Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng thẻ ATM

Chia sẻ: 4094439

Hiện nay, trên thế giới các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành rất phổ biến và chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong khối lượng điều động tài nguyên ký thác tại các ngân hàng. Mỗi hình thức thanh toán đều có công dụng riêng thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch đa dạng phong phú. Việc đưa ra một hình thức thanh toán phù hợp vừa là nhiệm vụ, vừa là mục đích kinh doanh và trọng điểm cạnh tranh của các ngân hàng. Cho đến nay Việt Nam đang áp dụng hình thức thanh toán...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng thẻ ATM

SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành




PHẦN MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1

Hiện nay, trên thế giới các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đã trở
thành rất phổ biến và chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong khối lượng điều động tài
nguyên ký thác tại các ngân hàng. Mỗi hình thức thanh toán đều có công dụng
riêng thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch đa dạng phong phú.
Việc đưa ra một hình thức thanh toán phù hợp vừa là nhiệm vụ, vừa là mục
đích kinh doanh và trọng điểm cạnh tranh của các ngân hàng. Cho đến nay Việt
Nam đang áp dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Đó là hình thức
thẻ ATM. Đến trước năm 2004 việc sử dụng thẻ ATM trong khu vực dân cư ở
Việt Nam vẫn còn phát triển khiêm tốn chưa được sử dụng rộng rãi. Gần đây
theo đà phát triển của thế giới, việc sử dụng thẻ ATM đã trở nên phổ biến, gần
gũi với người dân hơn và được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam do những công
dụng riêng mà thẻ đem lại.Tốc độ tăng trưởng của thị trường thẻ ATM ngày
càng cao, quy mô, số lượng phát hành và sử dụng ngày càng lớn. Tuy nhiên bên
cạnh những tiện ích to lớn do việc sử dụng thẻ vẫn còn tồn tại những vấn đề
hạn chế cần được quan tâm và bên cạnh hiện trạng bùng nổ thẻ vẫn còn tồn
tại những vấn đề giới hạn đòi hỏi phải có những giải pháp thích hợp. Lý do
chọn chuyên đề ”Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thẻ ATM
tại Việt Nam” là muốn người đọc hiểu biết nhiều hơn về hiện trạng phát
hành thẻ của các ngân hàng và nhu cầu sử dụng của người dân. Đồng thời qua
các giải pháp có thể sẽ giúp cho việc phát hành và sử dụng khắc phục hạn chế,
phát huy thế mạnh và từ đó mở rộng hơn.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích, đánh giá việc sử dụng thẻ ATM hiện nay ở Việt Nam.
Đưa ra một số biện pháp nhằm thúc đẩy việc sử dụng thẻ.




Trang 1
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành



1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu thập thông tin qua mạng và các báo, tạp chí, internet
Sau đó xử lý những thông tin để có cái nhìn toàn cảnh về vấn đề nghiên
cứu.

1.4 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Chỉ nghiên cứu và phân tích tình hình sử dụng thẻ ATM chứ không đi sâu
nghiên cứu về những kỹ thuật xung quanh việc hình thành thẻ.




Trang 2
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành




PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ THẺ ATM
1.1.1 Khái Niệm
Thẻ ATM là thẻ dùng để rút tiền và chuyển tiền trên hệ thống quầy tự
động. Hệ thống thanh toán tự động này còn được gọi là hộp ATM, bao gồm hệ
thống máy tính nối mạng với toàn bộ hệ thống tiền gửi của ngân hàng, bên
cạnh việc mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, ngân hàng còn bán cho khách
hàng một tấm thẻ nhựa, còn được gọi là thẻ từ hay thẻ thông minh. Bên trong
thẻ có một bộ phận từ ghi lại mật mã của khách hàng và ghi lại những thông tin
về tài khoản của khách hàng. Sau khi khách hàng mở tài khoản và gửi tiền vào
ngân hàng thì chỉ hai phút sau đó, toàn bộ số tiền cùng mật mã của khách hàng
được máy tính điện tử thông báo đến mạng của toàn thành phố và có thể trên
phạm vi cả nước, nếu ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng có chi nhánh và
quan hệ khắp nơi trên toàn quốc.

1.1.2 Nguồn Gốc Ra Đời
Ngành công nghệ thẻ ngân hàng tuy mới phát triển thật sự trong 25 năm
gần đây nhưng thẻ có một lịch sử lâu đời bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ
cung cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc mua hàng trước trả tiền sau.
Nhưng nhiều đại lý nhỏ không đủ khả năng cung cấp tín dụng cho các khách
hàng của họ các ngân hàng đã tham gia vào việc này.

Thẻ ngân hàng xuất hiện năm 1946 tại Mỹ với tên gọi Charg-It do ngân
hàng John Biggins phát hành. Đó là một hệ thống tín dụng cho phép khách hàng
thực hiện các giao dịch nội địa tại các đại lý bằng các “phiếu” có giá trị do ngân
hàng phát hành. Đây có thể coi như là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng
đầu tiên của ngân hàng Franklin National New York vào năm 1951. Trải qua quá
trình tồn tại và phát triển, đến năm 1970 chiếc thẻ từ đầu tiên ra đời. Đó là một
chiếc thẻ bằng nhựa có gắn theo một lõi từ tính để lưu trữ các thông tin. Theo
sự phát triển của đời sống xã hội, thẻ được trang bị thêm những công nghệ tinh
vi khác như các hình không gian ba chiều được in bằng một công nghệ laser chỉ


Trang 3
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

có thể nhận biết được bằng tia cực tím. Cùng với xu thế phát triển chung của
toàn cầu, công nghệ thẻ được du nhập vào Việt Nam từ năm 1996 chủ yếu là
phục vụ cho nhu cầu sử dụng thẻ của khách nước ngoài đến Việt Nam. Xu
hướng sử dụng thẻ thanh toán mới bắt đầu trở nên quen thuộc và sôi động ở
Việt Nam từ hai năm trở lại đây.

1.1.3 Vai Trò Của Thẻ ATM
1.1.3.1 Đối Với Người Sử Dụng
Là một dịch vụ tiện lợi nhanh chóng phục vụ tốt nhu cầu giao dịch tiền tệ
trong cuộc sống hiện đại vì mọi hoạt động giao dịch của người dân được hoàn
toàn tự động qua thẻ ATM. Khách hàng nào có nhu cầu giao dịch tiền tệ không
cần phải tốn nhiều thời gian và công sức để trực tiếp đến ngân hàng và đối
mặt với các thủ tục phức tạp như hiện nay mà chỉ cần sở hữu 1 chiếc thẻ ATM
là mọi giao dịch đều được thực hiện 1 cách nhanh chóng trong suốt 24/24 giờ
trong ngày và mọi ngày trong tuần. Và việc những chiếc máy ATM của các ngân
hàng được đặt trong các siêu thị sẽ rất tiện lợi cho người dân, có thể không cần
phải đem quá nhiều tiền mặt trong người.

1.1.3.2 Đối Với Ngân Hàng
Đây là một kênh huy động vốn nhàn rỗi đáng kể trong dân chúng khi mà
tiền của người dân đều được huy động trong tài khoản ngân hàng. Số tiền
khổng lồ này sẽ giúp ngân hàng tăng nguồn vốn hoạt động đồng thời có được
nguồn thu vững chắc từ việc cung cấp các dịch vụ thanh toán thông qua hệ
thống thẻ ATM. Điều này hết sức có lợi cho các ngân hàng trong cuộc đua huy
động vốn hiện nay.

1.1.3.3 Đối Với Nền Kinh Tế
Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế tiên tiến khi người
dân thanh toán không dùng tiền mặt thì vòng quay tiền tệ tăng lên làm gia tăng
tốc độ phát triển của nền kinh tế. Việc tự động hóa trong giao dịch sẽ nâng cao
chất lượng của hệ thống tài chính quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho một
nền kinh tế hiện đại phát triển và đáp ứng nhu cầu hội nhập trong tương lai
của kinh tế Việt Nam

1.1.4 Tiện Ích Và Hạn Chế Khi Sử Dụng Thẻ ATM

Trang 4
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

1.1.4.1 Tiện Ích
ATM là một thành quả của sự cố gắng cải thiện công nghệ ngân hàng,
đặc biệt là hệ thống thanh toán hiện đại. Thẻ ATM rất được khách hàng của
các ngân hàng tán thành do sự tiện lợi và linh hoạt của thẻ đem lại.

Hiện nay với công nghệ tiên tiến, máy ATM không chỉ dùng để rút tiền mà
nó trở thành một ngân hàng thu nhỏ với đủ các chức năng và tiện ích: nạp tiền,
rút tiền trực tiếp, chuyển khoản đến tất cả các ngân hàng, thanh toán các hóa
đơn, dịch vụ, thuế, lệ phí…mua thẻ trả trước điện thoại di động, Internet…Ở
Việt Nam Ngân Hàng Đông Á EAB là Ngân hàng tiên phong trong lĩnh vực này.

Hệ thống ATM được lắp đặt ở hầu hết các Thành Phố, một số khách sạn,
nhà hàng, siêu thị, cửa hàng bách hóa lớn, kể cả các Trường Đại học và điều
này sẽ giúp cho người sử dụng có thể rút tiền ở nhiều nơi khi cần sử dụng.

Với tấm thẻ ATM trên tay, khách hàng vào bất cứ thời gian nào đều có thể
rút tiền, chuyển tiền…, việc chạy vội đến ngân hàng trước giờ đóng cửa
dường như đã lùi về quá khứ, bởi vì ATM hoạt động suốt 24 giờ trong ngày.

Việc sử dụng thẻ rất đơn giản và nhanh chóng. Khách hàng chỉ cần để thẻ
vào khe của máy ATM, sau đó chỉ cần nhập số PIN thì mọi thao tác sẽ được
hướng dẫn cụ thể trên màn hình máy tính. Chỉ trong vòng vài phút mệnh lệnh
của người sử dụng sẽ được thực hiện. Và họ có thể dễ dàng rút được số tiền
mà mình muốn.

Nhờ hình thức trả lương qua thẻ nhiều công nhân, người lao động nhập
cư đã có thói quen gửi tài khoản vừa có lãi vừa bảo đảm an toàn.

Một tiện ích khác là người sử dụng thẻ có thể cho người thân sử dụng tài
khoản qua thẻ phụ và có thể giới hạn mức chi tiêu của thẻ phụ để dễ kiểm
soát.

1.1.4.2 Hạn Chế
Không chỉ than phiền về chất lượng giao dịch, gần đây số vụ khiếu nại
mất tiền từ thẻ rút tiền tự động (ATM) tăng dần với số tiền mất ngày càng lớn,
mất đủ kiểu, phiền đủ cách! Cho thấy các ngân hàng chưa thật sự tạo được an
toàn cho người sử dụng.


Trang 5
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Tình trạng hết tiền ở nhiều máy ATM hay xảy ra, nhất là ngày thứ bảy và
chủ nhật, ngày chi trả lương cuối tháng và cũng là ngày khách hàng cần đi mua
sắm. Điều này sẽ làm cho người sử dụng rất phiền toái và khó khăn.

Việc quá tải mạng làm cho máy ATM chập chờn có lúc chạy chậm, điều
này gây nhiều bất tiện cho người sử dụng.

Người dân vẫn còn thói quen thích sử dụng tiền mặt, do đó thẻ ATM chưa
được sử dụng rộng khắp.

Hệ thống ATM đôi khi còn bị gián đoạn do các nguyên nhân chủ quan từ
ngân hàng, tức giải quyết công việc nội bộ cụ thể là cập nhật dữ liệu.

Chưa thể liên minh kết nối thành một hệ thống ATM trong cả nước. Nếu
như ở nước ngoài thì các máy ATM của các ngân hàng khác nhau đều có thể
được kết nối với nhau. Còn ở Việt Nam thì khách hàng mở tài khoản tại ngân
hàng nào thì phải rút tiền ở máy ATM của ngân hàng đó.Gần đây có 1 số ngân
hàng đã liên kết lại với nhau nhưng số đó vẫn còn rất ít.

Vẫn còn tình trạng “thẻ nằm ngoài vùng phủ sóng” do còn quá ít máy và
chủ yếu là để rút tiền.

Tại Việt Nam khả năng phân biệt đồng tiền (theo mệnh giá) của máy
ATM đang bị đánh giá thấp. ATM trên thế giới đều được thiết kế với việc xác
định mệnh giá tiền đưa ra khi chi trả cho khách hàng qua các trang thiết bị cảm
ứng về độ dày, chiều rộng của tờ tiền. Tuy nhiên các mệnh giá tiền của Việt
Nam hiện nay được thiết kế và sản xuất tương đương nhau về kích cở, độ dày
nên các chức năng trên chưa phát huy đươc hiệu quả.




Trang 6
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành



CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH
THẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN
QUA
2.2.1 Quy Mô Số Lượng Phát Hành Và Tốc Độ Tăng
Trưởng
Đến giữa năm 2004, chỉ có khoảng 11 NH tham gia thị trường phát hành và
thanh toán thẻ. Trong đó Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)
dẫn đầu do có hệ thống ATM lớn nhất khắp cả nước, tiếp sau là các Ngân
hàng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Á
Châu (ACB), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank), và Ngân hàng
Đông Á (EAB). Các ngân hàng chỉ mới trang bị được khoảng 450 máy ATM để
phục vụ các giao dịch của chủ thẻ. Từng ngân hàng cụ thể thì số máy này còn
tệ hơn vì hệ thống ATM của mỗi ngân hàng hoạt động riêng lẻ. Ngoại trừ
Vietcombank với 280 máy rải ra khắp cả nước, các ngân hàng còn lại mới chỉ
trang bị từ dăm đến vài chục máy. Đến cuối năm 2004, theo báo cáo của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông vẫn còn chiếm đến
20,35% tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Con số này đã giảm 1/3
so với cách đây một chục năm, nhưng vẫn còn rất cao so với trình độ thế giới.
Nói chung chiếc thẻ ATM vẫn chưa là vật quen thuộc. Cho thấy đến cuối năm
2004 tình hình phát và sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt-thẻ
ATM tại Việt Nam vẫn chưa cao.

Đến năm 2005 quy mô và số lượng thẻ ATM được phát hành tăng lên đáng
kể. Chỉ trong 4 tháng đầu năm số lượng thẻ ATM phát hành tại Ngân hàng
Incombank đã là 50.000 thẻ với số lượng máy ATM là 135 máy. Ngân hàng
Agribank cũng đạt 50.000 thẻ đưa tổng số thẻ phát hành lên 150.000 trên tổng
số máy là 254 máy. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) đạt con số khiêm
tốn hơn với tổng số thẻ là 76.000 thẻ và gần 200 máy. Riêng Vietcombank số
lượng thẻ của Ngân hàng lên đến vài triệu thẻ và có đến 400 máy ATM, nếu
tính đến các máy ATM liên kết với một số ngân hàng khác (thẻ ATM của các
ngân hàng liên kết có thể sử dụng trên máy ATM của nhau) thì tổng số là 450
máy. Tuy nhiên vẫn còn một số lượng lớn các điểm mua sắm có thể chấp nhận


Trang 7
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

thanh toán bằng thẻ. Số máy ATM không lớn nhưng còn lại bị chia nhỏ ra cho
nhiều ngân hàng và nhiều địa phương. Ngay như ngân hàng Vietcombank có thị
phần nhiều nhất nhưng chưa đến 500 máy. Còn hệ thông kết nối VNBC
(Vietnam Bank Card) chỉ có 178 máy trên toàn quốc. Số lượng khách hàng tiềm
năng lúc bấy giờ còn rất lớn với hơn 100.000 doanh nghiệp và hàng chục triệu
hộ gia đình. Trong khi đó đến thời điểm lúc này chỉ duy nhất Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn là có mạng lưới chi nhánh đến một số xã. Mặt
dù vây nhưng khi so sánh hai móc thời gian: giữa năm 2004 và giữa năm 2005 ta
thấy được tốc độ tăng trưởng của thị trường thẻ ATM tại Việt Nam là rất lớn.
Số lượng máy tăng hơn 2 lần, số lượng thẻ tăng hơn 5 lần, mức tăng trưởng
trên 200% một năm đã là rất cao. Ngoài ra những tháng cuối năm 2005 người có
thẻ ATM đa năng có thể giao dịch tại một số máy ở Trung Quốc, Hong Kong,
Thái Lan, Singapore, Philippines. Cho thấy thị trường thẻ ngày càng mở rộng
hơn cả trong lẫn ngoài nước.

Với đà tăng trưởng đó đến đầu năm 2006 loại thẻ được sử dụng nhiều
nhất tại Viêt Nam là thẻ ATM do nhiều ngân hàng phát hành. Cuối tháng 01 năm
2006 mức tăng trưởng của thị trường thẻ ATM đã trên 300%. Nếu như giữa
năm 2005 trên toàn quốc chỉ có khoảng 1000 máy và gần 2 triệu thẻ thì đến thời
điểm tháng 05/2006 cả hệ thống đã có gần 2000 máy và hơn 2,1 triệu thẻ ATM
được đưa vào sử dụng. Đến dây, liên minh thẻ Vietcombank (VCB) đã đạt gần
1 triệu thẻ và dự kiến trong năm 2006 tăng lên 1,5 triệu thẻ. Còn hệ thống
VNBC (Vietnam Bank Card) của ngân hàng Đông Á thì với 400.000 thẻ, dự kiến
đạt 1,2 triệu thẻ vào cuối năm 2006. Đến thời điểm này đã có khoảng 20
thương hiệu thẻ khác nhau được tung ra thị trường và cuộc cạnh tranh giữa các
ngân hàng là vô cùng sôi động.

Trong thời gian gần đây các ngân hàng đã ra sức mở thêm nhiều máy mới
và số lượng thẻ phát hành của các ngân hàng ngày càng tăng. Đặc biệt là ngân
hàng Nông Nghiệp đã liên kết các với các khu công nghiệp bằng việc trả lương
cho công nhân thông qua thẻ ATM từ đó số lượng thẻ và máy của ngân hàng này
không ngừng tăng lên đến nay ước tính ngân hàng Nông Nghiệp đã có khoảng
566 máy trên phạm vi toàn quốc với khoảng hơn 1 triệu thẻ được phát hành.


Trang 8
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Còn đối với Vietcombank họ đã phát triển thẻ trong sinh viên bằng cách cho lắp
đặt thêm nhiều máy ATM ở các trường đại học và có nhiều chương trình phát
hành thẻ miễn phí cho sinh viên nhờ đó mà số lượng thẻ của Vietcombank đã
phát triển rất nhanh.

Tóm lại đối với những sản phẩm, dịch vụ đang có điều dễ dàng thấy nhất
là sự bùng nổ dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa (ATM). Trong vòng 3 năm trở lại đây,
với mức tăng trưởng trên cho thấy nhu cầu cũng như sự hưởng ứng nhiệt tình
của người tiêu dùng về dịch vụ ngân hàng hiện đại là rất cao. Số tài khoản và
số máy ATM được lắp đặt tăng lên nhanh chóng và đã tạo một “cơn sốt” thực
sự.

Sau đây là các bảng thống kê về số lượng địa điểm đặt máy ATM của một
số Ngân hàng.
Bảng: Số lượng địa điểm đặt máy ATM của Ngân hàng Nông Nghiệp
(Agribank)

Khu vực Số lượng

An Giang 4

Bà Rịa Vũng Tàu 15

Bạc Liêu 3

Bắc Kạn 1

Bắc Giang 4

Bắc Ninh 4

Bến Tre 6

Bình Dương 24

Bình Định 3

Bình Phước 4

Bình Thuận 3

Cà Mau 4

Cao Bằng 2


Trang 9
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Cần Thơ 14

Đà Nẳng 21

Đắc Lắk 6

Đắc Nông 3

Điện Biên 2

Đồng Nai 12

Đồng Tháp 2

Gia Lai 2

Hà Giang 2

Hà Nam 2

Hà Nội 134

Hà Tây 9

Hà Tĩnh 2

Hải Dương 2

Hải Phòng 14

Hậu Giang 2

Hòa Bình 1

Hưng Yên 2

Khánh Hòa 11

Kiên Giang 3

Kon Tum 2

Lai Châu 2

Lâm Đồng 10

Lạng Sơn 4

Lào Cai 4

Long An 3


Trang 10
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Nam Định 3

Nghệ An 2

Ninh Bình 3

Ninh Thuận 3

Phú Thọ 2

Phú Yên 2

Quãng Bình 2

Quãng Nam 8

Quãng Ngãi 4

Quãng Ninh 9

Quãng Trị 4

Sóc Trăng 10

Sơn La 2

Tây Ninh 3

Thái Bình 1

Thái Nguyên 3

Thanh Hóa 4

Thừa Thiên Huế 10

Tiền Giang 3

Thành Phố Hồ Chí Minh 128

Trà Vinh 2

Tuyên Quang 2

Vĩnh Long 3

Vĩnh Phúc 3

Yên Bái 2

(Nguồn: tổng hợp số liệu từ trang web www.agribank.com.vn)


Trang 11
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

2.2.2 Chiến Lược Và Biện Pháp Mở Rộng Thị Trường
Để có tốc độ tăng trưởng như trên các ngân hàng đã không ngừng áp dụng
nhiều chiến lược mở rộng, các chiến lược là không thể thiếu đối với ngân hàng
vì hầu hết các ngân hàng đều có mục đích kinh doanh là mở rộng thị trường,
tăng quy mô thị phần chiếm lãnh.

Sau đây là một số chiến lược mà các ngân hàng đã áp dụng:

Từ năm 2004, Ngân hàng Thương Mại cổ phần Đông Á (EAB) đã áp dụng
hình thức trả lương qua thẻ. Nhờ vậy mà khá nhiều công nhân, người nhập cư
đã không còn giữ tiền mặt vừa không sinh lãi lại thiếu an toàn. Hơn nữa khi
nhận lương qua thẻ có giao dịch thường xuyên qua thẻ khách hàng có thể được
xét hạn mức thấu chi (tài khoản hết tiền vẫn có thể rút tiền hoặc thanh toán,
hoàn trả sau).

Đầu năm 2005, cũng đã có hình thức cho vay giải ngân qua thẻ với lãi suất
khá thấp. Theo đó, ngân hàng và người vay làm các thủ tục vay vốn và chuyển
toàn bộ tiền vay qua tài khoản thẻ ATM. Ngoài tiểu thương ở các chợ thì một
số người còn vay để xây nhà cũng đã sử dụng cách giải ngân thông qua thẻ, cần
tiền đến đâu lấy đến đó.

Một chiến lựợc khác là mở ngân hàng trong các Trường Đại học. Nhu cầu
sử dụng thẻ của sinh viên theo học và cán bộ - công nhân viên là rất cao do đó
chiến lược này đã đem lại kết quả cao cho các ngân hàng.

Chiến lựợc giảm giá và thường xuyên có nhiều chương trình quà tặng
cũng đã và đang được các ngân hàng áp dụng và đã thu hút được nhiều người
tham gia sử dụng thẻ.

Và cũng trong năm 2005 thì thẻ ATM cũng đã được sử dụng ở nước ngoài.

Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã có kế hoạch chuyển toàn bộ các
thẻ từ ATM sang các thẻ thông minh (thẻ chip). Quyền lợi khách hàng của ngân
hàng sẻ được đảm bảo hơn khi sử dụng thẻ chip vì ngoài việc đảm bảo tiện
ích như thẻ chip còn có thể định danh người sử dụng, lưu trữ thông tin về các
chương trình khuyến mãi, thậm chí sức khỏe… đây là một xu thế tất yếu vì thẻ
chip sẽ đáp ứng được các yêu cầu của các tổ chức thẻ quốc tế.


Trang 12
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Đến đầu tháng 2 năm 2006, Sở giao dịch hai Ngân hàng Công Thương đề
ra chiến lược sẻ cho vay tín chấp dùng vào mục đích sinh hoạt, tiêu dùng đối
với những khách hàng có thẻ ATM và trả lương qua thẻ. Mức vay tín chấp tối
đa là 10 triệu. Điều này sẽ thu hút thêm một số lượng người sử dụng thẻ thanh
toán.

Gần đây, 28/3/2006 Ngân hàng Đông Á – chi nhánh Đà Nẵng đã tổ chức
triển khai chương trình “mở thẻ ATM lấy ngay” tại hội chợ giao lưu kinh tế
Việt – Lào – Thái. Với chương trình khách hàng có thể dễ dàng đăng ký, sử
dụng ngay một chiếc thẻ đa năng EAB miễn phí và lấy ngay. Cũng tại thời
điểm này, EAB lắp đặt máy ATM hiện đại nhất Việt Nam vừa có trên thị
trường. Khách hàng có thể gửi tiền trực tiếp, rút tiền mặt, chuyển tiền, thanh
toán dịch vụ, mua các loại thẻ cào qua máy và một số chức năng khác. Và đó
cũng là một biện pháp mở rộng thị trường mà Ngân hàng đã sử dụng.

2.2.3 Liên Minh Thanh Toán Thẻ
Việc liên minh kết nối giữa các ngân hàng có ba cái lợi: thứ nhất là lợi cho
khách hàng do mạng lưới giao dịch được mở rộng, thứ hai khi “nhiều cây chụm
lại” sẽ tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước với các ngân
hàng nước ngoài và tiết kiệm được chi phí đầu tư, thứ ba tạo điều kiện để
người dân giảm dùng tiềm mặt và thanh toán qua ngân hàng

Các ngân hàng có thể kết nối với nhau qua hai cách. Phương án thứ nhất là
lập công ty chuyển mạch quốc gia đã được Ngân hàng Nhà nước và các Ngân
hàng Ngoại thương quan tâm, tuy nhiên vẫn có ngân hàng chưa chịu tham gia vì
lý do chưa phù hợp về công nghệ. Còn phương án thứ hai là giữa các ngân hàng
tự thoả thuận, đối với phương án này dù được đánh giá là dễ thực hiện do các
ngân hàng tự quyết định nhưng thực tế chẳng suôn sẻ vì việc làm “nhánh” của
ngân hàng khác, đòi hỏi phải kết nối “hàng ngang”, không lệ thuộc vào nhau.

Dù được thành lập từ tháng 7/2004 nhưng mãi đến ngày 21/4/2007 Công ty
cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Việt Nam (Banknetvn) đã khai trương
hệ thống chuyển mạch Banknetvn. Mặc dù chưa phải là hệ thống có số lượng
ngân hàng tham gia đông nhất ở thời điểm hiện tại, nhưng Banknetvn là hệ
thống có sự tham gia của 3 ngân hàng thương mại Nhà nước lớn nhất Việt


Trang 13
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Nam: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Việt
Nam và Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn công thương,và tương lai có
thể có sự tham gia của tất cả các ngân hàng thương mại của Việt Nam, mang
lại lợi ích lớn cho khách hàng dùng thẻ ở Việt Nam. Mục tiêu chính của
Banknetvn là xây dựng hệ thống chuyển mạch tài chính quốc gia kết nối các hệ
thống thanh toán thẻ nói chung, hệ thống ATM/POS nói riêng của các ngân
hàng ở Việt Nam, xử lý thanh toán bù trừ đối với các giao dịch thanh toán thẻ
giữa các ngân hàng.

2.2.4 Ưu Điểm Của Thẻ ATM
2.2.4.1 Đối Với Người Sử Dụng
Có thể nói, trước khi thẻ ATM xuất hiện thì việc người dân có nhu cầu
giao dịch với ngân hàng đều phải đến trực tiếp các ngân hàng thương mại và
phải đối mặt với nhiều loại thủ tục phức tạp. Đôi khi còn gặp nhiều khó chịu
do thái độ phục vụ và ý thức của nhân viên ngân hàng. Hơn nữa việc giao dịch
trực tiếp với ngân hàng còn bị giới hạn về thời gian và không gian vì các ngân
hàng chỉ làm việc theo thời gian quy định. Đây là sự bất tiện trong giao dịch với
khách hàng. Tuy nhiên từ khi thẻ ATM xuất hiện đã góp phần giải quyết được
tình trạng đó và phục vụ tốt hơn nhu cầu giao dịch của ngân hàng.

* Rút tiền mặt: Khả năng đầu tiên và cơ bản nhất của thẻ ATM là giúp
cho người sử dụng có thể rút tiền mặt trong tài khoản của mình một cách dễ
dàng và nhanh chóng. Khi người chủ thẻ có nhu cầu rút tiền, họ chỉ cần mang
thẻ ATM đến bất cứ máy ATM nào gần nhất. Khách hàng chỉ việc ấn thẻ ATM
vào máy, bấm mã số và yêu cầu số tiền mình cần rút, mọi thao tác chỉ diễn ra
trong vòng từ 30 giây đến 1 phút.

* Gửi tiền: Đây là dịch vụ mà ngân hàng Đông Á là ngân hàng đầu tiên
trong nước cho phép khách hàng của mình gửi tiền qua thẻ ATM mà không phải
đến trực tiếp ngân hàng. Đây là một tiện ích nhằm nâng cao giá trị sử dụng của
thẻ ATM đồng thời tạo được ưu thế cho thẻ ATM của ngân hàng trên thị
trưòng thẻ hiện nay..

* Thanh toán các dịch vụ: Đây là một tiện ích góp phần phục vụ tốt hơn
cuộc sống của con người vì nó tiết kiệm được thời gian, công sức và chi phí


Trang 14
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

cho người sử dụng. Người sử dụng có thể trả các khoản chi phí dịch vụ của gia
đình như: điện, nước, điện thoại, phí internet, đóng bảo hiểm, thậm chí cả việc
ủng hộ các quỹ từ thiện bằng cách chuyển khoản qua chính thẻ ATM của mình.
Điều này sẽ giúp người dân thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt. Hiện nay các
ngân hàng đang tìm cách để liên kết với các công ty điện lực, cấp nước, điện
thoại… để tiến hành đưa dịnh vụ này vào phục vụ khách hàng mà đi đầu là
ngân hàng Đông Á. Trên thực tế, các công ty điện thoại, điện, nước..hoàn toàn
có khả năng uỷ thác cho ngân hàng thu tiền dịch vụ hàng tháng của khách hàng.
Giấy báo tiền điện, nước…được gửi trực tiếp đến ngân hàng, ngân hàng sẽ
thanh toán cho các công ty, cuối tháng ngân hàng sẽ gửi bản sao kê các loại tiền
dịch vụ đã được khấu trừ cho khách hàng của mình là xong. Điều này cũng giúp
các công ty tiết kiệm được thời gian công sức và chi phí cho việc thu tiền hàng
tháng theo cách thủ công.

+ Khi thanh toán hoá đơn: Khách hàng bấm phím “Thanh toán hoá đơn”
máy sẽ yêu cầu chọn loại dịch vụ cần thanh toán (điện, nước, điện thoại, …).
Bấm phím tương ứng mà hình sẽ xuất hiện chọn nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ:
MobiFone, Vinaphone, Manulife…). Máy yêu cầu nhập số tham chiếu (hợp
đồng, mã khách hàng, số thuê bao, …) bấm ENTER/NHẬP.

Máy yêu cầu xác nhận lại số tham chiếu-bấm ENTER/NHẬP. Máy yêu
cầu nhập số tiền muốn thanh toán-bấm ENTER/NHẬP. Màn hình xuất hiện
“xác nhận số tiền bạn vừa thanh toán số tiền X cho dịch vụ Y với số tham
chiếu Z” và hỏi “Bạn có muốn in hoá đơn giao dịch”, bấm phím “Có” hoặc
“Không”, nếu có chờ nhận hoá đơn tại “Khe hoá đơn”…

Danh mục các dịch vụ mà chủ thẻ có thể thanh toán qua ATM được hiển
thị ngay trên máy ATM. Chủ thẻ đa năng của ngân hàng Đông Á có thể thanh
toán tiền bảo hiểm, nước, điện, điện thoại,…Chủ thẻ VCB có thể thanh toán
qua ATM cho các hoá đơn dịch vụ sinh hoạt như: điện thoại cố định, thuê bao di
động trả sau, tiền phí bảo hiểm, tiền điện…Trong đó riêng thanh toán tiền
MobiFone thì chủ thẻ phải đăng ký qua tin nhắn để được cấp pin và số pin này
để nhập vào khi thanh toán.




Trang 15
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Lưu ý: Khi chuyển khoản, mua thẻ điện thoại, thanh toán dịch vụ… chủ
thẻ phải nhớ và bấm đúng tài khoản sẽ chuyển, công ty cung cấp dịch vụ viễn
thông, số hợp đồng… vì tiền sẽ từ tài khoản của chủ thẻ lập tức chuyển vào
tài khoản đến hoặc của nhà cung cấp dịch vụ.

+ Thanh toán tự động: ngoài ra, ở một số ngân hàng chủ thẻ có thể thanh
toán tiền dịch vụ mà không cần đến ATM. Như ở ngân hàng Đông Á có dịch vụ
thanh toán tự động tiền điện, nước, điện thoại/internet, tiền bảo hiểm qua thẻ
Đông Á. Chủ thẻ chỉ cần đăng ký một lần tại ngân hàng, thủ tục là giấy thông
báo hoặc hoá đơn kỳ trước. Hiện ngân hàng Đông Á đã hợp tác được với các
đơn vị để triển khai chương trình thanh toán các dịch vụ tự động cho khách
hàng…

Đến kỳ thanh toán, căn cứ trên hồ sơ nhờ thu của bên cung cấp dịch vụ
gửi qua, ngân hàng tự động trích tiền từ tài khoản thẻ của khách hàng để thanh
toán cho kỳ hoá đơn dịch vụ đó, hoá đơn sẽ được gửi đến khách hàng sau.

* Chuyển khoản: Ngoài việc gửi tiền, rút tiền và thanh toán các chi phí
dịch vụ của gia đình, thẻ ATM còn có chức năng chuyển khoản theo yêu cầu
của khách hàng trở nên nhanh chóng, an toàn và tiện lợi.

* An toàn và có khả năng sinh lời: Thẻ ATM còn có tác dụng như một
người bảo vệ túi tiền cho khách hàng, bởi chỉ duy nhất chủ thẻ mới biết mã số
để rút tiền. Ngay cả trong trường hợp chủ thẻ đánh mất thẻ của mình thì người
khác cũng không thể rút tiền trong tài khoản nếu không biết mã số. Hơn nữa, do
không giữ quá nhiều tiền mặt trong người nên khách hàng cũng không sợ mất
mát do trộm cắp. Bên cạnh đó việc có thể thường xuyên kiểm tra các khoản
tiền đã được sử dụng qua thẻ ATM sẽ giúp người chủ thẻ quản lý tốt túi tiền
của mình và có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Một điều hết sức có lợi cho người sử
dụng thẻ ATM được tính theo mức lãi xuất tiền gửi không kỳ hạn là 0.02%
tháng.

2.2.4.2 Đối Với Các Doanh Nghiệp
Thẻ ATM không chỉ đem lại nhiều tiện ích cho cá nhân người sử dụng mà
đây còn là một lời giải cho bài toán khó trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh bằng cách giảm thiểu chi phí trong việc trả lương của doanh

Trang 16
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

nghiệp. Do đó ngày càng có nhiều doanh nghiệp thực hiện việc trả lương cho
nhân viên qua thẻ ATM vì nhiều tiện lợi cho cả người phát lương và người lĩnh
lương.

* Tiện lợi trong việc sử dụng dịch vụ trả lương qua thẻ: So với hình thức
chi trả lương thủ công như lâu nay thì việc chi trả lương qua tài khoản tiện lợi
hơn nhiều. Vì các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mở tài khoản cho nhân viên
của mình tại ngân hàng và chuyển bảng lương của doanh nghiệp vào mỗi kỳ
phát lương cho ngân hàng, ngân hàng sẽ tự động hoạch toán và chuyển số
lương tương ứng vào tài khoản của từng nhân viên.

* Tiết kiệm được thời gian và chi phí: Việc trả lương qua thẻ ATM sẽ
giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian do không phải trực tiếp
phát lương đến từng nhân viên như trước đây và hơn nữa khi thực hiện trả
lương qua thẻ doanh nghiệp cũng giảm được chi phí cho bộ máy phát lương,
quản lý tốt ngân quỹ trong chi trả và tránh tình trạng tiền giả.

* Quản lý tốt tiền lương cho công nhân: Khi các doanh nghiệp sử dụng
dịch vụ trả lương qua thẻ ATM thì ngoài việc các doanh nghiệp có lợi thì công
nhân nhận lương từ thẻ ATM cũng có lợi về nhiều mặt. Trước hết là các công
nhân sẽ được hưởng mọi tiện ích từ chiếc thẻ ATM và họ có thể rút tiền theo
nhu cầu chi tiêu của mình. Hơn nữa tiền lương còn lại trên tài khoản thẻ ATM
của họ sẽ được bảo đảm an toàn và được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
theo quy định của ngân hàng. Thêm vào đó việc sử dụng thẻ ATM trong việc chi
trả lương giúp bảo mật về tiền lương, thưởng và các khoản tiền phụ cấp khác
của công nhân, điều này sẽ tránh được chuyện ganh tỵ lẫn nhau trong nội bộ.
Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến các doanh nghiệp quay sang sử
dụng dịch vụ.

2.2.4.3 Đối Với Các Ngân Hàng
Thẻ ATM ra đời không chỉ mang lại tiện ích cho người sử dụng mà nó còn
góp phần thúc đẩy sự phát triển vững mạnh cho hệ thống tài chính của một
quốc gia nói chung và các ngân hàng nói riêng.

* Đối với ngân hàng trung ương: Tuy ngân hàng trung ương không trực
tiếp tham gia vào dịch vụ thẻ ATM nhưng việc người dân sử dụng thẻ ATM lại

Trang 17
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của ngân hàng trung ương cũng như hệ
thống tài chính của một quốc gia, đặc biệt là đối với một nước đang phát triển
và trên 90% người dân có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán. Việc các
ngân hàng thương mại huy động được vốn từ việc mở tài khoản thanh toán cho
thẻ ATM đã làm tăng mức dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại tại
ngân hàng Trung ương.

Hơn nữa, việc người dân mở tài khoản ở ngân hàng để sử dụng thẻ ATM
sẽ làm hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông. Vì việc thanh toán bằng
tiền mặt sẽ làm chậm vòng quay của đồng tiền, làm chậm tốc độ phát triển
của nền kinh tế. Trong khi thanh toán bằng thẻ ATM thì chỉ bằng vài động tác
nhập dữ liệu thì tiền đã được chuyển từ nơi này sang nơi khác. Hơn nữa việc
thanh toán bằng chuyển khoản thông qua thẻ ATM sẽ làm tăng khả năng tạo
vốn cho ngân hàng. Ngoài ra việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp ngân
hàng trung ương giảm được gánh nặng trong việc in tiền, vận chuyển, cất trữ
bảo quản tiền mặt cũng như tránh được nạn tiền giả. Việc hạn chế sử dụng
tiền mặt trong lưu thông chuyển qua sử dụng thẻ ATM sẽ giúp nhà nước kiểm
soát chặt chẽ hơn trong vấn đề thu thuế của các doanh nghiệp cũng như cá
nhân, đồng thời dễ dàng phát hiện những vấn đề tiêu cực của xã hội như nạn
rửa tiền hoặc tham nhũng. Hơn nữa việc sử dụng phương thức thanh toán
không dùng tiền mặt sẽ giúp ngân hàng trung ương quản lý tốt lượng tiền lưu
thông và qua đó sẽ kịp thời có những chính sách tiền tệ và đưa ra những biện
pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và xây dựng một hệ
thống tài chính vững mạnh.

* Đối với các ngân hàng thương mại: Có thể nói việc xuất hiện của thẻ
ATM trong thanh toán đã góp phần làm cho các dịch vụ tài chính tiền tệ trở nên
đa dạng, phong phú và hiệu quả hơn. Ngân hàng có thể phục tốt hơn các nhu
cầu giao dịch ngày càng cao của khách hàng trong nền kinh tế phát triển như
hiện nay. Việc các ngân hàng đua nhau phát triển thẻ ATM ở Việt Nam sẽ giúp
các ngân thu hút những khách hàng đang có nhu cầu sử dụng thẻ ATM. Bên
cạnh đó việc đưa dịch vụ thẻ ATM vào phục vụ nhu cầu giao dịch của người
dân đòi hỏi các ngân hàng phải tự trang bị và nâng cao khả năng tự động hoá


Trang 18
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

trong giao dịch và chất lượng phục vụ khách hàng trong và ngoài nước, nhất là
khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với thế giới và ngành du lịch Việt
Nam đang phát triển mạnh mẽ như hiên nay. Đây là một bước tiến tất yếu phù
hợp với yêu cầu của một một nền kinh tế công nghiệp hoá hiện đại hoá. Bên
cạnh đó việc các ngân hàng đưa dịch vụ thẻ ATM vào khai thác sẽ mở ra một
kênh huy động vốn lớn cho ngân hàng. Có thể số lượng tiền gửi trong tài khoản
của mỗi thẻ ATM không lớn, nhưng nếu tính trên tổng số thẻ ATM mà ngân
hàng phát hành thì đây là một số tiền đáng kể với các ngân hàng. Theo thống kê
của báo Tuổi Trẻ Net 19/10/2004 thì với 360.600 tài khoản cá nhân được mở tại
các ngân hàng thì số tiền bình quân trên các tài khoản này là 5.400 tỷ đồng.
Trong đó ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chỉ với
khoảng 11.000 tài khoản của các cán bộ, nhân viên và sinh viên của trường Đại
học Kinh Tế thành phố HCM thì số dư bình quân trên các tài khoản này là từ 30
đến 40 tỷ đồng. Còn đối với ngân hàng Đông Á khi phát hành được khoảng
63.000 thẻ ATM thì số tiền bình quân trên tài khoản của khách hàng là khoảng
60 tỷ đồng. Từ các số liệu trên có thể thấy rằng thẻ ATM là một kênh huy
động vốn hết sức hiệu quả.

2.2.5 Nhược Điểm Của Thẻ ATM
2.2.5.1 Thẻ ATM Chưa Thật Sự An Toàn
Có thể nói, ngày nay văn minh thanh toán không dùng tiền mặt đang được
phổ biến rộng rãi ở khá nhiều nước trên toàn thế giới. Một trong những công
cụ góp phần làm giảm việc thanh toán tiền mặt chính là những chiếc thẻ nhỏ
gọn và xinh xắn, được coi như là những “chiếc ví điện tử”. Tuy nhiên, trong
thời đại khoa học cực thịnh công nghệ cực thịnh như hiện nay và internet được
phổ cập rộng rãi và toàn cầu thì việc bảo mật cho những chiếc thẻ đang là một
vấn đề làm đau đầu các chuyên gia trong ngành ngân hàng bởi nạn làm thẻ giả
và đánh cắp thông tin cá nhân của thẻ qua các máy ATM đang ngày càng được
phổ biến nhân rộng với những cách thức tinh vi hơn điều đó đã được tổ chức
thẻ quốc tế cảnh báo từ rất lâu.

Tuy mới phát triển chưa lâu song có nhiều vụ khiếu kiện về việc mất tiền
trong tài khoản thẻ ATM mà “khổ chủ” - người sử dụng không biết kêu ai đành



Trang 19
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

phải ngậm đắng chịu thiệt thòi. Một trong những nguyên nhân chính là tính an
toàn của dịch vụ thẻ chưa được đảm bảo. Theo dự báo của các chuyên gia, đây
chính là cuộc chiến mới của các ngân hàng khi chấp nhận vào cuộc chơi với
dịch vụ thẻ.

Việc làm giả thẻ khá phổ biến trên thế giới và chắc chắn các dịch vụ thẻ
của Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Nhưng điều quan trọng hơn mà người
dân quan tâm là các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của khách hàng lại
chưa có. Chính vì thế, khi các ngân hàng Việt Nam có máy ATM bị rút tiền bằng
thẻ tín dụng quốc tế giả thì họ không phải chịu trách nhiệm gì về thiệt hại tài
chính do thẻ tín dụng quốc tế giả gây nên bởi đó là giao dịch “hợp pháp”. Thực
chất, thẻ tín dụng chỉ là một tấm thẻ cung cấp các thông tin cho hệ thống phần
mềm máy tính sử lý, nếu các thông tin đó là đúng thì máy tính sẽ tiến hành giao
dịch.

Ngoài ra, hiện nay ngân hàng và người sử dụng vẫn phải giao dịch với
nhau trên cơ sở pháp lý là quy chế phát hành thẻ đã ban hành từ trước đó.Ngân
hàng nhà nước chưa có bất kỳ quy định nào ràng buộc các ngân hàng cung cấp
dịch vụ thẻ phải trang bị camera an ninh tại nơi đặt máy ATM.

2.2.5.2 Dịch Vụ Thẻ ATM Còn Yếu
Gần đây các ngân hàng đã lắp đặt thêm nhiều máy ATM trên toàn quốc.
Tuy nhiên dường như hệ thống giao dịch điện tử qua máy ATM vẫn chưa thực
sự sẵn sàng vào cuộc. Đó là chưa kể đến những thách thức không dễ khắc phục
càng làm hạn chế các tính năng của thẻ. Các ngân hàng phát hành thẻ chưa liên
kết với nhau thành một hệ thống nên thẻ của ngân hàng này phát hành không sử
dụng được tại máy ATM của ngân hàng khác. Do vậy dẫn đến tình trạng tại
cùng một địa điểm nhưng phải có vài máy ATM của từng ngân hàng khác nhau.
Mặc dù vào ngày 21/4/2007 công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia
Việt Nam đã đi vào hoạt động nhưng nó cũng chỉ mới có 3 ngân hàng tham
gia ,bên cạnh đó còn có 2 liên minh khác của Vietcombank và Vietnam Bank
Card tự thiết lập một hệ thống riêng nhưng về cơ bản vẫn dựa trên hạ tầng đã
có. Điều này cho thấy thị trường thẻ Việt Nam vẫn còn trong tình trạng phân
tán và chưa thể phát huy sức mạnh thực sự trong thời gian tới


Trang 20
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Trong khi chức năng chính của thẻ là thanh toán thì đa số người tiêu dùng
hiện nay chỉ dùng thẻ để rút tiền mặt tại các máy ATM, từ đó dẫn đến hiểu sai
chức năng của thẻ. Các địa điểm có lượng giao dịch đòi hỏi thanh toán nhiều
như siêu thị, trung tâm thương mại, nhà hàng hiện nay vẫn chưa có các máy đọc
thẻ. Ngay tại một số siêu thị lớn có máy đọc thẻ thì cũng không được trang bị
tại tất cả các quầy thu ngân, do đó khách hàng vẫn gặp khó khăn khi muốn trả
tiền bằng thẻ. Một bất cập khác của thẻ ATM là chưa thật sự có nhiều tiện
ích, hấp dẫn khách hàng. Mảng phát triển mạnh nhất của dịch vụ thẻ này là trả
lương qua tài khoản. Tuy nhiên, mới chỉ có các công ty lớn, tập đoàn, liên doanh
và các tổ chức nước ngoài “sài” dịch vụ này. Các tiện ích khác như chuyển
khoản, thanh toán bảo hiểm, tiền điện thoại, tiền điện… hiện chỉ có một số
ngân hàng áp dụng điển hình là ngân hàng Đông Á EAB.

2.2.5.3 Hệ Thống ATM Thường Xuyên Bị Quá Tải

Trong những năm gần đây, mặc dù thị trường thẻ ATM phát triển nhanh
chóng nhưng số lượng thẻ ATM phát hành còn rất thấp so với tiềm năng thị
trường. Tuy nhiên, hệ thống ATM đã bắt đầu có dấu hiệu quá tải.

Hiện nay các ngân hàng đang nỗ lực chạy đua trong việc phát hành thẻ, số
lượng thẻ ATM không ngừng tăng lên và hệ thống máy ATM cũng được các
ngân hàng chú trọng đầu tư để phục vụ nhu cầu sử dụng thẻ ATM của khách
hàng. Tuy nhiên số lượng máy ATM hiện có và mạng lưới chấp nhận thẻ vẫn
còn khá ít đã gây ra tình trạng quá tải trong hệ thống ATM nhất là vào những
lúc cao điểm như ngày lễ, tết khi mà nhu cầu rút tiền của người dân tăng cao.
Điều này gây khó khăn cho người sử dụng và gây tâm lý sử dụng thẻ ATM
không tiện lợi so với sử dụng tiền mặt. Ngoài ra việc đặt máy ở một số nơi
công cộng như: siêu thị, nhà hàng, sân bay, nhà ga, khu công nghiệp, trường đại
học… cũng gây ra hạn chế về thời gian hoạt động do các máy không thể đặt ở
những nơi mở vì lý do an ninh không đảm bảo nên các máy ATM chỉ có thể
hoạt động trong giờ hành chính (nếu đặt trong các ngân hàng) hoặc đến 9-10
giờ tối (nếu đặt ở siêu thị, nhà hàng, trung tâm thương mại…). Vì vậy trên lý
thuyết máy ATM hoạt động 24/24 giờ hiện nay chưa được thực hiện. Hơn nữa,
việc các máy ATM của Việt Nam hay bị hỏng cũng là một vấn đề gây trở ngại


Trang 21
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

làm nản lòng người sử dụng. Bên cạnh đó việc thẻ ATM do ngân hàng nào phát
hành thì chỉ có máy của ngân hàng đó mới sử dụng được cũng là một nguyên
nhân góp phần làm quá tải hệ thống máy ATM trong thời gian qua.

Các ngân hàng trong thời gian qua liên tục đầu tư để gia tăng số lượng máy
ATM nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng của khách hàng. Thế nhưng hệ thống
máy ATM của các ngân hàng phân bố chưa đồng đều và hầu như chỉ phân bố ở
thành phố lớn như thành phố HCM và Hà Nội. Tại các thành phố này, các máy
ATM cũng chỉ tập trung ở những nơi giao dịch của ngân hàng là chủ yếu. Thêm
vào đó hệ thống các điểm chấp nhận thẻ tương đối ít điều này đã làm gây tâm
lý ngại sử dụng thẻ ở khách hàng.

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG THẺ ATM TẠI VIỆT NAM

3.3.1 Phát Triển Dịch Vụ
Hệ thống tài khoản và thẻ hiện nay được liên tục cải thiện và phát triển
về dịch vụ. Phát triển các dịch vụ Ngân hàng là giải pháp cần thiết. Trước đây
đã có những quy định bắt buộc phải thanh toán qua Ngân hàng. Nhưng kết quả
là mệnh lệnh hành chính đã chứng tỏ không hiệu quả và đến nay các giải pháp
thị trường đã vào cuộc. Khi mà dịch vụ Ngân hàng đã trở nên tiện lợi thì chẳng
cần mệnh lệnh, người ta cũng thanh toán qua Ngân hàng. Tuy nhiên việc phát
triển dịch vụ trong giai đoạn này cần tính đến vấn đề hội nhập.

3.3.2 Mở Rộng Mạng Lưới
Để tăng sự tiện lợi cho người sử dụng, một giải pháp đơn giản là các
Ngân hàng cần tăng cường liên kết hệ thống thanh toán thẻ với nhau, mở rộng
hơn các điểm chấp nhận thẻ nhằm tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô. Câu nói
ngày xưa: “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao” vẫn
còn đúng trong trường hợp này.

Xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất, kết nối các hệ thống
máy tính ATM của các liên minh thẻ hiện hành thành một hệ thống thống nhất,
đảm bảo thẻ do một ngân hàng phát hành có thể sử dụng ở nhiều máy ATM và
POS của các ngân hàng khác.


Trang 22
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

33.3 Cải Tiến Công Nghệ
Việc quá tải mạng, đường truyền trục trặc xảy ra thường xuyên sẻ ảnh
hưởng không nhỏ đến người sử dụng. Giải pháp hạn chế các sự cố là đầu tư
nâng cấp hệ thống xử lý mới để tăng tốc độ xử lý cho phù hợp. Ngân hàng cần
có đường truyền dự phòng tốt nhất là sử dụng riêng. Chất lượng giao dịch
ATM phụ thuộc nhiều vào đường truyền, việc nâng cao chất lượng đường
truyền cần được cải thiện. Ngoài ra Ngân hàng cần tăng cường hơn nữa tính
năng cho thẻ. Thẻ ATM có nhiều tính năng sẽ thu hút được nhiều đối tựơng sử
dụng hơn.

Mục tiêu của các ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới là phát triển
dịch vụ thẻ, dựa trên cơ sở công nghệ hiện đại, ngoài ra còn hướng tới phục vụ
khách hàng các máy ATM thế hệ mới được cải tiến mẫu mã, tính năng. Nếu
như các dòng máy ATM trước đây chỉ có tính năng chính là rút tiền, thì nay có
thêm multimedia (nhạc, tiếng động), màn hình màu sắc sinh động và thêm rất
nhiều tính năng Có loại được tích hợp thêm camera hoặc gương để theo dõi
phía sau, đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

3.3.4 Đảm Bảo Quyền Giao Dịch Cho Khách Hàng
Vì quyền lợi của khách hàng, đơn vị cung ứng dịch vụ phải hạn chế đến
mức thấp nhất khả năng xảy ra gián đoạn, hết tiền,… trong giao dịch. Gián
đoạn trong giao dịch ATM sẽ gây hậu quả lớn hơn nhiều so với nghẽn mạch
của điện thoại di động. nó ảnh hưởng đến cả sức mua của thị trường đặc biệt
trong những ngày lễ, tết hay cuối tuần. Và để bảo vệ quyền lợi của người sử
dụng cần có sự can thiệp của Nhà nước.

Không chỉ ở Việt Nam các Ngân hàng trên thế giới có cung cấp dịch vụ thẻ
đều phải xử lý các trường hợp mất tiền trên tài khoản của khách hàng theo
nguyên tắc “khách hàng luôn đúng”. Nếu khách hàng cố tình gian lận thì pháp
luật sẽ sử lý. Nhưng Ngân hàng phải tin rằng khách hàng luôn đúng. Muốn vậy
tất cả các Ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ đều phải mua bảo hiểm rũi ro trong
trường hợp khách hàng bị mất tiền. Điều đáng tiếc là Việt Nam đã có các liên
minh thanh toán thẻ nhưng giữa các thành viên chưa có phối hợp tốt với nhau
trong việc chia sẻ thông tin nhằm đảm bảo an ninh giao dịch, bảo đảm quyền


Trang 23
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

lợi cho người sử dụng.

3.3.5 Đảm Bảo An Toàn Cho Người Sử Dụng Thẻ
Hiện nay việc mất tiền từ thẻ rút tiền tự động (ATM) tăng dần và gây
nhiều xôn xao cho thị trường thẻ. Do đó các ngân hàng cần tăng cường các biện
pháp ngăn chặng tình trạng trên. Khi người sử dụng đã cảm thấy an toàn thì nhu
cầu sử dụng sẽ tăng lên. Muốn vậy các Ngân hàng có thể áp dụng nhiều
phương pháp ngân chặng như: lắp đặt camera tại các máy rut tiền, thông tin cho
người sử dụng biết được nhiều thủ đoạn gian lận, đánh cấp có thể xảy ra từ
đó đề phòng…

Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã sử dụng thẻ chíp là loại thẻ được
đánh giá là có độ bảo mật an toàn cao.

PHẦN: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.1 KẾT LUẬN
Với hiện trạng phát hành và sử dụng thẻ ATM tại Việt Nam như trên ta
thấy rằng tốc tăng trưởng hiện nay là rất lớn, số lượng cả chất lượng của máy
ATM càng được gia tăng. Và chiều hướng phát triển này đã có nhiều thuận lợi.
Để phục vụ tốt nhất cho người sử dụng và mở rộng hệ thống các Ngân hàng đã
áp dụng nhiều chiến lược. Mỗi Ngân hàng có hệ thống chiến lược mở rộng
riêng đó là giải pháp nhằm tạo sự cạnh tranh của các Ngân hàng.

Hiện nay các Ngân hàng đã không ngừng mở tài khỏan, phát hành thẻ ATM
ra thị trường. Tuy nhiên số lượng máy có tăng nhưng cũng chưa đáp ứng đủ so
với tốc độ gia tăng của số người sử dụng thẻ. Điều này đòi hỏi các Ngân hàng
cần triển khai nhiều giải pháp hơn, tăng cường số lượng, chất lựơng của máy
hơn, có như vậy thì thị trường thẻ mới có thể đạt được nhiều thành quả.

Các hạn chế của việc sử dụng thẻ sẽ được khắc phục. Tính năng của thẻ
sẽ được tăng cường. Mỗi người chúng ta, đã đến lúc cần có một chiếc thẻ
trong tay vì điều đó không phải đơn thuần chỉ là đem lại lợi ích cho bản thân mà
còn rất cần thiết và có lợi cho toàn xã hội, không gây lãng phí xã hội.

1.2 KIẾN NGHỊ
1.2.1 Đối Với Các Ngân Hàng Thương Mại

Trang 24
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

Để nâng cao chất lượng phục vụ và vị thế của ngân hàng trên thị trường
thẻ ATM nhằm thu hút khách hàng cho mình thì trước mắt các ngân hàng phải
tích cực nâng cao những tiện ích cho thẻ ATM, hoàn thiện dần những tiện ích
mà thẻ ATM còn thiếu sót do những vướng mắc trong việc liên kết giữa các
ngân hàng và các công ty dịch vụ có liên quan. Bên cạnh đó việc sớm tham gia
Banknet nhằm giúp người sử dụng có thể sử dụng rộng rãi hệ thống máy ATM
trên cả nước, khắc phục tình trạng thẻ của ngân hàng nào chỉ sử dụng ở máy
của ngân hàng đó để hạn chế tình trạng qúa tải như hiện nay.

Để thị trường thẻ ATM của Việt Nam phát triển đúng tiềm năng một cách
ổn định và bền vững thì các ngân hàng thương mại Việt Nam cần có những
chiến lược phát triển xa hơn không chỉ nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường
mà còn nâng cao tính cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài. Trước mắt các
ngân hàng nên tiếp cận các doanh nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần, nhà
máy, các trường cao đẳng và đại học để giới thiệu tổng quan về thẻ, những
tiện ích của thẻ đến từng đối tượng có nhu cầu.

1.2.2 Đối Với Ngân Hàng Trung Ương
Phải có vai trò tổ chức đối với việc kết nối hệ thống máy ATM nhằm xác
định giá trị và quyền lợi của các hệ thống đơn lẻ khi tham gia vào hệ thống
chung. Có như vậy khách hàng mới được hưởng lợi, các ngân hàng tiết kiệm
được chi phí đầu tư, nhanh chóng phát triển khách hàng sử dụng máy ATM và
các dịch vụ hỗ trợ đi cùng, nhằm thu hồi vốn đầu tư

1.2.3 Đối Với Chính Phủ
Trước hết cần sớm xác định và thống nhất quan điểm để hoàn thiện, xây
dựng cơ chế chính sách về tổ chức, quản lý, điều hành hệ thống thanh toán
trong toàn bộ nền kinh tế xã hội. Không chỉ dừng lại hệ thống thanh toán qua
ngân hàng, sớm ban hành luật thanh toán để sử dụng tổng thể phạm vi và đối
tượng thanh toán. Phải có những kích thích mang tính đòn bẩy khuyến khích
thanh toán không dùng tiền mặt. Ứng dụng công nghệ thanh toán hiện đại, tập
trung, tương thích ngang tầm trong phạm vi toàn quốc với trung tâm thanh toán
là ngân hàng trung ương. Đây là vấn đề hết sức quan trọng mang tính quyết




Trang 25
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

định cho sự phát triển của hệ thống thanh toán quốc gia cũng như phát triển
việc sử dụng thẻ ATM

1.2.4 Đối Với Các Ngành Các Cấp
Cần có sự ủng hộ cho ngành ngân hàng thông qua việc chi trả lương cho
cán bộ công nhân viên qua hệ thống ngân hàng. Từ đó, cá nhân có thể sử dụng
các dịch vụ ngân hàng hiện đại như thẻ ATM. Các cơ quan cung cấp điện,
nước, ga, viễn thông cần hỗ trợ cho ngân hàng trong việc thanh toán chi trả cho
các loại tiền dịch vụ này, chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Các trường
học, học viện, trường đại học … cần hỗ trợ tuyên truyền cho sinh viên mở tài
khoản tại các ngân hàng và sử dụng thẻ ATM có như vậy mới tạo điều kiện,
khuyến khích khách hàng cá nhân sử dụng thẻ ATM.




TÀI LIỆU THAM KHẢO



Báo tuổi trẻ: www.tuoitre.com.vn

Báo thanh niên: www.thanhnien.com.vn

Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam: www.vietcombank.com.vn

Ngân Hàng Đông Á: www.eab.com.vn

Ngân Hàng Nông Nghiệp www.Agribank.com.vn

Sài Gòn Công Thương Ngân hàng: www.saigonbank.com.vn

Và các trang web: www.google.com.vn

www.vietnamnet.vn

www.vietnamcard.com.vn

www.vir.com.vn

www.vneconomy.com.vn

www.vnn.vn


Trang 26
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

www.gso.gov.com.vn




Trang 27
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

MỤC LỤC

Phần mở đầu..............................................................................................1
1.1 Lí do chọn đề tài.....................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu...............................................................1
1.3 Phương pháp nghiên cứu........................................................2
1.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu................................................2


Phần nội dung............................................................................................3
Chương 1 Sơ lược về thẻ ATM............................................................3
1.1.1 Khái niệm.........................................................................3
1.1.2 Nguồn gốc ra đời.............................................................3
1.1.3 Vai trò của thẻ ATM........................................................4
1.1.3.1 Đối với người sử dụng.............................................4
1.1.3.2 Đối với ngân hang.....................................................4
1.1.3.3 Đối với nền kinh tế..................................................4
1.1.4 Tiện ích và hạn chế khi sử dụng thẻ ATM....................4
1.1.4.1 Tiện ích.....................................................................4
2.1.4.2 Hạn chế.....................................................................5


Chương 2 Đánh giá thực trạng phát hành thẻ của các ngân hàng tại
Việt Nam thời gian qua ............................................................................7
2.2.1 Quy mô số lượng phát hành và tốc độ tăng trưởng........7
2.2.2 Chiến lược và biện pháp mở rộng thị trường..............12
2.2.3 Liên minh thanh toán thẻ...............................................13
2.2.4 Ưu điểm của thẻ ATM..................................................14
2.2.4.1 Đối với người sử dụng...........................................14
2.2.4.2 Đối với các doanh nghiệp.......................................16
2.2.4.3 Đối với các ngân hàng............................................17
2.2.5 Nhược điểm của thẻ ATM...........................................19
2.2.5.1 Thẻ ATM chưa thật sự an toàn..............................19
2.2.5.2 Dịch vụ thẻ ATM còn yếu.....................................20


Trang 28
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành

2.2.5.3 Hệ thống ATM thường xuyên bị quá tải...............21


Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thẻ ATM tại Việt
Nam ...........................................................................................................22
3.3.1 Phát triển dịch vụ...........................................................22
3.3.2 Mở rộng mạng lưới.......................................................22
3.3.3 Cải tiến công nghệ........................................................22
3.3.4 Đảm bảo quyền giao dịch cho khách hàng...................23
3.3.5 Đảm bảo an toàn cho người sử dụng...........................23


Phần: Kết luận và kiến nghị...............................................................24
1.1 Kết luận................................................................................24
1.2 Kiến nghị...............................................................................24
1.2.1 Đối với các ngân hàng thương mại..............................24
1.2.2 Đối với ngân hàng trung ương......................................25
1.2.3 Đối với chính phủ..........................................................25
1.2.4 Đối với các ngành các cấp.............................................25
Liệu
Tài Tham
Khảo…………………………………………….......26




Trang 29
SVTH:Lê Anh Thuấn
GVHD: Đinh Công Thành




TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA HỌC MÁC- LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH




TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ


ĐỀ TÀI:

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT
NAM KHI GIA NHẬP WTO


Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiệ :
n
Th.s.CHÂU VĂN LỰC LÂM TRƯỜNG THỌ
MSSV: 4053637
MSL: KT0502A1




CẦN THƠ 2006



Trang 30
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản