THUYẾT MINH VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CHÙA DÂU - BẮC NINH

Chia sẻ: heavenmaster2012

Có ý kiến cho rằng: Trong nền văn hóa cổ nước ta có rất nhiều viên ngọc bị che lấp bởi lớp bụi thời gian mà nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm tòi, bảo vệ cho nó sáng mãi

Nội dung Text: THUYẾT MINH VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CHÙA DÂU - BẮC NINH

THUYẾT MINH VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HÓA CHÙA DÂU - BẮC NINH



Có ý kiến cho rằng: Trong nền văn hóa cổ nước ta có rất nhiều viên ngọc
bị che lấp bởi lớp bụi thời gian mà nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm tòi,
bảo vệ cho nó sáng mãi. Khu di tích lịch sử văn hóa chùa Dâu là một
viên ngọc như thế. Xây dựng từ những năm đầu Công nguyên, chùa Dâu
lại mang một giá trị đặc biệt của trung tâm truyền giáo đạo Phật đầu tiên
ở nước ta.


Chùa Dâu nay thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh xưa thuộc Tống Khương, huyện Luy Lâu, quận Giao Chỉ.


Từ xa xưa người dân nơi đây thường sống bằng nghề trồng dâu nuôi
tằm, dân gian vẫn thường gọi là vùng dâu hoặc kẻ dâu. Chất mộc mạc
thôn dã và giản dị nơi đây đã góp phần không nhỏ tạo lên nét đẹp dân
gian tự nhiên của chùa.


Khoảng đầu Công nguyên một số nhà sư từ Ấn Độ đi theo đường biển
vào Luy lâu để truyền đạo. Nhanh chóng chùa đã trở thành một trung
tâm truyền giáo đạo Phật đầu tiên để từ đây lan rộng sang Lạc Dương
(Trung Quốc) và một số nơi khác. Bấy nhiêu thôi cũng đã đủ làm cho
chúng ta tự hào và trân trọng bởi ý nghĩa của giá trị văn hóa nơi đây.
Nhưng không dừng lại ở đó, chùa còn đào tạo được 500 vị tăng ni, dịch
được 15 bộ kinh, làm được hàng chục bảo tháp có các vị cao tăng nổi
tiếng đã đến đây trụ trì như Mâu Bát, Pháp Hiền, Chi Y Cương Nương,
Khâu Đà La...


Ban đầu chùa Dâu chỉ là một cái am nhỏ, sau phát triển lên thành một
ngôi chùa với tên gọi đầu tiên là Cổ Châu tự (nghĩa là một viên ngọc
quý).


Đến thế kỷ thứ II sau Công nguyên (khoảng 187-226, thời Sỹ Nhiếp) hệ
tư pháp được ra đời chùa Dâu thời bà Pháp Vân nên gọi là Pháp Vân tự.
Vào thế kỷ XIV (1313), có thể nói đây là đợt hưng công lớn nhất. Dưới
đời vua Trần Nhân Tông, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã cho xây lên
chùa to lớn như ngày nay: Chùa có hàng trăm gian, tháp chín tầng, cầu
chín nhịp mà bao đời nay khách từ muôn phương vẫn về đây chiêm
ngưỡng. Hành động ấy, việc làm ấy của ông cha ta thời xưa đã thể hiện ý
thức dân tộc, sự tôn trọng, đề cao văn hóa, bản sắc dân tộc. Chùa Dâu
được coi là nơi rất thiêng liêng nên đã có lần chùa được gọi là Diên Ứng
tự (tức cầu gì được nấy). Điều đó đã được minh chứng qua các đời vua
của triều đại xa xưa cũng từng về chùa Dâu như vua Lý Thánh Tông cầu
tự (tức cầu con) và gặp được nguyên phi Ỷ Lan khi đi thuyền trên sông
Dâu. Năm Đinh Tị 1737 có rất nhiều vua chúa cung tần mĩ nữ qua lại lễ
Phật cầu đảo thăm chùa, vãn cảnh,...


Với diện tích khoảng 1730m2 trên khu đất rộng bằng phẳng nằm cạnh
sông Dâu, chùa được xây dựng mang đậm phong cách nghệ thuật, kiến
trúc của thời Lý, Trần do được tu sửa vào thời kỳ này. Quan trọng nhất
là tháp Hòa Phong, tháp có chín tầng song trải qua thời gian lịch sử lâu
dài nay chỉ còn ba tầng có chiều cao khoảng 15m. Chân tháp hình
vuông, trong lòng tháp có bốn bệ gạch bốn bên, trên mỗi bệ là một
tượng hộ pháp bằng gỗ cao 1,6m. Ở tầng hai của tháp có biển đá khắc
chữ "Hòa Phong tháp". Đặc biệt hơn nữa tháp dùng để đặt các xá lị, bên
trên là một chiếc khánh đồng và một chiếc chuông đồng lớn có niên đại
từ 1893. Màu thời gian đã bao phủ lên tháp những lớp rong rêu xanh
màu cổ kính. Song có thể nói giá trị của tháp Hòa Phong trong quần thể
di tích chùa Dâu là không nhỏ bởi đã gây sự chú ý đặc biệt của khách du
lịch thăm quan từ bốn phương về đây.


Đến với chùa Dâu ngoài cảnh quan đồ sộ, chúng ta còn được chiêm
ngưỡng những pho tượng quý giá như Pháp Vân, Kim Đồng, Ngọc Nữ,
những bức phù điêu chạm khắc trên những bức trống, cốn, giá chiêng
mà ngày nay ít khi có được. Tất cả đều được tạc và rèn đúc rất tinh xảo
trong bàn tay các nghệ nhân đời xưa. Tiêu biểu đó là tượng Pháp Vân
cao 1m85cm tạo trong thế ngồi ở tòa sen toàn thân sơn màu cánh dán.
Với chân dung tai to, lông mày cong lá liễu, cổ cao ba ngấn tay phải dơ
5 ngón lên trời, trong lòng bàn tay có một viên ngọc sáng. Nét thanh
thoát, mềm mại của bức tượng đã toát lên vẻ nhân từ, độ lượng của nhà
Phật thiêng liêng, cao quý.


Ta còn nhận thấy rằng tín ngưỡng phật giáo Ấn Độ đan xen trong tín
ngưỡng dân gian ở Việt Nam như thờ các vị thần: Pháp Vân, Pháp Vũ,
Pháp Lôi, Pháp Điện. Gửi gắm vào đó là những mong ước cho mùa
màng bội thu, cơm no áo ấm cho mọi chúng sinh của nhân dân khi trời
đất được mưa thuận, gió hòa.


Một điểm đáng nói nữa trong công trình kiến trúc của chùa Dâu là hình
trạm trổ trên đá. Đó là phong cảnh thiên nhiên chim muông, hoa lá, đặc
biệt là rồng. Theo một số nhà nghiên cứu thì một số hiện vật bằng đá,
gạch đất nung trang trí có hình vẽ rồng phần lớn là kiến trúc nghệ thuật
rồng có niên đại vào thời Lý Trần. Con rồng không chỉ là biểu tượng văn
hóa quý trong di sản văn hóa vật thể mà còn hiện diện rất phong phú
trong di sản văn hóa phi vật thể. Nó đi vào đời sống hôm nay như một
nhu cầu văn hóa không thể thiếu trong các lễ hội.


Ngày nay kiến trúc của chùa Dâu vẫn giữ nguyên như cũ: Nhà tiền thất,
tháp Hòa Phong, Tiền Đường, tòa Tam Bảo, Thượng Điện, Hạ Điện,
Hậu Đường, hai dãy hành lang,... Tuy nhiên thì cầu chín nhịp và Điện
Tam quan đã không còn.


Hằng năm cứ vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, không ai bảo ai người dân từ
thập phương đều kéo về nơi đây lễ Phật cầu may. Đó cũng là ngày hội
chính của chùa Dâu, ngày mà bà Man Nương sinh hạ.
Hội Dâu mở trong 3 ngày: mồng 7, mồng 8, mồng 9 âm lịch với một quy
chế rất chặt chẽ. 11 kiệu Phật được rước ra ngoài trời, đi khắp 12 làng xã
trong Tổng Khương. Các kiệu Phật được phong áo rất lộng lẫy uy nghi.


Gắn với lễ hội còn có các trò chơi dân gian như thi cướp nước, múa
trống, múa gậy, múa sư tử. Ban đêm có hát chầu văn, hát chèo, hát trống
quân,... Đi theo các pho tượng rước còn có các tán, long, tù và, trống
chiêng... tất cả đã tạo nên cho ngày hội thêm đông vui, náo nhiệt.
Về với chùa Dâu ta còn được nghe kể rất nhiều chuyện, truyền thuyết
dân gian về Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, về cuộc khởi nghĩa Hai Bà
Trưng, về sự tích giữa ông Khâu Đà La và bà Man Nương đầy ly kỳ, hấp
dẫn.


Trong hiện tại và tương lai chùa Dâu mãi là một nơi mang đậm màu sắc
dân tộc Việt Nam, là một nơi mang nhiều ý nghĩa lịch sử sâu sắc.


Không biết tự bao giờ, hội Dâu đã thành lịch trong dân gian với những
câu ca quen thuộc:


Mồng bảy hội Khám
Mồng tám hội Dâu
Mồng chín đâu đâu
Cũng về hội Gióng.


Đồng thời chùa Dâu - hội Dâu đã trở thành tiếng gọi tâm linh đối với tất
cả mọi người:


Dù ai đi đâu, về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Tháng tư, ngày tám, nhớ về hội Dâu.


Ngược dòng lịch sử, bóc trần từng lớp bụi thời gian ta mới thấy hết được
ý nghĩa và vẻ đẹp truyền thống của khu di tích văn hóa chùa Dâu. Tôi tin
rằng cả ngày hôm nay và mai sau viên ngọc quý đó sẽ mãi được trường
tồn và bảo vệ bởi những lớp người tiến bộ của xã hội chủ nghĩa. Để chùa
Dâu xứng đáng với tên gọi là một trung tâm phật giáo đầu tiên của nước
ta. Niềm tự hào ấy không chỉ của những người dân Kinh Bắc mà của cả
dân tộc, của cả trang sử vẻ vang trong nét đậm đà bản sắc quê hương.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản