Thuyết trình:" Tác hại của chất thải rắn y tế"

Chia sẻ: thanhhieuduoc

Chúng ta đang sống trong thời đại với phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường. Khi trình độ kinh tế xã hội và dân trí của con người ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về việc chăm sóc sức khỏe của mình ngày càng được chú trọng một cách chu đáo hơn.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Thuyết trình:" Tác hại của chất thải rắn y tế"


ch
th ại
ải c
rắ ủa
n ch
yt ấ
ết
Biểu tượng gì???
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong thời đại với sự
phát triển không ngừng của nền kinh tế
thị trường. Khi trình độ kinh tế xã hội và
dân trí của con người ngày càng phát
triển thì nhu cầu của con người về việc
chăm sóc sức khỏe của mình ngày càng
được chú trọng một cách chu đáo hơn.
Cùng với tốc độ đô thị hoá nhanh, vấn đề
quản lý chất thải rắn nói chung, bao gồm
chất thải rắn đô thị, công nghiệp và chất
thải bệnh viện, đang là những vấn đề
nan giải trong công tác bảo vệ môi
trường và sức khoẻ của nhân dân.
Hằng ngày các bệnh viện và cơ sở y tế khám và
chữa bệnh thải ra một lượng chất thải y tế khá lớn
vì xu thế sử dụng các sản phẩm chỉ dùng một lần.
Trong chất thải rắn có rất nhiều loại nguy hiểm đối
với môi trường và con người. Do đó, vấn đề xử lý
chất thải rắn y tế tại các bệnh viện luôn là vấn đề
quan tâm của toàn xã hội. Chất thải y tế là một
trong những chất thải nguy hại vào bậc nhất, việc
xử lý các loại chất thải này rất phức tạp và gặp rất
nhiều khó khăn. Đây thực sự là mối quan tâm, lo
lắng không chỉ với ngành Y tế mà cả với người dân
sống quanh khu vực bệnh viện.
Những vấn đề trong bài báo cáo về chất thải rắn y
tế của nhóm 5 ngày hôm nay là những gì mà nhóm
đã nghiên cứu, sưu tầm và tổng hợp được từ nhiều
nguồn tài liệu. Hi vọng có thể đem đến một cái nhìn
tổng quan về chất thải rắn y tế. Nêu ra những tính
chất độc hại, phương pháp xử lý cũng như những
ảnh hưởng lâu dài của nó tới con người, hệ sinh
thái. Những phương hướng xử lý khắp phục đang
được áp dụng để có thể hạn chế tác động của nó
tới con người và môi trường.
NỘI DUNG
I. Chất thải rắn y tế là
gì ?
1. Khái niệm

_ Là chất thải phát sinh trong các hoạt động y tế:
 Khám chữa bệnh
 Chăm sóc
 Xét nghiệm
 Phòng bệnh
 Nghiên cứu
- -  Đào tạo
Nguồn: Quy chế quản lý chất thải y tế, Bộ Y
tế, 1999
2. Nguồn gốc phát sinh




Cần phân loại chất thải y tế ngay tại nguồn phát sinh
Tất cả chất thải phát sinh từ bệnh viện
đều được coi là chất thải bệnh
viện.Khoảng 75-90% chất thải bệnh
viện là chất thải thông thường, tương tự
như chất thải sinh hoạt, không có nguy
cơ gì. Chất thải rắn y tế nguy hại chiếm
khoảng 10-25% được chia làm 4 nhóm
sau đây:
 Chất thải lây nhiễm bao gồm chất thải
sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc
nhọn, chất thải bệnh phẩm, chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao.
 Chất thải hóa học bao gồm các chất thải
thường dùng trong y tế, formaldehyde, hóa
chất quang hình, kim loại nặng, chất thải
dược phẩm và chất thải gây độc tế bào.
 Chất thải phóng xạ.
 Bình chứa áp suất
13
14
15
17
16
18
19
201
11
09
08
03
07
06
05
04
02
0


Sự phát sinh chất thải y tế rất khác nhau,
tùy thuộc vào dịch vụ bệnh viện, chất lượng
và năng lực quản lý bệnh viện. Theo ước
tính của Bộ Y tế, khối lượng chất thải y tế
nguy hại phát sinh được trình bày trong bảng
dưới đây:
Bảng 2: Mức độ phát sinh chất thải nguy hại trung bình
Bệnh Bệnh Bệnh Bệnh Bệnh Bệnh
viện viện đa viện viện đa viện viện
huyện
theo khoa chuyên khoa chuyên
tuyến và tuyến
trung khoa khoa và ngành
ương tỉnh tuyến
chuyên trung
ương tỉnh
khoa


Khối 0,3 0,225 0,225 0,2 0,175
lượng
chất thải
rắn nguy
hại
(kg/giườn
g/ngày)
3. Tính chất , độc tính: 12
13
14
15
17
16
18
19
201
10
11
09
08
03
07
06
05
04
02
0

a.Tính chất
- Là thông số quan trọng đánh giá khả năng thu hồi phế liệu
lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp.
- Thành phần chất thải(rác sinh hoạt y tế):
• Giấy và giấy thấm:60%
• Plastic:20%
• Thực phẩm thừa:20%
• Kim loại,thủy tinh,chất vô cơ:7%
• Các loại hỗn hợp khác:3%
• Giấy và quần áo:50-70%
• Chất dịch:5-10%
• Thủy tinh:10-20%
- Thành phần vật lý chất thải y tế một số
bệnh viện ở thành phố HCM:
• Plastic(C2H3CL):30,1%
• Cao su(C4H6)n:24,2%
• Vải,giấy(C6H10O5)n:36,2%
• Lipit(C30H5O2N):4%
• Protit(C2H5O2N):4%
• Xương(Ca,P):5%
b.Độc tính
-Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế
nguy hại là những người có nguy cơ tiềm
tàng, bao gồm những người làm việc trong các
cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y
tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y
tế và những người trong cộng đồng bị phơi
nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót
trong khâu quản lý chất thải. Nhóm có nguy
cơ cao gồm:
12
13
14
15
17
16
18
19
201
10
11
09
08
03
07
06
05
04
02
0
-Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính
của bệnh viên; bệnh nhân điều trị nội trú hoặc
ngoại trú; khách tới thăm hoặc người nhà bệnh
nhân; những công nhân làm việc trong các dịch vụ
hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh và
điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận
chuyển bệnh nhân; những người làm việc trong các
cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò
đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác; ngoài
ra còn có các mối nguy cơ liên quan với các nguồn
chất thải y tế quy mô nhỏ, rải rác, dễ bị bỏ quên.
-Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọ03
n:
12
13
14
15
17
16
18
19
201
10
11
09
08
07
06
05
04
02
0

 Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể
chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật bệnh
truyền nhiễm nào. Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm
nhập vào cơ thể người thông qua: da (qua một vết thủng, trầy
sước hoặc vết cắt trên da), các niêm mạc (màng nhầy),
đường hô hấp (do xông, hít phải), đường tiêu hóa...
 Có một mối liên quan đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do
HIV và virut viêm gan B, C, đó là những bằng chứng của việc
lan truyền các bệnh truyền nhiễm qua đường rác thải y tế.
Những virut này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn
thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh.
-Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật
sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt
là những mũi kim tiêm qua da) hầu như là những mối
nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khỏe trong các
loại chất thải bệnh viện. Các vật sắc nhọn có thể
không chỉ là những nguyên nhân gây ra các vết cắt,
vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết
thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh. Như
vậy, những vật sắc nhọn được coi là một loại rác
thải rất nguy hiểm bởi nó gây những tổn thương kép:
vừa gây tổn thương lại vừa lây truyền các bệnh
truyền nhiễm.
-Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng
của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và
thường là những chất ăn mòn. Cũng cần phải lưu ý rằng những
loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ
cấp có độc tính cao.
-Các sản phẩm hóa chất được thải thẳng vào hệ thống cống
thải có thể gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ
thống xử lý nước thải sinh học hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ
sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn nước này,.
Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể bị gây ra do các sản
phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và
các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thủy ngân, phenol và
các dẫn xuất, các chất khử trùng và tẩy uế.
4.Tác hại của chất thải rắn lên con người,thực
vật ,động vật,môi trường hệ sinh thái:
Nguy cơ đối với sức khỏe
-Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật
hoặc thương tích. Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy
hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ
tiềm ẩn.
Những nhóm có nguy cơ bao gồm:
+ Nhân viên y tế: bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên
+ Bệnh nhân
+ Người nhà và khách thăm nuôi bệnh nhân.
+ Công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vận chuyển
rác, giặt là;
+ Công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi rác
hoặc lò đốt), bao gồm cả những người nhặt rác.
Nguy cơ của chất thải lây nhiễm:
- Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm
có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiều
đường:
 Qua vết thương
 Vết cắt trên da
 Qua niêm mạc
 Qua đường hô hấp
 Qua đường tiêu hóa.
- Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương
trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu
chúng bị nhiễm bẩn.
-Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi trường năm
2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương tích do vật
sắc nhọn trong vòng 6 tháng qua, và 70% trong số họ bị
thương tích do vật sắc nhọn trong sự nghiệp.
-Tổn thương do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các
bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như HIV, HBV, và HCV.
Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp là
do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm. Việc tái chế
hoặc xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả
nhựa và vật sắc nhọn có thể có tác động lâu dài tới sức
khỏe cộng đồng.
Nguy cơ của chất thải hóa học và dược
031
024
08
07
06
05
0
phẩm
-Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế
là chất nguy hại (ví dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy,
gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối
lượng thấp. Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với
hóa chất qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu
hóa. Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hô hấp có
thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn,
gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ bay hơi
khác). Tổn thương thường gặp nhất là bỏng. Các hóa
chất khử khuẩn được sử dụng phổ biến trong bệnh viện
thường có tính ăn mòn. Trong quá trình thu gom, vận
chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò thoát,
đổ tràn.
Bệnh lạ của người tiếp xúc với chất thải rắn y tế
-Nguy cơ của chất thải gây độc tế
bào: 031
024
09
10
08
07
06
05
0

Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế
bào. Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục
bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn,
đau đầu hoặc viêm da. Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là
những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể
phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua hít thở
hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu
hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc
tế bào.
Nguy cơ của chất thải phóng xạ 031
024
07
06
05
0

Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định
những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn
nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài hạn.
Nguy cơ đối với môi trường nước

-Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có
trong chất thải bệnh viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật
gây bệnh. Chúng có thể chứa kim loại nặng, phần lớn là thủy
ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang.
Một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có
thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp.
Nguy cơ đối với môi trường đất


Tiêu hủy không an toàn
chất thải nguy hại như tro
lò đốt hay bùn của hệ
thống xử lý nước thải rất
có vấn đề khi các chất gây
ô nhiễm từ bãi rác có khả
năng rò thoát ra, gây ô
nhiễm đất và nguồn nước,
và cuối cùng là tác động tới
sức khỏe cộng đồng trong
dài hạn.
Nguy cơ đối với môi trường không khí

Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn
chất thải nguy hại được thiêu đốt trong điều kiện
không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ
trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra
nhiều khói đen. Việc đốt chất thải y tế đựng trong
túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất
định, có thể tạo ra khí axit, thường là HCl and SO2
031
024
09
10
08
07
06
05
0



-Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl,. Br, I..)
ở nhiệt độ thấp, thường tạo ra axit. như hydrochloride
(HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxins, một
loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp.
Các kim loại nặng, như thủy ngân, có thể phát thải theo
khí lò đốt.
-Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới
hệ sinh thái và sức khoẻ con người trong dài hạn.
Sự nhạy cảm của cộng đồng
031
024
09
10
08
07
06
05
0
Công chúng và cộng
đồng xung quanh bệnh
viện rất nhậy cảm với
: ững tác động thị giác
nh
-
của chất thải giải phẫu,
trong khi đó, việc vận
hành kém lò đốt có thể
dẫn đến xả ra khí thải
gây khó chịu cho nhà dân Khói thải từ lò đốt chất thải rắn y tế
xung quanh.
Những bãi rác y tế lộ thiên
5. Thực trạng của chất thải rắn đối với
nước
ta và thế giới hiện nay :

• Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm chất thải
rắn. Theo tính toán của các chuyên gia về môi trường, đến năm
2010, lượng chất thải rắn của Việt Nam sẽ tăng từ 24% đến 30%
tương đương 45 triệu tấn rác/năm.
• Nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra đã và đang trở
thành một vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở
Việt Nam hiện nay. Chất thải ra không được xử lý an toàn đã tích
tụ lâu dài trong môi trường, gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước
ngầm và không khí, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe con người.
Công tác môi trường y tế nhiều nơi vẫn còn bỏ ngỏ
-Ngoài nguồn chất thải từ các cơ sở công nghiệp, ch01t thải

034
02
09
10
08
07
06
05
rắn từ các bệnh viện cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trường.
Hiện nay cả nước có khoảng hơn 12.500 cơ sở khám chữa bệnh,
trong đó có khoảng 850 cơ sở là các bệnh viện với quy mô khác
nhau, và việc quản lý chất thải rắn y tế rất khó khăn.
-Năm 2001, Bộ Y tế đã tiến hành khảo sát tại 280 bệnh viện
đại diện cho tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước về vấn đề
quản lý và xử lý chất thải rắn y tế. Kết quả khảo sát ban đầu cho
thấy lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh ước tính khoảng
34 tấn/ngày.
-Tuy nhiên, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến,
loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác nhau. Có tới hơn 70% lượng
chất thải rắn y tế nguy hại tập trung ở các đô thị, 35% lượng chất
thải rắn nguy hại phát sinh tại hai thành phố lớn là Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh.
031
024
09
10
08
07
06
05
0
- Chất thải y tế bao gồm một lượng lớn chất
thải nói chung và một lượng nhỏ hơn các chất
thải có tính nguy cơ cao. Chất thải y tế có thể
tạo nên những mối nguy cơ cho sức khỏe con
người.
- Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể
gây nên bệnh tật hoặc tổn thương. Đó là do trong
chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền
nhiễm, chất độc hại, các loại hóa chất và dược
phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật
sắc nhọn
II. Phương pháp xử lý và công tác quản lý
II.
hiện tại ở Việt Nam:

Đối với chất thải rắn y tế có 95,6% bệnh viện có phân loại
-

chất thải rắn, 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom chất thải rắn
y tế hàng ngày nhưng chỉ có khoảng 50% các bệnh viện trên
phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đúng quy định. Hiện nay
phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất
thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác... còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu
hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý chất
thải y tế (Bộ Y tế). Có 35% bệnh viện có lò đốt chất thải y tế
nhưng công suất sử dụng chưa hợp lý và việc xử lý khí thải còn
gặp nhiều khó khăn.
Mới đây, trong 3 ngày 3-5/4 tại Hà Nội, Cục
Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, Tổng
cục Môi trường tổ chức hội thảo tập huấn “Nâng
cao năng lực quản lý chất thải y tế”. Thủ tướng
Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số
170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 2 năm 2012 về việc
phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý
chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025 với
những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn về
thu gom, phân loại và xử lý chất thải y tế nguy
hại nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về môi trường.
Ông Nguyễn Thành Yên, Cục QLCT&CTMT
giới thiệu về quản lý chất thải nguy hại theo
Thông tư 12/2011/TT-BTNMT
Hình ảnh minh họa




Thùng đựng chất thải y tế nguy hại
Phân loại chất thải tại nguồn

Tại nguồn, chất thải rắn sẽ được phân loại vào các túi nilon
và thùng đựng rác được mã màu. Hộ lý hoặc công nhân vệ
sinh môi trường sẽ thu gom và vận chuyển rác thải tới nơi
lưu giữ tạm thời để lưu giữ tối đa trong 48 giờ. Nếu cơ sở xử
lý và tiêu hủy chất thải nguy hại có sẵn trong tỉnh/thị trấn,
chất thải nguy hại sẽ được vận chuyển tới đó để xử lý tập
trung.. Chất thải thông thường sẽ được công ty môi trường đô
thị vận chuyển tới bãi rác để tiêu hủy. Chất thải có thể tái
chế sẽ được bán cho cơ sở tái chế có giấy phép hành nghề.
Phương án quản lý an toàn chất thải rắn y tế được trình bày
trong hình dưới đây:
Tiêu hủy sau cùng:
Hóa chất nguy hại như tro lò đốt hoặc hóa chất chứa nhiều kim
-

loại nặng sẽ được chôn lấp an toàn trong các hố chôn xi măng,
hoặc vận chuyển tới bãi chôn lấp đặc biệt dành cho chất thải
nguy hại. Bùn của hệ thống xử lý nước thải vốn được xem là
chất thải nguy hại sẽ được nạo vét định kỳ và tiêu hủy bởi công
ty tiêu hủy chất thải có giấy phép và đủ phương tiện chuyên
dụng. Các chất thải có thể tái chế như nhựa, bìa các tông, hộp kim
loại sẽ được bán cho cơ sở tái chế có giấy phép hành nghề. Chất
thải sinh hoạt được công ty môi trường đô thị vận chuyển tới bãi
rác để tiêu hủy. Để đảm bảo tiêu hủy và tái chế an toàn chất thải,
bệnh viện phải ký hợp đồng với các công ty có giấy phép hành
nghề quản lý chất thải và phải thiết lập hệ thống hồ sơ chất thải
để theo dõi chất thải từ lúc phát sinh tới khi tiêu hủy cuối cùng..
Hố chôn lấp rác y tế của
trung tâm y tế huyện Đạ
Tẻh
III.Xây dựng mô hình thích hợp:
III.Xây
A: Thiêu đốt
•Bộ trưởng Bộ Y tế đã có công văn số 7164/BYT-KCB ngày
20/10/2008 yêu cầu các bệnh viện hạn chế lắp đặt lò đốt
mới, cung cấp thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí cho lò đốt
hiện có và khuyến khích ứng dụng công nghệ không đốt than
thiện với môi trường. Theo dự thảo Chiến lược quản lý chất
thải y tế, công nghệ xử lý rác thải y tế cần than thiện với môi
trường, có thể loại trừ được mầm bệnh trong chất thải lây
nhiễm và không gây ra ô nhiễm thứ phát.
Lò đốt chất thải rắn y tế
đốt rác thải tại bệnh viện Lao và Phổi tỉnh Nam Định




Hệ thống xử lý chất thải rắn và lỏng của Bệnh viện Đa khoa huyện
Hoằng Hóa
•Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều tiêu chuẩn về lò
đốt chất thải rắn y tế, trong đó có TCVN 7380:2004: lò
đốt chất thải rắn y tế - yêu cầu kỹ thuật; TCVN
7381:2004: lò đốt chất thải rắn y tế - phương pháp đánh
giá và thẩm định; QCVN 02:2008/BTNMT: quy chuẩn
quốc gia – yêu cầu kỹ thuật của khí thải lò đốt chất thải
rắn y tế.
•Chi phí vận hành lò đốt tại chỗ là tốn kém, trong khi đó
chi phí vận chuyển ra ngoài và xử lý theo cụm lại dựa
trên thỏa thuận giữa các bệnh viện.
B. Các công nghệ không đốt

•Trong khuôn khổ dự án, các công nghệ không đốt có thể được
lựa chọn bao gồm:
•Khử khuẩn nhiệt ướt (thiết bị hấp), vi sóng, khử khuẩn hóa
học để xử lý chất thải lây nhiễm;
•Máy nghiền để làm giảm thể tích chất thải;
•Máy cắt hoặc máy hủy kim tiêm;
•Hố chôn xi măng dành cho chất thải sắc nhọn và chất thải giải
phẫu;
•Đóng rắn, bao gói áp dụng cho chất thải hóa học và chất thải
dược phẩm;
•Lưu giữ an toàn để phân hủy chất thải phóng xạ;
•Trả lại nhà cung cấp chất thải hóa học hoặc bình chứa khí nén.
•Ký hợp đồng với đơn vị có giấy phép để vận chuyển và xử lý
bên ngoài.
Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế không đốt-xu thế
mới thân thiện với môi trường
-Theo Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 –
2015 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt, đến hết năm 2012, 100% các cơ sở y tế gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng thực hiện xử lý nước thải bảo
đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

-Mục tiêu của Đề án trên nhằm xử lý các yếu tố nguy hại
đến sức khỏe và môi trường của chất thải phát sinh từ các cơ sở
y tế để bảo vệ sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, người bệnh và
cộng đồng.
KẾT LUẬN
Trong giai đoạn phát triển hiện nay lượng rác thải ngày càng
thải ra nhiều làm cho môi trường bị ô nhiễm trầm trọng,
trong đó lượng rác thải do ngành y tế thải ra chiếm một số
lượng đáng kể.
Công tác lập báo cáo đánh giá tác động môi trường các
bệnh viện chưa được quan tâm đúng mức gây nên nhiều hậu
quả nghiêm trọng. Hồ sơ kỹ thuật, quy trình vận hành các hệ
thống, thiết bị xử lý chất thải chưa được chuyển giao, huấn
luyện đối với các bệnh viện xây mới hoặc nâng cấp. Công
tác kiểm tra việc quản lý chất thải y tế, bảo vệ môi trường
tại các bệnh viện, cơ sở y tế còn bị buông lỏng, thiếu quan
tâm. Việc xử lý chất thải y tế, bảo vệ môi trường tại các
bệnh viện còn nhiều khó khăn, bất cập.
Với tình trạng rác thải y tế hiện nay thì
đất nước chúng ta cần phải đưa ra những
quy định pháp luật về việc xử lý rác thải y
tế trong bệnh viện một cách phù hợp để
hạn chế lượng rác thải nguy hại,ngoài ra
cần phải nghiêm khắc xử phạt các hành vi
vi phạm.
Những vấn đề trong bài báo cáo về chất thải rắn y
tế của nhóm 5 ngày hôm nay là những gì mà nhóm đã
nghiên cứu, sưu tầm và tổng hợp được từ nhiều
nguồn tài liệu. Hi vọng có thể đem đến một cái nhìn
tổng quan về chất thải rắn y tế. Nêu ra những tính
chất độc hại, phương pháp xử lý cũng như những
ảnh hưởng lâu dài của nó tới hệ con người, hệ sinh
thái. Những phương hướng xử lý khắp phục đang
được áp dụng để có thể hạn chế tác động của nó tới
con người và môi trường.
Trong bài báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót
mong nhận được sự thông cảm, góp ý của thầy và tất
cả các bạn.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản