TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Chia sẻ: suminhtri

ÔNMT là làm thay đổi tính chất của MT, vi phạm tiêu chuẩn MT, làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp tới các đặc tính vật lí, hóa học, sinh học… của bất kì thành phần nào trong MT. Chất gây ô nhiễm chính là nhân tố làm cho MT trở nên độc hại hoặc có tiềm ẩn nguy cơ gây độc hại, nguy hiểm đến sức khỏe con người và sinh vật trong MT đó.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

 

  1. TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG I.SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GDBVMT TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC Ở THPT 1.Ô nhiễm môi trường là gì? ÔNMT là làm thay đổi tính chất của MT, vi phạm tiêu chuẩn MT, làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp tới các đặc tính vật lí, hóa học, sinh học… của bất kì thành phần nào trong MT. Chất gây ô nhiễm chính là nhân tố làm cho MT trở nên độc hại hoặc có tiềm ẩn nguy cơ gây độc hại, nguy hiểm đến sức khỏe con người và sinh vật trong MT đó. 2.Tại sao cần tích hợp GDBVMT vào trong giảng dạy Hóa học ở trường THPT? MT hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính chẩt tự nhiên như là đất, nước, không khí, hệ động thực vật. Tình trạng môi trường thay đổi và bị ÔN đang diễn ra trên phạm vi mỗi quốc gia cũng như trên toàn cầu. Chưa bao giờ MT bị ÔN nặng như bây giờ, ÔNMT đang là vấn đề nóng hổi trên toàn cầu. Chính vì vậy việc GDBVMT nói chung, bảo vệ thiên nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng, là vấn đề cần thiết, cấp bách và bắt buộc(1)khi giảng dạy trong trường Phổ thông, đặc biệt với bộ môn Hóa học thì đây là vấn đề hết sức cần thiết. Vì nó cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về MT, sự ÔNMT… tăng cường sự hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở HS ý thức và đạo đức mới đối với MT, có thái độ và hành động đúng đắn để BVMT. Vì vậy, GDBVMT cho học sinh là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và bền vững nhất. II.PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP GDBVMT VÀO BỘ MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT 1.Xác định hệ thống kiến thức GDBVMT trong môn Hóa học. Hệ thống kiến thức GDMT ở trường PTTH ở nước ta hiện nay tập trung chủ yếu vào các môn học có liên quan đến môi trường nhiều như Hóa học, sinh học, địa lí, kĩ thuật nông nghiệp, công nghiệp, vệ sinh học đường, đạo đức… Nội dung kiến thức GDMT trong bộ môn Hóa học - Phần đại cương: cung cấp cho HS một số kiến thức, các khái niệm, các quá tình biến hóa, các hiệu ứng mang tính chất hóa học của môi trường: môi trường là gì, chức năng của MT, bản chất hóa học trong sinh thái, hệ sinh thái, quan hệ giữa con người và MT, ÔNMT…
  2. - Phần nội dung ÔNMT: phân tích bản chất hóa học của sự ÔNMT, bản chất hóa học của hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ozon, khói mù quang học, mưa axit, hiệu ứng hóa sinh của NOx , H2S, SOx…, các kim loại nặng và một số độc tố khác, tác động của chúng tới MT… - Một số nội dung về: đô thị hóa và MT, một số vấn đề toàn cầu (trái đất nóng lên, suy giảm tầng ozon, Elnino, LaNina..) suy giảm sự đa dạng sinh học, dân số - MT và sự phát triển bền vững, các biện pháp bảo vệ MT, luật BVMT, chủ trương chính sách của Đảng - nhà nước về BVMT… 2.Phương thức tích hợp GDBVMT là GD tổng thể nhằm trang bị những kiến thức về MT cho HS thông qua môn hóa học sao cho phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học. Việc đưa kiến thức GDBVMT vào hóa học thuận lợi và hiệu quả nhất là hình thức tích hợp và Lồg ghép. a.Tích hợp Tích hợp là cách kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức hóa học với kiến thức BVMT một cách hài hòa, thống nhất. Ví dụ khi giảng về bài “Lưu huỳnh, khí H2S, một số oxit của lưu huỳnh”, song song với việc giảng dạy về các kiến thức về tính chất lí hóa, phương pháp điều chế…, GV cần phải biết khai thác các kiến thức có liên quan đến MT như việc gây ÔNMT khí quyển. Có thể cung cấp cho HS một số thông tin như: người ta ước tính các chẩt hữu cơ trên Trái đất sinh ra khoảng 31 triệu tấn H2S, mà sự oxi hóa tiếp theo sinh ra SO2. Các hoạt động gây ÔNMT không khí bởi SO2 vẫn giữ vị trí hàng đầu. Qua đó có thể nêu các biện pháp xử lí đơn giản đối với không khí bị ô nhiễm chứa lưu huỳnh. Hoặc khi dạy bài “phân bón hóa học” GV nên hình thành cho HS ý thức BVMT thông qua nội dung bài, cần phân tích cho HS việc sử dụng không hợp lí phân bón, quá liều lượng có thể gây ÔN đất, nguồn nước, gây nhiễm độc cho nông sản, thực phẩm, người và gia súc… Với sự kết hợp hài hòa, hợp lí giữa nội dung bài dạy và GDBVMT bài giảng sẽ trở nên sinh động hơn, gây ấn tượng và hứng thú cho việc học của HS. b.Lồg ghép Lồg ghép thể hiện là việc lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để có thể đưa vào bài học một đoạn, một mục, một số câu hỏi có nội dung GDBVMT. Ví dụ, khi giảng bài “ Tính chất hóa học chung của kim loại” GV có thể nêu thêm phần tác hại của một số kim loại nặng: Pb, Cd, Hg, As… với cơ thể con người. Qua đó nêu một số phương pháp phòng ngừa và xử lí kịp thời khi bị nhiễm kim loại nặng. Hình thức Lồg ghép có 3 mức độ: Lồg ghép toàn phần, Lồg ghép một hoặc nhiều bộ phận, Lồg ghép liên hệ mở rộng bài học. Tùy thuộc điều kiện, mục tiêu bài học, cấu trúc nội dung bài học để có thể lựa chọn hình thức lồg ghép
  3. phù hợp để đem lại hiệu quả GD cao nhất. 3.Phương pháp GDBVMT qua môn Hóa học ở trường THPT Yêu cầu cơ bản khi tiến hành GDBVMT cho HS: “GDMT phải bao quát các mặt khác nhau của môi trường: tự nhiên và nhân tạo, công nghệ, xã hội, kinh tế, văn hóa và thầm mĩ. Giáo dục môi trường phải nêu rõ mối quan hệ giữa các vấn đề MT địa phương, quốc gia và toàn cầu cũng như các tương quan giữa hành động hôm nay và hậu quả ngày mai” (Dự án GDMT của UNESCO, 1998). Mục tiêu GDBVMT cho HS: trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về hóa học phổ thông, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Cung cấp những kĩ năng cơ bản về BVMT, biết cách ứng xử tích cực đối với những vấn đề cụ thể của MT. Xây dựng cho HS những kiến thức cơ bản về MT để mỗi HS trở thành một tuyên truyền viên tích cực trong Gia đình, nhà trường và địa phương. ----------------- (1) 17/10/2001, thủ tướng chính phủ đã ban hành QĐ 1363/QĐ/TTg phê duyệt đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc gia” của Bộ GD – ĐT. a.Phương pháp GDBVMT qua giờ học trên lớp và trong phòng thí nghiệm Kiến thức về GDMT được tích hợp và lồg ghép vào nội dung bài học theo 3 mức độ: toàn phần, bộ phận, hoặc liên hệ. Tùy từng điều kiện có thể sử dụng một số phương pháp sau: Ø- PP giảng dạy dùng lời (minh họa, giảng giải, kể chuyện, đọc tài liệu) Ø- PP thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề Ø- PP sử dụng các thí nghiệm, các tài liệu trực quan trong giờ dạy Ø- PP khai thác các kiến thức về GDBVMT từ những bài thực hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm b.Phương pháp GDBVMT thông qua hoạt động ngoài giờ, ngoại khóa. Trong nhà trường PT, hoạt động ngoại khóa để GD MT là hình thức rất có hiệu quả, phù hợp với tâm lí HS, sự GD của GV và sự tiếp nhận của HS rất nhẹ nhàng và sâu sắc. Ø- Phương pháp hành động cụ thể trong các hoạt động theo từng chủ đề được tổ chức trong trường hay ở địa phương. Thông qua tình hình thực tế, giúp HS hiểu biết được tình hình MT của địa phương, về tác động của con người đến MT. Từ đó GD cho HS đạo đức MT và ý thức BVMT. Ø- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa nhà trường và cộng đồng địa phương trong các hoạt động về GDBVMT. Ø- Thông qua hoạt động ngoại khóa cung cấp cho HS một số kĩ năng và phương pháp tích cực tham gia vào mạng lưới GDMT.
  4. Nội dung GDBVMT trong chương trình ngoại khóa có thể thông qua một số hình thức sau: Ø- Câu lạc bộ: câu lạc bộ MT sinh hoạt theo các chủ đề về ăn, uống, sử dụng các năng lượng, rác thải, bệnh tật học đường… Ø- Hoạt động tham quan theo chủ đề: tham quan danh lam thắng cảnh, nhà máy, nơi xử lí rác thải, các loại tài nguyên. Ø- Tổ chức xem phim, băng hình, tranh ảnh về các đề tài BVMT, các cuộc thi tìm hiểu về MT và ÔNMT. Ø- Hoạt động trồng xanh hóa học đường: nhân các dịp lễ, Tết, 26/3…, ngày MT thế giới 5/6 Ø- Hoạt động Đoàn – Đội về BVMT: tổ chức các chiến dịch tuyên truyền ở nhà trường và địa phương. III.MỘT SỐ ĐỊA CHỈ TÍCH HỢP GDBVMT TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THPT
  5. IV.MỘT SỐ NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.Ô nhiễm không khí, sự suy giảm tầng ozon Khí quyển của chúng ta được chia thành nhiều tầng, trong đó có tầng ozon (cách mặt đất khoảng 25 km). Ozon (Ozone theo tiếng Hy Lạp nghĩa là “tỏa mùi”), được Friederich Schoben người Thụy Sỹ phát hiện năm 1840 và năm 1858 đã được Houzeau người Pháp xác định là thành phần quan trọng của khí quyển. Ozon do 3 nguyên tử oxi kết hợp với nhau, chúng được hình thành dưới tác dụng của bức xạ mặt trời, sấm sét… Độ dày mỏng của tầng ozon ở mỗi nơi là không giống nhau. Tầng ozon có tác dụng quan trọng trong việc ngăn cản các tia cực tím nguy hiểm từ mặt trời chiếu xuống trái đất.
  6. Hiện nay, tầng ozon đã bị báo động là đang “thủng” nghiêm trọng. Hiện tượng này được giải thích có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là do các khí thải công nghiệp như CFC, NO2… Những dữ liệu năm 1994 của UNEP-WMO (tổ chức môi trường thế giới) đã chứng minh rằng các hợp chất hữu cơ có chứa clo và brom khi đi vào tầng bình lưu đã giải phóng nguyên tử clo và brom, đưa chúng về chu kỳ xúc tác phá hoại ozon. Axit clohdric do núi lửa phun ra không hòa tan được trong nước khí quyển và không bị nước mưa quét sạch trước khi đi vào tầng bình lưu. Năm 1979 người ta mới phát hiện ra tầng ozon đang bị bào mòn và cho đến nay đã bị thủng ở rất nhiều nơi. Theo ước tính, khi tầng ozon giảm 10% thì lượng tia cực tím tăng lên khoảng 13%. Và cứ giảm 11% ozon thì sẽ làm tăng 2% trường hợp ung thư da. Một số tác nhân gây thủng tầng ozon: Các chất clofloucacbon (CFC) có tác dụng làm phồng các tấm cách nhiệt (cách âm) và dung môi trong công nghiệp điện tử, cơ khí, chất làm lạnh trong tủ lạnh, chất đẩy trong các bình xịt tóc…là một trong số những tác nhân nguy hiểm nhất với tầng ozon. Loại hay dùng nhất là Freon, có thời gian tôn tại rất lâu dài, từ 50-400 năm tùy loại. Chúng bay lên không trung tận tầng cao nhất của khí quyển, gặp các tia cực tím và bị vỡ ra làm clo được giải phóng. Mỗi nguyên tử clo phá hủy một phân tử ozon và để tạo thành một phân tử ClO, oxit này lại phản ứng với một oxi nguyên tử để tái tạo clo nguyên tử, sau đó, tiếp tục đi phá hủy một phân tử ozon khác. Một nguyên tử clo có thể phá hủy khoảng 100 nghìn phân tử ozon trước khi bị phản ứng trở lại thành dạng ổn định gọi là “bình chứa”. Cơ chế của sự phá hủy tầng ozon: Rất may, hiện nay, chất CFC đã bị cấm sử dụng. Nhưng không phải vì thế mà tầng ozon không tiếp tục bị thủng, lượng tàn dư của nó trong khí quyển vẫn còn, thêm vào đó các oxit của nitơ và lưu huỳnh cũng có tác hại tàn phá tương tự. Một số nguồn khí thải gây ô nhiễm không khí: - Nguồn ô nhiễm công nghiệp: các chất độc hại trong khí thải công nghiệp như COx, NOx, SO2… và tro bụi. Các nhà máy sản xuất thủy tinh thải ra một
  7. lượng lớn bụi HF, SO2. Các nhà máy gạch, nung vôi thải ra đáng kể một lượng bụi COx, NOx. Công nghiệp luyện kim, cơ khí thải ra một lượng đáng kể bụi khói kim loại và nhiều chất độc hại. - Nguồn ô nhiễm do giao thông vận tải: Các chất khí độc hại do động cơ đốt trong thải ra, hơi Chì, làm ô nhiễm không khí, hành lang hai bên của tuyến giao thông. Một phần không nhỏ bụi bị cuốn theo sự chuyển động của các phương tiện giao thông và vận tải hàng không, đặc biệt là các máy bay siêu âm ở độ cao lớn thải ra một lượng lớn NOx có hại cho tầng Ozon. - Nguồn ô nhiễm không khí do sinh hoạt: khí thải ra do nguồn này chỉ chiếm một phần rất nhỏ, đa phần là các khí COx. Hàm lượng tuy nhỏ, nhưng chúng phân bổ dày và cục bộ trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình cho nên có ảnh hưởng trực tiếp đến con người. - Các hạt bụi và sol khí là đối tượng chính chứa các kim loại nặng trong khí quyển, là nguồn gốc tạo nên hiện tượng “khói mù quang học”, cản trở ánh sáng và phản xạ ánh sáng mặt trời. - Hậu quả của việc thủng tầng ozon tới khí hậu: giảm thời gian có nắng, đồng nghĩa với việc thời gian mưa sẽ tăng lên. Đất đai không có vôi, tăng nồng độ axit dẫn đến cằn cỗi. - Hậu quả trực tiếp với con người: tăng rối lọan tim mạch, hô hấp, các bệnh phổi, hen, ung thư phổi, các bệnh ung thư da và các bệnh da liễu… Với các công trình nghệ thuật lịch sử: đá bị ăn mòn, mặt ngoài công trình bị cáu bẩn, các bộ phận kim loại gỉ sét nhanh chóng… 2.Ô nhiễm nguồn nước Nước là nguồn sống của con người và mọi loại sinh vật, nó rất cần thiết cho rất nhiều ngành công nghiệp, sinh hoạt và nông nghiệp… Tuy nhiên hiện nay, nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề. Có nhiều nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước trong đó có một số nguyên nhân sau: a.Ô nhiễm hóa học: do các chất thải công nghiệp chưa được xử lí, bao gồm chất thải vô cơ và chất thải hữu cơ. Nhiều chất chỉ cần với hàm lượng 1mg/lit cũng đủ để giết chết các động vật (như cromat, xianua…),cũng có thể là hydrocacbua, các chất tẩy rửa. Chất bẩn từ quần áo, chất thải từ phân người có khoảng 4,9g Phốtpho/ngày. Hậu quả là nếu thải vào nguồn nước sẽ làm tăng nhanh các sinh vật nổi và thủ tiêu dần các một số động vật khác dưới nước. b.Ô nhiễm hữu cơ: do nước thải ở các hệ thống thoát nước đô thị, các lò sát sinh, trại chăn nuôi, nhà máy thực phẩm, nhà máy giấy… Lượng chất hữu cơ này trong nước đã tiêu thụ một phần không nhỏ lượng oxi hòa tan trong nước và hệ quả là làm chết các động - thực vật nước. c.Ô nhiễm nhiệt học: các chất hữu cơ của nhà máy nhiệt điện và điện nguyên tử đã là tăng nhiệt độ của nước. Nước nóng sẽ làm tỷ lệ oxi hòa tan trong
  8. nước giảm. Khiến cho các loài thủy sản dễ bị ngạt thở, rối loạn chu kỳ sinh học, thậm chí dẫn tới hủy diệt một số loài. d.Ô nhiễm có nguồn gốc nông nghiệp: nguồn gốc của loại này chủ yếu do hàm lượng nitơ trong đất quá mức cho phép vì dùng phân hóa học không đúng cách và không đúng liều lượng, hoặc sử dụng phân chuồng chưa qua xử lí các độc tố. Các độc tố đọng lại trong các loại thực phẩm, vật nuôi sẽ xâm nhập vào cơ thể con người khi sử dụng. Một nguồn ô nhiễm nông nghiệp khác là do sử dụng quá liều lượng các hóa chất diệt cỏ, trừ sâu hại… Các loại hóa chất này tồn tại rất lâu trong đất, gây ảnh hưởng không chỉ đến nguồn đất mà còn cả nguồn nước và tất yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến con người. Các tác hại khi bị ô nhiễm nguồn nước: -Đối với các loại động thực vật trong nước: động thực vật sống được trong nước là do quang hợp được từ ánh sáng mặt trời kết hợp với việc sử dụng oxi hòa tan trong nước để hô hấp, quang hợp.Đồng thời, chúng cũng lấy các chất dinh dưỡng trong nước để sống. Khi các chất thải hữu cơ đổ vào nước, chúng sẽ làm giảm lượng oxi hòa tan trong nước, một số hợp chất hữu cơ tích tụ, đóng váng, kết bè trên mặt nước làm giảm khả năng quang hợp của các loài thực vật, chưa kể đến các chất độc hại mà những nguồn chất thải này mang đến. Hậu quả là nhiều loại vi sinh vật bị chết, có loài bị nhiễm độc. Và hậu quả thật khó lường khi con người tiêu thụ các thực phẩm từ những nguồn nhiễm độc này. -Đối với con người: do dùng nước sinh hoạt bị ô nhiễm để ăn uống, tắm rửa, người ta có thể bị nhiễm khuẩn gây các bệnh phổ biến, các bệnh dạ dày, ruột, nhiễm virut, viêm gan, nhiễm kí sinh trùng, giun sán… Ngoài ra, bị các khoáng chất độc hại xâm nhập cơ thể như: thủy ngân, chì, antimon, các nitrat làm thay đổi hồng cầu, ngăn cản quá trình cố định oxi, rất nguy hiểm, gây tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh. Nước nhiễm độc flou khi uống có thể gây hỏng men răng… 3.Ô nhiễm đất nông nghiệp. Đất có thể bị ô nhiễm tự nhiên do thành phần của nó. Từ quá trình hình thành vỏ trái đất, đất đá đó chứa sẵn trong nó những kim loại nặng và á kim. Ở một liều lượng nhất định trong khi khai thác sử dụng và qua các phản ứng hóa học tiếp theo, những kim loại và những á kim đều độc hại với con người và động thực vật trên trái đất. Nhưng đất cũng có thể bị ô nhiễm do các hoạt động của con người bằng các chất gây ô nhiễm hữu cơ vi mô trực tiếp thấm dần xuống đất qua sự hấp thụ của cây cối hoặc theo các mạch nước ngầm. Từ đó theo đường tiêu hóa hoặc bụi bặm tác động tới cơ thể con người và động vật gây ung thư, hay đột biến gen…Cây trồng cũng có thể bị lây nhiễm các chất độc vô cơ qua không khí, theo gió thấm vào cành lá. Những nơi thường bị ô nhiễm đất nghiêm trọng là: quanh các mỏ khoáng
  9. sản, các vùng nông nghiệp thâm canh sử dụng phân phốtphat với liều lượng cao, vùng trồng nho sử dụng nhiều CuSO4, vùng tiếp giáp các xa lộ, các sân bay lớn, vùng công nghiệp tập trung, bãi rác thành phố, bùn nạo vét từ các cống rãnh, ao hồ, sông ngòi… Một nguyên nhân gây ô nhiễm đất nông nghiệp hiện nay là do: sử dụng các loại thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng kích thích không đúng liều lượng và không đúng quy định. Lượng tích tụ lâu dài của các nguồn này gây ô nhiễm nghiêm trọng tài nguyên đất nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sức khỏe con người. Ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp Chất thải công nghiệp gây ô nhiễm ở cả 3 trạng thái: rắn, lỏng, khí. Trong đó chất thải rắn chiếm khoảng 50%, và có khoảng 15% có khả năng gây độc nguy hiểm. Đặc biệt nghiêm trọng là các chất thải là các hóa chất, các kim loại nặng (Pb, Hg, As…). Chất thải khí gồm nhiều khí độc như H2S, NOx, COx, … đây là nguyên nhân gây ra mưa axit, làm chua đất, phá hoại sự phát triển của thảm thực vật. Hàng ngày, con người và các động vật đã thải ra một số lượng lớn các chẩt thải. Khu vực càng đông người thì phế thải càng lớn. Chất thải này có nhiều nguồn khác nhau, chính vì vậy gây khó khăn trong việc thu gom, xử lí. Trong khi đó, ý thức bảo vệ môi trường còn kém, dẫn đến tình trạng xả rác “vô tội vạ”. Hàng năm, chúng ta sản xuất được 240.000 tấn Axit sunfuric, trong đó có 180.000 tấn đi từ quặng pirit. Tất cả đều dùng chất thải một lớp, hiệu suất chuyển hóa thấp, lượng chất thải cao. Hàng năm thải ra môi trường khoảng hơn 4000 tấn SO2 và khoảng 80.000 tấn xỉ pirit. Ô nhiễm đất do phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật Loại ô nhiễm này do sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật gây ra, chất tăng trưởng kích thích… trong sản xuất nông nghiệp gây ra là chủ yếu. Sử dụng phân bón quá liều lượng, làm cho đất bị chua, cứng đất gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Đất có thể bị chua tự nhiên do mưa nhiều sinh, một số hợp chất hữu cơ bị chuyển hóa thành lưu huỳnh, tạo thành axit sunfuric, cuối cùng tạo thành gốc sunfat gây chua đất. Đất cũng có thể bị chua do sử dụng phân đạm sunfat không hợp lí. Việc ô nhiễm đất có thể kéo theo việc ô nhiễm trực tiếp nguồn nước và có thể cả không khí. Ở nước ta việc sử dụng phân bón chưa nhiều như các nước trong khu vực và trên thế giới nên chưa thấy rõ hiện tượng ô nhiễm đất do dùng phân bón (trừ một số vùng ở Hà Nội và Đà Lạt) Thuốc bảo vệ thực vật có thể chia làm 5 loại: thuốc trừ sâu, thuốc trừ nhện, thuốc trừ gặm nhấm, thuốc trừ nấm và thuốc trừ cỏ dại. Cũng như phân bón
  10. hóa học, thuốc bảo vệ thực vật cũng bị rửa trôi theo nguồn nước rất lớn, gây ô nhiễm trực tiếp nguồn nước. Việc sử dụng quá liều thuốc bảo vệ thực vật còn có thể làm cho con người và các loài động vật bị nhiễm độc nếu tiêu thụ các thực phẩm đó. Thuốc bảo vệ thực vật đã làm giảm đáng kể số lượng một số loài sinh vật có ích (ong mắt đỏ, nấm có ích), làm giảm sự đa dạng sinh học, làm xuất hiện một số loại sâu bệnh kháng thuốc, bùng nổ nạn dịch rầy nâu, đạo ôn ở một số vùng. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác gây ô nhiễm đất như: ô nhiễm đất do tác nhân sinh học, tác nhân vật lí, do sự cố tràn dầu, do hệ quả của chiến tranh, do thảm họa bình địa, ô nhiễm do các tác nhân phóng xạ… 4.Hiệu ứng nhà kính (Green House Effect) Ở một số nước hàn đới, hàng ngày mặt đất nhận được khá ít nhiệt từ mặt trời chiếu xuống. Chính vì vậy, để có thể trồng trọt được họ phải trồng cây trong những ngôi nhà làm bằng kính. Tác dụng của ngôi nhà kính này là: ngăn không cho ánh sáng phản xạ trở lại khí quyển khi tiếp xúc với mặt đất, khi đó lượng nhiệt từ mặt trời chiếu xuống được tận dụng tối đa để cung cấp cho các loại cây trồng. Nói cách khác, những ngôi nhà kính có tác dụng như những ”cái lồg nhốt ánh sáng”.
  11. Trên bề mặt trái đất cũng xảy ra một hiện tượng tương tự như vậy, và người ta gọi nó là “hiệu ứng nhà kính”. Khi hàm lượng CO2 bt Khi hàm lượng CO2lớn hơn bt Một cách chính xác có thể hiểu như sau: “hiệu ứng nhà kính” là hiện tượng Trái đất bị nóng dần lên do khí Cacbonic (CO2) trong khí quyển. Cacbonic chủ yếu tồn tại ở tầng đối lưu. Chúng ta biết rằng, nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo thành do sự cân bằng năng lượng giữa năng lượng của mặt trời chiếu xuống và năng lượng bức xạ nhiệt của mặt đất phát vào không gian. Bức xạ mặt trời là bức xạ ngắn nên dễ dàng xuyên qua các lớp khí cacbonic, mêtan, hơi nước và tầng ozon chiếu xuống trái đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ trái đất lại là bước sóng dài không có khả năng xuyên qua các lớp cacbonic… bị phản xạ trở lại mặt đất. Lượng nhiệt do các bức xạ này mang lại không được phân tán ra ngoài vũ trụ làm cho nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên (trong điều kiện hàm lượng Cacbonic bình thường thì không có hiện tượng này). Người ta ước tính, nếu khí quyển Trái đất không có cacbonic thì nhiệt độ trung bình giảm khoảng 21oC so với nhiệt độ hiện tại. Còn ngược lại, nếu
  12. hàm lượng Cacbonic trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ trái đất tăng khoảng 4oC. Nhiệt độ trái đất tăng cao dẫn đến tình trạng băng ở hai địa cực tan ra, nước biển dâng cao. Trong 30 năm tới nếu không ngăn chặn “hiệu ứng nhà kính” thì mực nước biển sẽ dâng cao từ 1,5m – 3,5m tùy từng nơi, và kéo theo một số làng mạc gần bờ biển sẽ chìm trong nước biển. Để hạn chế hiệu ứng này, cần thiết là phải giảm hàm lượng cacbonic trong khí quyển. Một số biện pháp có thể làm là: hạn chế sử dụng nhiên liệu truyền thống, trồng nhiều cây xanh, bảo vệ rừng và thảm thực vật tự nhiên. 5.Mưa axit Nước mưa tinh khiết có tính axit yếu, pH~5,6. Nước mưa có pH < 5,6 được gọi là mưa axit. Ở các khu công nghiệp pHtb ~ 4,6. Mức thấp kỉ lục là 2,9. Nguyên nhân chính dẫn đến mưa axit là do các nhà máy nhiệt điện với nhiên liệu hóa thạch là than đá hay dầu bị đốt cháy sinh ra SO2, NO, một phần khác do giao thông đưa vào khí quyển. Sau đó trong khí quyển diễn ra một số quá trình: Các khí SOx và NO2 trong khí quyển tan vào nước của những hạt mưa và theo mưa rơi xuống mặt đất. Chúng gây ra những tác hại nguy hiểm, có thể gây nên các bệnh về đường hô hấp cho con người, phá hủy các công trình kiến trúc, tạo nên sự xói mòn núi đá vôi, làm chua đất, thay đổi kiến tạo trên bề mặt trái đất… Để hạn chế bớt hiện tượng mưa axit cần hạn chế thải vào khí quyển các khí SOx và NOx. 6. Tác hại của một số kim loại với cơ thể con người a. Chì Chì là nguyên tố có độc tính cao đối với sức khỏe con người và động vật. Chì gây độc cho hệ thần kinh trung ương lẫn hệ thần kinh ngoại biên. Chì tác động lên enzim, nhất là enzim có chứa hidro. Người bị nhiễm độc chì thường rối loạn một số chức năng cơ thể, thường là rối loạn bộ phận tạo huyết (tủy xương). Tùy theo mức độ nhiễm độc có thể gây nên những triệu chứng như đau bụng, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp vĩnh viễn, tai biến mạch máu não, nếu nhiễm độc nặng có thể bị tử vong. Đặc tính nổi bật của chì là sau khi xâm nhập vào cơ thể nó không bị đào thải mà ngược lại nó tích tụ theo thời gian. Chì đi vào cơ thể người qua nước uống, không khí, thức ăn bị nhiễm chì. Khi vào cơ thể nó bị tích tụ đến một lúc nào đó mới bắt đầu gây độc hại. Chì
  13. tích đọng ở xương, kìm hãm quá trình chuyển hóa vitamin D. Tiêu chuẩn tối đa cho phép của WHO nồng độ chì trong nước uống không quá 0,05 mg/ml. b. Thủy ngân Độc tính của thủy ngân phụ thuộc dạng hóa học của nó. Thủy ngân nguyên tố tương đối trơ không độc. Nếu nuốt phải thủy ngân kim loại thì sau đó có thể được thải ra mà không gây hậu quả nghiêm trọng. Nhưng thủy ngân dễ bay hơi ở nhiệt độ thường, nếu hít phải hơi thủy ngân sẽ rất độc. Trong nước metyl thủy ngân là dạng độc nhất. Chất này hòa tan mỡ và phần chất béo của màng não tủy, phá hủy hệ thần kinh trung ương, phân liệt nhiễm sắc thể và quá trình phân chia tế bào. Thủy ngân có khả năng phản ứng với các axit amin chứa lưu huỳnh, hemoglobin, abumin Thủy ngân có khả năng liên kết màng tế bào, làm thay đổi hàm lượng kali, thay đổi cân bằng axit bazơ của các mô, làm thiếu hụt năng lượng cung cấp cho hệ thần kinh. Trẻ em bị nhiễm độc thủy ngân sẽ bị phân liệt, làm trì độn, gây co giật không chủ động. Nguồn gây ô nhiễm thủy ngân gồm nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo. Hàng năm, trên trái đất có khoảng 6000 tấn Hg thoát ra từ núi lửa, gấp 3 lần lượng Hg có nguồn gốc nhân tạo. Nguồn Hg nhân tạo đưa vào môi trường chủ yếu là từ các chất thải, bụi khói của các nhà máy luyện kim, hóa chất sản xuất đèn huỳnh quang, nhiệt kế, nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật… Nồng độ tối đa cho phép của WHO với hàm lượng Hg trong nước uống là 1 microg/l, nước nuôi thủy sản là 5 microg/l c. Asen As là một kim loại có khả năng tồn tại ở nhiều dạng hợp chất vô cơ và hữu cơ. Trong tự nhiên, As có trong nhiều loại khoáng chất. Với nồng độ thấp As là nguyên tố kích thích sinh trưởng, nhưng ở nồng độ cao lại nguy hiểm cho đời sống động, thực vật. As đi vào nguồn nước theo con đường tự nhiên như núi lửa, hoặc con đường nhân tạo - các quá trình nấu chảy Cu, Pb, Zn, luyện thép, đốt rừng, đốt chất thải, thuốc trừ sâu… Về mặt sinh học, As có thể gây ra 19 loại bệnh khác nhau. Các ảnh hưởng chính của As tới sức khỏe con người là: làm keo tụ protein, hóa hủy quá trình photpho hóa. As gây ung thư biểu mô da, phổi, phế quản, xoang… Tiêu chuẩn tối đa cho phép của WHO nồng độ As trong nước uống là 50 . Trong nước sạch hàm lượng As khoảng 0,4 – 1,0 micro g/l , nước biển từ 1,5 – 1,7 micro g/l . d. Cadimi Cd là kim loại được sử dụng nhiều trong công nghiệp luyện kim và chế tạo đồ nhựa. Hợp chất của Cd được sử dụng phổ biến để sản xuất pin. Cd xâm nhập vào nước theo bụi núi lửa, cháy rừng… hoặc từ công nghiệp luyện kim, mạ, sơn, chất dẻo, lọc dầu. Cd xâm nhập vòa cơ thể con người
  14. chủ yếu qua đường thực phẩm, hô hấp. Theo nhiểu nghiên cứu, người hút thuốc lá cũng có thể bị nhiễm Cd. Cd sau khi xâm nhập cơ thể tích tụ ở thận và xương. Cd gây nhiễu hoạt động của một số enzim nhất định, gây hội chứng tăng huyết áp, ung thư phổi, thủng vách ngăn mũi, rối loạn chức năng thận, phá hủy tủy xương. Ngoài ra nhiễm độc Cd còn ảnh hưởng đến nội tiết, máu, tim mạch. Tiêu chuẩn cho phép của WHO về nồng độ Cd trong nước uống là < 0,003 mg/l. e. Crom Crom là kim loại màu trắng, trong nước thường tồn tại dưới 2 dạng ion Cr(III) và Cr(VI). Cr(III) không độc nhưng Cr(VI) rất độc với người và động – thực vật. Với người, Cr(VI) dễ gây loét dạ dày, ruột non, xuất hiện mụn cơm, viêm gan, viêm thận, ung thư phổi. Cr xâm nhập nguồn nước từ các nguồn nước thải của các nhà máy mạ điện, nhộm, thuốc nổ, đồ gốm, sản xuất mực, men sứ, in tráng ảnh… Hàm lượng cho phép trong nước uống là < 0,05 mg/l. f. Mangan Xét về mặt dinh dưỡng Mn là nguyên tố vi lượng, nhu cầu dinh dưỡng mỗi ngày từ 30 - 50 micro g/kg trọng lượng cơ thể. Nhưng nếu hàm lượng lớn lại gây độc hại cho cơ thể con người. Mn gây độc mạnh với nguyên sinh chất của tế bào, đặc biệt là tác động lên hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương thận và bộ máy tuần hoàn, phổi, ngộ độc nặng gây tử vong. Mn đi vào môi trường do quá trình rửa trôi, xói mòn và do các chất thải công nghiệp luyện kim, acqui, phân bón hóa học… Tiêu chuẩn cho phép của WHO về hàm lượng Mn trong nước uống không quá 0,1 mg/l. 7. Ô nhiễm phóng xạ Phóng xạ là sự biến hóa tự phát đồng vị không bền của một nguyên tố hóa học thành đồng vị của những nguyên tố khác. Sự phóng xạ có kèm theo bức xạ những hạt cơ bản hoặc hạt nhân heli (hạt Anpha). Hiện nay có hơn 50 nguyên tố phóng xạ tự nhiên và có khoảng 1000 đồng vị phóng xạ nhân tạo. Thực chất, những phóng xạ nguy hiểm thường có trong không khí dưới dạng hợp chất bền vững với các chất khác: 131I, 32P, 60Co, 90St, 14C, 35S, 45Ca, 28Al, 235U… Có nhiều đồng vị có thời gian bán hủy rất dài như 14C (5600 năm), hoặc cũng có đồng vị có thời gian bán hủy rất ngắn 131I (8 ngày). Các chất phóng xạ xâm nhập vào môi trường bằng nhiều con đường khác nhau: từ các quá trình khai thác quặng tự nhiên, các khí dung phóng xạ rơi xuống mặt đất từ các lớp trên của khí quyển, do các vụ nổ hạt nhân, sử dụng đồng vị phóng xạ trong điều trị bệnh và nghiên cứu khoa học, làm nguyên tử đánh dấu trong công nghiệp và nông nghiệp, từ các lò phản ứng hạt nhân. Con người mắc nhiễm phóng xạ khi cơ thể bị chiếu phóng xạ hoặc sống
  15. trong môi trường có chứa chất phóng xạ. Hậu quả của sự ô nhiễm phóng xạ đối với loài người là tăng xác suất mắc bệnh ung thư, những bệnh liên quan đến di truyền, thể hiện qua hiện tượng quái thai. Các nhà khoa học cho rằng khi tăng gấp đôi liều bức xạ thì số trường hợp quái thai tăng 20%. Còn khi bị bức xạ suốt đời với liều lượng 2 đv bức xạ/năm thì tỷ lệ chết vì bệnh ung thư tăng 10%. Theo Ủy ban quốc tế về an toàn phóng xạ thì liều bức xạ đối với người làm việc trong ngành công nghiệp hạt nhân không được vượt quá 3 đv bức xạ/năm. 8. Nhiên liệu Nhiên liệu chủ yếu dùng trong các động cơ hiện nay là các sản phẩm từ dầu mỏ: khí, xăng nhẹ, dầu lửa, gasoil nhẹ… Dầu mỏ là hỗn hợp của hàng trăm hidrocacbon khác nhau gồm 3 loại chính: ankan, xicloankan, aren… Xăng nhẹ được dùng làm nguyên liệu cho các động cơ đốt trong. Chất lượng xăng được đánh giá qua chỉ số octan (đại lượng đặc trưng cho khả năng chống kích nổ sớm). Để tăng khả năng chống kích nổ của xăng, trước kia người ta thêm vào các hợp chất như tetra chì Pb(C2H5)4 và do đó trong khí thải của các động cơ ngoài các khí CO, NO, CO2 … còn có cả các hợp chất của Pb. Tác hại của chì trong khí thải với sức khỏe con người đã được trình bày ở phần III.7. Khí CO2 sinh ra do sự cháy của động cơ đốt trong là nguyên nhân chính làm tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển, tăng “hiệu ứng nhà kính”. + Giải pháp: Tìm các nguồn nguyên liệu mới để thay thế Biogas: góp phần tạo ra một nguồn nguyên liệu thay thế các loại nguyên liệu truyền thống củi than. Tận dụng triệt để các nguồn sinh ra CH4, hạn chế sự ảnh hưởng của CH4 đến “hiệu ứng nhà kính”. Điều quan trọng với kết cấu khép kín và sử dụng triệt để nguồn chất thải trong chăn nuôi, sinh hoạt, công trình biogas đã góp phần giải quyết một vấn đề bức xúc hiện nay ở nông thôn là tình trạng ÔNMT. Trong tổng hơn 700 dự án để xuất các năm trên thế giới, “chương trình khí sinh học biogas cho ngành chăn nuôi Việt Nam” đã được đề cử giải năng lượng toàn cầu 2006 - giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực năng lượng và MT toàn cầu của Liên Hợp Quốc. Đến nay, 27000 công trình biogas đã được xây dựng tại 24 tỉnh thành của Việt Nam. Dự kiến đến 2010 dự án sẽ đạt đến mục tiêu khoảng 167000 công trình tại 50 tỉnh. 9. Hiện tượng dầu loang. Đây là một hiện tượng gây ô nhiễm nghiêm trọng tới môi trường nước
  16. và môi trường đất. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này: - Rò rỉ từ các giàn khoan trên biển. - Rò rỉ từ các nhà máy lọc dầu ven biển. - Vận chuyển dầu trên biển. Ô nhiễm dầu mỏ và các sản phẩm của chúng thể hiện qua việc giảm tính chất hóa lí của nước, tạo lớp váng mỏng phủ đều trên mặt biển ngăn cản sự trao đổi nhiệt cũng như tạo ra một lớp cặn ở đó. Do tính độc hại của dầu và sản phẩm của dầu mỏ dẫn đến thiệt hại vô cùng lớn đối với thực vật có độ nhạy cảm cao, sống trong nước nhiễm dầu. Từ năm 1986, ở nước ta đã xuất hiện các vết dầu loang rò rỉ ống dẫn dầu, vỡ tàu chở dầu (như tàu chở dầu của Singapo ở Cảng Nhà Bè năm 1994) bao phủ hàng ngàn hecta đất bồi ven sông, làm chết rừng ngấp mặn, hoa màu, ruộng lúa. Cùng với sự phát triển của ngành dầu khí, nguồn ô nhiễm dầu ở nước ta sẽ còn gia tăng. Trên thế giới, hàng năm lượng dầu thải vào biển và đại dương là 4.897.000 tấn, trong đó các phương tiện giao thông trên biển thải ra 2.407.000 tấn và các phương tiện giao thông bộ, công nghiệp, công nghiệp lọc dầu thải ra 2.490.000 tấn. Một tấn dầu hỏa có thể bao trùm một diện tích khoảng 12 km2 với bề dày từ vài micromet đến vài centimet. Hậu quả ÔN do sự cố tràn dầu đang là vấn đề đáng lo ngại. 10. Vật liệu Polime Các vật liệu pilime là các sản phẩm của phản ứng trùng ngưng hoặc trùng hợp. Liên kết trong hợp chất cao phân tử này hầu hết đều là các liên kết đơn, khá bền. Đặc tính này cho phép vật liệu polime chịu được những tác động cơ học rất tốt, ngoài ra chúng khá bền với axit, kiềm… Chính vì vậy chúng rất khó bị phân hủy. Từ khi ra đời đến nay, vật liệu polime đã và đang chiếm được vị trí rất quan trọng trong đời sống con người cũng như trong nhiều hoạt động khác. Cũng chính vì lẽ đó mà lượng chất thải do nguồn vật liệu này vô cùng lớn, phổ biến nhất là từ các bao bì nilon thải ra trong sinh hoạt. Theo ước tính những nguồn chất thải này sau khi đi vào đất phải mất khoảng 2000 năm mới bị phân hủy hết. Vì vậy, chúng là nguồn gây ÔNMT đất rất to lớn. Biện pháp giải quyết: - Thu gom hợp lý rác thải từ nguồn này, phân loại, xử lý hoặc tái sử dụng. - Tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới: nhựa sinh học chẳng hạn. Nhựa sinh học có nguồn gốc từ thực vật, tuy nhiên có chất lượng không thua kém nhựa hóa học. Có khả năng phân hủy trong điều kiện bình thường trong thời gian tương đối ngắn.Tuy hiện nay giá thành của loại vật liệu này còn cao, nhưng nó hứa hẹn sẽ có bước đột phá, thay thế được nhựa Hóa học trong tương lai).
  17. V. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ ÔNMT Hiện trạng môi trường hiện nay đang trong tình trạng đáng báo động. Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là làm cách nào để hạn chế ÔNMT thêm vào đó là khắc phục các hậu quả ÔNMT đối với con người cũng như khôi phục môi trường sống. Trước hết để làm được điều này là cần phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của tất cả mọi người. Có nhiều hình thức, có thể sử dụng hình thức tuyên truyền, các cuộc vận động, các cuộc thảo luận, hội thảo về vấn đề môi trường. Việc tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng đang đem lại những kết quả đáng khích lệ. Tích hợp GDBVMT vào giảng dạy trong tất cả các cấp học là một biện pháp có tính thực tiễn và có hiệu quả cao. Ngoài ra, có rất nhiều biện pháp khác để khắc phục tình trạng ÔNMT. Với bầu khí quyển cần hạn chế khí thải công nghiệp và các khí thải sinh hại vào không khí. Các nhà máy, xí nghiệp cần có biện pháp để xử lí các khí độc hại trước khi thải vào môi trường. Tìm kiếm các nguồn nguyên liệu mới thay thế cho nguồn nguyên liệu truyền thống đã sắp cạn kiệt và gây ÔN lớn. Hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu hóa thạch. Trồng thêm nhiều cây xanh. Tăng cường rừng phòng hộ. Phủ xanh đất trống đội núi trọc. Rừng chính là lá phổi của trái đất. Vì vậy cần có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ. Hạn chế sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Nếu sử dụng thì cần phải có sự cân đối, hợp lí. Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp cần được xử lí trước khi thải vào nguồn nước tự nhiên. Với các chất thải rắn cần phải có sự thu gom và phân loại hợp lí để xử lí và tái chế. Các loại mầm bệnh, vi khuẩn cần đưa vào lò đốt để tiêu hủy. Các chất thải độc hại, chất nổ, phóng xạ cần có kĩ thuật xử lí riêng. Nhằm hạn chế sự cố tràn dầu, cần có biện pháp tăng cường sự an toan của thuyền chuyên trở dầu trên biển. Có các thiết bị dò đường phát hiện đá ngầm. Với các đường ống dẫn dầu xuyên quốc gia, cần được bố trí hợp lí, xây dựng vững chắc, có độ bền cao. Hạn chế sử dụng các vật liệu polime, các rác thải từ vật liệu này cần được thu gom để xử lí đặc biệt. Đồng thời, cần tìm ra những vật liệu mới thay thế… Trên đây chỉ là một trong số rất nhiều các biện pháp có thể thực hiện để hạn chế ÔNMT. Trong đó chúng tôi chú trọng vào biện pháp nâng cao ý thức của mọi người trong công tác môi trường, đây là biện pháp bền vững nhất và có hiệu quả nhất để cải thiện môi trường.
  18. VI. THAY LỜI KẾT Môi trường của chúng ta đang bị ô nhiễm từng ngày, từng giờ do các hoạt động vô ý hay cố ý của con người. Đã đến lúc mỗi người trong chúng ta cần nâng cao ý thức BVMT. Đó không chỉ là ý thức mà còn là trách nhiệm của chúng ta với thế giới hôm nay và ngày mai. Thêm vào đó mỗi người phải là một tuyên truyền viên tích cực về vấn đề BVMT. Và cần đặc biệt thấy rằng, việc tích hợp GDBVMT trong giảng dạy Hóa học ở trường PTTH là một việc làm hết sức cần thiết và ý nghĩa. Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, có thể chúng tôi không thể đề cập hết được đến tẩt cả các nguyên nhân gây ra ÔNMT và các tác hại của chúng. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng với sự năng động của các bạn, các bạn sẽ tự làm giàu thêm cho mình những kiến thức về sự ÔNMT. Qua bài tiểu luận này, chúng tôi không chỉ muốn nhấn mạnh việc tích hợp GDBVMT vào dạy học Hóa học mà còn hy vọng rằng qua đó giúp nâng cao ý thức BVMT của tất cả các bạn.
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản