Thuốc điều trị hen phế quản ở trẻ em

Chia sẻ: nuquaisaigon

Cho đến nay, hen phế quản vẫn là bệnh lý hô hấp phổ biến nhất đối với trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt tỷ lệ gặp rất cao ở các nước phát triển. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, gia tăng ô nhiễm môi trường sống, tỷ lệ hen phế quản ở trẻ em trên thế giới ngày càng tăng. Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính đường thở có sự tham gia của nhiều loại tế bào viêm và các thành phần của tế bào: chủ yếu là tế bào mast, bạch cầu...

Nội dung Text: Thuốc điều trị hen phế quản ở trẻ em

Thuốc điều trị hen phế quản ở trẻ em




Bệnh nhân hen phế quản nên thường xuyên mang theo thuốc xịt giãn phế

quản.


Cho đến nay, hen phế quản vẫn là bệnh lý hô hấp phổ biến nhất đối với

trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt tỷ lệ gặp rất cao ở các nước phát triển.

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, gia tăng ô nhiễm môi trường sống, tỷ lệ

hen phế quản ở trẻ em trên thế giới ngày càng tăng.


Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính đường thở có sự tham gia của

nhiều loại tế bào viêm và các thành phần của tế bào: chủ yếu là tế bào mast, bạch

cầu ái toan, lympho T, đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính và các tế bào biểu

mô phế quản. Ở những cơ địa nhạy cảm, quá trình viêm này gây khó thở, thở rít,

ho, đau tức ngực từng đợt tái diễn thường bị về đêm và sáng sớm. Những đợt này
thường bị tắc nghẽn đường thở có thể tự hồi phục hoặc do điều trị. Quá trình viêm

hay đi kèm với tăng tính phản ứng phế quản với nhiều tác nhân kích thích khác

nhau.


Tỷ lệ mắc hen ở trẻ em theo các nghiên cứu gần đây thì ở Australia và New

Zealand có tỷ lệ cao nhất (29 - 30%), còn các quốc gia khác (trong đó có nước ta)

tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 10 - 15%.


Cơn thở rít ở trẻ em: cơn khó thở rít hay gặp ở trẻ em, đặc biệt là khi có

nhiễm virut đường hô hấp. 1/3 số bệnh nhân sau này có thể bị hen nhưng thường

được chẩn đoán viêm phế quản co thắt. Chẩn đoán như thế dẫn đến điều trị không

thích hợp (dùng kháng sinh phối hợp với giảm ho) bệnh nhân dễ chuyển thành thể

hen nặng gây dị dạng lồng ngực, giảm phát triển cơ thể. Có 2 loại cơ địa kèm theo

thở rít ở trẻ em:


- Không có cơ địa dị ứng, chỉ bị thở rít khi có nhiễm virut đường hô hấp,

khi trẻ lớn hơn đường thở của trẻ phát triển thì tự khỏi.


- Có cơ địa dị ứng: cũng bị khó thở nặng hơn khi có nhiễm virut đường hô

hấp nhưng sẽ bị hen phế quản ở suốt thời kỳ trẻ con (nhóm này thường bị kèm

theo các bệnh dị ứng như: eczema, viêm mũi dị ứng, dị ứng với thức ăn hoặc các

dấu hiệu khác của dị ứng).
Cả 2 nhóm trên cần điều trị tích cực như hen phế quản thì có hiệu quả tốt,

vì vậy nhiều nước thống kê chung tỷ lệ trẻ em bị hen phế quản và trẻ thở rít.


Khi trẻ em có các triệu chứng sau phải nghĩ đến hen phế quản:


Trẻ bị thở khò khè trước 3 tuổi và:


- Có một yếu tố nguy cơ chính là cha mẹ bị hen phế quản hoặc bị chàm.


- Có 2 yếu tố nguy cơ phụ: tăng bạch cầu ái toan trong máu, khò khè dù

không bị cảm lạnh và viêm mũi dị ứng.


Những lưu ý khi điều trị


Có thể áp dụng điều trị thử theo hướng hen phế quản để hỗ trợ cho chẩn

đoán, khi trẻ trên 5 tuổi mới áp dụng đo thông khí phổi để chẩn đoán và theo dõi

tiến triển của bệnh.


Điều trị hen ở trẻ em cần chú ý điều trị dự phòng là quan trọng nhất, khi trẻ

có cơn hen cấp cần xử trí nhanh chóng và theo dõi chặt chẽ.
Hình ảnh phế quản bình thường (trên) và phế

quản bị co thắt (dưới).



Cần chú ý phát hiện dị nguyên của từng bệnh nhân và tránh tiếp xúc với các

dị nguyên đó, ví dụ: phấn hoa, bụi nhà, nấm mốc... giảm phơi nhiễm với các yếu

tố nguy cơ khi đã phát hiện được, tránh cho các cháu tiếp xúc với bụi khói, đặc

biệt là khói thuốc lá.


Bệnh nhân cần được tiêm phòng cúm hằng năm vào mùa thu.


Điều trị dự phòng tốt nhất bằng thuốc nhóm corticoid dạng hít (pulmicort,

flixotide) cho bệnh nhân hít qua buồng đệm (babyhaler) với liều ban đầu dùng liều

thấp. Tăng tới liều trung bình nếu hen chưa kiểm soát được. Liều cao corticoid

dạng hít là khi dùng ulmicort > 400 mcg/ngày, hoặc flixotide > 500 mcg/ngày.
Cần thận trọng khi hạ liều, cứ 3 tháng nếu bệnh được kiểm soát tốt mới hạ

liều, nếu hen không được kiểm soát thì phải tăng liều. Khi điều trị 1 năm mà bệnh

hen phế quản được kiểm soát hoàn toàn thì có thể ngừng điều trị dự phòng, tránh

ngừng thuốc điều trị dự phòng đột ngột vì triệu chứng của bệnh có thể tái phát

nặng.


- Thuốc nhóm chủ vận b2 tác dụng kéo dài chỉ nên dùng dưới dạng phối

hợp với thuốc nhóm corticoid dạng hít như seretide, symbicort. Dùng dự phòng

trong trường hợp hen phế quản trẻ em đã dùng liều trung bình corticoid dạng hít

không kiểm soát được.


- Có thể dùng các thuốc nhóm kháng leucotriene ở những bệnh nhi mắc hen

phế quản nặng khó kiểm soát khi đã hít liều cao corticoide (pulmicort > 400

mcg/ngày, hoặc flixotide > 500 mcg/ngày).


- Điều trị cắt cơn hen tốt nhất là dùng thuốc nhóm chủ vận b2 tác dụng

nhanh (salbutamol, bricanyl dạng hộp xịt có liều định chuẩn, xịt mỗi lần 2 nhát

qua buồng đệm). Cha mẹ của bệnh nhi bị hen phế quản cần thường xuyên có thuốc

dự trữ để dùng cắt cơn hen cho trẻ khi cần. Tuy nhiên, nếu trẻ phải dùng thường

xuyên các thuốc cắt cơn này thì phải chú ý tăng liều thuốc dự phòng. Chú ý khi

thấy trẻ tím tái, thở rất nhanh (trên 70 lần/phút), khóc yếu ớt hoặc nói nhát ngừng,

xịt thuốc cắt cơn không đỡ đưa trẻ đến cấp cứu ở cơ sở y tế gần nhất càng sớm

càng tốt.
- Do có nhiều tác dụng phụ, nên các thuốc nhóm corticoid cần rất hạn chế

khi dùng đường toàn thân (uống hoặc tiêm) chỉ dùng trong đợt kịch phát nặng.

Thuốc cắt cơn nhóm xanthine không nên dùng cho trẻ em vì nhiều tác dụng phụ.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản