Thủy sản việt nam sau khi gia nhập WTO

Chia sẻ: Tran The Ha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
275
lượt xem
113
download

Thủy sản việt nam sau khi gia nhập WTO

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Gia nhập WTO đối với nganh thủy sản được tổ chức tại Tam Đảo, Vĩnh Phuc. Cuộc hội thảo nằm trong khuon khổ dự an Xay dựng kế hoạch hanh động Quốc gia về phat triển bền vững nganh thủy sản sau khi Việt Nam gia nhập WTO giai đoạn 2010-2012 do FAO tai trợ 250.000 USD, được thực hiện từ thang 2/2008 đến thang 8/2009. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thủy sản việt nam sau khi gia nhập WTO

  1. Ngày 20/8 diễn ra cuộc hội thảo về nâng cao năng lực và đánh giá tác đ ộng c ủa vi ệc gia nhập WTO đối với ngành thủy sản được tổ chức tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Cuộc hội thảo nằm trong khuôn khổ dự án Xây dựng kế hoạch hành động Quốc gia v ề phát triển bền vững ngành thủy sản sau khi Việt Nam gia nhập WTO giai đoạn 2010-2012 do FAO tài trợ 250.000 USD, được thực hiện từ tháng 2/2008 đến tháng 8/2009. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế gi ới (WTO), ngành thu ỷ s ản đã có những điều kiện thuận lợi để phát triển và thâm nhập sâu hơn vào thị trường thế gi ới. Tuy nhiên, ngành cũng gặp phải nhiều khó khăn thách thức lớn như m ột lo ạt các cam k ết theo quy định của WTO và hài hòa chính sách ho ạt động cho phù h ợp v ới thông l ệ, tiêu chu ẩn và luật pháp quốc tế. Trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và đ ịnh h ướng đ ến năm 2020, ngành thủy sản cũng đã đề ra một loạt gi ải pháp đồng b ộ nhằm đ ạt m ục tiêu trở thành ngành sản xuất hàng hoá phát triển nhanh và bền v ững. Theo đó, nh ững chính sách về khai thác ổn định nguồn lợi thuỷ sản trong nước được chú trọng. Kể từ khi gia nhập WTO, sản lượng nuôi trồng, đánh bắt của Vi ệt Nam luôn đạt s ản lượng lớn. Năm 2008, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3 về sản l ượng nuôi tr ồng th ủy s ản và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác thủy sản, xuất khẩu được trên 4,5 tỷ USD hàng th ủy sản, đứng thứ 6 về giá trị xuất khẩu thủy sản trên thế giới. Đại diện Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) tại Vi ệt Nam, ông Andrew Speedy cho rằng trong thời gian tới, ngành thủy sản Vi ệt Nam còn ph ải v ượt qua nhi ều thách th ức như vấn đề kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc thu ỷ sản không rõ nguồn gốc. Có vậy mới giữ vững vị thế cho thu ỷ sản Vi ệt Nam khi xu ất khẩu ra thế giới Thị trường Thủy Sản Thế Giới năm 2008 Và Triển Vọng 2009 Khởi tạo bởi : tinkinhte | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 17/03/2009 23:56 E-mail | Bản in | Lưu xem sau Giá thuỷ sản tăng mạnh vào đầu năm do đợt rét khắc nghi ệt ở châu Á; Nhu c ầu giảm kéo giá giảm vào những tháng cuối năm. Các nhà sản xuất thuỷ s ản g ặp khó khăn do chi phí thức ăn nuôi thả cao. Thuỷ sản nuôi th ả ngày càng quan tr ọng trên thị trường thế giới. Thị trường thuỷ sản thế giới năm 2008 không quá biến động như những thị trường hàng hoá khác. Liên minh châu Âu (EU), thị trường Trung Đông và m ột s ố n ước châu Á nh ư Trung Quốc đang nổi lên thành những thị trường thuỷ sản có tốc độ tăng tiêu thụ mạnh. Giá thuỷ sản trên nhiều thị trường châu Á quý I/2008 tăng mạnh, đặc bi ệt là Trung Qu ốc, do thời tiết khắc nghiệt. Tuy nhiên trên hai thị trường nhập khẩu hàng đầu th ế gi ới là M ỹ và Liên minh châu Âu (EU), nhu cầu một số sản phẩm lại thấp trong khi nguồn cung mạnh khiến giá không những không tăng, có n ơi lại gi ảm xu ống. B ước sang quý II, chi phí s ản xuất tăng mạnh đẩy giá thành sản phẩm tăng cao, c ộng với lạm phát khi ến không ch ỉ h ạn chế nhu cầu của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng tới lợi nhuận c ủa người chăn nuôi.
  2. Bởi các nhà đầu tư không chú ý mấy tới thị trường này nên giá thu ỷ sản ch ỉ ch ịu ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất, nhu cầu và các quy định về chất lượng hàng hoá. Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối quý II, chi phí sản xuất tăng cao và kinh tế thế gi ới sa sút đã ảnh hưởng tới thị trường thuỷ sản. Nhu cầu đối với thuỷ sản trên th ế gi ới th ường tăng lên vào tháng 11 và đầu tháng 12. Tuy nhiên, năm 2008, các nhà xu ất khẩu ch ứng ki ến s ố lượng đơn hàng giảm bớt. Tình hình trở nên tồi tệ hơn khi m ột số khách hàng yêu c ầu h ạ giá bán ngay cả khi hàng đã được chuyển tới. Nhiều nhà nhập khẩu thì c ố gắng đàm phán ký lại hợp đồng. Sau khi đồng USD tăng giá tr ở l ại so v ới đ ồng EUR và nhi ều đ ồng ti ền khác, khách hàng Châu Âu đều muốn giá thuỷ sản hạ xuống. Trong khi EU lại là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn trên thế giới. Xuất khẩu thuỷ sản trên toàn cầu có thể gi ảm 20-30% về khối lượng trong giai đoạn quý IV/2008 - quý I/2009 do kinh tế toàn cầu suy thoái khiến nhu cầu đối với thuỷ sản sụt giảm. Thị trường thuỷ sản thế giới chịu ảnh hưởng bởi sức mua giảm, đặc biệt ở các thị trường tiêu thụ hàng đầu thế gi ới do giá cao và kinh t ế khó khăn, đồng thời cũng chịu tác động bởi tình hình khai thác, đặc bi ệt là h ải s ản t ự nhiên. Người tiêu dùng có xu hướng tiêu thụ các mặt hàng giá rẻ và cũng ít đi ăn hàng hơn. Do chi phí sản xuất cao mà giá thành sản phẩm thấp, ngành nuôi tr ồng th ủy s ản th ế gi ới đang bị sa sút. Ngược lại với vài năm qua, sức tăng trưởng m ạnh m ẽ trong nuôi tr ồng thu ỷ sản đã và sẽ bị chững lại trong năm 2008 và 2009. Đi ều này gây lo ngại cho t ổng ngu ồn cung thuỷ sản trên toàn cầu. Sản lượng cá rôphi tăng nhanh chóng trong m ấy năm gần đây cũng sẽ sụt giảm mạnh trong năm 2008 xuống còn 2,06 tri ệu tấn. Ngu ồn cung cá minh thái Alaska giảm gần 11% trong năm 2008 xuống còn 2,5 tri ệu tấn và sẽ ch ỉ h ổi ph ục nh ẹ lên 2,58 triệu tấn vào năm sau. Năm 2008, sản lượng cá minh thái Alaska c ủa M ỹ gi ảm xu ống còn 1 triệu tấn. So với năm 2005, sản lượng loài thu ỷ sản này đã gi ảm h ơn 32%. Ng ược lại, sản lượng của Nga lại tăng 4% lên 1,2 tri ệu tấn và d ự ki ến s ẽ tăng h ơn 8% vào năm 2009, đạt 1,3 triệu tấn. Sản lượng cá tuyết Đại Tây Dương sẽ giảm nhẹ (2%) còn 770.000 tấn. Nguồn cung cá tuyết haddock giữ nguyên mức 337.000 tấn mặc dù nhi ều chuyên gia dự đoán sản lượng loài này sẽ tăng 13% vào năm 2009. Ngành thuỷ sản Trung Quốc duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định trong năm 2008 nhờ sản lượng thuỷ sản nuôi tăng 3% so với năm trước, đạt 48,9 triệu tấn. Bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính toàn c ầu, th ặng dư thương mại thuỷ sản nuôi của Trung Quốc vẫn tăng 190 tri ệu USD (5,78%) lên 3,49 t ỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2008. Ngoài cuộc khủng ho ảng tài chính, ngành nuôi tr ồng thuỷ sản nước này còn thường xuyên phải đối phó với thiên tai, như thời ti ết đông giá vào đầu năm và bão lụt hồi giữa năm. Tuy nhiên, sản lượng c ủa ngành này v ẫn tăng nh ờ vi ệc cải tiến các đầm nuôi, thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm dịch và hệ thống sản xu ất con giống tốt. Tiêu thụ thuỷ sản nuôi năm 2008 lần đầu tiên vượt trội so với thu ỷ sản đánh bắt. T ổ ch ức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) ước tính 43% sản lượng ngh ề cá th ế gi ới đến t ừ ho ạt động nuôi thả. Tại Anh, nhu cầu đối với cá hồi nuôi đang tăng lên, và doanh thu t ừ cá h ồi nuôi Scotland đã vượt quá 400 triệu bảng từ năm 2006, chỉ sau doanh thu t ừ th ịt bò (467 triệu bảng), và cao hơn hẳn doanh thu từ thịt cừu, thịt lợn và thủy sản đánh bắt. Ấn Độ có thể sẽ từ nước xuất khẩu thuỷ sản lớn trở thành n ước nhập khẩu thu ỷ sản do sản lượng trong nước giảm. Xuất khẩu thủy sản của nước này đã giảm từ mức 612.642 tấn vào năm 2006-2007 xuống còn 541.701 tấn, trị giá 76.200 tri ệu rupee trong năm 2007- 2008. Trong khi đó tiêu thụ trong nước đang tăng do thu nh ập c ủa người dân và GDP tăng khá. Bởi vậy, về lâu dài cán cân xuất nhập khẩu có thể được cân b ằng. Với xu h ướng hiện tại thì đến năm 2050, Ấn Độ sẽ không còn nhiều thủy sản để xuất khẩu nữa cho nên cần phải cân nhắc đến việc nhập khẩu nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu. TÔM:
  3. Giá tôm thế giới tăng mạnh từ cuối năm 2007 tới gần hết quý I/2008, sau đó gi ảm nh ẹ vào đầu quý II, phục hồi vào quý tiếp theo và giảm trở lại vào cuối năm. S ự bất ổn c ủa ở các thị trường tôm hàng đầu thế giới đã ảnh hưởng tới thị trường tôm toàn cầu. Mỹ là nhà nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới, m ỗi năm n ước này nh ập kho ảng 550.000 t ấn. Tuy nhiên, sau 10 năm tăng tăng liên tục, nhập khẩu tôm vào Mỹ năm 2008 b ắt đầu trì tr ệ. Nhập khẩu tôm vào Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt tổng c ộng 236.000 t ấn, h ầu nh ư không thay đổi về khói lượng so với cùng kỳ năm 2007. M ặc dù giá tr ị nh ập kh ẩu tôm tăng 2,4% song nguyên nhân là do giá tôm nhập khẩu vào M ỹ tăng 2,5%, ch ủ y ếu là tôm v ỏ đông lạnh. Nhìn chung, các nước Châu Á như Thái Lan, Inđônêxia, Trung Qu ốc và Vi ệt Nam vẫn chi phối thị trường tôm Mỹ, chiếm 65% tổng nhâp khẩu. Ecuađo là nhà cung c ấp quan trọng với 13% thị phần. Các nước Châu Á cung c ấp nhi ều sản ph ẩ giá tr ị gia tăng hơn, trong khi các nước Mỹ Latinh chủ yếu cung cấp sản phẩm tôm bỏ đầu đông lạnh. Tại Nhật Bản, việc đồng Yên tăng giá so với Đôla M ỹ trong những tháng đ ầu và cu ối năm 2008 cũng tác động giảm tiêu thụ tôm. Nhập khẩu tôm vào Nh ật bắt đ ầu gi ảm t ừ năm 2007 và tiếp tục giảm trong năm 2008, nhưng Nhật vẫn là nước nhập nhiều tôm lớn thứ 2 thế giới, sau Mỹ. Tôm vẫn là loại thuỷ sản được nhập nhiều nhất vào Nhật, chi ếm 16% trong tổng thuỷ sản nhập vào đây năm 2007, với 270.000 tấn. Đa số tôm nhập vào Nh ật là tôm chưa chế biến, nhưng khối lượng tôm chế biến nhập vào thị trường này đã tăng lên trong những năm gần đây. Cũng giống đa số người tiêu dùng ở các n ước phát tri ển, người tiêu dùng Nhật muốn thưởng thức các sản phẩm giá trị gia tăng tiện l ợi và b ảo đ ảm v ệ sinh nhưng không muốn chi nhiều tiền và vì thế họ gây áp lực đ ối v ới ng ười bán l ẻ và nhà cung cấp để giữ giá bán thấp trên thị trường. Nói chung người tiêu dùng Nh ật s ẽ l ựa ch ọn các loại thuỷ sản đánh bắt trong nước thay tôm và cá ngừ do giá bán hai mặt hàng này ngày càng tăng khi nền kinh tế suy thoái. Nhu cầu tiêu thụ tôm ở châu Âu năm 2008 thấp, trái với xu hướng tăng liên t ục c ủa m ấy năm gần đầy. Trong khi nhu cầu thấp ở hầu hết các thị trường: Tây Ban Nha, Italia, Pháp…. các nước xuất khẩu tôm như Thái Lan, Inđônêixa, Ecuađo, Ấn Độ… lại đang n ỗ lực mở rộng thị phần của mình trên thị trường Châu Âu do gặp khó khăn ở th ị tr ường M ỹ. Kết quả là giá tôm tại châu Âu cũng giảm xuống, và tiêu thụ vẫn ch ậm. Trong ng ắn h ạn, khả năng thị trường tôm sẽ tiếp tục trì trệ. Tuy nhiên về trung hạn, chi phí khai thác, nuôi trồng, chế biến và vận chuyển tăng sẽ đẩy giá tôm tăng trở lại. May mắn thay, nhu cầu ở Trung Quốc, châu Âu (bao gồm Đông Âu) và các khu vực giàu tài nguyên như Nga và Trung Đông lại đang tăng lên. S ự chuyển h ướng c ủa tôm sang các th ị trường mới có thể cho thấy những thay đổi về nền kinh tế và mức thu nhập của người dân trên thế giới. Tôm chân trắng đang nổi bật trên thị trường thế giới với tiêu thụ tăng mạnh, l ấn át nhi ều loại tôm khác như tôm sú. Do nhu cầu tôm cỡ lớn trên cả thị trường xu ất khẩu l ẫn n ội đ ịa khiến nhiều nước sản xuất tôm chân trắng ở Đông Nam Á, với trung tâm là Thái Lan đang phải đẩy mạnh sản xuất tôm cỡ lớn 26/30 hoặc lớn hơn. M ột ngu ồn tin th ương m ại c ủa Nhật dự báo rằng tôm chân trắng cỡ lớn sẽ chiếm từ 10-12% nguồn cung tôm cho th ị trường Nhật. Giá tôm chân trắng tại Thái Lan (Baht/kg) Ngày 50 con/kg 60 con/kg 70 con/kg 80 con/kg 90 con/kg 100con/kg 30/12/2008 123 116 110 100 92 86 1/6/2008 108 100 93 90 86 80 4/1/2008 120 103 97 90 85
  4. CÁ NGỪ: Khác với mặt hàng tôm, giá cá ngừ tăng khá nhi ều trong 3 quý đầu năm 2008 b ởi s ản lượng khai thác ở Ấn Độ Dương thấp và chi phí nhiên li ệu tăng cao. T ổng cung cá ng ừ ở thị trường Nhật Bản quý I năm 2008 gi ảm rõ rệt so v ới cùng kỳ năm 2007, sau khi s ản lượng khai thác nội địa 3 tháng cuối năm 2007 giảm 11% xuống chỉ 50.901 tấn. Từ mức khoảng 1.300 USD/tấn, giá cá ngừ vằn nguyên li ệu đã lên tới 1.600 USD/t ấn vào gi ữa năm (so với khoảng 800-1.000 USD/tấn một năm trước đó). Cơ quan Nghề cá Nhật B ản cho biết, giá nhiên liệu cho các tàu khai thác đã tăng gấp 2,3 lần kể từ tháng 3/2004 tới gi ữa năm 2008 do giá dầu thô tăng liên tục leo thang. Theo số li ệu thống kê c ủa FAO, t ổng s ản lượng khai thác 5 loài cá Ngừ chủ yếu là cá Ngừ vằn, cá Ngừ vây vàng, cá Ngừ m ắt to, cá Ngừ vây dài và cá Ngừ vây xanh năm 2008 và những năm tới sẽ không th ể tăng h ơn m ức vốn đã thấp của những năm 2005-2006, khoảng 4,35 triệu tấn. Nhi ều tàu khai thác cá Ng ừ ở châu Á thậm chí có thể phải ngừng hoạt đồng do giá nhiên li ệu ngày một tăng, d ẫn đ ến giá cá ngừ sashimi có thể sẽ tăng theo. Ngày càng có nhi ều tàu đã đăng ký nh ưng không hoạt động do chi phí nhiên liệu tăng cao trong khi vi ệc đánh bắt ngày m ột khó khăn do nguồn cung suy giảm. Tuy nhiên vào những tháng cuối năm, giá gi ảm d ần do nhu c ầu giảm, chịu tác động từ suy thoái kinh tế, và giá nhiên li ệu gi ảm. T ừ m ức 1.850 -1900 USD/tấn trong quý III, giá giá mỗi tấn cá ngừ đã giảm xuống trung bình 1.400 USD. CÁ HỒI, CÁ THU: Theo khảo sát mới đây do Bộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp Nhật Bản tiến hành, nhu c ầu đ ối với cá hồi của Trung Quốc ước tính tăng khoảng 40% năm 2008. Tiêu th ụ cá h ồi và nhu cầu nguyên liệu của Trung Quốc cho sản xuất sushi tăng nhanh chóng. Năm 2006, Trung Quốc nhập khẩu 10.000 tấn cá hồi. Qua phỏng vấn nhi ều t ổ ch ức ngành, thì nhu c ầu đ ối với cá hồi của nước này tăng với tốc độ từ 35-40%/năm. Ở Trung Qu ốc, cá h ồi là lo ại thủy sản cao cấp với giá bán khoảng 40 NDT/kg. Trung Quốc dự định nuôi cá h ồi trên qui mô lớn trong tương lai. RÔ PHI: Trên thị trường Trung Quốc, đợt rét khắc nghi ệt nhất trong vòng 50 năm tr ở l ại đây x ảy ra hồi đầu năm đẩy giá thuỷ sản tăng mạnh bởi tôm cá chết hàng lo ạt. Theo ước tính c ủa các nhà cung cấp, hơn 70% sản lượng cá rô phi nuôi của Trung Quốc b ị thi ệt h ại do đ ợt rét cuối tháng 1 gây ra, gây khan hiếm nguồn thuỷ sản không ch ỉ ở n ước này mà ảnh h ưởng tới toàn cầu, vì Trung Quốc là nguồn cung cá rô phi chính cho th ị tr ường th ế gi ới. Trong quý I, theo ước tính, giá cá rôphi trên thị trường Trung Quốc tăng từ 30% - 100%. Giá cá Rô phi giống trên thị trường đã tăng 50% và người nuôi ch ưa sẵn sàng th ả nuôi ti ếp cho đ ến tháng 4. Sản lượng cá rô phi Trung Quốc năm 2008 ước tính gi ảm 80% do thời ti ết cu ối mùa đông khắc nghiệt. Nhu cầu cá rô phi mấy năm gần đây tăng mạnh. Tại th ị tr ường Châu Âu và Mỹ, đặc biệt khi tiêu thụ những loài cá vốn r ất đ ược yêu thích nh ư là cá tuy ết và cá tuyết chấm đen đã bị các nhà môi trường học cực lực phê phán. CÁ DA TRƠN: Thị trường cá da trơn thế giới biến động mạnh trong những tháng đầu năm 2008. Trên th ị trường Mỹ, giá thu mua cá da trơn tăng nhẹ so với tháng 4/2008, nhưng l ại gi ảm so v ới một năm trước đây, trong khi chi phí sản xuất (nhiên liệu, thức ăn) tăng cao. Giá th ức ăn chăn nuôi cá đã tăng gấp đôi chỉ trong một năm qua do giá ngũ c ốc và các chi phí đ ầu vào khác đều tăng
  5. đến năm 2020 Dự thảo chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2020 Thứ năm, 14 Tháng 5 2009 10:48 Kinh tế - Thủy sản Ngày 11-5, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã tổ chức hội nghị chuyên đề: "Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020". Dự kiến cuối tháng 5, Bộ NN&PTNT sẽ trình Chính phủ dự thảo chiến lược này. Hiện nay, sản phẩm thủy sản Việt Nam được xuất khẩu sang 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, những tiềm năng về nguồn lợi thủy sản cả nước ngọt, nước mặn là vô cùng lớn. Nước ta có 544 loài cá thuộc 288 giống tiềm năng, nguồn lợi thủy sản ước tính khoảng 4,5-5 triệu tấn. Từ năm 1985 đến 2008, ngành thủy sản tăng trưởng liên tục với tốc độ trung bình từ 6 - 10%/năm. Theo đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, những tồn tại lớn nhất của ngành là: chưa có chiến lược phát triển; quy hoạch còn tùy tiện; chồng chéo; phát triển tự phát; năng lực quản lý điều hành không đúng thực tế, chậm tìm ra giải pháp tháo gỡ; sự tăng trưởng của nghề cá không đi đôi với việc thay đổi bộ mặt của đời sống ngư dân. Chiến lược phát triển ngành Thủy sản Việt Nam đến năm 2020 bao gồm các nội dung cụ thể sau: Năm 2010, sản lượng tăng bình quân 2,15%, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 - 5,0 tỷ USD; Năm 2015, sản lượng tăng 2,76%/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 6,0 tỷ USD; Đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,0 tỷ USD. Để đạt mục tiêu trên thì cần phải đầu tư một khoản vốn lớn, lên tới hơn 67.000 tỷ đồng với khoảng 20 chương trình và đề án sẽ được đầu tư như: chương trình phát triển khai thác hải sản bền vững, chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, chương trình đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản, chương trình phát triển khoa học công nghệ phục vụ phát triển thủy sản… Tham gia đóng góp ý kiến trong dự thảo Chiến lược Phát triển Thủy sản đến năm 2020, lãnh đạo một số bộ, ban ngành đã đưa ra phương án cụ thể như sau: Ông Nguyễn Việt Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng: phải quan tâm đến thị trường xuất khẩu gắn với nội địa; năng suất, chất lượng đời sống của ngư dân cần được chú trọng hơn. Trong khi khai thác phải đi đôi với bảo vệ để đảm bảo phát triển thủy sản bền vững. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám nhấn mạnh: Cần chú trọng chất lượng và giá trị, mở rộng hơn về diện tích và tổng sản lượng. Bên cạnh đó, ngành cần phát triển sản phẩm có thế mạnh, sản phẩm chủ lực không chỉ trong nước mà xuất khẩu. Trước mắt Bộ NN&PTNT yêu cầu các địa phương rà soát lại diện tích nuôi trồng và có các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh. Tùy theo quy mô sản xuất mà có sự đầu tư phù hợp đảm bảo ngay từ nguyên liệu đầu vào, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giá cả và đầu ra cho sản phẩm, năng lực sản xuất ngày càng lớn của các doanh nghiệp khi thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng.
  6. Trong tình hình xuất khẩu thủy sản như hiện nay, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam khuyến cáo các doanh nghiệp cần mở rộng thị trường xuất khẩu; ngoài thị trường truyền thống có thể khảo sát tìm kiếm thị trường mới như Nam Mỹ, Trung Đông, Bắc Phi. Tuy nhiên, để làm được điều này thì Hiệp hội cũng đề nghị Chính phủ có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua lãi suất vay vốn tín dụng, giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, đồng thời đẩy nhanh việc xây dựng các kho dự trữ thủy sản trong thời gian sớm nhất. Với mục tiêu đề ra trong dự thảo năm 2020: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 7 tỷ USD như trên thì tốc độ tăng bình quân của ngành thủy sản phải đạt là hơn 3%/năm, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 triệu tấn/năm mới đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu Thị trường thuỷ sản thế giới: triển vọng tới 2015 Khởi tạo bởi : tinkinhte | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 21/04/2009 13:06 E-mail | Bản in | Lưu xem sau Tổ chức Nông Lương Liêp Hiệp quốc (FAO) dự báo t ổng sản lượng thuỷ s ản của thế giới sẽ tăng từ 129 triệu tấn năm lên 159 triệu tấn vào năm 2010 và 172 tri ệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm trong giai đo ạn đ ến 2010 và 1,6%/năm giai đoạn 2010 - 2015, chủ yếu nhờ tăng sản lượng thuỷ s ản nuôi. FAO dự báo tổng nhu cầu thuỷ sản và các sản ph ẩm thuỷ s ản trên th ế gi ới s ẽ tăng g ần 50 triệu tấn, từ 133 từ 133 triệu tấn năm 1999/2000 lên đạt 183 tri ệu t ấn vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm. Nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi: Tổ chức Nông Lương Liêp Hiệp quốc (FAO) dự báo tổng nhu c ầu thu ỷ s ản và các s ản phẩm thuỷ sản trên thế giới sẽ tăng gần 50 triệu tấn, từ 133 từ 133 tri ệu tấn năm 1999/2000 lên đạt 183 triệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng tr ưởng bình quân 2,1%/năm, chậm lại chút ít so với tốc độ tăng 3,1% mỗi năm của 20 năm trước đó. Nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm sẽ chiếm 137 triệu tấn. Tiêu thụ thuỷ sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đo ạn đến năm 2015, gi ảm so v ới m ức 1,5% đã đạt được trong 20 năm trước. Đến năm 2010, trung bình mỗi ngưới ẽ tiêu th ụ 18,4 kg th ủy sản mỗi năm, và 19,1 kg vào năm 2015, so với 16,1 kg năm 1999/2000. Tiêu th ụ cá và s ản phẩm cá bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 13,7 kg vào năm 2010 và 14,3 kg vào năm 2015, trong khi đó nhu cầu thuỷ sản có vỏ và các sản phẩm nuôi khác s ẽ đ ạt m ức t ương ứng 4,7 và 4,8 kg/người. Trong tổng lượng gia tăng nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm (kho ảng 40 triệu tấn), có 46% mức tăng là do dân số tăng, 54% còn lại là do kinh t ế phát tri ển và các nhân t ố khác. Các nước đang phát triển sẽ dẫn đầu về mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu người với mức tăng dự kiến là 1,3%, trong khi đó tại các n ước phát tri ển m ức tăng nhu c ầu tiêu thụ tính theo đầu người bình quân mỗi năm giảm 0,2%. Nhu cầu bột cá và dầu cá dự kiến mỗi năm sẽ chỉ tăng kho ảng 1,1%/năm trong giai đo ạn từ 2000 đến 2010 và 0,5%/năm trong giai đoạn 2010 - 2015. Trong khi đó nhu c ầu b ột cá ở
  7. các nước phát triển sẽ tăng 1,6% mỗi năm, ở các nước đang phát tri ển sẽ tăng 2,6%/năm cho tới năm 2010 và 1,4%/năm sau thời gian này. Khối lượng cá c ần thi ết đ ể đáp ứng nhu cầu sản xuất bột cá và dùng cho các mục đích phi thực phẩm khác sẽ đạt kho ảng 45 tri ệu tấn vào năm 2015. Tiêu thụ thuỷ sản của các nước đang phát triển tăng với nhịp độ cao hơn là do sự gia tăng nhanh hơn về dân số và thu nhập. Đối với các nước phát tri ển những yếu tố h ạn ch ế nh ịp độ tăng sản lượng chính là nhịp độ tăng dân số thấp hơn và m ức tiêu th ụ thu ỷ sản bình quân đầu người đã ở mức cao. Cùng với sự khác biệt về nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản theo nhóm nước phát triển và đang phát triển là sự thay đổi về cơ cấu tiêu thụ theo khu vực trong giai đo ạn d ự báo. Trong đó, khu vực Đông Bắc á, ngoại trừ Nhật Bản, sẽ có nhịp độ tăng tiêu th ụ thu ỷ sản cao nh ất (khoảng 30%/năm); tiếp đến là khu vực các n ước ASEAN và các n ước châu á khác; các nước Tây Âu, Bắc Mỹ sẽ có nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản thấp nhất. Do kết quả của việc cải cách hệ thống phân phối hàng thuỷ sản và do nhiều nguyên nhân khác, ở các nước sẽ có xu hướng tăng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản tại gia đình bên cạnh hệ thống dịch vụ ăn uống công cộng, các nhà hàng, khách sạn... Thị phần của kênh tiêu thụ gia đình sẽ tăng lên trong tổng tiêu thụ thuỷ sản của một khu vực thị trường. Thị hiếu tiêu thụ Về thị hiếu, tiêu thụ thuỷ sản thế giới sẽ chuyển sang hướng tiêu dùng nhiều thu ỷ sản tươi, sống, đặc biệt là các loại có giá trị cao: giáp xác, nhuyễn th ể, cá ng ừ, cá h ồi... T ỷ trọng dầu cá, bột cá trong cơ cấu tiêu thụ vẫn ổn định, trong khi tỷ lệ tiêu th ụ đ ồ h ộp ngày càng giảm do nguy cơ bị nhiễm chất hoá học từ sản phẩm đồ hộp gia tăng. Đồng thời, nhu cầu thực phẩm chế biến nhanh tăng, đòi hỏi thời gian chế bi ến tối thi ểu và h ương v ị ph ải đặc sắc như thực phẩm chế biến tại gia. Yêu cầu về an toàn thực phẩm ngày càng gia tăng và phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới. Triển vọng sản lượng Theo dự báo của FAO, tổng sản lượng thuỷ sản của thế gi ới sẽ tăng t ừ 129 tri ệu t ấn năm lên 159 triệu tấn vào năm 2010 và 172 triệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng tr ưởng bình quân 2,1%/năm trong giai đoạn đến 2010 và 1,6%/năm giai đoạn 2010 - 2015, ch ủ yếu nh ờ tăng sản lượng thuỷ sản nuôi. Trong 43 triệu tấn sản lượng dự ki ến sẽ tăng từ năm 1999/2000 đến 2015, ước tính 73% sản lượng gia tăng sẽ là thuỷ sản nuôi. Thuỷ sản nuôi dự kiến sẽ chiếm 27,5% trong tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu vào năm 2015, tăng so với 27,5% năm 1999/2000. Sản lượng đánh bắt dự kiến sẽ trì trệ trong giai đoạn dự kiến. Sản lượng thuỷ sản tại các nước đang phát triển dự kiến sẽ tăng 2,7% một năm trong giai đoạn dự báo, mức tăng này chỉ bằng một nửa so với m ức tăng đã đ ạt đ ược trong hai th ập kỷ vừa qua. Tại những nước này, thuỷ sản đánh bắt dự ki ến chỉ tăng 1% m ột năm. Do vậy, phần lớn mức sản lượng tăng sẽ là từ phía thuỷ sản nuôi, với sản lượng d ự ki ến tăng 4,1% một năm. Sản lượng thuỷ sản đánh bắt ở các nước phát tri ển d ự ki ến có th ể suy giảm trong giai đoạn dự báo. Phần của các loại cá biển trong tổng sản lượng cá dự báo sẽ gi ảm từ 30,8% trong năm 1999/2001 xuống 24,5% vào năm 2015. Tương tự, phần c ủa các lo ại cá t ầng đáy s ẽ g ảim từ 16,2% xuống 12,7%. Trái lại, phần của cá nước n ước ngọt và cá n ước l ợ s ẽ tăng t ừ 23,7% trong năm 1999/2001 lên 29,3% vào năm 2015, và phần của các loài giáp xác, thân mềm và chân đầu sẽ tăng từ 20,5% lên 25,6%. So sánh cung cầu dự kiến cho thấy nhu cầu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản sẽ cao hơn lượng cung tiềm năng. Tổng lượng thuỷ sản thiếu hụt sẽ là 9,4 triệu tấn vào năm 2010 và 10,9 triệu tấn vào năm 2015. Tình trạng thiếu hụt này sẽ không xảy ra n ếu nh ư có s ự cân
  8. đối giữa một bên là giá thuỷ sản tăng, cùng với sự dịch chuyển về nhu c ầu tiêu th ụ các loại thuỷ sản khác nhau và một bên là sự dịch chuyển nhu cầu nhu cầu sang các lo ại th ực phẩm giàu protein thay thế khác. Triển vọng thương mại thuỷ sản thế giới Theo dự báo của FAO, thương mại thuỷ sản thế giới đang tăng trưởng rất nhanh với 38% sản lượng thuỷ sản được giao dịch quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu toàn c ầu tăng 9,5% vào năm 2006, 7% năm 2007, lên đến con số kỷ lục 92 tỉ USD. Trung Quốc là nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới, với kim ngạch xuất khẩu đạt 9,7 tỷ USD. Đ ồng th ời n ước này đang tăng cường nhập khẩu thuỷ sản, năm 2007 Trung Quốc đã chi 4,2 tỷ USD đ ể nh ập khẩu thuỷ sản cho mục đích tái xuất. Các nước đang phát triển tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong ngành thu ỷ sản, chi ếm 50% sản lượng thương mại thuỷ sản toàn cầu, chiếm 27% giá trị, tương đ ương 25 t ỉ USD. Các nước phát triển chiếm 80% tổng nhập khẩu thuỷ sản toàn cầu. Mức xuất khẩu ròng thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản của các nước đang phát tri ển sẽ đạt 10,6 triệu tấn vào năm 2010, nhưng sẽ giảm xuống còn 10,3 tri ệu t ấn vào năm 2015, chủ yếu là do nhu cầu nội địa gia tăng. Mỹ La tinh và Caribê s ẽ ti ếp t ục là khu v ực xu ất siêu về thuỷ sản lớn nhất, và Châu Phi, khu vực nhập siêu về thuỷ sản truyền thống sẽ trở thành khu vực xuất siêu về thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản vào năm 2010. Châu Á vẫn là khu vực nhập siêu về thuỷ sản tuy mức nh ập siêu s ẽ gi ảm đi do Trung Quốc - vốn là nước nhập siêu thuỷ sản sẽ lại trở thành nước xuất siêu về thuỷ sản vào năm 2015, chủ yếu là do sản lượng nuôi tiếp tục mở rộng. Nhập khẩu ròng thu ỷ s ản vào châu Á sẽ giảm từ 5,1 triệu tấn năm 1999/2000 xuống 4,8 tri ệu tấn vào năm 2015. Trái v ới xu hướng này, Trung Quốc, dự kiến sẽ là nước nhập ròng v ới giá t ương đ ối ổn đ ịnh, d ự kiến sẽ trở thành một nước xuấ khẩu ròng cá vào năm 2015, chủ yếu b ởi sản l ượng nuôi thả tăng lên. Các nước phát triển sẽ giảm lượng nhập siêu thuỷ sản và các sản ph ẩm thu ỷ s ản xu ống còn khoảng 10,6 triệu tấn vào năm 2010 và khoảng 10,3 tri ệu tấn vào năm 2015. Xét theo khu vực, Bắc Mỹ có thể sẽ tăng khối lượng nhập siêu từ 1,7 tri ệu t ấn hi ện nay lên 2,4 triệu tấn vào năm 2015. Tây Âu dự kiến sẽ giảm lượng nhập siêu từ mức 2,6 tri ệu t ấn hiện nay xuống còn khoảng 0,2 triệu tấn vào năm 2015. Các n ước phát tri ển khác, đáng chú ý là Nhật Bản, dự kiến sẽ duy trì khối lượng thuỷ sản nhập khẩu như hiện nay. Triển vọng giá: So sánh các dự báo về cung và cầu thuỷ sản cho thấynhu cầu sẽ vượt cung trong tương lai. Lượng thiếu cung các loại thuỷ hái sản sẽ lên tới 9,4 tri ệu tấn vào năm 2010, và 10,9 tri ệu tấn vào năm 2015. Nguồn cung thiếu hụt sẽ khiến mức giá thuỷ sản gia tăng trong những năm t ới. M ức tăng giá thực tế này sẽ có tác động mạnh tới những người tiêu dùng có thu nh ập th ấp. Đ ồng thời, sự gia tăng giá thành sản xuất chế biến do tăng chi phí khai thác nguyên li ệu và tăng giá lao động sẽ là những yếu tố tiếp tục duy trì xu hướng gia tăng về giá thu ỷ sản. Tuy nhiên, xu hướng tăng giá thuỷ sản sẽ không lớn do thuỷ sản là nhóm hàng th ực ph ẩm có khả năng thay thế lớn (giữa các loại thuỷ sản với nhau). Thêm vào đó, do tính c ạnh tranh cao trên thị trường, các nhà cung cấp thuỷ sản vẫn sử dụng giá như vũ khí l ợi h ại đ ể chiếm lĩnh thị trường, nên xu hướng tăng giá trên thị trường thế gi ới cũng b ị h ạn ch ế. C ần lưu ý rằng, cạnh tranh về giá chủ yếu phát huy tác dụng tại thị tr ường các n ước đang phát triển, các thị trường mới, trong khi tại các n ước phát tri ển, an toàn v ệ sinh th ực ph ẩm m ới
  9. là yếu tố quyết định đến sức cạnh tranh của sản phẩm. Dự báo, giá các lo ại thu ỷ s ản s ẽ tăng khoảng 3% vào năm 2010 và 3,2% vào năm 2015. Giá các loại thuỷ sản tăng sẽ có ảnh hưởng lớn tới người tiêu dùng có thu nhập th ấp. Do giá tăng, tiêu thụ cá các loại trên toàn cầu sẽ ở mức 165,2 tri ệu tấn vào năm 2010, th ấp hơn 3,1 triệu tấn so với dự báo về nhu cầu trong trường hợp giá tương đối ổn định. Tương tự, tổng tiêu thụ cá vào năm 2015 sẽ ở mức 179 triệu tấn, tương đương v ới m ức nhu c ầu giảm 3,8 triệu tấn. Mặt khác, nguồn cung cá cá loại trên toàn cầu, đ ược kích thích b ởi giá cao, sẽ tăng tương ứng 6,3 triệu tấn và 7,1 triệu tấn vào cuối mỗi giai đoạn dự kiến. Hiện nay, tổng sản lượng thuỷ sản khai thác của Vi ệt Nam hàng năm đ ạt trên 4,1 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 2,15 tri ệu tấn và s ản lượng nuôi tr ồng đạt 2 triệu tấn. Theo dự kiến, kim ngạch xuất kh ẩu năm 2009 s ẽ ph ấn đ ấu đ ạt khoảng 5 tỷ USD và đến năm 2010 đạt kim ngạch 5,6 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân 11,4%. Thị trường chính vẫn là EU, Mỹ,Nh ật Bản, Hàn quốc, Nga, các nước ASEAN. Giai đoạn xuất khẩu 2009-2010 vẫn tiếp tục khai thác thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn quốc, ASEAN. Cơ hội đa dạng hoá thị trường còn lại ở các th ị tr ường Trung Qu ốc, các nước Đông Âu cũ và Úc. Dưới đây là một số khó khăn và giải pháp tháo gỡ của ngành: Khó khăn: -Khó khăn chủ yếu hiện nay là các nước đang áp dụng các hành vi bảo h ộ th ương m ại, các hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn m ới kh ắt khe hơn về dư lượng kháng sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm. Như trường h ợp B ộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đang trong quá trình triển khai dự luật nông nghi ệp 2008 (Farmbill), trong đó có điều khoản nhằm hạn chế việc nhập khẩu cá tra c ủa Vi ệt Nam, d ựa trên vi ệc mở rộng định nghĩa catfish và đưa cá tra c ủa Vi ệt Nam vào danh sách này đ ể chuy ển đ ối tượng này từ US FDA sang USDA quản lý. -Thiếu nguyên liệu trong nước để sản xuất xuất khẩu trong khi thuế nhập khẩu ở m ức cao 10-20%. Hiện nay, hầu hết các nhà máy chế biến thuỷ sản chỉ hoạt động được khoảng 70% công suất do thiếu nguyên liệu chế biến. Số nhà máy chế biến hải sản không ngừng tăng lên trong khi năng lực nuôi trồng , khai thác trong n ước có h ạn, c ạnh tranh tr ở nên gay gắt. Để đáp ứng được các đơn hàng đã ký từ trước, nhiều doanh nghiệp bu ộc ph ải ch ọn giải pháp nhập khẩu nguyên liệu. Chỉ riêng cá hồi, bình quân mỗi năm Vi ệt Nam phải nhập khẩu khoảng 1.500 tấn từ các nước châu Âu. Theo dự báo của B ộ NN & PTNT, đ ể đáp ứng đủ nhu cầu chế biến xuất khẩu, từ nay đến 2010, nhập khẩu hàng thu ỷ sản c ủa Việt Nam sẽ tăng từ 81-10%/năm, với giá trị khoảng 200 triệu USD/năm. -Việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng và vay ưu đãi gặp khó khăn. Hi ện , người dân nuôi trồng thuỷ sản phải vay vốn ngân hàng với lãi suất cao (trên 1%/tháng), th ậm chí nếu vay ở ngoài có lúc lên tới 2%/tháng. -Con giống không đảm bảo, chất lượng thấp. Nguyên liệu sản xuất thiếu trong khi thu ế nhập khẩu nguyên liệu ở mức cao, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa vùng sản xuất với chế biến. Bên cạnh đó, yếu kém trong khâu marketing và thi ếu đ ội ngũ các nhà qu ản lý cũng như lao động có trình độ cũng là khó khăn đối với ngành thuỷ sản.
  10. -Nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nhiều trường hợp không đảm bảo chất lượng, có dư lượng kháng sinh cao… Giải pháp -Duy trì tốc độ phát triển của ngành thuỷ sản hiện nay trên cơ sở tăng c ường các y ếu t ố đam rbảo phát triển bền vững như: tái tạo nguồn lợi, an toàn cho ngư dân, t ừng b ước đi ều chỉnh cơ cấu nghề cá, giảm khai thác ven bờ, phát triển đánh bắt xa bờ. -Các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp đẩy mạnh công tác ki ểm tra, kiểm soát an toàn vệ sinh chất lượng hàng thuỷ sản từ khâu nuôi trồng – nguyên liệu tới thành phẩm đ ể gi ữ uy tín cho hàng thuỷ sản của Việt Nam cũng như đáp ứng được yêu c ầu c ủa th ị tr ường nhập khẩu; nghiên cứu và lai tạo các giống mới có chất lượng cao. -Chính phủ hỗ trợ kinh phí trang bị máy móc, thi ết b ị và chi phí ki ểm tra d ư l ượng kháng sinh và vệ sinh an toàn thực phẩm (kể c ả khâu thu mua nguyên li ệu, s ơ ch ế, s ản xu ất và xuất khẩu). -Xem xét giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản xuống 0-0,5%. Những đối th ủ c ạnh tranh của ta như Trung Quốc, các nước ASEAN đều áp dụng thuế nhập khẩu nguyên li ệu thuỷ sản bằng 0-0,2%. Trong khi đó mức thuế 10-20% mà các doanh nghi ệp Việt Nam phải chịu là quá cao. Mặt khác khi thuế nhập khẩu nguyên li ệu bằng 0, thì các th ủ t ục h ải quan sẽ nhanh chóng hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuác tiến việc nhập khẩu nguyên liệu, góp phần giảm giá thành sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh. -Đẩy mạnh việc cho vay vốn ưu đãi nuôi trồng thuỷ sản đối v ới người dân và doanh nghiệp qua Ngân hanàg phát triển Việt Nam. -Tự chủ sản xuất và cung cấp thức ăn nuôi trồng thuỷ sản có chất lượng cao, giá thành hạ. Nâng cao công tác kiểm tra chất lượng đi đôi với việc gi ảm th ủ t ục hành chính đ ối v ới nguyên liệu nhập khẩu. Thủy sản Việt Nam: Nhỏ lẻ, thiếu sức cạnh tranh Khởi tạo bởi : diembao | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 26/05/2009 23:36 E-mail | Bản in | Lưu xem sau Ngành thủy sản Việt Nam đang ở tình trạng: Quy hoạch nhỏ lẻ, tự phát, thiếu tính chiến lược dẫn đến "khủng hoảng" nguyên liệu lúc thừa, lúc thiếu; sản phẩm cạnh tranh kém. Để khắc phục hạn chế đó, ngày 11-5, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã tổ chức hội nghị chuyên đề: "Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020". Dự kiến cuối tháng 5, Bộ NN&PTNT sẽ trình Chính phủ dự thảo chiến lược này. Chế biến tôm xuất khẩu tại Công ty CP chế biến thủy sản xuất nhập Tiềm năng còn bỏ ngỏ khẩu Cà Mau.
  11. Đến nay ngành thủy sản đã xác định được 544 loài cá thuộc 288 gi ống. Ti ềm năng ngu ồn lợi thủy sản ước tính dao động trong khoảng 4,5-5 triệu tấn, sản lượng khai thác bền vững từ 1,8 đến 2 triệu tấn. Ngoài ra, nguồn lợi thủy sản nước ngọt cũng rất đa d ạng nh ư tôm càng xanh, cua đồng… sản lượng khai thác thủy sản n ước ngọt hằng năm đạt kho ảng 200.000 tấn, tập trung chủ yếu ở khu vực Nam bộ. Nuôi trồng thủy sản có thể phát tri ển ở nhiều vùng sinh thái khác nhau. Tổng diện tích có thể phát triển nông - thủy sản là 2,2 triệu héc ta mặt nước. Từ năm 1985 đến 2008, ngành thủy sản tăng tr ưởng liên t ục v ới t ốc đ ộ trung bình từ 6 - 10%/năm. Tuy nhiên, các đại biểu dự hội nghị đều nhận định: Phát triển ngành thủy sản Vi ệt Nam có tăng trưởng cao song hiệu quả chưa tương xứng với ti ềm năng; nhi ều n ơi v ẫn còn mang tính tự phát và luôn trong tình trạng "được mùa, r ớt giá"; c ơ s ở h ạ t ầng k ỹ thu ật ngh ề cá chưa được đầu tư theo kịp nhu cầu phát triển, nhất là hạ tầng th ủy l ợi ph ục v ụ cho nuôi trồng thủy sản; hệ thống cầu, cảng, khu neo đậu, tránh trú bão còn nhi ều hạn ch ế; công tác quy hoạch còn nhiều bất cập. Đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho r ằng: T ồn t ại l ớn nh ất của ngành thủy sản Việt Nam là chưa có chiến lược phát triển, nên việc quy hoạch còn tùy tiện dẫn tới chồng chéo. Ngoài ra, chưa có cách ti ếp c ận v ề ngu ồn l ợi th ủy s ản d ẫn đ ến tình trạng phát triển tự phát; năng lực quản lý điều hành không đúng th ực t ế, ch ậm tìm ra giải pháp tháo gỡ; sự tăng trưởng của nghề cá không đi đôi với vi ệc thay đ ổi b ộ m ặt c ủa đời sống ngư dân. Chú trọng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa * Năm 2010, tổng sản lượng khai thác thủy sản đạt 5,0 triệu tấn, Đó là giải pháp cần thiết để phát triển ngành thủy sản năm 2015 là 5,7 triệu tấn; năm bền vững, TS Lê Thanh Lựu, Viện trưởng Viện 2020 là 6,5 triệu tấn. Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 cho rằng, vấn đề * Năm 2010, sản lượng tăng bình quan trọng nhất để phát triển thủy sản là thị trường, quân 2,15%, giá trị kim ngạch xuất chú ý xúc tiến thương mại. Để cạnh tranh, Việt Nam khẩu đạt 4,8 - 5,0 tỷ USD; năm phải phát triển được tiềm năng sẵn có trong n ước, 2015, sản lượng tăng 2,76%/ năm, như đầu tư mạnh cho nuôi tôm sú và cá tra. Đồng kim ngạch xuất khẩu đạt 6,0 tỷ thời, dự báo về biến đổi tài nguyên liên quan đến USD; đến năm 2020, kim ngạch thủy sản để nâng cao chất lượng thủy sản. Bà Trần xuất khẩu đạt 7,0 tỷ USD với khối Thị Miêng, Phó Cục trưởng Cục Chế biến thương lượng thành phần xuất khẩu đạt mại, nông, lâm, thủy sản và Nghề muối kiến nghị: 1,8 tỷ tấn/4,7 tấn nguyên liệu thủy Cần phải củng cố, tìm kiếm mở rộng thị trường ti ềm sản, chiếm 74,6%. năng, nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng để cải tiến và đa dạng hóa hàng hóa, sản phẩm thủy sản. Phối hợp chặt chẽ trong quản lý, sản xuất và lồng ghép vấn đề "tam nông" nhằm h ạn chế r ủi ro v ề thị trường và nguồn vốn sản xuất. Tuy nhiên, yêu cầu c ủa thị tr ường ngày m ột cao nên các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến thủy sản phải tập trung nâng cao chất lượng. Theo ông Nguyễn Việt Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, để đạt đ ược nh ững mục tiêu phát triển ngành thủy sản vào năm 2020 phải đồng th ời quan tâm khai thác th ị trường xuất khẩu gắn với nội địa. Trước mắt, cần phải tính toán cân đối hài hòa, chú trọng phát triển thị trường nội địa. Năng suất, chất lượng, đời sống c ủa ngư dân ph ải luôn đi kèm với nhau, tuy nhiên, phát triển phải đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám nhấn mạnh: Giải pháp phát triển chung của ngành thủy sản là chú trọng chất lượng và giá tr ị, m ở r ộng h ơn v ề di ện tích và t ổng s ản lượng. Phát triển một số sản phẩm chủ lực như: các sản phẩm đặc sản bản đ ịa; đ ồng th ời rà soát lại các chương trình dự án, từ đó đưa ra các chương trình dự án m ới. Trước mắt, để
  12. đạt tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2009 đạt 4 tỷ USD, B ộ NN&PTNT yêu c ầu các địa phương cần rà soát lại diện tích nuôi trồng th ủy sản, b ảo đ ảm các đi ều ki ện cho các vùng nuôi thâm canh, an toàn dịch bệnh. Bên c ạnh vi ệc m ở r ộng di ện tích nuôi tôm công nghiệp, nuôi sinh thái; điều chỉnh quy mô sản xu ất cá tra, tôm các lo ại theo nhu c ầu thị trường, các địa phương cũng tạo điều kiện thuận lợi đầu tư nâng cao năng l ực các c ơ sở sản xuất giống chất lượng và sạch bệnh, bảo đảm nguyên liệu cho sản xuất. Về phía các doanh nghiệp xuất khẩu cần tìm cách gi ải quyết những ách t ắc, đ ể khai thông cho ngành xuất khẩu thủy sản trong nước như kiểm soát chặt chẽ chất lượng cũng nh ư giá cả đầu vào; tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật… Bên cạnh đó, VASEP cũng khuy ến cáo các doanh nghiệp cần mở rộng thị trường xuất khẩu; theo đó, nên tập trung vào các th ị trường mới như Nam Mỹ, Trung Đông, Bắc Phi vì nơi đây yêu c ầu giá ph ải có tính c ạnh tranh với cá thịt trắng của các nước khác. Đề nghị Chính phủ có chính sách h ỗ tr ợ các doanh nghiệp thông qua lãi suất vay vốn tín dụng, gi ảm thu ế nhập kh ẩu nguyên li ệu, đ ồng thời đẩy nhanh việc xây dựng các kho dự trữ thủy sản Phát triển ngành thủy sản bền vững Khởi tạo bởi : diembao | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 04/07/2009 23:37 E-mail | Bản in | Lưu xem sau Thủy sản là một trong những ngành kinh t ế đem lại kim ngạch xuất khẩu cao cho Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hàng thủy sản đã có mặt ở kho ảng 160 th ị trường trên thế giới. Sau khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mặt hàng thủy sản càng có điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng Tôm là một trong những mặt hàng gặp phải không ít thách thức từ việc áp dụng các xuất khẩu mạnh của Việt Nam. Ảnh: qui định của WTO... Việc xây dựng kế hoạch hành THANH TÂM động quốc gia về phát triển và tăng trưởng bền vững cho ngành thủy sản là rất cần thiết và cấp bách! THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN Năm 2008, xuất khẩu thủy sản đạt 4,5 tỉ USD với sản lượng trên 4,5 tri ệu tấn. Hi ện nay, trong cả nước có khoảng 120.000 tàu thuyền nghề cá. Tổng di ện tích sử d ụng cho m ục đích nuôi trồng thủy sản toàn quốc khoảng 1,1 triệu ha, với sản lượng (năm 2008) đạt 2,3 triệu tấn, trong đó cá tra, ba sa chiếm 1,3 triệu tấn, 450.000 tấn là tôm nước ngọt và lợ, còn lại là các mặt hàng thủy, hải sản khác. Trong các nước xu ất kh ẩu th ủy s ản trên th ế gi ới, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc đ ộ tăng tr ưởng th ủy s ản nhanh nh ất, với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn1998-2008 đạt 18%/năm. K ể t ừ năm 2001, Việt Nam đã có tên trong nhóm 10 nước có xuất khẩu thủy sản m ạnh nh ất trên th ế giới. Hiện nay, hàng thủy sản Việt Nam chiếm 3,7% thị phần trên thế gi ới và 0,3% tổng kim ngạch của toàn thế giới. Theo qui ước, nhóm sản phẩm nào có th ị ph ần cao h ơn ch ỉ s ố này được coi là “vượt mức” tức là có đủ năng lực cạnh tranh. Ba kh ối th ị tr ường chính c ủa
  13. xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ và EU với khoảng 60% tổng giá tr ị xuất khẩu thủy sản. Ngoài ra, hàng thủy sản Việt Nam cũng đang bắt đầu thâm nh ập vào thị trường mới phát triển như: Đông Âu, Trung Đông, châu M ỹ... Tôm đông lạnh và phi-lê cá tra, ba sa đông lạnh là hai mặt hàng th ủy s ản xu ất kh ẩu ch ủ lực. Năm 2008, khối lượng của hai mặt hàng này là 832.382 tấn, chiếm 67,33% t ổng kh ối lượng xuất khẩu thủy sản, với kim ngạch đạt 3.078 tri ệu USD, chiếm 75,84%. Trong đó, tôm đông lạnh đạt 191.553 tấn, trị giá hơn 1,6 tỉ USD, tăng 18,8% v ề kh ối l ượng và 7,7% về giá trị so với năm 2007, chiếm 31,6% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị tr ường xuất khẩu chính của mặt hàng này là Nhật Bản, Mỹ và EU. Năm qua, Nh ật Bản là nhà nhập khẩu tôm Việt Nam với khối lượng 58.533 tấn, chiếm 30,56% v ới tr ị giá gần 499 triệu USD. Tuy sau vụ kiện chống bán phá giá tôm, thị ph ần t ại M ỹ đã b ị thu h ẹp, nh ưng thị trường này vẫn đứng ở vị trí thứ hai trong các nhà nhập khẩu tôm. Năm ngoái, th ị trường này đã nhập khẩu 46.829 tấn (14,45%), trị giá 467,279 triệu USD. Tiếp đến là cá, đây là nhóm sản phẩm nhiều năm nay trở thành thế mạnh trong xu ất khẩu thủy sản. Đặc biệt, với sản phẩm cá tra và cá ba sa đã đ ược người tiêu dùng không ch ỉ t ại Mỹ ưa chuộng mà ngày càng thể hiện rõ ưu thế tại thị trường các n ước trong kh ối EU. Trong năm 2008 khối lượng xuất khẩu mặt hàng này đã tăng 65,6% so v ới năm 2007, đ ạt hơn 640 tấn, trị giá trên1,4 tỉ USD. Nhận định về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, ông Andun Lem, cán b ộ T ổ ch ức Lương nông Liên Hiệp Quốc (FAO) cho rằng: “Việt Nam hiện nay không chỉ là m ột n ước đi đ ầu trong xuất khẩu nông sản với các mặt hàng như cà phê, đi ều... mà đã tr ở thành 1 trong 4 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Tôi đánh giá cao v ề đi ều này và mong mu ốn hợp tác với Việt Nam trong việc hỗ trợ kỹ thuật cũng như kinh phí để phát triển nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam, cũng như chia sẻ kinh nghi ệm nuôi tr ồng và xu ất khẩu thủy sản của Việt Nam cho những nước khác”. GIẢI PHÁP NÀO VƯỢT QUA THÁCH THỨC? Vấn đề lớn nhất đối với sự phát triển của ngành thủy sản Vi ệt Nam hi ện nay là s ự m ất cân đối về nhận thức cũng như hành động của các thành phần khác nhau trong chu ỗi giá trị. Nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản về cơ bản vẫn được đặt trong ch ế đ ộ “ti ếp c ận tự do”, việc quản lý chỉ là hành vi mang tính đối phó từng vụ việc. Nuôi trồng tự phát đã đe dọa đến môi trường và sự phát triển bền vững, thông tin thị trường không thông suốt, thiếu mối liên kết giữa các thành phần trong chuỗi hệ thống, gây nên nhi ều tr ở ngại trong xu ất khẩu như: nhiễm bẩn sản phẩm, dư lượng kháng sinh... Trong hệ thống bán lẻ thủy sản hiện nay chủ yếu thông qua các chợ thông thường. Ở đó, thủy sản được bán chung với rất nhiều loại thực phẩm khác. Cho đến nay ch ưa có m ột chợ bán buôn hay trung tâm đấu giá chuyên thủy sản, kể cả sản phẩm làm nguyên li ệu cho chế biến xuất khẩu để tiêu dùng trong nước. Chính những lý do trên nên ngành thủy sản đã không ít lần gặp phải những trở ngại trên những thị trường nhập khẩu. Chưa kể, hệ thống tổ chức quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản còn tồn tại nhi ều vướng mắc như trong vấn đề chậm trễ cập nhật các văn bản pháp quy để phù h ợp v ới các thị trường xuất khẩu, hệ thống cán bộ phần lớn chưa được đào tạo chuyên sâu, quản lý hàng thủy sản chưa được thực hiện bài bản... cũng tạo nhiều khó khăn, thách thức trong xuất khẩu thủy sản. Mới đây, tại TP Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) ph ối h ợp FAO cùng xây dựng dự án “Hành động quốc gia về phát tri ển bền vững ngành th ủy s ản sau khi gia nhập WTO giai đoạn 2010-2012” với sự tham gia của các chuyên gia, tư vấn
  14. trong và ngoài nước. Tại hội thảo, các ý kiến cho rằng, để phát tri ển bền v ững cho ngành th ủy s ản c ần t ập trung vào 3 nhóm chính: rà soát, sửa đổi hoàn thiện hệ thống pháp luật, khả thi phù hợp với trình độ phát triển và vị trí của Việt Nam trong c ộng đồng ngh ề cá th ế gi ới, b ảo đ ảm hài hòa với hệ thống hiệp định và cam kết quốc tế về phát tri ển nghề cá. K ế đ ến là tăng cường năng lực hệ thống quản lý, xây dựng chính sách và bảo đ ảm thi hành lu ật. Cu ối cùng, đẩy mạnh các mối quan hệ hợp tác, liên kết các thành viên trong chu ỗi giá tr ị b ởi các mối liên kết này là cơ sở để thực hiện luật và các giải pháp qu ản lý... Vùng ĐBSCL có tốc độ tăng trưởng khá nhanh về di ện tích nuôi tôm, cá tra, ba sa nên vi ệc tìm ra các giải pháp cho sự phát triển bền vững là m ột vấn đ ề c ấp bách. Ch ỉ tính riêng trên địa bàn TP Cần Thơ, diện tích nuôi thủy sản hơn 1.300 ha, với kho ảng 980 ha di ện tích mặt nước với 3 loại hình nuôi là thâm canh, nuôi cá đ ịa ph ương và nuôi cá trên ru ộng. Đ ặc biệt, diện tích nuôi cá tra có tốc độ phát triển nhanh nh ưng người dân ch ủ y ếu là nuôi t ự phát, vùng nuôi chưa có qui hoạch tổng thể, nên người dân luôn phải chạy theo giá, tình trạng thua lỗ ngày càng nhiều, chưa kể môi trường cũng bị ô nhiễm. Để tìm giải pháp cho sự phát triển ngành thủy sản bền vững, Ông Phạm Văn Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết: “Để hướng đến sự phát triển bền vững, bảo v ệ môi trường, hiện nay ngành đang thí điểm và hướng người dân nuôi theo qui trình s ạch (GAP, SQF), với chủ trương là sẽ xây dựng sản phẩm theo khung ch ất l ượng, s ản ph ẩm an toàn, giá thành thấp, chi phí sản xuất thấp sẽ đối phó được các lo ại giá thu mua mà khó có thể lỗ và an toàn cho môi trường nước”. Với điều kiện tự nhiên và hạ tầng cơ sở chế biến, có thể khẳng đ ịnh r ằng Vi ệt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng có khả năng và ti ềm lực r ất l ớn để xu ất kh ẩu th ủy, h ải s ản. Tuy nhiên, cần phải tạo ra một mặt bằng tốt, hệ thống giá tr ị đ ồng đ ều cùng v ới h ỗ tr ợ của khung pháp luật để phù hợp với pháp luật của các nước nh ập kh ẩu thì m ới m ở đ ường cho xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam ra thế giới một cách bền vững. Trong Hội nghị chuyên đề “Chiến lược phát tri ển ngành th ủy sản Vi ệt Nam đ ến năm 2020” vừa tổ chức vào tháng 5-2009, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho r ằng: giải pháp phát triển chung cho ngành thủy sản là phải chú trọng chất lượng và giá tr ị, m ở rộng hơn về diện tích và tổng sản lượng. Phát triển m ột số sản phẩm chủ lực nh ư: các sản phẩm đặc sản bản địa; đồng thời rà soát lại các ch ương trình d ự án, t ừ đó đ ưa ra các chương trình dự án mới. Bên cạnh việc mở rộng diện tích nuôi tôm công nghi ệp, nuôi sinh thái; điều chỉnh quy mô sản xuất cá tra, tôm các lo ại theo nhu c ầu th ị tr ường, các đ ịa phương cũng cần tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nâng cao năng lực các c ơ sở sản xu ất giống chất lượng và sạch bệnh, bảo đảm nguyên liệu cho sản xuất Vào WTO 2 năm vẫn chưa rành luật Cập nhật lúc 06:07, Thứ Bảy, 15/08/2009 (GMT+7) , - Để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, môi trường... cơ quan chức năng Việt Nam đang gấp rút xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu. Công việc không dễ bởi bản thân người làm luật cũng chưa nắm vững những quy định tại WTO. "Bỗng dưng" gặp hạn Câu chuyện bắt nguồn từ một lá đơn kêu cứu gửi Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP) của Công ty CP Hải Việt có trụ sở tại TP.HCM ngày 7/8.
  15. Trong đơn, lãnh đạo công ty cho biết ngày 27/7, khách hàng từ Nhật của Hải Việt có gửi một kiện hàng 100kg cá hồi đông lạnh dùng để làm mẫu sản xuất thử mặt hàng mới. Lô hàng trên gửi trên chuyến bay SQ172/28 đến sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/7 và được làm thủ tục hải quan tại đây. Tuy nhiên, giờ nó đã biến thành rác do không thể hoàn tất thủ tục hải quan. Lý do, lô hàng đó chưa thể hoàn tất thủ tục hải quan do không có giấy đăng ký và chứng nhận kiểm dịch do Cục Thú y cấp. Thuỷ sản đông lạnh nhập khẩu không cần có giấy kiểm dịch (ảnh mpi) Hải Việt đã liên lạc với Cục Thú y để làm thủ tục đăng ký cho lô hàng này, song, cũng đành "bó tay" vì không đáp ứng đủ các giấy tờ như yêu cầu. Đối tác không thể cấp Giấy chứng nhận kiểm dịch do cơ quan của nước xuất khẩu phát hành, bởi hàng đã xuất khẩu, đương nhiên cơ quan hữu quan Nhật Bản cũng chịu. Kết quả, công ty buộc lòng phải tiêu huỷ lô hàng trên. Đây không phải là trường hợp duy nhất Hải Việt gặp phải. Rất nhiều lô hàng thuỷ sản đông lạnh nhập khẩu khác (gồm các loại cá, tôm, mực, bạch tuộc đông lạnh, được nhập khẩu làm nguyên liệu để chế biến tái xuất khẩu) cũng bị dồn ứ tại các cửa khẩu (cảng biển, cảng hàng không... ). Lỗi không nắm rõ luật Nguyên nhân của sự việc là ở Công văn 898/TY-KD của Cục Thú y (Bộ NN&PTNT) ban hành ngày 3/6/2009 nhằm hướng dẫn tạm thời về việc kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển cửa khẩu, kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam. Quy định trên nhằm triển khai Quyết định số 1427 trước đó của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về phân công thực hiện nhiệm vụ thú ý thủy sản cho Cục Thú y, Cục Nuôi trồng Thủy sản và Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thuỷ sản (Nafiqad) - tức để thực hiện trong thời điểm giao thoa nhằm sắp xếp lại công việc của 3 cơ quan thuộc Bộ. Trên thực tế, FAO, WHO, OIE và thông lệ thương mại quốc tế từ lâu đã quy định, các thủy sản và sản phẩm thủy sản đông lạnh, đã trải qua quá trình cấp đông ở nhiệt độ âm sâu (dưới -25oC), là nhóm sản phẩm không còn chứa các nguy cơ gây dịch bệnh cho người và động vật. Trước đây, Bộ Thủy sản cũng đã quy định rõ đối tượng kiểm dịch là các sản phẩm sống, tươi, có hoặc không ướp đá, chưa qua chế biến, nghĩa là không áp dụng cho sản phẩm đã qua chế biến đông lạnh, nấu chín. Chính vì vậy, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát ngày 12/8 vừa triệu tập cuộc họp khẩn với đại diện VASEP, Cục Thú y, Nafiqad, Văn phòng SPS (Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật Việt Nam) và Vụ Pháp chế. Tại cuộc họp, Bộ trưởng Cao Đức Phát kết luận, việc ban hành Công văn 898/TY-KD đã không thực hiện đúng đúng thủ tục về việc thông báo trước 60 ngày về thay đổi quy định SPS cho các quốc gia thành viên WTO như Việt Nam đã cam kết, không căn cứ vào thông lệ quốc tế đã được OIE công bố, không hướng dẫn chi tiết và không có thời gian chuyển tiếp cần thiết để doanh nghiệp có thể thực hiện.
  16. Ông đã yêu cầu Cục trưởng Cục Thú y phải có văn bản sửa sai ngay bằng cách tạm đình chỉ thi hành Công văn 898 (ngay chiều cùng ngày, Cục đã thực hiện lệnh này) cho đến khi có văn bản mới. Văn bản mới phải được xây dựng theo đúng trình tự pháp lý, căn cứ trên thông lệ quốc tế, trong đó nêu rõ những vấn đề sửa đổi, những quy định mới, và phải thực hiện việc thông báo lên mạng WTO để tham vấn ý kiến các quốc gia khác. Trước khi áp dụng quy định mới về kiểm dịch, cần phải thông báo và bố trí thời gian cần thiết cho doanh nghiệp chuẩn bị thực hiện. Có một điều không thể bỏ qua là tại đây, đại diện Cục Thú y cho biết họ ban hành văn bản mà không nắm rõ các quy định trên trong WTO. Trong khi đó, Việt Nam đã tham gia vào sân chơi WTO được 2 năm, và Cục Thú y lâu nay vốn hợp tác rất chặt chẽ với các tổ chức FAO, WHO, OIE. Thiệt hại đối với DN ở đây có thể là chưa lớn. Song, qua đó cũng thấy rằng, chỉ một văn bản mà người ký duyệt chưa nắm rõ các quy định của luật pháp quốc tế đã gây ra ách tắc, phiền hà không cần thiết và thiệt hại uy tín cho DN, chưa kể nguy cơ sẽ bị nước ngoài phản đối. Điều đáng nói, trong khi chúng ta đang lên kế hoạch tiếp tục triển khai xây dựng các hàng rào kỹ thuật nhằm bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, chống gian lận thương mại... thì việc không nắm rõ những quy định trong WTO có khi còn phản tác dụng, t ức là chưa b ảo vệ đ ược mình đã b ị các nước kiện lại. GIA NHẬP WTO: THUỶ SẢN CƠ HỘI NHIỀU HƠN THÁCH THỨC Ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Th ủy s ản Vi ệt Nam (VASEP) cho rằng khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành thu ỷ s ản Việt Nam sẽ có cơ hội nhiều hơn thách thức. "Cách đây 20 năm, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã tham gia th ị tr ường thế giới. Đến nay các doanh nghiệp đã quen thuộc thị trường cũng nh ư đ ược rèn luyện r ất nhi ều năm. Do vậy, Việt Nam gia nhập WTO, đối với ngành thuỷ s ản cơ hội nhiều hơn nh ững thách th ức", ông Dũng nói khi trả lời phỏng vấn TTXVN. Theo ông Dũng những cơ hội mở ra với các doanh nghi ệp khi việt Nam gia nh ập WTO là các rào cản thuế quan sẽ được giảm xuống, các bên đều h ưởng l ợi. Và khi tranh chấp thương mại xảy ra, nếu cách xử của phái nước ngoài không đúng thì Vi ệt Nam có th ể ki ện. Và để tồn tại, ngay bản thân các doanh nghiệp phải vươn lên do sức ép của thị trường. Trong khi đó, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghi ệp là c ần hi ểu rõ h ơn v ề lu ật pháp thương mại quốc tế, đặc biệt là hiểu rõ về pháp luật trong tranh ch ấp th ương m ại; m ột s ố cách nghĩ của các doanh nghiệp từ nền kinh tế tiểu nông không thể áp d ụng trong vi ệc giao l ưu v ới th ị tr ường thương mại thế giới và vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghi ệp. Theo ông Dũng, điểm yếu rõ nhất của ngành thuỷ s ản hiện nay là s ự m ất cân đ ối gi ữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu, hay nói rõ hơn, khu v ực s ản xu ất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa theo kịp được khu vực chế bi ến xuất kh ẩu. Bên cạnh đó, trình độ quản trị doanh nghiệp của các doanh nghi ệp thủy s ản Vi ệt Nam cũng còn r ất th ấp so v ới các đối thủ cạnh tranh, nên đây cũng là một hạn chế lớn cần khắc ph ục.
  17. Ông Dũng cũng nhấn mạnh đến vấn đề thương hiệu của thuỷ sản Việt Nam và coi đó là m ột thách thức lớn nữa mà ngành thủy sản đang phải đối m ặt. Hiện nay, các mặt hàng thủy sản của Việt Nam được xuất khẩu thông qua các nhà nhập khẩu và đ ược phân phối d ưới nhi ều th ương hi ệu khác nhau. Một số sản phẩm có chất lượng cao đã bắt đầu xuất hi ện trên thị trường quốc t ế v ới th ương hiệu của riêng mình, nhưng số đó vẫn còn rất ít. Để đối phó với các rào cản thương mại mới khi gia nh ập WTO, ông Dũng cho bi ết VASEP đã hình thành các ủy ban ngành hàng để tận dụng triệt đ ể sự phối h ợp, h ợp tác gi ữa các nhóm ngành theo hướng phát triển các mối liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành hàng. Bên cạnh đó, việc liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu và nhà chế bi ến cũng là m ột đ ịnh hướng hết sức quan trọng của VASEP. Hai mối liên kết này sẽ được VASEP ưu tiên cao nhất, ít nh ất là trong 5 năm tới để tăng năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu cũng nh ư đ ể t ập trung l ực l ượng đ ối phó với các rào cản thương mại nảy sinh. Ngoài ra, việc trực tiếp liên kết với các khách hàng của t ừng thị tr ường đ ặc thù cũng s ẽ đ ược chú trọng thực hiện WTO - “Sân chơi” không quá rộng với ngành thủy sản Việt Nam Cập nhật lúc : 06/05/2009 - 12 : 45 (TSVN) - Đó là nhận định của ông Andrew W. Speedy - Trưởng đại diện của T ổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam khi trao đổi với phóng viên Tạp chí Thuỷ sản Việt Nam. Cũng trong buổi trò chuyện này, ông Andrew W.Speedy đã có nhiều nhận định về tiềm năng của ngành th ủy sản nước ta và đưa ra những khuyến cáo khi thủy sản Việt Nam tham gia thị trường thế giới.
  18. Thưa ông, với cương vị Trưởng đại diện của FAO tại Việt Nam, ông nhận xét như thế nào v ề ngành thuỷ sản Việt Nam khi tham gia WTO? Ngành thủy sản Việt Nam đã có những thay đổi kỳ diệu trong mấy năm g ần đây. S ản xuất tăng nhanh, tính đến năm 2007 đã đạt gần 4 triệu tấn/năm trong đó kim ng ạch xuất kh ẩu đ ạt 3,75 t ỷ USD… Thành quả tốt đẹp này đã đưa xuất khẩu thuỷ sản trở thành m ột trong nh ững ngành xu ất khẩu chủ lực của Việt Nam; đưa Việt Nam vào “top” 10 quốc gia xuất khẩu th ủy s ản lớn nh ất thế giới. Nhằm nâng cao năng lực quản lý của ngành thuỷ s ản, Vi ệt Nam cũng đã thi ết l ập r ất nhi ều t ổ chức, nguồn lực tài chính hoạt động hiệu quả. Không thể phủ nh ận nhi ều thành quả mà các b ạn đã đạt được trong thời gian gần đây. Đó là dấu hiệu tốt. Hi ện FAO cũng đang đ ầu t ư m ột d ự án mang tên: “Những tác động đối với ngành thuỷ sản Việt Nam sau khi gia nh ập WTO”. Trong d ự án này, chúng tôi cũng tập trung vào việc nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan trong ngành th ủy h ải
  19. sản. Đề ra các chương trình hành động quốc gia thật cụ thể để ngành có th ể t ận d ụng t ốt nh ững tác động tích cực của sự gia nhập WTO, đồng thời xử lý nhanh nhạy hơn trước nh ững thay đ ổi t ừ các hiệp định thương mại của WTO… Rất nhiều chuyên gia cho rằng WTO là một “sân chơi” quá rộng với thủy s ản Việt Nam khi mà hệ thống luật pháp, cơ sở hạ tầng và trình độ của ngư dân còn nhiều hạn chế. Ông nghĩ sao về điều này? Theo tôi, với những tiềm năng và thế mạnh mà các bạn đang có, WTO không hẳn đã là sân ch ơi quá rộng đối với ngành thuỷ sản Việt Nam. Khi gia nhập WTO, ngành th ủy s ản Việt Nam ch ắc ch ắn có nhiều cơ hội hơn trước và sẽ khẳng định được mình. Tuy nhiên, có một đi ều tôi đ ặc bi ệt l ưu ý là: các bạn phải hết sức cẩn thận với vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Chúng tôi nh ấn m ạnh 3 lo ại th ủy sản mà các bạn phải đặc biệt lưu ý: cá da trơn, tôm và cá ngừ. Cần ph ải có nh ững hành đ ộng c ụ th ể cho 3 mặt hàng đó. Một trong những nội dung của dự án mà tôi vừa nói cũng nh ằm th ể hi ện n ỗ l ực của FAO trong việc ngăn chặn các thiếu sót trong năng lực k ỹ thuật; đặc bi ệt, s ự thi ếu hi ểu bi ết v ề các tác động của WTO, các hiệp định của WTO như: Hiệp định liên quan đ ến đ ầu t ư th ương m ại (TRIMPS); Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT); Hi ệp đ ịnh về áp d ụng các bi ện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS)… và các vấn đề về nhãn mác s ản ph ẩm, trong đó đ ặc biệt lưu ý những quy định liên quan đến ngành thuỷ hải s ản. Tiếp cận thị trường và giải quyết tranh chấp thương mại là các vấn đề nảy sinh trong ngành thủy sản khi Việt Nam là thành viên của WTO. FAO đã có những chương trình hành đ ộng gì nhằm giúp Việt Nam khắc phục tình trạng trên? FAO đã đưa ra các chương trình đào tạo, các hướng dẫn cụ thể trước th ực trạng c ủa t ừng vùng, miền trên cơ sở đánh giá của chính phủ Việt Nam. Tập trung vào các vấn đ ề mà theo FAO, th ủy s ản Việt Nam đang gặp vướng mắc. Cụ thể, đối với lĩnh vực thương mại quốc t ế là: Các chính sách thương mại của thủy sản Việt Nam có phù hợp với các hiệp định đa và song ph ương c ủa WTO hay không? Những thay đổi nào là cần thiết trong hệ thống luật l ệ trước các tác đ ộng c ủa vi ệc gia nh ập WTO nhằm thúc đẩy ngành thủy sản hội nhập thành công? Đánh giá năng lực c ạnh tranh c ủa ngành thủy sản Việt Nam nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành; Các vấn đề liên quan đến s ản xuất và tiêu dùng trong ngành thủy sản… Đối với các vấn đề về hệ thống luật pháp và t ổ ch ức: FAO đã xây dựng hệ thống các quy tắc, luật lệ trên cơ sở Việt Nam đã là thành viên c ủa WTO. K ịp th ời đi ều chỉnh và thay đổi các chính sách, quy tắc sao cho phù hợp với các yêu cầu c ủa WTO… Riêng đ ối v ới các vấn đề về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành thuỷ sản, thì nh ư đã nói ở trên, FAO đã rất nỗ lực để hạn chế sự thiếu hiểu biết, giúp ngành thuỷ sản Việt Nam hi ểu rõ và tuân theo các hiệp định của WTO về TRIMS, SPS, TBT… Cơ hội và thách thức đối với ngành nuôi trồng thủy sản Quỳnh Lưu khi Việt Nam gia nhập WTO Tác giả : Th.s Nguyễn Thị Thanh Minh - Gv Khoa Kinh tế File đính kèm: Không có Quỳnh Lưu là một huyện có bờ biển dài 34 km, ba cửa lạch lớn và có nhiều làng cá truyền thống. Từ lâu Quỳnh Lưu đã trở thành trung tâm khai thác, nuôi trồng thuỷ sản lớn của tỉnh. Những năm gần đây, triển khai chương trình khai thác xa bờ và nuôi trồng thuỷ sản, huyện đã có hướng đi mới trong phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, góp phần to lớn trong việc giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động vùng biển. Tuy nhiên, nuôi trồng thuỷ sản của huyện chỉ mới phát triển trong những năm gần đây nên người dân chưa có nhiều kinh nghiệm, vốn đầu tư, qui mô các cơ sở nuôi thủy sản nhỏ, việc áp dụng các công nghệ mới trong nuôi thủy sản còn nhiều bất cập, là những thách thức trước yêu cầu đòi hỏi càng cao về chất lượng, ATVS thủy sản. Nền kinh tế của Việt Nam nói chung, kinh tế thủy sản nói riêng đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đây cũng là cơ hội rất lớn cho hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt Ngành thuỷ sản Việt Nam nói chung và ngành thuỷ sản Quỳnh Lưu nói riêng trước những thách thức không nhỏ như phải cạnh tranh gay gắt, các hàng rào thương mại như các quy định về an
  20. toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe, các vụ kiện chống bán phá giá dễ xẩy ra hơn do chính sách bảo hộ của các nước lớn. Vậy ngành NTTS huyện sẽ có những cơ hội cũng như gặp phải các thách thức gì khi Việt Nam gia nhập WTO ? Cơ hội của ngành nuôi trồng thủy sản huyện. Một là, Việt Nam ngày càng tham gia hội nhập sâu rộng vào các nên kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là sân chơi WTO thì cơ hội cho các sản phẩm xuất khẩu thuỷ sản sẽ càng được mở rộng. Gia nhập WTO, thuỷ sản huyện sẽ có cả thị trường thế giới khổng lồ để đẩy mạnh xuất khẩu nên chắc chắn sẽ mang lại cơ hội để mở rộng thị trường, để thuỷ sản huyện thâm nhập vào thị trường thế giới, có điều kiện thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài, tranh thủ công nghệ sản xuất tiên tiến, đẩy mạnh công nghiệp hoá và tăng cường năng lực của ngành kinh tế thuỷ sản vốn dĩ còn non yếu. Tham gia WTO, Việt Nam nói chung và huyện Quỳnh Lưu nói riêng sẽ là một đối tác bình đẳng trên thị trường thế giới, thế giới sẽ thay đổi cách nhìn với Việt Nam và hàng hoá Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp của huyện Quỳnh Lưu nói riêng sẽ có điều kiện được hưởng mức thuế suất ưu đãi khi xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản vào các nước là thành viên WTO, đặc biệt là các nước mà hàng thuỷ sản có khả năng thâm nhập và tiêu thụ với khối lượng lớn như: EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc… Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của huyện có thể tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường và đạt hiệu quả kinh doanh cao. Hai là, khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản của huyện có cơ hội tiếp thu sự tiến bộ của khoa học công nghệ trên thế giới vào hoạt động nuôi trồng, chế biến và kinh doanh của mình. Những bước tiến nhảy vọt trong khoa học công nghệ sản xuất, chế biến các mặt hàng thuỷ sản đã tạo cho các doanh nghiệp của ngành này có thể nhanh chóng nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì, đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản của huyện có thể vượt qua những rào cản về kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm, về môi trường của các nước nhập khẩu thuỷ sản lớn như Mỹ, EU… để thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị phần, đạt giá trị xuất khẩu cao trên thị trường các nước này. Trong môi trường WTO, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia nuôi trồng, khai thác, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản có thêm nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để học hỏi kinh nghiệm phát triển sản xuất, kinh nghiệm để quản lý doanh nghiệp, kinh nghiệm về việc đa dạng hoá sản phẩm, kinh nghiệm tiếp cận và mở rộng thị trường. Từ những kinh nghiệm học hỏi được, họ có thể vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện của huyện để nâng cao hiệu quả nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản trên phạm vi toàn ngành. Mặt khác, thông qua hoạt động hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới, người lao động tại các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản huyện có điều kiện để tiếp nhận khoa học công nghệ tiên tiến phục vụ ngành thuỷ sản, nâng cao năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm thuỷ sản có sức cạnh tranh và khả năng tiêu thụ lớn trên thị trường toàn cầu. Ba là, khi gia nhập WTO thị trường vốn cũng phát triển nhanh chóng, cụ thể ngoài các cách huy động truyền thống như vay vượn gia đình, người quen, hàng xóm láng giềng… hiện đã có rất nhiều Ngân hàng thương mại ra đời với cơ chế cho vay rộng mở hơn như tại Quỳnh Lưu ngoài Ngân hàng nhà nước đã xuất hiện các Ngân hàng thương mại như Vietcombank, VPBank, Techcombank…Ngoài ra còn có các kênh huy động vốn khác như cổ phiếu... điều này làm thay đổi rất lớn trong vấn đề huy động vốn cho nuôi trồng thuỷ sản của huyện. Đây là cơ hội lớn cho việc khai thác nguồn vốn đầu tư mở rộng nuôi trồng, sản xuất, chế biên và kinh doanh thuỷ sản của huyện. Bốn là, khi gia nhập WTO, thị trường hàng hoá thuỷ sản của huyện được mở rộng, các doanh nghiệp có điều kiện khai thác tiềm năng thị trường to lớn để thâm nhập với thuế suất hợp lý, giá cả dịch vụ đầu vào rẻ hơn. Song, điều ấy cũng đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh ngày càng khốc liệt, với sự siết chặt điều kiện xuất khẩu thuỷ sản sang nước

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản