THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ-BLOG

Chia sẻ: Hai Dang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
148
lượt xem
72
download

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ-BLOG

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Blog là từ viết tắt của Web log. Blog là nhật ký (tạp chí hàng ngày) có sẵn trên web, và thường được tổ chức theo thứ tự thời gian với các đầu vào gần nhất ở trên. Blog là web site dễ dùng, mà chúng ta có thể đưa những suy nghĩ của chúng ta lên đó nhanh, tương tác với mọi người và nhiều hơn nữa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ-BLOG

  1. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử PHỤ LỤC 1. Giới thiệu Blog Blog là gì? Blog là từ viết tắt của Web log. Blog là nhật ký (tạp chí hàng ngày) có sẵn trên web, và thường được tổ chức theo thứ tự thời gian với các đầu vào gần nhất ở trên. Blog là web site dễ dùng, mà chúng ta có thể đưa những suy nghĩ của chúng ta lên đó nhanh, tương tác với mọi người và nhiều hơn nữa. Blog là một nhật ký cá nhân. Một nơi chia sẻ cảm xúc, quan niệm và vui buồn trong công việc hàng ngày. Một không gian cộng tác. Một nơi diễn thuyết chính trị. Một đài phát thanh tin tức quan trọng. Một tập hợp các liên kết. Các suy nghĩ riêng tư của chúng ta. Các sổ lưu niệm cho thế giới. Blog là bất kỳ cái gì mà bạn muốn nó trở thành. Có hàng triệu thứ ở tất cả các dạng hình dạng, kích thước và thực sự không có luật lệ. Blog là một web site, mà bạn có thể viết những câu chuyện đang diễn ra. Câu chuyện mới sẽ trình bày ở trên để người đọc có thể đọc được những gì mới nhất. Sau đó, họ bình luận về điều đó, hoặc liên kết đến nó, hoặc gởi thư điện tử cho bạn hoặc không gởi thư. So sánh blog và trang web Bạn có thể có một blog trên một trang web (http://www.amendmentone.org). Bạn có thể có một trang web chỉ là một blog lớn (http://www.houseoftomorrow.com). * Giống nhau o Công bố thông tin và dữ liệu trực tuyến. o Bất kỳ ai cũng có thể bắt đầu với blog và trang web. o Có URL mà bất kỳ ai kết nối với Internet đều có thể truy xuất được. * Khác nhau o Blog được cập nhật thường xuyên hơn. o Blog được cập nhật bằng thư (post) không bằng trang. o Dễ dàng cập nhật blog mà không cần có kỹ năng lập trình hoặc có ít kỹ năng lập trình. o Blog xây dựng nên các cộng đồng. Tại sao có blog? Có nhiều loại người cũng như có nhiều loại blog (chia sẻ kiến thức và quản lý kiến thức, dịch vụ khách hàng, giao tiếp, tiếp thị và tự thể hiện mình, tổ chức buổi họp mặt, xây dựng cộng đồng, kể truyện, …), nhưng - 110 -
  2. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử chỉ có 3 mục tiêu chính: chia sẻ thông tin, xây dựng tiếng tăm, và diễn đạt ý kiến cá nhân. Blog không chỉ đưa suy nghĩ của bạn lên web, mà còn nghe lại phản hồi và liên lạc với những người có cùng ý nghĩ. Bạn cho phép người đọc trên khắp thế giới thêm những lời bình luận, nhằm phản hồi lại những gì bạn chia sẻ trên blog. Bạn có thể chọn cho phép hoặc không cho phép người sử dụng thêm các lời bình luận vào phần cơ bản của từng thư (post) (và bạn có thể xóa bất cứ cái gì mà bạn không thích). Bạn có nhiều quyền hơn cho những cố gắng công bố của bạn. Các loại blog Blog cá nhân (Personal blogs) là nhật ký mà người chủ blog viết về các trãi nghiệm hàng ngày. Blog theo chủ đề (Topical blogs) tập trung vào một lĩnh vực cụ thể. Blog theo sự quan tâm (Thoughtful blogs) khác nhau về các vấn đề có xu hướng tránh đề cập đến đời sống cá nhân. Họ thảo luận các vấn đề theo chủ đề khác nhau. Blog bạn bè (Friend blogs) thường có một nhóm bạn có sở thích tương tự soạn các thư ngắn và được cập nhật thường xuyên. Tất cả các blog được liên kết để nếu bạn đưa thư vào blog, thì nó cũng sẽ xuất hiện trên blog của những người khác. Blog cộng tác (Collaborative blogs) được viết bởi một nhóm người về một chủ đề cụ thể. Blog chính trị (Political blogs) thường kết nối với các trang web tin tức và đưa ra lời bình luận cá nhân về vấn đề chính trị. Blog thư mục (Directory blogs) thu thập thông tin từ các trang web khác nhau, ví dụ Slashdot.org. Blog theo định dạng (Format blogs) chuyên về một loại giới thiệu cụ thể, như chụp hình hoặc trang chuyện tranh vui. 2. Ẩn danh khi lướt web (Nguồn : Báo Tuổi Trẻ, thứ Năm, 30/03/2006, 04:12 (GMT+7) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=130008&ChannelID=16) TT - Ẩn danh khi lướt web và biết kết hợp với các proxy là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ mình trước mọi hiểm họa trên Internet. Hide IP Platinum được xem là một công cụ siêu hiệu quả để thực hiện việc ẩn mình trên mạng này. Sau khi cài đặt và đăng ký thành công, Hide IP Platinum sẽ cung cấp cho bạn một giao diện... chẳng có gì, ngoài việc liệt kê phiên bản Hide IP Platinum hiện tại, trang web của nhà cung cấp và số IP máy tính của bạn cộng với số IP của máy chủ proxy nếu bạn có sử dụng. - 111 -
  3. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử Khi hoạt động, công cụ này chỉ hiển thị dưới dạng một quả địa cầu nhỏ màu xanh đang quay và nằm ở khay đồng hồ ở góc phải dưới cùng màn hình. Muốn sử dụng các tính năng của nó, bạn cần nhấp chuột phải một lần vào biểu tượng của Hide IP Platinum để hiện ra menu sử dụng chính. Ngoài tính năng làm ẩn IP máy tính tuyệt hảo, tính năng được cho là “độc chiêu” nhất của công cụ này chính là “Change proxy”. Nếu bạn muốn thay đổi proxy đang lướt web hiện tại thì chỉ việc nhấp vào nút này, Hide IP Platinum sẽ thay đổi proxy xoành xoạch, nhanh như chớp, nhảy từ proxy đang ở Mỹ, xuống Colombia, rồi lại vọt qua Trung Quốc... Hiện Công ty RegNow đang bán bản Hide IP Platinum 2.5 với giá 35 USD cho người dùng lẻ. Người dùng có thể vào địa chỉ http://www.soft32.com/download_102515.html để tải về bản dùng thử hoặc tìm mua tại các cửa hàng phần mềm ở TP.HCM. HOÀNG KIM ANH 3. Đầu cơ tên miền (Nguồn : Báo Tuổi Trẻ, thứ Hai, 13/02/2006, 05:18 (GMT+7) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=122595&ChannelID=16 ) TT - Chỉ cần bỏ ra chưa tới 1 triệu đồng để đăng ký và duy trì tên miền (TM) trong một năm, nếu gặp khách, số tiền bán lại TM (nếu là TM đẹp) sẽ lên đến con số hàng tỉ đồng. Tài nguyên quốc gia đang được rao bán công khai và làm giàu cho nhiều cá nhân nhưng Trung tâm Internet VN (VNNIC) - đơn vị được Bộ Bưu chính - viễn thông giao cấp phát TM - lại cho rằng rất khó phát hiện tình trạng đầu cơ, buôn bán TM. Thực tế thì sao? Không mấy khó khăn để truy ra những TM đang bị rao bán. Chỉ cần vào trang tìm kiếm www.google.com.vn và gõ cụm từ “bán TM” là có thể tìm được hàng loạt website rao bán TM. Tại địa chỉ www.raobandomain.com, có tới 2.490 TM được rao bán, gồm cả những TM VN (“đuôi” .vn) và các TM quốc tế. Qua một hồi tìm kiếm, chúng tôi có trong tay 50 TM của VN do VNNIC cấp phát đang bị rao bán. Những TM tiền tỉ 150.000 USD (khoảng 2,38 tỉ đồng) là giá TM 365.com.vn được rao bán trên trang web www.raobandomain.com.vn. Không dám chắc đây là TM VN đắt giá nhất nhưng đó là TM có giá bán cao nhất trong số 50 TM chúng tôi tìm thấy. Theo thông tin cung cấp từ website của VNNIC (www.vnnic.net.vn), TM này thuộc chủ sở hữu là Công ty cổ phần Cung cấp dịch vụ thông tin (ISSC). TM 365.com.vn hiện chỉ hoạt động dưới một website sơ sài thông báo nội dung chương trình nhắn tin trúng thưởng xe BMW do ISSC tổ chức. Người rao bán 365.com.vn ghi tên Nguyen Hoang Long, điện thoại liên lạc là 0904.286xxx. TM này được chủ nhân quảng cáo là “vô cùng phù - 112 -
  4. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử hợp với trang tin tức hoặc mọi trang về thương mại điện tử. Chắc chắn hay hơn http://www.24h.com.vn vì một năm có 365 ngày liên tục, liên tục, liên tục”. Bấm điện thoại gọi vào số máy trên, Tại VN, qui định về quản người nhấc máy xưng tên Linh (?) nhưng thừa lý và sử dụng tài nguyên nhận mình đang rao bán TM 365.com.vn. Linh Internet (bao gồm TM) ghi cho biết đã có một số người liên hệ và trả giá rõ “nghiêm cấm việc 120.000 USD nhưng anh chưa đồng ý bán. chuyển nhượng, cho Anh này cũng nói chủ thể đăng ký TM này là thuê, bán lại tài nguyên ISSC nhưng đưa rao bán thì không thể đăng Internet dưới bấy kỳ hình tên công ty. Khi chúng tôi ngỏ ý muốn mua TM thức nào”. Giải thích về này, Linh nói giá bán có thể hạ so với giá rao điều này, ông Phạm Hồng nhưng không thể thấp hơn 120.000 USD. Hải, vụ trưởng Vụ Viễn Linh còn nói nếu có ý định mua thì mail thông (Bộ Bưu chính - vào địa chỉ nhadautu@gmail.com chứ không viễn thông), cho biết do nên gọi điện thoại vì “nội dung câu chuyện của TM là tài nguyên quốc gia chúng ta hôm nay, chỉ cần lệnh của công an, nên việc kinh doanh TM họ có thể in ra giấy và chúng ta nói với nhau bị coi là trái pháp luật. những gì thì không cãi được nữa. Mua bán TM nguy hiểm lắm nhưng khéo một tí là được”. Ngoài 365.com.vn, còn có trangtinvietnam.com.vn được rao bán với giá 150.000 USD. Người rao là Nguyễn Việt Dũng, Trung tâm giải pháp mạng và khắc phục nhanh sự cố máy tính Protect, điện thoại 04.7870xxx và 0983.081xxx. TM này, theo đăng ký tại VNNIC, do Công ty Quảng cáo chuyên nghiệp đứng tên. Ngoài ra, trong số 50 TM chúng tôi ghi lại, có một số TM khác được rao bán với giá cao như TM lafarge.com.vn (120.000 USD) do bà Phạm Thị Ngọc Hân là chủ thể đăng ký nhưng người rao bán là Phung. DS (email liên lạc là han.pham@vnn.vn); TM showbiz.com.vn (100.000 USD) do ông Nguyễn Ngọc Vũ đăng ký, người rao bán không nói tên, chỉ ghi ABC, nhưng cho số điện thoại liên lạc là 0904.438xxx. Một số TM có giá dưới 100.000 USD gồm hopcho.com.vn (50.000 USD, người rao bán: Pham Sanh Tai, điện thoại: 0905.217xxx), muavang.net.vn (30.000 USD, Vinh Do, 0989.989xxx), myphamonline.com.vn (20.000 USD, Đỗ Huy Cảnh, 04. 8464xxx), 7eleven.com.vn (15.000 USD, Nguyễn Anh Vũ, 0912. 009xxx), vienthong.com.vn (10.000 USD, Do Hoang Diep, 0904. 307xxx)… Đăng ký để đầu cơ Xem qua danh sách những TM bị rao bán có thể thấy rất nhiều TM do một người rao bán và nhiều TM được đăng ký trùng với tên các công ty, các tổ chức hoặc các ngành nghề kinh doanh, thể hiện rõ chủ đích đầu cơ của người đăng ký. Thậm chí trên tin rao bán, chủ nhân TM lafarge.com.vn không giấu giếm ý định bán lại TM này cho Tập đoàn vật liệu xây dựng Lafarge khi thẳng thừng tuyên bố họ biết Lafarge đang xây dựng các nhà máy ximăng tại Nhơn Trạch (Đồng Nai). Lê Vũ Hoàng (hoang.le@vnsi4h.com) là chủ sở hữu bốn TM rao bán, trong đó có ba TM được rao bán dưới tên Trịnh Hải Ngọc (098.996xxx) gồm boeing.com.vn (2.000 USD, dành cho hãng máy bay), - 113 -
  5. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử kaspersky.com.vn (1.000 USD, dành cho Công ty bảo mật Kapspersky nổi tiếng thế giới), zonelabs.com.vn (1.000 USD, dành cho một công ty bảo mật khác là Zonelabs) và mcafee.com.vn (700 USD, dành cho một hãng diệt virus). Nguyen The Phu (0989.112xxx) rao bán TM tuanchau.com.vn (500 USD) cho người có nhu cầu xây dựng web quảng bá du lịch về Tuần Châu (Quảng Ninh). Đoàn Hải Anh (0903.229xxx) rao bán TM dnhanam.com.vn (10.000 USD) và quảng cáo đây là website của Hội Doanh nghiệp tỉnh Hà Nam... Bên cạnh những TM bị rao bán đã được đăng ký tại VNNIC, có không ít TM không thấy trong danh sách đăng ký tại VNNIC nhưng cũng đã bị rao bán như shophangdoc.com.vn (400 $), shopquatang.com.vn (1.000 $), kientrucnhaxinh.com.vn (1.000 $), mobileone.com.vn (850 $). Tuy nhiên, dù không có tên trong danh sách đăng ký tại VNNIC nhưng mobileone.com.vn lại đang là một website hoạt động liên quan đến kinh doanh điện thoại di động. Khi chúng tôi thắc mắc về việc tại sao rao bán những TM chưa được đăng ký ở VNNIC, Nguyễn Trường Minh (điện thoại: 0918.501xxx), người rao bán bốn TM trên, khẳng định đó là những TM đã đăng ký, đồng thời nói sẽ kiểm tra lại thông tin tại VNNIC. Chúng tôi cũng phát hiện TM eoffice.com.vn của Trung tâm An ninh mạng (Đại học Bách khoa Hà Nội) bị rao bán với giá 1.000 USD. Hỏi chủ rao bán là Nguyễn Thành Biên (điện thoại: 0904.140xxx) mới biết TM đó đã được bán cho Trung tâm An ninh mạng với giá 500 USD hồi cuối năm ngoái nhưng tin rao bán chưa được gỡ xuống! Tài nguyên quốc gia đang làm lợi cho những kẻ đầu cơ. Nhưng VNNIC - cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý, giám sát, thúc đẩy, hỗ trợ việc sử dụng tài nguyên Internet tại VN - lại đang làm ngơ trước tình trạng này. KHIẾT HƯNG 4. Một số văn bản pháp lý về TMĐT Ðạo luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) Phần một: Thương mại điện tử nói chung Chương I: Các quy định chung Ðiều 1. Phạm vi điều chỉnh Ðạo luật này có hiệu lực áp dụng đối với mọi loại thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại Ðiều 2. Các định nghĩa Trong đạo luật này, các từ ngữ được hiểu như sau: (a) "Thông điệp dữ liệu" là thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự, và bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc FAX; - 114 -
  6. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (b) "Trao đổi dữ liệu điện tử" (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả thuận để cấu trúc thông tin; (c) "Người khởi phát" một thông điệp dữ liệu là người hoặc nhân danh người ấy, gửi hoặc tạo ra thông điệp dữ liệu ấy trước khi nó được lưu trữ, nếu có, nhưng không bao gồm người đứng làm trung gian đối với thông điệp dữ liệu đó; (d) "Người tiếp thụ" một thông điệp dữ liệu là người mà người khởi phát chủ định sẽ tiếp nhận thông điệp dữ liệu đó, nhưng không bao gồm người đứng làm trung gian đối với thông điệp dữ liệu đó; (e) "Người trung gian" đối với một thông điệp dữ liệu cụ thể, là người nhân danh một người khác mà gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp dữ liệu đó hoặc cung ứng các dịch vụ liên quan tới thông điệp dữ liệu đó; (f) "Hệ thống thông tin" là một hệ thống tạo ra, gửi đi, tiếp nhận, lưu trữ, hoặc xử lý bằng cách khác các thông điệp dữ liệu; Ðiều 3: Diễn giải (1) Khi diễn giải Ðạo luật này, phải tham chiếu tới nguồn gốc quốc tế của nó và tới nhu cầu thúc đẩy tính thống nhất trong khi áp dụng nó, và tới việc tôn trọng sự ngay tình. (2) Các vấn đề liên quan tới các tình huống được điều chỉnh bưỏi Ðạo luật này mà không được giải quyết phù hợp với các nguyên tắc chung mà Ðạo luật này lấy làm cơ sở. Ðiều 4: Sai biến theo thoả thuận (1) Trong quan hệ giữa các bên tham dự vào việc tạo ra, gửi, nhận, lưu trữ hoặc xử lý bằng cách khác các thông điệp điện tử, các điều khoản của chương III có thể được sửa đổi theo thoả thuận, trừ trường hợp có quy định khác. (2) Ðoạn (1) không ảnh hưởng tới bất kỳ quyền nào mà có thể đã có về việc sửa đổi theo thoả thuận, bất kỳ quy tắc pháp lý nào được đề cập tại chương III Chương II: Các điều kiện luật định đối với các thông điệp dữ liệu Ðiều 5. Công nhận pháp lý các thông điệp dữ liệu Hiệu lực pháp lý, tính giá trị hoặc hiệu lực thi hành của thông tin không thể bị phủ nhận chỉ vì lý do thông tin ấy được thể hiện dưới dạng một thông điệp dữ liệu. Ðiều 6. Văn bản viết (1) Trong trường hợp pháp luật đòi hỏi thông tin phải thể hiện bằng văn bản viết, thì một thông điệp dữ liệu được coi là thoả mãn đòi hỏi ấy nếu thông tin hàm chứa trong đó là có thể truy cập được để sử dụng cho mục đích tham chiếu sau này; và (2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đòi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ qủa pháp lý đối với thông tin không thể hiện dưới dạng văn viết. (3) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt). Ðiều 7. Chữ ký (1) Trong trường hợp pháp luật đòi hỏi phải có chữ ký của một trong người nào đó, thì một thông điệp dữ liệu được coi là đáp ứng đòi hỏi ấy nếu: (a) có sử dụng một phương pháp nào đó để xác minh được người ấy và chứng tỏ được sự phê chuẩn của người ấy đối thông tin hàm chứa trong thông điệp dữ liệu đó; và - 115 -
  7. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (b) phương pháp ấy là đủ tin cậy với nghĩa là thích hợp cho mục đích mà theo đó thông điệp dữ liệu ấy đã được tạo ra và truyền đi, tính đến tất cả các cảnh huống, bao gồm cả các thoả thuận bất kỳ có liên quan. (2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đỏi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ quả pháp lý đối với sự thiếu chữ ký. (3) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt). Ðiều 8. Bản gốc (1) Trong trường hợp luật pháp đòi hỏi thông tịn phải được xuất trình hoặc lưu trữ dưới dạng bản gốc, thì một thông điệp dữ liệu được coi là đáp ứng đòi hỏi ấy nếu: (a) có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin kể từ lúc nó lần đầu được tạo ra dưới dạng hoàn chỉnh như một thông điệp dữ liệu hoặc theo cách khác; và (b) khi có đòi hỏi thông tin ấy phải được xuất trình, thì thông tin có khả năng được hiển thị ra cho người mà nó phải hiển thị. (2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đòi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ quả pháp lý đối với thông tin không được xuất trình hoặc lưu trữ dưới dạng văn bản gốc. (3) Để đáp ứng phân đoạn (a) của đoạn (1): (a) các tiêu chuẩn thẩm định tính toàn vẹn là thông tin vẫn còn hoàn chỉnh và không bị thay đổi, không kể các bổ sung do bất kỳ lần ký hậu nào và bất kỳ sự thay đổi nào phát sinh ra trong tiến trình bình thường của việc truyền gửi lưu trữ và hiển thị: và (b) tiêu chuẩn tính đủ tin cậy theo dõi đòi hỏi phải được đánh giá căn cứ vào mục đích mà theo đó thông tin đã được tạo ra, tính tất cả các cảnh huống có liên quan. (4) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt). Ðiều 9. Tính khả dung và giá trị chứng cứ của các thông điệp dữ liệu: (1) Trong bất kỳ thủ tục pháp lý nào, đều không được viện dẫn bất cứ hiệu lực áp dụng nào của các quy định về chứng cứ để bác bỏ tính khả dung như chứng cứ của một thông điệp dữ liệu: (a) chỉ vì lý do duy nhất rằng nó là một thông điệp dữ liệu: hoặc (b) lấy lý do nó không ở dạng bản gốc mà không chấp nhận nó là chứng cứ có giá trị nhất mà người viện dẫn nó có thể có được. (2) Thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu phải được hưởng giá trị bằng chứng xứng đáng. Khi thẩm định giá trị chứng cứ của một thông điệp dữ liệu, phải tham chiếu tới tính đáng tin cậy của cách thức mà thông điệp dữ liệu ấy được tạo ra, lưu trữ hoặc truyền gửi, tới tính đáng tin cậy của cách thức mà tính toàn vẹn của thông tin được duy trì, tới cách thức minh xác người khởi phát nó, và tới bất kỳ nhân tố có liên quan nào khác. Ðiều 10. Lưu giữ các thông điệp dữ liệu (1) Trong trường hợp luật pháp đòi hỏi rằng các chứng từ, hồ sơ hoặc thông tin nào đó phải được lưu giữ, thì việc lưu giữ các thông điệp dữ liệu được coi là đáp ứng đòi hỏi ấy, miễn là thoả mãn các điều kiện sau đây: (a) thông tin hàm chứa trong đó là có thể truy cập được để sử dụng cho mục đích tham chiếu sau này; và (b) thông điệp dữ liệu ấy được lưu giữ trong khuôn dạng mà nó đã được tạo ra, gửi đi, hoặc tiếp nhận, hoặc trong khuôn dạng mà nó có thể phô diễn để thể hiện chính xác thông tin đã được tạo ra, gửi đi hoặc tiếp nhận; và - 116 -
  8. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (c) thông tin như thế, nếu có, được lưu giữ sao cho có thể xác minh được xuất xứ và đích đến của một thông điệp dữ liệu và ngày giờ gửi đi hoặc đích tiếp nhân. (2) Nghĩa vụ lưu giữ chứng từ, hồ sơ hoặc thông tin phù hợp với đoạn (1) không mở rộng tới bất kỳ thông tin nào mà mục đích duy nhất chỉ là tạo điều kiện cho thông điệp gửi đi hoặc được tiếp nhận. (3) Một người có thể thoả mãn đòi hỏi đã nêu tại đoạn (1) bằng cách sử dụng các dịch vụ của một người khác, miễn là các điều kiện nêu ra tại các phân đoạn (a), (b) và (c) được đáp ứng. Chương III: Truyền gửi các thông điệp dữ liệu Ðiều 11. Sự hình thành và giá trị của các hợp đồng (1) Trong khuôn khổ hình thành hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, một chào hàng và chấp nhận một chào hàng được phép thể hiện bằng phương tiện các thông điệp dữ liệu. Khi một thông điệp dữ liệu được sử dụng trong việc hình thành một hợp đồng, thì giá trị và hiệu lực thi hành của hợp đồng đó không thể bị phủ nhận chỉ với lý do rằng một thông điệp dữ liệu đã được dùng vào mục đích ấy. (2) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt). Ðiều 12. Sự công nhận của các bên đối với thông điệp dữ liệu (1) Trong quan hệ giữa người khởi phát và người tiếp thụ một thông điệp dữ liệu, giá trị và hiệu lực thi hành của một sự bầy tỏ ý chí hoặc một tuyên bố nào khác sẽ không thể bị phủ nhận chỉ với lý do rằng nó ở dạng một thông điệp dữ liệu. (2) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt). Ðiều 13. Quy thuộc các thông điệp dữ liệu (1) Một thông điệp dữ liệu là một thông điệp dữ liệu của người khởi phát nếu nó được chính người khởi phát gửi đi. (2) Trong quan hệ giữa ngưòi khởi phát và người tiếp thụ, một thông điệp dữ liệu được suy đoán là thông điệp dữ liệu của người khởi phát nếu nó được gửi: (a) bởi một người mà đối với thông điệp dữ liệu ấy thì có thẩm quyền nhân danh người khởi phát; hoặc (b) bởi một hệ thống thông tin do người khởi phát, hoặc người nhân danh người khởi phát, lập chương trình cho hoạt động tự động. (3) Trong mối quan hệ giữa người khởi phát và người tiếp thụ, người tiếp thụ được quyền coi một thông điệp dữ liệu là thông điệp dữ liệu của người khởi phát, và hành động xuất phát từ đoán định đó, nếu: (a) để minh xác có phải thông điệp đó là của người khởi phát hay không, người tiếp thụ đã áp dụng một thủ tục đã được người khởi phát thoả thuận từ trước cho mục đích này; hoặc (b) thông điệp dữ liệu như người tiếp thụ nhận được phát sinh ra từ các hành vi của một người mà bằng quan hệ người khởi phát hoặc với bất kỳ đại lý nào của người khởi phát đã thâm nhập được vào một phương pháp mà người khởi phát sử dụng để nhận ra các thông điệp dữ liệu là của mình. (4) Ðoạn (3) không áp dụng (a) khi người tiếp thụ đã nhận được thông báo của người khởi phát rằng thông điệp dữ liệu đó không phải là của người khởi phát, đồng thời đã có đủ thời gian hợp lý để có hành động thích ứng; hoặc - 117 -
  9. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (b) trong trường hợp quy định tại đoạn (3)(b), khi người tiếp thụ đã biết, hay lẽ ra đã phải biết nếu như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất lỳ thủ tục đã thoả thuận nào, rằng thông điệp dữ liệu đó không phải là thông điệp dữ liệu của người khởi phát (5) Trong trường hợp một thông điệp dữ liệu là thông điệp dữ liệu của người khỏi phát hoặc được suy đoán là của người khởi phát, hoặc người tiếp thụ có quyền hành động trên cơ sở đoán định ấy, thì, người tiếp thụ được quyền coi thông điệp dữ liệu nhận được chính là cái mà người khởi phát chủ định gửi, và hành động trên cơ sở đoán định đó. Người tiếp thụ không được quyền đó khi người ấy biết, hoặc lẽ ra đã phải biết nếu như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất kỳ thủ tục đã thoả thuận nào, rằng việc truyền gửi đã gây ra sai lệch bất kỳ nào đó trong thông điệp dữ liệu nhận được. (6) Người tiếp thụ được quyền coi mỗi thông điệp dữ liệu nhận được như một thông điệp dữ liệu riêng rẽ và hành động trên cơ sở đoán định ấy, ngoại trừ trường hợp thông điệp ấy là sự lặp lại một thông điệp dữ liệu khác mà người biết hoặc lẽ ra đã phải biết nếu như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất kỳ thủ tục đã thoả thuận nào, rằng thông điệp dữ liệu ấy chỉ là một thông điệp lặp lại. Ðiều 14. Xác nhận đã nhận được (1) Các đoạn (2) và (4) của điều này được áp dụng trong trường hợp vào lúc hoặc trước lúc gửi một thông điệp dữ liệu đi, hoặc bằng chính thông điệp dữ liệu ấy, người khởi phát đã yêu cầu hoặc đã thoả thuận với người tiếp thụ rằng cần có xác nhận đã nhận được thông điệp. (2) Trong trường hợp người khởi phát chưa thoả thuận với người tiếp thụ rằng xác nhận phải được thể hiện ở một khuôn dạng đặc thù nào đó, hoặc bằng một phương pháp đặc thù nào đó, thì xác nhận có thể thể hiện bằng (a) bất kỳ liên lạc nào do người tiếp thụ mà đủ để chứng tỏ với người khởi phát rằng đã nhận được thông điệp dữ liệu đó. (3) Trong trường hợp người khởi phát đã tuyên bố rằng thông điệp dữ liệu ấy chỉ có giá trị khi nhận được xác nhận đã nhận được, và người khởi phát chưa nhận được xác nhận trong thời gian đã ấn định hoặc đã thoả thuận hoặc, nếu chưa có ấn định hay thoả thuận về thời gian, thì trong phạm vi một thời gian hợp lý, thì: (a) người khởi phát có thể thông báo với người tiếp thụ rằng chưa nhận được xác nhận đồng thời ấn định một thời gian hợp lý mà xác nhận phải tới người khởi phát; và (b) nếu xác nhận không tới trong phạm vi thời gian đã ấn định tại phân đoạn (a), thì, cho tới lúc thông báo cho người tiếp thụ, người khởi phát có thể coi thông điệp dữ liệu ấy như chưa hề được gửi đi, hoặc thực hiện bất cứ quyền nào khác mà mình có thể có được. (5) Trong trường hợp người khởi phát nhận được xác nhận đã nhận được của người tiếp thụ, thì thông điệp dữ liệu có liên quan được suy đoán là đã được người tiếp thụ nhận được. Ðiều suy đoán này không hàm nghĩa rằng thông điệp dữ liệu ấy tương hợp với bản thông điệp đã nhận được (6) Trong trường hợp xác nhận đã nhận được nói rằng bản thông điệp dữ liệu có liên quan đáp ứng các đòi hỏi kỹ thuật đã thoả thuận hoặc đã quy định trong tiêu chuẩn được áp dụng, thì các đòi hỏi ấy được suy đoán là đã được đáp ứng. (7) Trừ trường hợp có liên quan tới việc gửi hoặc nhận thông điệp dữ liệu đó, điều này không nhằm áp dụng để xử lý các hệ quả pháp lý có thể phát sinh ra từ thông điệp dữ liệu đó hoặc từ bản xác nhận đã nhận được thông điệp đó. - 118 -
  10. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử Ðiều 15. Thời điểm và địa điểm gửi và nhận các thông điệp dữ liệu (1) Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa người khởi phát và người tiếp thụ, việc gửi một thông điệp dữ liệu được coi là phát sinh khi nó nhập vào một hệ thống thông tin nằm ngoài sự khống chế của người khởi phát hoặc của người nhân danh người khởi phát mà gủi thông điệp dữ liệu đó đi (2) Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa người khởi phát và người tiếp thụ, thời điểm nhận được một thông điệp dữ liệu được xác định như sau: (a) nếu người tiếp thụ đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận các thông điệp dữ liệu, thì sự nhận được coi là phát sinh: (i) vào thời điểm thông điệp dữ liệu ấy nhập vào hệ thống thông tin đã chỉ định; hoặc (ii) vào thời điểm thông điệp dữ liệu ấy được người tiếp thụ truy cập, nếu thông điệp dữ liệu ấy được gửi tới một hệ thống thông tin của người tiếp thụ mà không phải là hệ thống thông tin đã được chỉ định; (b) nếu người tiếp thụ chưa chỉ định một hệ thống thông tin, thì sự nhận được được coi là phát sinh khi thông điệp dữ liệu ấy nhập vào hệ thống thông tin của người tiếp thụ. (3) Ðoạn (2) được áp dụng ngay cả trong trường hợp địa điểm đặt hệ thống thông tin ấy có thể khác với địa điểm mà thông điệp dữ liệu ấy được suy đoán là sẽ được gửi tới được quy định tại đoạn (4). (4) Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa người khởi phát và người tiếp thụ, một thông điệp dữ liệu được suy đoán là sẽ được gửi tới địa điểm mà người khởi phát đặt trụ sở kinh doanh của mình, và được suy đoán là sẽ được nhận tại địa điểm mà người tiếp thụ đặt trụ sở kinh doanh của mình. Theo quy định tại đoạn này: (a) nếu người khởi phát hoặc người tiếp thụ có nhiều hơn một trụ sở kinh doanh, thì trụ sở kinh doanh là trụ sở có liên quan mật thiết nhất với cuộc giao dịch ngầm định hoặc, trong trường hợp không có giao dịch ngầm định nào, thì trụ sở kinh doanh chính: (b) nếu người khởi phát hoặc người tiếp nhận không có trụ sở kinh doanh, thì phải tham chiếu vào nơi thường trú của người đó. (5) Các quy định của điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt). Phần Hai: Thương mại điện tử trong các lĩnh vực cụ thể Chương I: Vận chuyển hàng Ðiều 16. Các hành vi liên quan tới các hợp đồng vận chuyển hàng Không trái với các quy định tại Phần Một của Ðạo luật này, chương này áp dụng cho mọi hành vi liên quan tới, hoặc nhằm thực hiện, một hợp đồng vận chuyển hàng, bao gồm cả, nhưng không chỉ bao gồm: (a) (i) thông báo ký mã hiệu, số lượng, khối lượng hoặc trọng lượng hàng; (ii) nói rõ hoặc khai báo chủng loại hoặc giá trị hàng; (iii) xuất biên lai hàng; (iv) xác nhận hàng đã được xếp; (b) (i) thông báo cho một người nào đó về các điều kiện của hợp đồng đó; (ii) ra chỉ thị cho một người vận chuyển; (c) (i) yêu cầu giao hàng; (ii) cho phép xuất hàng; (iii) thông báo tổn thất hàng, hoặc hư hại hàng; (d) bất cứ thông báo hoặc tuyên bố nào khác liên quan tới việc thực hiện hợp đồng; (e) đảm nhận giao hàng tới một người đã được định danh hoặc một người đã được uỷ quyền yêu cầu giao hàng; - 119 -
  11. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (f) trao, thụ đắc, từ bỏ, khước từ, chuyển nhượng hoặc thương lượng các quyền đối với khách hàng; (g) thụ đắc hoặc chuyển nhượng các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đó. Ðiều 17. Chứng từ vận tải (1) Tuân thủ đoạn (3) là đoạn chỉ rõ luật pháp đòi hỏi rằng bất kỳ hành vi nào nói đến tại điều 16 đều phải được thực hiện bằng văn bản viết hoặc sử dụng một chứng từ bằng giấy, thì đòi hỏi đó được coi là được đáp ứng nếu hành vi ấy được thực hiện bằng cách sử dụng một hoặc nhiều hơn các thông điệp dữ liệu. (2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đỏi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ quả pháp lý đối với việc thực hiện hành vi mà không bằng văn bản viết hoặc không bằng cách sử dụng một chứng từ bằng giấy. (3) Nếu một quyền phải được trao cho, hoặc một nghĩa vụ phải được thực hiện bởi, một người duy nhất nào đó mà không phải là một người khác, và nếu luật pháp quy định rằng, để thực hiện điều đó, thì quyền hoặc nghĩa vụ ấy phải được chuyển đạt đến đương sự bằng cách chuyển giao, hoặc sử dụng, một chứng từ trên giấy, thì đòi hỏi ấy được coi là được đáp ứng nếu quyền hoặc nghĩa vụ đó được chuyển đạt bằng cách sử dụng một hoặc nhiều hơn các thông điệp dữ liệu, miễn là dùng một phương pháp đủ tin cậy để khiến cho thông điệp hoặc các thông điệp dữ liệu như thế là đơn nghĩa. (4) Theo quy định tại đoạn (3), tiêu chuẩn của tính tín cậy cần có sẽ được thẩm định căn cứ vào mục đích chuyển đạt quyền hoặc nghĩa vụ đó và căn cứ vào mọi cảnh huống, bao gồm cả các thoả thuận hữu quan bất kỳ. (5) Trong trường hợp sử dụng một hay nhiều hơn các thông điệp dữ liệu để thực hiện một hành vi bất kỳ tại các phân đoạn (f) và (g) của điều 16, không chứng từ bằng giấy nào dùng để thực hiện hành vi đó được coi là có giá trị trừ khi việc sử dụng các thông điệp dữ liệu đã kết thúc và đã được thay thế bằng việc sử dụng các chứng từ bằng giấy. Một chứng từ bằng giấy ban hành ra trong cảnh huống ấy phải hàm chứa một tuyên bố rằng việc sử dụng các thông điệp dữ liệu đã kết thúc. Việc thay thế các thông điệp dữ liệu bằng các chứng từ bằng giấy không ảnh hưởng tới các quyền và các nghĩa vụ của các bên hữu quan. (6) Nếu một quy định pháp lý nào đó là bắt buộc phải áp dụng cho một hợp đồng vận chuyển hàng hoá mà hợp đồng này được thể hiện hoặc được chứng thực bằng một chứng từ bằng giấy, thì quy định ấy sẽ không bị coi là vô hiệu lực đối với một hợp đồng vận chuyển hàng hoá như vậy nhưng được chứng thực bởi một hoặc nhiều hơn các thông điệp dữ liệu vì lý do rằng hợp đồng đó được chứng thực bởi một thông điệp dữ liệu hoặc bởi các thông điệp dữ liệu như thế, mà không phải bởi một chứng từ bằng giấy. (7) Các quy định của điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt). Chương trình hành động của APEC về thương mại điện tử Các bộ trưởng APEC: Nhìn nhận rằng thương mại điện tử có tiềm năng to lớn giúp mở rộng các cơ hội kinh doanh, giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống, và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ tham gia nhiều hơn vào thương mại toàn cầu; - 120 -
  12. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử Tính tới thực tế rằng các nền kinh tế thành viên trong khu vực đang ở giai đoạn phát triển khác nhau, có các khuôn khổ rất khác nhau về điều tiết, xã hội, kinh tế, và văn hoá. Tính tới sự cần thiết phải tăng cường năng lực làm thương mại điện tử trong các nền kinh tế thành viên APEC, bao gồm cả các hoạt động thông qua hợp tác kinh tế và kỹ thuật, để tạo điều kiện cho các nền kinh tế APEC thu được lợi ích từ thương mại điện tử. thoả thuận như sau: • Khu vực doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong trong việc hình thành công nghệ, các ứng dụng, các hoạt động và các dịch vụ thương mại điện tử. • Vai trò của các chính phủ là xúc tiến và tạo thuận lợi cho sự hình thành và sự tiếp nhận thương mại điện tử bằng cách: • Tạo ra một môi trường thuận lợi, bao gồm cả các khía cạnh pháp lý và điều tiết, có tính khả kiến, trong trẻo và nhất quán • Tạo ra một môi trường có tác dụng xúc tiến niềm tin giữa những người tham gia thương mại điện tử. • Xúc tiến sự vận hành có hiệu quả của thương mại điện tử trên bình diện quốc tế bằng cách mỗi khi có thể đều hướng vào việc xây dựng ra các khuôn khổ quốc gia tương thích với các chuẩn mực và thực tiễn quốc tế đang diễn ra, và • Trở thành người sử dụng tiên phong nhằm mục đích tạo ra chất xúc tác và nhằm khuyến khích các phương tiện điện tử được sử dụng rộng rãi hơn nữa • Để thương mại điện tử được phát đạt, giới doanh nghiệp và chính phủ các nước mỗi khi có thể đều nên hợp tác với nhau nhằm đảm bảo một hạ tầng cơ sở truyền thông và thông tin rẻ tiền, dễ truy nhập và có tính liên tác. • Trong khi thừa nhận rằng có thể sẽ cần phải có sự điều tiết chính phủ ở một mức độ nào đó, thì nên ưu tiên cho các giải pháp trung tính về công nghệ, các giải pháp dựa trên cơ sở cạnh tranh thị trường mà có thể được bảo vệ bằng chính sách cạnh tranh, và ưu tiên cho giới công nghiệp sự tự định đoạt theo hướng tìm hiệu quả. • Chính phủ và giới doanh nghiệp cần hợp tác để hình thành và ứng dụng các công nghệ và các chính sách mà tạo dựng được sự tín nhiệm và tin nhau trong các hệ thống truyền thống và thông tin an toàn, vững chắc, và đáng tin cậy, và hướng vào các vấn đề như bảo mật, chứng thực, và bảo vệ người tiêu dùng. Chương trình làm việc Để thu lợi đầy đủ từ thương mại điện tử, các nền kinh tế APEC cần nỗ lực làm việc cùng nhau để xây dựng sự tín nhiệm và tin nhau; đẩy mạnh ứng dụng chính phủ; tăng cường tầm mở rộng cộng đồng; xúc tiến hợp tác kỹ thuật và trao đổi kinh ngìệm; và khi thích hợp, thì hành động theo hướng loại bỏ các trở ngại đối với việc chấp nhận thương mại điện tử; và hình thành ra các môi trường hoàn hảo về pháp lý, kỹ thuật, vận hành và thương mại nhằm tạo thuận lợi cho thương mại điện tử gia tăng và phát triển. Nhằm mục đích ấy, các Bộ trưởng APEC thoả thuận một Chương trình làm việc trên cơ sở của công tác thương mại điện tử đang tiến hành trong APEC, bao gồm: Mở rộng hơn nữa bộ sưu tập các nghiên cứu chuyên vùng do Lực lượng đặc nhiệm tiến hành, và rút kinh nghiệm từ các nghiên cứu ấy, nhằm tạo thuận lợi và trợ giúp cho các hoạt động thương mại điện tử mà các đối tác xí nghiệp nhỏ và vừa, chính phủ, và khu vực doanh nghiệp/nhà nước đang tiến hành. Đảm nhận việc hình thành các biện pháp và các chỉ tiêu đánh giá sự chấp nhận thương mại điện tử, sử dụng thương mại điện tử, và các luồng thương mại điện tử. Đặc tính các chi phí kinh tế đang cản trở sự chấp nhận thương mại điện tử, bao gồm cả các chi phí do các hoàn cảnh thị trường và điều tiết gây ra. - 121 -
  13. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử Hoan nghênh công tác kiên trì của các Bộ trưởng Tài chính về các khía cạnh tài chính của thương mại điện tử, một ưu tiên đã được thoả thuận cùng với Hội đồng cố vấn kinh doanh, bao gồm cả sự tham gia của giới doanh nghiệp, trên cơ sở nhìn nhận vai trò quan trọng cần thiết phải tiến hành để thương mại điện tử được chấp nhận và vận hành. Khơi sâu hơn nữa hợp tác kinh tế và kỹ thuật để tạo thuận lợi cho việc chấp nhận, sử dụng, và tối đa hoá các lợi ích của thương mại điện tử trong các nền kinh tế APEC. Giao nhiệm vụ cho các chuyên gia về xác thực, bao gồm cả các chuyên gia trong khu vực doanh nghiệp nghiên cứu toàn diện các mô hình doanh nghiệp cho việc chứng thực điện tử, bao gồm cả vai trò của các cơ chế khả dĩ như chứng thực chéo và sử dụng một cơ quan chứng thực gốc, nhằm nâng cao tính liên tác và tính tin cậy, và nhằm tạo thuận lợi cho thương mại điện tử xuyên biên giới. Hoan nghênh công tác kiên trì của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) về các vấn đề thuế, bảo vệ người tiêu dùng, bảo mật và chứng thực, và đồng ý sẽ điều hành sự tiến triến các cuộc thảo luận trong các lĩnh vực này, đồng ý để các chuyên gia tham gia một cuộc gặp hỗn hợp các quan chức APEC-OECD vào năm 1999 để thảo luận các công nghệ và các mô hình doanh nghiệp chứng thực đang xuất hiện ra. Mỗi khi có thể, thì phối hợp với Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) và các diễn đàn quốc tế khác trong quá trình thức đẩy việc tạo dựng nền tảng pháp lý cho một hệ thống thương mại điện tử xuyên quốc gia hoàn hảo. Do tính chất phát triển nhanh, biến hoá nhanh của thương mại điện tử, các Bộ trưởng APEC bảo trợ sự thiết lập một Mạng “ảo” Thương mại điện tử/Nguồn tư liệu đa phương tiện để cung cấp tư liệu tham khảo cho việc tiếp tục nâng cao nhận thức và trao đổi thông tin, bao gồm cả các chiến lược phát triển thương mại điện tử của các nước, tình hình các chính phủ sử dụng thương mại điện tử như một phương tiện công tác, sự phát triển các nguồn nhân lực, giáo dục và đạo tạo, và giao cho các quan chức nhiệm vụ phải khai thác mạng này có tính tới các kiến nghị của các nước thành viên, kiến nghị về Tổng kho dữ liệu giáo dục thương mại điện tử các nước thành viên thuộc Hội đồng hợp tác kinh tế Thái bình dương. Tính tới sự khác biệt giữa khuôn khổ pháp lý và điều tiết trong khu vực, các Bộ trưởng APEC thoả thuận rằng, các nền kinh tế thành viên cần nỗ lực giảm thiểu hoặc loại bỏ đòi hỏi về các giấy tờ chứng từ cho hải quan và quản lý buôn bán xuất nhập khẩu, và các chứng từ và thông điệp khác liên quan tới vận tải đường biển, đường không và đường bộ để các nước đã phát triển thực hiện “Buôn bán không giấy tờ” vào năm 2005, và các nước đang phát triển vào năm 2010, hoặc nhanh chóng nhất sau năm ấy. Nhằm mục tiêu này, các phân diễn đàn APEC cần xem xét các sáng kiến cụ thể. Các Bộ trưởng APEC thừa nhận rằng, việc khẩn cấp xem xét vấn đề Sự cố máy tính điện tử năm 2000 (Y2K) có tầm quan trọng sinh tử đối với phát triển kinh tế, buôn bán xuất nhập khẩu, truyền thống quốc tế, các hệ thống vận tải và hành chính, và thương mại điện tử. Do vậy, các Bộ trưởng thoả thuận rằng các nền kinh tế APEC sẽ tiếp tục hợp tác chuẩn bị đối phó với Sự cố năm 2000 và đầu năm 1999 sẽ tổ chức một hội nghị chuyên viên lập kế hoạch ngân sách phục vụ cho mục đích đó. Các Bộ trưởng APEC xác nhận rằng lực lượng đặc nhiệm này tỏ ra là cơ chế có hiệu quả và có hiệu lực để tạo ra sự phối hợp, sự tập trung vào các tiêu điểm, và chỉ hướng bao quát cho các vấn đề đan xen nhau của thương mại điện tử. Song song với việc hợp lý hoá các cấu trúc quản lý công việc trong APEC, lực lượng đặc nhiệm sẽ hoàn tất công tác bằng việc gửi báo cáo của mình lên các nguyên thủ thông qua các quan chức cao cấp và các Bộ trưởng. Để đảm bảo sự phối hợp không ngắt quãng và sự theo đuổi chương trình hành động này, một ban chỉ đạo sẽ được thành lập, bao gồm đại diện của - 122 -
  14. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử các nước thành viên, có cả các nhóm công tác có liên quan, cùng như các chuyên gia của các doanh nghiệp phù hợp với đường lối cña APEC về sự tham gia của các doanh nghiệp. Ban chỉ đạo sẽ tiến hành thảo luận gián tiếp, khi cần thiết cũng sẽ gặp mặt trực tiếp và mỗi năm một lần có báo cáo lên Cuộc gặp thượng đỉnh về tình hình công tác thương mại điện tử trong APEC. Các Bộ trưởng ghi nhận khả năng thành lập các lực lượng đặc nhiệm ngắn hạn có thu hút sự tham gia của giới doanh nghiệp nhằm đối phó với các vấn đề đan xen nhau lúc này lúc khác có thể phát sinh trong APEC. Chương trình “Tâm điểm mậu dịch” của UNCITAD (UNCITAD Trade Point Programme) 1. Lịch sử Tháng 2.1992, Tổ chức “Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển” (UNCITAD) họp tại Cartagena (Colombia) đề xuất sáng kiến về hiệu quả thương mại nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tham gia nhiều hơn vào buôn bán xuất nhập khẩu các hàng hoá và dịch vụ. Nhằm mục đích ấy UNCITAD chính thức đề xướng “Chương trình tâm điểm mậu dịch” (Trade Point Programme), với bốn mục tiêu: • Nâng cao hiệu quả giao dịch buôn bán với nước ngoài bằng cách đơn giản hoá và tiêu chuẩn hoá quá trình buôn bán; • Giúp cho các công ty buôn bán đã có và các công ty sẽ ra đời hoạt động hiệu quả hơn bằng cách tạo điều kiện cho họ tiếp cận dễ dàng với thông tin thương mại, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, các công nghệ thông tin, các mạng, và giúp huấn luyện, đào tạo; • Thông qua giao dịch điện tử và các liên kết truyền thống mà tạo ra các mối quan hệ kinh doanh mới, tạo ra nhiều đối tác mới; • Làm cho cho các công ty buôn bán xuất nhập khẩu nhận thức được sự hiện hữu của các cơ hội kinh doanh, và các kỹ thuật mới mà thông tin thương mại, công nghệ và các chuẩn mực quốc tế có liên quan đang mở ra cho họ. Để đạt được các mục tiêu trên, sẽ xây dựng các “tâm điểm mậu dịch” ở các nước, với ba chức năng: • Cung cấp các dịch vụ giao dịch buôn bán; • Cung cấp dịch vụ thông tin kinh tế thương mại; • Làm cửa ngõ dẫn các doanh nghiệp gia nhập vào mạng điện tử toàn cầu. Như vậy, một trong ba chức năng của Trade Point có liên quan tới thương mại điện tử, và trong khuôn khổ chức năng ấy, đã dự kiến rằng các Trade Point sẽ liên kết với nhau thành một “mạng toàn cầu các tâm điểm mậu dịch” (Global Trade Point Network: GTPNet), nhằm “hỗ trợ các nước đang phát triển trong nỗ lực tìm cách thu được lợi ích trong việc tham gia vào lĩnh vực liên lạc điện tử toàn cầu”. Tháng 10.1994, hội nghị các bộ trưởng thành viên UNTAD tuyên bố ủng hộ Chương trình Trade Point. Từ tháng 7.1995, “Trung tâm phát triển tâm điểm mậu dịch” (Trade Point Development Centre: TPDC), cơ quan đầu não của Chương trình Trade Point, được đặt tại Viện công nghệ hoàng gia Men-buốc (the Royal Melbourne Institute of Technology) ở Ô-xtrê-li-a. - 123 -
  15. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử 2. Tổ chức và hoạt động của Trade Point “Chương trình Trade Point” ấn định ba giai đoạn hình thành và phát triển của một Trade Point: • Thử nghiệm: Chính phủ nước muốn tham gia Chương trình gửi UNCITAD một đề nghị chính thức để UNCITAD chỉ định một “điều phối viên tâm điểm mậu dịch” (Trade Point Coodinator) tại nước đó. • Khởi phát: Thành lập Trade Point như một thực thể có tư cách phápnhân, lập kế hoạch kinh doanh trình lên UNCITAD. • Hoạt động: Trade Point hoạt động theo kế hoạch kinh doanh đã trình và theo đúng các chuẩn mực của “Chương trình Trade Point” của UNCITAD. Vào thành 9.1998 tổng cộng có 159 Trade Point (60% ở các nước Châu Mỹ La tinh, 16% ở các nước Châu Á); trong đó 44 đã ở giai đoạn hoạt động; 21 đang ở giai đoạn khởi phát; còn 84 đang ở giai đoạn thử nghiệm. Chương trình Trade Point nhằm đối tượng là các nước đang phát triển, nhưng ở các nước đã công nghiệp hoá cũng có một số Trade Point, được thành lập với mục đích hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu của các công ty nhỏ và vừa. Chương trình Trade Point đưa ra 14 loại dịch vụ mà một Trade Point đã ở giai đoạn hoạt động có thể cung cấp được (Trade Point nào thực hiện được 10-14 dịch vụ thì xếp vào loại “nhiều dịch vụ”, thực hiện được 5-9 dịch vụ thì xếp vào loại “một số dịch vụ”, ít hơn nữa thì xếp vào loại “ít dịch vụ”). Dưới đây là kết quả điều tra của UNCTAD về tình hình hoạt động vào năm 1997 của các Trade Point, phân theo các loại dịch vụ. Kết quả điều tra này cho thấy: • Trade Point là một tổ chức kinh doanh, cung cấp đủ loại dịch vụ buôn bán xuất nhập khẩu (kể cả đại lý làm thủ tục hải quan, dịch thuê, cho thuê phòng họp và thiết bị...), với mục tiêu tổng hợp là giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh mua bán xuất nhập khẩu và Trade Point sử dụng mọi phương tiện để thực hiện mục tiêu đó, cả phương tiện điện tử lẫn phương tiện truyền thống. Các dịch vụ mà một trade point có thể cung cấp Tỷ trọng (%) Kết nối bạn hàng 88 Thông tin cập nhật về công ty và các sản phẩm công ty 88 Tư vấn các vấn đề về vận tải 76 Nghiên cứu thị trường 76 Dịch thuật và phiên dịch 64 Tạo trang Web và catalogy trên Web 56 Viết thuê các thư thương mại, hợp đồng buôn bán... 48 Cung cấp phương tiện hội nghị, gặp gỡ (phòng, thiết bị...) 48 Làm thủ tục thông quan 44 Trợ giúp trực tiếp các dịch vụ tài chính 40 Đào tạo, huấn luyện 28 Cung cấp các chứng chỉ thương mại 24 Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) 20 Các loại khác 24 • Công việc phổ biến nhất mà các Trade Point thực hiện là kết nối mối bạn hàng, thông tin về công ty và sản phẩm công ty, tư vấn về vận tải, nghiên cứu thị trường, và phiên dịch biên dịch (64% tới 88% các Trade Point làm việc các việc này); chỉ có 20% các Trade Point có hoạt động đầu mối trao đổi dữ liệu điện tử (EDI). - 124 -
  16. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử • Mối quan hệ giữa Trade Point với các công ty là quan hệ kinh doanh; các công ty trả tiền cho các dịch vụ thông tin, tiếp thị, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo mà Trade Point cung cấp cho họ. Một tài liệu nghiên cứu cho biết: 60% Trade Point trên thế giới hiện nay là do tư nhân đứng ra kinh doanh, 20% do Nhà nước kinh doanh, còn 20% là liên doanh giữa nhà nước và tư nhân. Xét riêng về chức năng thứ ba của Trade Point (chức năng đưa dần các công ty xuất nhập khẩu vào mạng điện tử toàn cầu, và do đó trực tiếp góp phần xúc tiến thương mại điện tử), Chương trình Trade Point đặt ra bốn mục tiêu chiến lược là: • Mạng toàn cầu các tâm điểm mậu dịch (GTPNet) của UNCITAD sẽ ngày càng trở thành một mạng lấy Internet làm nền. • Chỉ giới hạn trong giao dịch buôn bán giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (không đi sang các lĩnh vực khác của thương mại điện tử như: doanh nghiệp với người tiêu dùng, doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ, giữa các cơ quan chính phủ với nhau, và giữa các chính phủ), với đối tượng chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm “tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tiếp xúc trực tiếp với nhau, giảm trung gian giao dịch tới mức tối thiểu”; • Thoạt tiên giúp các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển tạo ra một mạng tiền giao dịch (pre transactional network) để liên lạc với nhau tìm kiếm bạn hàng và cơ hội kinh doang (khi ký hợp đồng thực thì vẫn qua giấy tờ); sau đó mới tiến dần tới ký hợp đồng trên mạng; quá trình đó gọi là tiến “từ tiếp xúc sang ký kết”; • Về thanh toán, sẽ đi theo hướng kết hợp các phương pháp truyền thống với phương pháp thanh toán bằng thẻ thông minh (smart card), mà không theo hướng sử dụng “tiền điện tử” (electronic money). “Trung tâm phát triển tâm điểm mậu dịch” của UNCTAD đặt tại Ô-xtrê-li-a có trách nhiệm tạo ra các công cụ và các giao diện (interface) thích hợp và đổi mới thường xuyên để sử dụng cho “mạng toàn cầu các tâm điểm mậu dịch” trong đó có công cụ “Hệ thống các cơ hội buôn bán điện tử” (Electronic Trading Opportunities System: ETOs). GTPNet World Wide Web site (địa chỉ Internet) có tên gọi là “Dưỡng mầm điểm buôn bán trên Internet” (Trade Point Internet Incubator) để giúp tạo điều kiện dùng liên lạc điện tử để giao dịch buôn bán giữa các doanh nghiệp và dần dần Internet hoá các giao dịch ấy. Chương trình Trade Point đặt hai máy chủ chính, một ở Giơ-neo (Thuỵ sĩ), một ở Men-buốc (Ô-xtrê-li-a), dùng làm “tổng trạm” (hub). Để gia tăng sự thuận tiện và tốc độ truy nhập vào GTPNet, ở một số nơi trên thế giới, chủ yếu là ở các trường đại học, có điểm gương (micrror site) của hai máy chủ này (tới cuối năm 1998 có 39 điểm gương tại 24 nước và địa khu). Ngoài liên lạc mạng với các máy chủ nói trên, có một số Trade Point nối trực tiếp với Internet thông qua các hãng cung cấp dịch vụ Internet ở nước sở tại. Theo điều tra của UNCTAD, ở một số nơi, các Trade Point đã vào hoạt động đang phát huy tác dụng tích cực giúp các doanh nghiệp (chủ yếu là các công ty nhỏ và vừa, vốn yếu kém về trang bị và năng lực công nghệ, thiếu thông tin và ít cơ hội giao dịch) làm tiếp thị trên mạng (trong đó có kết mối, quảng cáo), giao dịch sơ bộ với bạn hàng, và cung cấp thông tin kinh tế thị trường (tin lấy chủ yếu từ “Trung tâm phát triển tâm điểm mậu dịch” của UNCTAD truyền qua mạng GTPNet, sau đó xử lý và gửi cho các doanh nghiệp tham khảo sử dụng thường là dưới dạng bản tin). - 125 -
  17. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử HIỆP ĐỊNH KHUNG E-ASEAN LỜI MỞ ĐẦU Chúng tôi, những Người-đứng-đầu Chính phủ/ Nhà nước Bru-nây Đa-ru-sa-lem, Vương quốc Căm-pu-chia, Cộng hoà In-đô-nê-si-a, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Ma-lai-xi- a, Liên bang My-an-ma, Cộng hoà Phi-lip-pin, Cộng hoà Xing-ga-po, Vương quốc Thái- Lan, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quốc gia thành viên của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (dưới đây được gọi là "ASEAN"): Nhận thấy những cơ hội do cuộc cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và thương mại điện tử mang lại; Mong muốn rằng dân tộc mình cần được hưởng những lợi ích từ những cơ hội do ICT và thương mại điện tử đem lại, tiếp cận với những công nghệ mới này, và tạo thuận lợi cho các giao dịch điện tử và thương mại qua biên giới; Nhận thức rõ rằngmục tiêu cuối cùng của việc phát triển kinh tế là nhằm thúc đẩy phát triển nhân lực về mọi mặt, để giúp nhân dân các nước ASEAN có được cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình; Tin tưởng rằng sáng kiến e-ASEAN và việc thiết lập Cơ sở Hạ tầng Thông tin ASEAN, như đã đề ra trong Chương trình Hành động Hà nội, sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của ASEAN trên thị trường thế giới; Quan tâm tới nhu cầu thúc đẩy sự phối hợp nhiều hơn giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước trong việc thực hiện e-ASEAN; quan tâm tớinhững mục tiêu và các quy định của Hiệp định ASEAN về Hệ thống Ưu đãi Thuế quan có Hiệu lực chung (CEPT) cho Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA); Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) và Hiệp định Khung ASEAN về khu vực đầu tư ASEAN (AIA); khẳng định lại quyết định của mình tại Hội nghị Thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ 3, tháng 11 năm 1999, về việc thành lập khu vực thương mại tự do (FTA) cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư cho các ngành thông tin-viễn thông trong khuôn khổ một Hiệp định e-ASEAN mới; đã nhất trí các điều khoản dưới đây: Điều 1:Định nghĩa 1. Nhằm phục vụ cho mục đích của Hiệp định này những thuật ngữ dưới đây sẽ, trừ khi có các quy định khác, có nghĩa như sau: a) "Công nghệ thông tin và truyền thông" (ICT) đề cập đến hạ tầng cơ sở, các hệ thống phần cứng và phần mềm cần thiết để thu nhận, xử lý và phổ biến thông tin nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin; (b) "Các sản phẩm ICT" có nghĩa là những sản phẩm trong Hiệp định Công nghệ Thông tin của WTO (ITA1) và những sản phẩm có liên quan mà các nước thành viên có thể đồng ý bổ sung thêm sau; (c) "Dịch vụ ICT" có nghĩa là các dịch vụ có liên quan đến thông tin và truyền thông được được liệt kê trong Bảng phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) và bất kỳ những dịch vụ bổ sung có liên quan mà các nước thành viên có thể đồng ý bổ sung sau, và; (d) "Đầu tư" có nghĩa là đầu tư trực tiếp có liên quan đến việc sản xuất các sản phẩm ICT và cung cấp dịch vụ ICT Điều 2: Mục đích của Hiệp định : Mục đích của Hiệp định này là : (a) Đẩy mạnh hợp tác để phát triển, tăng cường và nâng cao tính cạnh tranh của lĩnh vực ICT trong ASEAN; - 126 -
  18. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (b) Đẩy mạnh hợp tác để giảm mức độ phát triển không đồng đều về kỹ thuật số trong từng nước và giữa các nước ASEAN; (c) Đẩy mạnh hợp tác giữa các khu vực tư nhân và chính phủ trong việc thực hiện e- ASEAN; và (d) Đẩy mạnh việc tự do hoá thương mại đối với các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư về ICT để ủng hộ sáng kiến e-ASEAN Điều 3: Phạm vi của Hiệp định Hiệp định này sẽ đề cập đến các biện pháp nhằm: (a) Tạo thuận lợi cho việc thiết lập Cơ sở Hạ tầng Thông tin ASEAN; (b) Tạo thuận lợi cho tăng trưởng thương mại điện tử trong ASEAN; (c) Thúc đẩy và tạo thuận lợi cho việc tự do hoá thương mại đối với các sản phẩm, dịch vụ ICT và tự do hoá đầu tư để ủng hộ sáng kiến e-ASEAN; (d) Thúc đẩy và tạo điều kiện đầu tư vào sản xuất các sản phẩm ICT và cung cấp các dịch vụ ICT; (e) Phát triển xã hội điện tử trong ASEAN và xây dựng năng lực để giảm bớt sự phát triển không đồng đều về kỹ thuật số trong từng nước ASEAN và giữa các nước ASEAN; vàđẩy mạnh việc sử dụng ICT trong việc cung cấp các dịch vụ chính phủ (e- Government). (g) Giúp các nước thành viên đã sẵn sàng có thể đẩy nhanh việc thực hiện Hiệp định này như đã quy định tại điều 4, 5, 6 và 7 và sẽ thực hiện vào năm 2002, và giúp đỡ các nước thành viên khác nâng cao năng lực của mình. Điều 4:Tạo thuận lợi cho việc thiết lập hạ tầng cơ sở thông tin ASEAN 1.Các nước thành viên sẽ nâng cao trình độ các thiết kế và tiêu chuẩn của hạ tầng thông tinquốc gia của mình nhằm tạo thuận lợi cho tính liên thông và bảo đảm tính liên tác về mặt kĩ thuật của hạ tầng thông tin giữa các nước. 2.Các nước thành viên sẽ hướng tới việc kết nối trực tiếp với tốc độ cao các hạ tầng cơ sở thông tin của mình nhằm tạo ra sự kết nối trong trục hạ tầng cơ sở thông tin ASEAN. 3.Bổ xung vào hạ tầng cơ sở thông tin của ASEAN, các nước thành viên hướng tới việc phát triển dung liệu ASEAN, liên quan tới nhưng không giới hạn trong việc hợp tác phát triển thư viện kỹ thuật số và các cổng du lịch. 4.Các nước thành viên hướng tới việc tạo thuận lợi cho việc xây dựng các tổng đài và các cổng Internet quốc gia và khu vực, bao gồm cả các bộ nhớ đệm và các trang web phiên bản của khu vực. Ðiều 5:Tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử 1.Các nước thành viên sẽ thông qua các khuôn khổ lập pháp và điều tiết đối với thương mại điện tử nhằm tạo dựng lòng tin và sự tin cậy cho người tiêu dùng và tạo thuận lợi cho việc sắp xếp lại các doanh nghiệp theo hướng phát triển e-ASEAN. Để đạt được mục tiêu này, các nước thành viên sẽ: (a) Khẩn trương đưa vào luật và các chính sách quốc gia của mình các vấn đề liên quan đến các giao dịch thương mại điện tử dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế; (b) Tạo thuận lợi cho việc thừa nhận lẫn nhau về khuôn khổ chữ ký điện tử. (c) Tạo thuận lợi cho các giao dịch, thanh quyết toán bằng phương pháp điện tử an toàn trong khu vực thông qua các cơ chế cụ thể như các cổng thanh toán điện tử; (d) ÁP dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trong thương mại điện tử. Các nước thành viên được khuyến nghị xem xét việc áp dụng các Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) đó là : "Hiệp ước về bản quyền của WIPO năm 1996" và "Hiệp ước về ghi âm và biểu diễn của WIPO năm 1996"; - 127 -
  19. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (e) ÁP dụng các biện pháp nhằm tăng cường việc bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật riêng tư của người tiêu dùng; và (f) Khuyến khích sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) đối với các giao dịch trực tuyến. Điều 6:Tự do hoá thương mại các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư ICT 1.Các nước thành viên sẽ tiến hành đàm phán nhằm đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết của các nước thành viên về các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư ICT theo Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ và Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA). 2.Các nước thành viên sẽ loại bỏ hàng rào thuế quan và phi quan thuế đối với thương mại trong khu vực ASEAN đối với các sản phẩm ICT theo 3 đợt. Đợt một sẽ có hiệu lực vào ngày 1/1/2003. Đợt hai sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. Đợt ba sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2005. Đối với các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam, ba đợt này sẽ có hiệu lực từ 1/1/ 2008, 2009 và 2010. Các sản phẩm ICT thuộc ba đợt này sẽ do các nước thành viên trình lên cho Ban Thư ký ASEAN. 3.Các nước thành viên sẽ đạt được mức độ tự do hoá thương mại cao hơn đối với dịch vụ ICT thông qua các vòng đàm phán liên tục trong khuôn khổ Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ nhằm thực hiện dòng lưu chuyển tự do về dịch vụ. 4. Theo các quy định của Hiệp định AIA, mỗi nước thành viên sẽ: (a) mở cửa ngay cho các khoản đầu tư của các nhà đầu tư ASEAN vào sản phẩm ICT (b) dành ngay cho các nhà đầu tư ASEAN và vốn đầu tư của họ vào các sản phẩm ICT và các biện pháp tác động đến đầu tư sự đối xử không kém phần ưu đãi hơn các nhà đầu tư và vốn đầu tư trong nước, bao gồm nhưng không hạn chế, trong việc tiếp nhận, thành lập, mua lại, mở rộng, quản lý, điều hành và thanh lý các vốn đầu tư đó, Điều 7:Tạo thuận lợi cho mua bán các sản phẩm và dịch vụ ICT 1.Để tạo thuận lợi cho việc mua bán các sản phẩm ICT, các nước thành viên sẽ ký các Thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về các sản phẩm ICT nếu có thể được và sẽ hài hoà các tiêu chuẩn quốc gia đối với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan. 2.Các nước thành viên sẽ nỗ lực thúc đẩy công việc hướng tới thực hiện Thoả thuận công nhận lẫn nhau trong ASEAN về thiết bị viễn thông. 3.Các nước thành viên sẽ hài hoà Biểu thuế quan đối với các sản phẩm ICT thông qua việc hoàn thiện Biểu thuế quan chung ASEAN (AHTN) vào năm 2000 và bắt đầu thực hiện vào đầu năm 2002. Các nước thành viên sẽ hài hoà trị giá tính thuế hải quan cho các sản phẩm ICT bằng việc thực hiện Hiệp định trị giá tính thuế của WTO. 4.Các nước thành viên sẽ đẩy nhanh việc hướng tới các thoả thuận công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn xác định chất lượng. Điều 8:Tạo dựng năng lực và xã hội điện tử : 1.Các nước thành viên sẽ xây dựng một cộng đồng e-ASEAN bằng việc nâng cao nhận thức, hiểu biết chung và hiểu rõ giá trị của ICT, đặc biệt là Internet. Liên quan đến vấn đề này, một chương trình xây dựng năng lực sẽ được triển khai trên cơ sở của việc đánh giá mức độ sẵn sàng của các nước thành viên ASEAN bao gồm cả giáo dục và đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ, công nhân trong lĩnh vực ICT, các nhà quản lý và hoạch định chính sách ICT. Các nước thành viên tiên tiến hơn, có các phương tiện đào tạo ICT sẽ mở các khoá đào tạo dành cho cho các nước thành viên có trình độ thấp hơn. 2.Để gia tăng sự hiểu biết về ICT và phát triển đội ngũ công nhân ICT trong khu vực, các nước thành viên sẽ triển khai một chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các trường học, cộng đồng và cơ quan. 3. Các nước thành viên sẽ hướng tới việc thiết lập một xã hội điện tử bằng cách: - 128 -
  20. Phụ lục – Tài liệu tham khảo Môn học : Thương Mại Điện Tử (a) thúc đẩy sự phát triển của một xã hội tri thức (b) thu hẹp sự phát triển không đồng đều về kỹ thuật số (c) nâng cao tính cạnh tranh của lực lượng lao động (d) tạo thuận lợi cho việc di chuyển tự do hơn lực lượng lao động có trình độ và (e) sử dụng ICT để nâng cao tính cộng đồng của ASEAN. Điều 9:Chính phủ điện tử 1.Các nước thành viên sẽ sử dụng ICT để cải thiện việc cung cấp và chuyển giao các dịch vụ của Chính phủ. 2.Các nước thành viên sẽ từng bước cung cấp hàng loạt các dịch vụ Chính phủ và tiến hành các giao dịch trực tuyến bằng việc sử dụng ICT để tạo thuận lợi cho việc liên kết giữa khu vực tư nhân và Chính phủ, đồng thời làm tăng tính minh bạch. 3.Các nước thành viên sẽ tiến tới tăng cường hợp tác liên Chính phủ bằng việc: a. Đẩy mạnh việc sử dụng các phương tiện điện tử trong việc mua sắm hàng hoá và dịch vụ, và b. Tạo thuận lợi cho việc di chuyển tự do hơn đối với hàng hoá, thông tin và con người trong nội bộ ASEAN Điều 10:Giải quyết tranh chấp : 1.Bất kỳ khác biệt nào giữa các nước thành viên liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định khung này sẽ được giải quyết thông qua sự tham vấn giữa các nước thành viên liên quan trong phạm vi tối đa có thể được. 2.Nếu không thể giải quyết được, tranh chấp sẽ được giải quyết theo Nghị định thư về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp của ASEAN ký ngày 20/11/1996 tại Manila, Philippines. Ðiều 11:Sửa đổi : Bất kỳ sửa đổi nào của Hiệp định này sẽ được thông qua bằng sự đồng thuận và sẽ có hiệu lực khi tất cả các nước ký kết nộp văn bản phê chuẩn hoặc chấp thuận cho Tổng Thư ký ASEAN. Điều 12:Các Nghị định thư : Các nước thành viên có thể đàm phán và ký các Nghị định thư riêng để thựuc hiện Hiệp định với tư cách là bộ phận không tách rời của Hiệp định này. Điều 13:Các thoả thuận pháp lý : Hội nghị các quan chức cao cấp về kinh tế (SEOM) sẽ giám sát, điều phối và kiểm điểm việc thực hiện Hiệp định này. SEOM sẽ báo cáo lên các Bộ Trưởng kinh tế ASEAN (AEM) và giúp AEM các vấn đề liên quan đến Hiệp định. Điều 14:Mối quan hệ với các Hiệp định khác của ASEAN Trừ khi có quy định đặc biệt khác trong Hiệp định này, các quy định trong Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cho Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) và các Nghị định thư kèm theo, Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ và các Nghị định thư kèm theo, và Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn đối với những quy định liên quan tới các biện pháp tự vệ và các ngoại lệ, vẫn sẽ được áp dụng và không bị ảnh hưởng bởi Hiệp định này. Điều 15:Điều khoản cuối cùng 1.Hiệp định sẽ có hiệu lực khi tất cả các nước ký kết nộp văn bản phê chuẩn hoặc phê duyệt cho Tổng Thư ký ASEAN. 2.Hiệp định khung này sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng Thư ký ASEAN và Tổng Thư ký ASEAN sẽ gửi ngay đến mỗi nước thành viên một bản sao chính xác. Trước sự chứng kiến, chúng tôi ký Hiệp định khung e-ASEAN này. Làm tại Singapore, ngày 24/11/2000, với một bản duy nhất bằng tiếng Anh. - 129 -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản