Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cây mía ở Việt Nam

Chia sẻ: Thái Duy Ái Ngọc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:24

0
214
lượt xem
88
download

Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cây mía ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Báo cáo đề dẫn Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cây mía ở Việt Nam

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cây mía ở Việt Nam

  1. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Báo cáo đề dẫn Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cây mía ở Việt Nam Người trình bày: TS. Cao Anh Đương
  2. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Phần 1: Thực trạng mía đường Việt Nam
  3. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Tổng hợp so sánh một số chỉ tiêu sản xuất mía đường chủ yếu đến 2010 Theo Quyết định Đạt được So sánh Chỉ tiêu Đơn vị tính 26/2007/QĐ-TTg năm 2010 (%) Diện tích mía ha 300.000 266.300 -11,2 Năng suất mía bình quân tấn/ha 65 59,9 -7,8 Chữ đường bình quân CCS 11 10 -9,1 Sản lượng mía triệu tấn 19,5 15,947 -18,2 Tổng công suất NM tấn mía/ngày 105.000 105.750 0,7 Sản lượng đường tấn 1.500.000 1.000.000 -33,3
  4. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Diễn biến năng suất mía của Việt Nam và thế giới từ 1990 - 2009 80,0 70,0 60,0 Năng suất mía (tấn/ha) 50,0 40,0 30,0 20,0 10,0 0,0 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 0 1 2 3 4 5 7 8 9 6 9 9 9 9 9 9 9 9 9 9 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 Năng suất mía Thế giới (tấn/ha) Năng suất mía Việt Nam (tấn/ha)
  5. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Diễn biến diện tích trồng mía của Việt Nam và thế giới từ 1990-2009 Tại sao DT mía ở VN lại có xu hướng giảm 40,000 trong khi thế giới có xu hướng tăng? 35,000 Diện tích mía thế giới (triệu ha) hoặc Việt Nam (10.000 ha) 30,000 25,000 20,000 15,000 , 10,000 5,000 0,000 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20 Diện tích mía Thế giới (triệu ha) Diện tích mía Việt Nam (10.000 ha)
  6. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Diễn biến diện tích của các vùng trồng mía từ 1995 - 2009 140,0 ĐB sông Hồng 120,0 Diện tích trồng mía (ngàn ha) Trung du & MN phía Bắc 100,0 Bắc Trung Bộ & 80,0 DH miền Trung Tây Nguyên 60,0 40,0 Đông Nam Bộ 20,0 ĐB sông Cửu Long 0,0 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
  7. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Điề Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Những đóng góp chủ yếu của Chương trình mía đường  Hình thành nên 1 ngành sản xuất công nghiệp khá lớn với 40 nhà máy, trải rộng trên toàn đất nước, hàng năm tạo ra giá trị sản xuất trên 18.000 tỷ đồng.  Góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhiều địa phương, vùng miền, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng trung du, miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng đất nghèo, khó khăn, vùng sâu, vùng xa,… trải đều ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam.  Giúp nông dân khai hoang phục hóa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên 200.000 ha, giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động nông thôn với trên 250.000 hộ.  Đáp ứng cơ bản đủ nhu cầu tiêu thụ đường trong nước, hàng năm Nhà nước tiết kiệm được hàng trăm triệu USD để nhập khẩu đường.  Tạo ra nhiều sản phẩm phụ (ngoài và bên cạnh đường), là đầu vào và tiền đề phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác như cồn, bia, rượu, nước giải khát, bánh kẹo, chế biến thực phẩm, ván ép, phân bón, chất đốt, phát điện,…
  8. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Những tồn tại chính hiện nay  Năng suất mía thấp: Bình quân đạt gần 60 tấn/ha, ngoài Đồng bằng Sông Cửu Long đạt TB 70-80 tấn/ha, còn lại hầu hết các vùng khác chỉ đạt 45-50 tấn/ha (so với năng suất mía bình quân trên thế giới hiện nay là 70 tấn/ha).  Hiệu suất thu hồi đường của các nhà máy thấp: Hiện chỉ ở mức 80-82%. Đây là mức xấp xỉ bình quân của thế giới tuy nhiên vẫn còn thấp hơn nhiều so với tuỷ lệ thu hồi của nước cao nhất là Australia – 92%. Do hiệu suất thu hồi đường thấp, chất lượng mía hạn chế nên tỷ lệ mía/đường của Việt Nam là tương đối cao. Nếu so với Australia thì Việt Nam cần một lượng mía gấp đôi để sản xuất 1 tấn đường. Đồng thời, tỷ lệ mía/đường ở Việt Nam cho thấy phụ thuộc cả vào quy mô của nhà máy. Điều đó có nghĩa là đối với các nhà máy có qui mô càng lớn thì hoạt động có hiệu quả hơn với tỷ lệ mía/đường thấp hơn.  Diện tích trồng mía nhỏ lẻ, phân tán và chưa được đầu tư tương xứng yêu cầu sản xuất công nghiệp: Diện tích trồng, sản lượng mía bình quân/niên vụ/hộ quá thấp (30 - 40 tấn mía), thời gian sinh trưởng dài, lại bị cạnh tranh quyết liệt bởi các cây trồng khác (cao su, sắn,…), còn nông dân thì không mặn mà với cây mía. Dẫn đến việc diện tích mía tăng chậm, thậm chí 3 niên vụ gần đây có xu hướng giảm sút nghiêm trọng.
  9. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Những tồn tại chính hiện nay (tt)  Giá thành đường cao: Là ngành có tuổi đời non trẻ so với khu vực và thế giới, trình độ sản xuất thấp kém nên giá thành trung bình đường Việt Nam luôn cao hơn từ vài chục đến cả 100 USD/tấn so với Ấn Độ, Thái lan, Trung Quốc, Braxin,... dẫn đến khó khăn khi cạnh tranh với đường nhập khẩu.  Các nhà máy đường có quy mô nhỏ, công suất thấp: Bình quân chỉ đạt khoảng 2.500 TMN/nhà máy, chỉ phù hợp cho giai đoạn đầu phát triển khi giá nhân công rẻ, sẽ không phù hợp cho giai đoạn sau khi giá nhân công tăng cao. Theo các chuyên gia của CIE, thì với qui mô như vậy chi phí sản xuất đường của Việt Nam sẽ luôn cao hơn nhiều so với chi phí sản xuất đường của các nước trong khu vực khoảng 40-50%.  Cơ cấu phân chia tỷ lệ lợi nhuận chưa hợp lý, trong đó nông dân bị thiệt nhiều nhất: Nhà nước chỉ khuyến cáo mua 1 tấn mía với giá bằng 60 kg đường, không áp đặt và không kiểm soát được, giá đường lại luôn lên xuống thất thường, do đó nông dân chưa yên tâm sản xuất vì lợi ích không rõ ràng và không được đảm bảo.  Hệ thống tổ chức ngành đường chưa hợp lý: Hiện nay ai, cơ quan nào nắm quyền điều hành chi phối đối với toàn ngành mía đường? (Chính phủ, Bộ, Cục Chế biến, Cục Trồng trọt hay Hiệp hội).
  10. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Những tồn tại chính hiện nay (tt)  Nhà nước chưa có cơ chế hỗ trợ cho nông dân ổn định sản xuất mía: Tuy là các nhà máy có ký kết hợp đồng hẳn hoi song thường chỉ là hợp đồng 1 năm (trong khi 1 chu kỳ trồng mía thông thường là 3 năm), trong đó giá mía không được đảm bảo và xác định là bao nhiêu nên nông dân không mạnh dạn đầu tư vì không dán chắc sẽ thu hồi đủ vốn và có lãi.  Chính sách pháp luật riêng cho ngành mía đường chưa hoàn thiện: Chưa có “Luật Mía Đường” hay văn bản dưới luật áp dụng riêng cho ngành đường như nhiều nước khác, vì “ngành mía đường là ngành sản xuất đặc thù, không phải là ngành kinh tế vì lợi nhuận tối đa mà là ngành kinh tế - xã hội quan trọng”.  Việc quy hoạch, phân chia vùng nguyên liệu hiện nay là chưa hợp lý: Nhiều nhà máy chế biến nằm ở khá xa vùng nguyên liệu có nơi tới trên 100km, điều đó dẫn tới chi phí marketing và vận chuyển từ nơi trồng mía đến nhà máy là tương đối cao, chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng giá thành sản xuất đường. Xuất hiện hiện tượng độc quyền, ép giá trong việc thu mua mía nguyên liệu trong vùng quy hoạch hoặc được phân chia, cản trở việc cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà máy, dẫn tới cản trở sự phát triển sản xuất mía, bởi người dân sẽ không được hưởng lợi gì từ giá mía cao.
  11. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Những tồn tại chính hiện nay (tt)  Hệ thống tổ chức, cơ chế đầu tư cho công tác nghiên cứu chưa hợp lý, chưa tương xứng với yêu cầu và đóng góp của ngành mía đường: - Hiện cả nước chỉ có duy nhất 1 cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên ngành là Trung tâm NC & PT Mía Đường (Viện NC Mía Đường cũ). - Về hệ thống tổ chức thì khi trực thuộc đơn vị này, khi trực thuộc đơn vị khác, từng bị đề xuất sáp nhập làm trại giống của 1 Công ty Đường, còn nay thì đang trực thuộc Viện KHKT NN miền Nam (bị giới hạn về phạm vi hoạt động). - Từng bị cắt hết nguồn kinh phí lương và quản lý bộ máy (2001-2005), từng có năm có tới 42 cán bộ nghiên cứu thế hệ thứ hai (được Cuba giúp đào tạo bài bản nhất) cùng chuyển công tác sang cơ quan khác, từng có lúc chỉ còn chưa tới 10 cán bộ NC với trưởng bộ môn là … trung cấp. - Chỉ có duy nhất 1 cơ sở nghiên cứu tại huyện Bến Cát (khó khăn về nước tưới, đất nghèo kiệt), không có hệ thống Trạm, Trại nghiên cứu vệ tinh ở các vùng sinh thái, kể cả Trạm lai tạo ở vùng núi cao (đang phải thuê) như nhiều nước khác. - Kinh phí hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách Nhà nước luôn hạn hẹp, lại không liên tục, vốn đầu tư cho nghiên cứu chỉ bằng 0,03% giá trị mía sản xuất, thấp hơn 20-30 lần mức đầu tư của khu vực và thế giới (các nước đầu tư cho nghiên cứu 0,5-1% giá trị mía sản xuất được). Chưa nhận được kinh phí đầu tư trở lại trực tiếp từ ngành mía đường.
  12. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Nguyên nhân của những tồn tại  Năng suất mía thấp: Mặc dù tốc độ tăng năng suất mía trong gần 20 qua của Việt Nam đạt mức gần 2,1%/năm (so với mức bình quân của thế giới là 0,78%/năm) nhưng vì xuất phát điểm của chúng ta quá thấp do vậy năng suất mía bình quân của Việt Nam còn kém xa so với các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Nguyên nhân chính là do giống cũ chiếm tỷ lệ cao (trên 60%) và chủ yếu là giống nhập nội (khả năng thích nghi kém, không ổn định, sâu bệnh nhiều), nông dân còn hạn chế về trình độ canh tác, mức độ quan tâm đầu tư của Nhà nước về giao thông, thủy lợi, cơ giới hóa, khuyến nông,… còn thấp và sự hỗ trợ của doanh nghiệp mía đường thì còn rất ít và lẻ tẻ.  Hiệu suất thu hồi đường của các nhà máy thấp: Do dây chuyền thiết bị, công nghệ chế biến lạc hậu, quy mô nhỏ, chất lượng mía nguyên liệu thấp, thu mía non, mía dơ.  Diện tích trồng mía nhỏ lẻ, phân tán và chưa được đầu tư tương xứng yêu cầu sản xuất công nghiệp: Do điều kiện tự nhiên, lịch sử để lại.  Giá thành đường cao: Điều này là tất yếu vì công suất NM của VN thấp, trình độ sản xuất chưa cao, chi phí sản xuất cao, mới khấu hao.
  13. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Nguyên nhân của những tồn tại (tt)  Các nhà máy đường có quy mô nhỏ, công suất thấp: Do hệ quả của sự phát triển ồ ạt các nhà máy đường trong giai đoạn đầu sau khi có Chương trình 1 triệu tấn đường. Do toàn bộ nguồn vốn đầu tư cho các nhà máy là vốn vay trong nước và vốn nước ngoài (67%). Trong đó, riêng vốn vay mua công nghệ và thiết bị giản đơn, công suất nhỏ của Trung Quốc đã chiếm 11%.  Cơ cấu phân chia tỷ lệ lợi nhuận chưa hợp lý, trong đó nông dân bị thiệt nhiều nhất: Ở VN nông dân được nhận bằng 60 kg đường/tấn mía (nhưng ai giám sát?). Trong khi đó ở Úc là 66,6%, Barbados 77,5%, Mauritus 74% từ đường và rỉ mật; ở Thái Lan là 70%, Dominic là 65 kg đường/tấn mía và 50% phụ phẩm, Indonesia là 62% đường và 42% rỉ mật.  Hệ thống tổ chức ngành đường chưa hợp lý: Mới chỉ có Hiệp hội của một số Nhá máy đường (chưa phải Hiệp hội Đường đúng nghĩa), chưa có Hiệp hội người trồng mía để làm đối trọng và chưa có cơ quan điều hành chuyên trách.  Chính sách pháp luật riêng cho ngành mía đường chưa hoàn thiện: Chưa ban hành đồng bộ và kịp thời (đang giao cho Cục chế biến biên soạn?).
  14. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Nguyên nhân của những tồn tại (tt)  Nhà nước chưa có cơ chế hỗ trợ cho nông dân ổn định sản xuất mía: Do Nhà nước và doanh nghiệp chưa nhận thức hết vai trò quan trọng của nông dân. Nông dân trồng mía Việt Nam luôn là người chịu thiệt nhiều nhất, họ phải tự chủ mọi vấn đề (từ trồng đến thu hoạch, bán mía), trong khi nông dân các nước khác luôn luôn yên tâm sản xuất vì giá mía được Nhà nước đảm bảo ổn định trong 1 giai đoạn nhất định, kể cả khi giá đường lên xuống thất thường.  Việc quy hoạch, phân chia vùng nguyên liệu hiện nay là chưa hợp lý: Do công tác quy hoạch ngay từ đầu làm chưa tốt, do tốc độ độ thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, nhiều vùng nguyên liệu bị đẩy ra xa nhà máy. Phân chia vùng nguyên liệu chưa đi theo điều kiện đầu tư và gắn kết chặt chẽ lợi ích nhà máy và nông dân.  Hệ thống tổ chức, cơ chế đầu tư cho công tác nghiên cứu chưa hợp lý, chưa tương xứng với yêu cầu và đóng góp của ngành mía đường: Do tiến trình sắp xếp lại tổ chức các cơ quan nghiên cứu khoa học nông nghiệp, do lịch sử để lại, do đóng góp của TT NC & PT Mía Đường thời gian qua chưa cao, chưa rõ nên Nhà nước chưa thấy được vai trò quan trọng của công tác NCKH, do đó chưa đề ra cơ chế đầu tư hợp lý và xứng tầm nên chưa có sản phẩm có tính cạnh tranh cao phục vụ hữu hiệu cho ngành.
  15. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Phần 2: Định hướng và giải pháp phát triển mía đường Việt Nam
  16. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Thuận lợi hay triển vọng phát triển  Ngành mía đường thế giới đang trên đà hồi phục, giá mía, giá đường đang ở mức cao và ổn định (theo dự báo là trong từ 2-3 năm tới): Do tác động của dân-- số thế giới tăng (trên 7 tỷ người), giá dầu thô tăng (gần 100 USD/thùng), chương trình phát triển Ethanol nhiên liệu (đặc biệt là của Braxin chiếm 60%), đồng tiền REAL của Braxin tăng giá sau nhiều năm liên tục bị mất giá (từ 1999).  Việt Nam hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển cây mía: Về mặt tài nguyên tự nhiên, như khí hậu, đất đai, Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng trung bình khá để phát triển mía cây. Việt nam có đủ đất đồng bằng, lượng mưa nói chung là tốt (1400 mm đến 2000 mm/ năm), nhiệt độ phù hợp, độ nắng thích hợp. Trên phạm vi cả nước, các vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là Duyên hải Nam Trung Bộ có khả năng mía đường tốt và rất tốt.  Nhu cầu tiêu dùng nội địa của Việt Nam ngày càng tăng cao (năm 2011 khoảng 1,4 triệu tấn): Do dân số tăng (89 triệu người), GDP bình quân đầu người tăng (năm 2010 là 1.200 USD), các ngành công nghiệp chế biến sau đường và bên cạnh đường phát triển.  Nghị quyết 26 về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa X thông qua tại Hội nghị T.Ư 7, năm 2008: Đây là nghị quyết rất quan trọng đối với một đất nước vẫn còn 70% dân số sống ở nông thôn, 56% lao động làm trong nông nghiệp, sẽ có tác động lớn tới ngành mía đường.
  17. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Những thách thức chính  Các nhà máy đường Việt Nam phần lớn vừa mới được xây dựng với quy mô vừa và nhỏ, thời gian khấu hao chưa lâu: Hiện tại còn 40 nhà máy đường đang hoạt động, với tổng công suất 105.750 tấn mía/ngày, bình quân một nhà máy 2.500 tấn mía/ngày; phần lớn các nhà máy có quy mô nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu, năng suất thiết bị và lao động, hiệu quả và chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao.  Vùng nguyên liệu quy mô nhỏ bé, phân tán, hiệu quả sản xuất thấp: Xét cả về năng suất nông nghiệp và năng suất công nghiệp chế biến, ngành mía đường Việt Nam còn thấp, thua quá nhiều so với các ngành mía đường lớn của khu vực và thế giới. Bình quân ở Việt Nam chỉ mới đạt 4-5 tấn đường/ha, trong khi đó ở Thái Lan là 7-8 tấn/ha, ở Australia và Brazil là 9-12 tấn/ha.  Ngành mía đường Việt Nam sẽ chịu tác động rủi ro rất lớn bởi các điều kiện biến đổi khi hậu như: Thời tiết hạn hán, bão, lũ, lụt, úng, phèn, mặn,… vì hầu hết các vùng nguyên liệu chính nằm ở các vùng trung du, miền núi, vùng ngập úng, nhiễm mặn, phèn,… - vốn là những vùng khó khăn, chưa được đầu tư các công trình thuỷ lợi giao thông, đê bao, cống ngặn mặn,…
  18. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Những thách thức chính (tt)  Ngành mía đường Việt Nam cũng đang chịu tác động lớn bởi quan hệ cung cầu và giá đường của thị trường thế giới: Phần lớn trong số 60 quốc gia sản xuất đường lớn trên thế giới đều có chính sách hạn ngạch thuế quan. Với Việt Nam, những bảo hộ này không có nhiều. Chỉ riêng hạn ngạch và thuế nhập khẩu, theo lộ trình hội nhập AFTA, thuế suất đường sẽ giảm dần từ 30% năm 2007 xuống còn 5% năm 2010. Với việc gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải mở cửa nhập khẩu trong hạn ngạch là 25% với đường thô, ngoài hạn ngạch là 65%, khối lượng nhập khẩu trong hạn ngạch còn tăng 5% mỗi năm.  Giá đường thế giới, cho đến nay, không thực sự phản ánh quan hệ cân bằng cung cầu, mà chịu tác động bởi chính sách trợ cấp sản xuất trực tiếp hay gián tiếp của nhiều nước, nhất là các nước EU, Mỹ trong 40 năm qua luôn duy trì giá đường cao gấp 4 lần so với giá đường trung bình trên thế giới đã bóp méo thị trường đường của các nước đang phát triển. Ngành đường Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động này.  Sự cạnh tranh của các cây trồng (sắn, cao su,…) và ngành sản xuất khác trong vùng sản xuất mía ngày càng gia tăng.
  19. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Định hướng phát triển (theo Quyết định 26/2007/QĐ-TTg)  Phát triển sản xuất mía đường trong thời gian tới phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội và bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, phù hợp với quy hoạch chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  Phát triển sản xuất mía đường trên cơ sở phát triển đồng bộ từ sản xuất mía nguyên liệu, nhà máy chế biến, sản xuất các sản phẩm sau đường đến lưu thông và tiêu thụ sản phẩm; từng bước mở rộng công suất các nhà máy đường hiện có theo hướng công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến.  Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mía đường, gắn lợi ích giữa nhà chế biến và người sản xuất nguyên liệu, thúc đẩy xây dựng nông thôn mới.  Nhà nước hỗ trợ một phần đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi vùng mía tập trung; nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất mía đường.
  20. Hội thảo phát triển cây Mía và cây Điều, Tp. Hồ Chí Minh, 15/02/2011 thả phá triể Mí và Điề Hồ Chí Workshop on developing of Sugarcane and Cashew crop, HCM City, 15/02/2011 15/02/2011 Mục tiêu phát triển cụ thể  Sản xuất trước tiên nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước đang ngày càng tăng cao và 1 phần xuất khẩu (nếu có): Nhu cầu tiêu thụ trong nước năm 2011 dự báo ở vào khoảng 1,4 triệu tấn, năm 2015 khoảng 1,6 -1,7 triệu tấn và năm 2020 khoảng 2,1 triệu tấn.  Mục tiêu cần đạt đến năm 2020: Tổng diện tích trồng mía duy trì khoảng 300.000 ha, năng suất mía bình quân đạt 80 tấn/ha, chữ đường bình quân 12 CCS, sản lượng mía đạt 24 triệu tấn; tổng công suất thiết kế của các nhà máy khoảng 120.000 tấn mía ngày.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản