Thuốc điều trị rối loạn lipid máu

Chia sẻ: nuquaisaigon

Rối loạn lipid máu có thể là nguyên phát hoặc thứ phát. Đối với thể thứ phát, phải điều trị bệnh chính gây nên chứng đó (ví dụ bệnh đái tháo đường, cường giáp...) hoặc phải ngừng một số thuốc gây rối loạn lipid máu như hypothiazid, cyclosporin... Mục tiêu điều trị Mục tiêu điều trị chứng rối loạn lipid máu là đưa các thông số lipid về giới hạn bình thường hoặc gần bình thường. ...

Nội dung Text: Thuốc điều trị rối loạn lipid máu

Thuốc điều trị rối loạn lipid máu




Điều chỉnh chế độ ăn giúp điều chỉnh lipid máu. Nguồn: e-city.


Rối loạn lipid máu có thể là nguyên phát hoặc thứ phát. Đối với thể thứ

phát, phải điều trị bệnh chính gây nên chứng đó (ví dụ bệnh đái tháo đường,

cường giáp...) hoặc phải ngừng một số thuốc gây rối loạn lipid máu như

hypothiazid, cyclosporin...


Mục tiêu điều trị


Mục tiêu điều trị chứng rối loạn lipid máu là đưa các thông số lipid về giới

hạn bình thường hoặc gần bình thường.
Việc chọn mục tiêu điều trị thích hợp phải dựa vào việc phát hiện và đánh

giá tính chất của các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân như tiền sử có bệnh mạch

vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, tăng huyết áp, đái tháo đường, hút

thuốc lá, tình trạng béo, tuổi cao (trên 50 tuổi).


- Với các bệnh nhân có nguy cơ cao như suy mạch vành, nhồi máu cơ tim,

tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, đái tháo đường: chọn mục tiêu A.


- Với các bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ khác được xếp là nguy cơ thấp

hơn: chọn mục tiêu B.


Các biện pháp can thiệp


- Trước hết phải điều chỉnh chế độ ăn trong 2 - 3 tháng. Không quá vội

dùng ngay thuốc. Trong nhiều trường hợp (rối loạn ở mức độ nhẹ và vừa), chỉ

bằng chế độ ăn kết hợp với giảm cân nếu thừa cân, béo phì thì các trị số

cholesterol, triglycerid, đặc biệt cholesterol xấu (LDL) đều giảm rõ rệt.


- Chỉ khi chế độ ăn không đủ hiệu lực, cholesterol vẫn > 5,8 mmol/l

và/hoặc triglycerid > 2,3 mmol/l thì mới dùng thuốc. Trong khi dùng thuốc, vẫn

phải duy trì chế độ ăn bệnh lý, 2 - 3 tháng một lần phải xét nghiệm lại các thông

số.


- Tăng cường hoạt động thể lực: tập thể dục, thể thao vừa với sức của mình,

với những người cao tuổi, nên đi bộ, phải tập ít nhất 45 phút mỗi ngày, tập đều
hàng ngày hoặc ít nhất 3 lần mỗi tuần, nếu ngừng tập thì những kết quả tốt sẽ mất

ngay.


Chế độ ăn


- Giảm cân nếu thừa cân: bằng chế độ giảm năng lượng, tăng cường vận

động thể lực. Giảm cân sẽ tham gia điều chỉnh có hiệu lực rối loạn lipid máu, làm

giảm cholesterol và triglycerid máu.


- Giảm mỡ động vật vì có chứa nhiều acid béo no, các acid béo này làm

tăng cholesterol xấu trong máu.


- Tăng dầu thực vật, ăn cá có nhiều acid béo không no họ omega-3, các acid

béo này làm giảm cholesterol xấu trong máu.


- Giảm các thức ăn chứa nhiều cholesterol như phủ tạng động vật (bồ dục,

óc, tim, lòng đỏ trứng, gan...). Giảm các đồ ăn ngọt (bánh ngọt, sôcôla...).


- Tăng rau, quả tươi, uống sữa đậu nành.


- Hạn chế bia, rượu nhất là khi có tăng triglycerid.


Dùng thuốc


Có rất nhiều thuốc điều trị rối loạn lipid máu hiện nay, tuy nhiên, có 2

nhóm thuốc phổ biến nhất được áp dụng vào điều trị. Đó là các thuốc nhóm fibrat
(như lipanthyl, lopid) và các thuốc nhóm statin (như zocor, lipitor, lescol,

crestor...).


Các fibrat


- Các fibrat làm giảm dòng acid béo về gan nên giảm cả triglycerid và

cholesterol xấu.


- Tác dụng phụ: đầy bụng, buồn nôn, tiêu chảy, mẩn ngứa, có thể có tăng

men gan, yếu cơ... Đáng lưu ý là sỏi mật, gặp với clofibrat nhiều hơn các fibrat

khác.


- Chỉ định: chủ yếu khi có tăng triglycerid máu đơn thuần hoặc tăng cả

cholesterol lẫn triglycerid máu (tăng triglycerid là chủ yếu).


- Chống chỉ định: suy gan, suy thận, bệnh lý túi mật.


Không dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú.


Các statin: atorvastatin (lipitor), fluvastatin (lescol), lovastatin (mevacor),

pravastatin (elisor), simvastatin (zocor), rosuvastatin (crestor)...


- Các statin ức chế men HMGCoA reductase giảm cholesterol là chính, làm

giảm nhẹ triglycerid và tăng nhẹ cholesterol tốt (HDL).
- Tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, đau đầu, nổi mẩn, đôi khi tăng các men

gan, yếu cơ...


- Chỉ định: týp IIa, có thể dùng cho týp IIb.


- Chống chỉ định: suy gan, suy thận.


Không dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú. Giảm liều khi dùng cùng với

các chất kháng vitamin K (trừ với pravastatin).


Nhiều nghiên cứu trên thế giới về bệnh động mạch vành cho thấy, các

thuốc nhóm statin còn tỏ ra có hiệu quả tốt ngay cả ở những bệnh nhân không có

rối loạn lipid máu (nghĩa là có mức cholesterol, triglycerid máu, HDL và LDL

bình thường) trong dự phòng tiên phát (nghĩa là dự phòng các tai biến mạch vành

ở những người chưa bị bệnh mạch vành) cũng như trong dự phòng thứ phát (dự

phòng ở những người đã bị bệnh mạch vành). Nghiên cứu về thuốc crestor còn

cho thấy, thuốc có tác dụng làm giảm thể tích của mảng vữa xơ động mạch vành.

Chính vì những lý do trên, chỉ định của việc sử dụng các thuốc nhóm statin đã

được mở rộng hơn nhiều, và quan trọng là thuốc được chỉ định ngay cả ở những

người không có rối loạn lipid máu.


Ngoài ra, còn có một số thuốc từ nguồn dược liệu trong nước đã được một

số tác giả nghiên cứu và được dùng trên lâm sàng như: nghệ Curcuma Longa;

ngưu tất; các acid béo không no chiết xuất từ dầu đậu nành và dầu mầm hạt ngô.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản