia đình sẽ có khả năng bị sỏi. - Nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bất thường ở thận như bệnh nang thận (cystic...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thông tin tổng quan về bệnh Sỏi Thận và các phương pháp điều trị (Kỳ 2)

  1. Thông tin tổng quan về bệnh Sỏi Thận và các phương pháp điều trị (Kỳ 2) D-Nguyên nhân gây sỏi thận? - Không phải lúc nào cũng biết rõ tất cả những nguyên nhân tạo thành sỏi. - Trong khi một số loại thực phẩm có thể thúc đẩy sự hình thành sỏi ở những người nhạy cảm, các nhà khoa học không tin rằng việc ăn bất kỳ thực phẩm cụ thể nào lại có thể gây ra sỏi ở những người không nhạy cảm. - Người có tiền sử sỏi thận trong gia đình sẽ có khả năng bị sỏi.
  2. - Nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bất thường ở thận như bệnh nang thận (cystic kidney diseases), và một số rối loạn chuyển hóa như cường tuyến cận giáp (hyperparathyroidism) cũng có liên quan đến việc hình thành sỏi. Ngoài ra, hơn 70% những người bị một bệnh di truyền hiếm gặp là bệnh toan hóa ống thận (renal tubular acidosis) sẽ hình thành sỏi thận. - Chứng tiểu ra cystin (cystinuria) và tăng oxalat niệu (hyperoxaluria) là hai rối loạn chuyển hoá di truyền hiếm gặp khác thường gây ra sỏi thận. Trong chứng tiểu ra cystin, quá nhiều acid amin cystine không hòa tan được bài tiết ra nước tiểu, dẫn đến sự hình thành sỏi cystine. Đối với bệnh nhân bị chứng tăng oxalat niệu, cơ thể sản xuất ra quá nhiều muối oxalat. Khi nước tiểu chứa nhiều oxalat hơn số lượng mà nó có thể hòa tan, các tinh thể này sẽ kết dính với nhau và tạo thành sỏi. - Tăng calci niệu có tính di truyền và có thể là nguyên nhân gây ra sỏi ở hơn một nửa số lượng bệnh nhân. Canxi được hấp thu quá nhiều từ thức ăn và bị đào thải theo nước tiểu. Lượng canxi cao trong nước tiểu khiến các tinh thể oxalat canxi hay phosphat canxi hình thành ở thận hoặc những nơi khác trong hệ niệu.
  3. - Các nguyên nhân khác gây sỏi thận là tăng uric niệu (hyperuricosuria), một rối loạn chuyển hóa của axit uric; bệnh gout; dùng dư thừa vitamin D; nhiễm trùng đường tiết niệu; và tắc nghẽn đường tiết niệu. - Một số thuốc lợi tiểu, và các thuốc kháng acid dạ dày chứa canxi có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận bằng cách tăng lượng canxi trong nước tiểu. - Sỏi canxi oxalat cũng có thể hình thành ở những bệnh nhân viêm ruột mạn tính hay đã được mổ nối tắt ruột (intestinal bypass operation), hoặc phẫu thuật mở ruột ra da (ostomy). Như đã đề cập ở phần trên, sỏi struvite hình thành ở những bệnh nhân nhiễm trùng đường tiết niệu. Các bệnh nhân dùng thuốc ức chế protease indinavir để điều trị nhiễm HIV cũng có nguy cơ hình thành sỏi thận. E-Thực phẩm và thức uống chứa oxalate Những người dễ bị sỏi canxi oxalat có thể được yêu cầu hạn chế hoặc tránh một số thực phẩm nhất định, nếu nước tiểu của họ chứa lượng oxalat vượt quá mức bình thường. 1. Các thực phẩm chứa nhiều oxalat theo thứ tự từ cao đến thấp: Rau rhubarb; Rau spinach; Rau muống; Củ cải đường; Rau cải ngọt thụy sĩ (swiss chard); Mầm lúa mì; Bánh đậu tương; Lạc; Đậu bắp; Sô cô la; Trà đen Ấn Độ; Khoai lang
  4. 2. Các thực phẩm chứa lượng oxalat trung bình có thể dùng với số lượng hạn chế. Thực phẩm chứa lượng oxalat trung bình- theo thứ tự từ cao đến thấp: Bắp ngô xay (grits); Nho; Cần tây; Tiêu xanh; Dâu tây đỏ (raspberries); Bánh trái cây; Dâu tây (strawberries); Mứt trái cây (marmalade); Gan E-Các triệu chứng của sỏi thận? - Sỏi thận thường không gây ra triệu chứng. Thông thường, các triệu chứng đầu tiên của sỏi thận là đau cực kỳ, khởi phát đột ngột khi một viên sỏi di chuyển trong đường tiết niệu và chặn dòng chảy của nước tiểu. - Bệnh nhân cảm thấy đau dữ dội, đau quặn ở phía sau và vùng hông lưng trong khu vực của thận hoặc đau vùng bụng dưới. - Đôi khi có kèm buồn nôn và ói mửa. Sau đó, đau có thể lan đến vùng bẹn. - Nếu sỏi quá lớn để có thể thoát ra một cách dễ dàng, đau vẫn còn do các cơ ở thành niệu quản cố gắng co bóp để đẩy sỏi vào bàng quang. - Khi sỏi di chuyển và do cơ thể cố gắng tống xuất sỏi ra, máu có thể xuất hiện trong nước tiểu, khiến nước tiểu có màu hồng. - Khi sỏi xuống đến niệu quản đoạn gần bàng quang, bệnh nhân cảm thấy mót tiểu và đau rát khi đi tiểu.
  5. - Khi có sốt và lạnh rung đi kèm với các triệu chứng kể trên, có thể đã có nhiễm trùng. Trong trường hợp này, bệnh nhân cần phải đi khám bệnh ngay. F-Làm thế nào để chẩn đoán sỏi thận? - Sỏi đôi khi "im lặng" - không gây ra các triệu chứng - và được tìm thấy trên phim Xquang kiểm tra sức khỏe tổng quát. - Những viên sỏi nhỏ thường thoát ra khỏi cơ thể mà bệnh nhân không hay biết. - Thông thường, sỏi thận được quan sát thấy trên phim Xquang hoặc hình ảnh siêu âm của một bệnh nhân tiểu ra máu hay đau hông lưng đột ngột. - Chẩn đoán hình ảnh đem lại cho bác sĩ thông tin có giá trị về kích thước và vị trí của sỏi. - Xét nghiệm máu và nước tiểu giúp phát hiện ra những chất bất thường có thể thúc đẩy sự hình thành sỏi. - Bác sĩ có thể quyết định chụp hệ thống tiết niệu bằng các xét nghiệm đặc biệt như chụp quét cắt lớp vi tính (CT scan) hoặc chụp thận cản quang tĩnh mạch (IVP). - Tổng hợp kết quả của tất cả các xét nghiệm này sẽ giúp xác định phương thức điều trị thích hợp. G-Đề phòng sỏi thận
  6. - Khi đã có nhiều hơn một sỏi thận thì sẽ có khả năng hình thành những sỏi khác; do đó, nếu có thể, việc phòng tránh sỏi là quan trọng. - Để giúp xác định nguyên nhân của sỏi, cần chỉ định xét nghiệm, bao gồm cả xét nghiệm máu và nước tiểu. - Cần hỏi về bệnh sử, nghề nghiệp và thói quen ăn uống của bệnh nhân. - Nếu sỏi đã được lấy ra, hoặc nếu bệnh nhân đã tiểu ra sỏi và giữ lại được mẫu sỏi, xét nghiệm phân tích sỏi sẽ giúp lập kế hoạch điều trị. - Có thể yêu cầu bệnh nhân thu gom nước tiểu trong 24 giờ sau khi đã tiểu ra sỏi hoặc phẫu thuật lấy sỏi. - Khi thực hiện thu gom nước tiểu 24-giờ, bệnh nhân sẽ được cấp một thùng chứa lớn, được làm lạnh giữa các lần đi tiểu. Lượng nước tiểu này được dùng để đo thể tích nước tiểu và các mức độ acid, canxi, natri, acid uric, oxalat, citrat, và creatinin (một sản phẩm chuyển hóa của cơ bắp). Dùng thông tin này để xác định nguyên nhân của sỏi. Có thể cần thu gom nước tiểu trong 24 giờ một lần thứ 2 để xác định xem việc điều trị có đạt hiệu quả.
Đồng bộ tài khoản