Tiểu luận triết về ảnh hưởng của Nho giáo

Chia sẻ: Trương Phương Anh Phương Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

1
1.409
lượt xem
483
download

Tiểu luận triết về ảnh hưởng của Nho giáo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Triết học ra đời đã làm thay đổi nhận thức, quan niệm của xã hội loài người về thiên nhiên, về con người và về thế giới xung quanh. Triết học hình thành, tồn tại phát triển cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thể kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận triết về ảnh hưởng của Nho giáo

  1. Lời mở đầu Triết học ra đời đã làm thay đổi nhận thức, quan niệm của xã hội loài người về thiên nhiên, về con người và về thế giới xung quanh. Triết học hình thành, tồn tại phát triển cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thể kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp. Theo người trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết. Với chữ hình tượng này, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí, là sự hiểu biết sâu sắc của con người. Theo người Ấn Độ, triết học được đọc là darshana. Darshana có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, Pholosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người. Vì vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhân thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội. Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người. Ngay từ buổi bình minh của nhân loại, để tồn tại, con người đã phải tiến hành hoạt động lao động sản xuất và những hoạt động khác.  Điều này đã đem lại cho con người những tri thức nhất định về thế giới xung quanh và về bản thân mình, nhưng đây mới chỉ là những tri thức rời rạc, phản ánh bề ngoài của một đối tượng. Hệ thống tri thức lý luận chung nhất chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định, đó là con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đén khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hoá các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, hình thành lý luận và triết học ra đời.
  2. Trong tiểu luận này, chúng ta sẽ đi đâu tìm hiểu quan niệm về con người xưa và con người hôm nay trong con mắt, tư duy của Nho giáo. Con người trong cái nhìn của Nho giáo 1. Quan niệm về con người: Nói đến Nho giáo, ta nghĩ ngay đến Khổng tử và các bộ sách và kinh được xem là mẫu mực: Tứ Thư và Ngũ Kinh. Các tác giả thâm cứu Nho học đều cho rằng phần cốt lõi trình bày tư tưởng đó tóm lược trong chương đầu của cuốn Trung Dung. Ở ngay trong mấy câu của chương nầy, hòa bình được gọi là Trung và Hòa. Và hẳn đó cũng là toàn thể nội dung Nho học về cuộc sống con người và xã hội. Trung là gốc lớn của thiên hạ, Hòa là đạt Ðạo, tức là thực hiện trọn vẹn Ðạo của con người. Và Tử Trình Tử lại định nghĩa ngay chữ Trung: Không thiên lệch, sai lạc là Trung. Ðạo là Trung, không dời đổi theo sự hưng suy của lịch sử hay cảm nghĩ tùy thích của bất cứ ai. Dẫu con người trong thực tế đã tạo ra nhiều đường đi theo ý mình, dẫu con người có xa Ðạo, nhưng: Ðạo không xa con người, và con người không được xa đạo giây phút nào. Và trong thân phận đổi thay của xã hội con người, của phán đoán giá trị tùy lúc, của hoàn cảnh bất cập không thấy không nghe rõ Ðạo đó, người quân tử tức là kẻ muốn ở trong Ðạo nầy cần phải khiêm cung, cẩn trọng. "Trung" không dời đổi, không có nghĩa là một cái gì vật chất hay một tư tưởng bất động, nhưng là nguyên sơ của Trời Ðất vốn cho con người như thế. Sách Trung Dung nói rõ: Vui, giận, buồn, sướng chưa phát ra, đó là Trung. Chưa phát ra, như "cây sự sống" giữa vườn Eden trước khi Adam đưa lên hái. Ðây cũng là lộc, ơn phúc Trời cho đầu năm người dân ta đi tìm. Kinh Thư, cũng nói như thế: Lòng người sai lệch; nơi sâu kín của Ðạo thì ẩn kín; hãy thực thà và một mực giữ lấy Trung (tức là Ðạo Tâm). Và Khi thực hiện vui, buồn, giận, sướng mà hợp với Ðạo thì gọi là Hòa. Ðây là điểm cam go của Nho học. "Trúng tiết", trúng cũng là trung; tiết là thời gian, và cũng có nghĩa là một đốt tre trong cây tre. "Thời gian của Trung" là thời hòa giữa việc làm của người với Ý của Ðạo. Nói cách khác, con người làm, nhưng không phải tự mình, mà làm như cánh tay của Ðạo làm. Nhưng với tâm vốn có nguy cơ sai lạc (di nguy), làm sao thực hiện được cụ thể Ðạo luôn ẩn kín, vượt tầm tay con người, để tạo một thời của Ðạo? Nói cách khác, với xã hội vốn đã thiên lệch, với tâm con người vốn hướng đến xằng bậy và tội ác, ai thực hiện nổi trọn vẹn Ðạo giữa đời nầy để chứng thực có cảnh thái hòa? 2
  3. Ở chương 11 Sách Trung Dung trả lời như sau: Ðạo đó hạng "phu phụ chi ngu" cũng biết và làm được, nhưng thánh nhân đến chỗ cùng tột cũng bất cập. Và ở chương 4, sách trích lời Khổng Tử nói "Ðạo không còn thi hành được nữa chăng!" Ðể trả lời về cái cùng tột của đạt đạo, tức là hòa, Khổng Tử thường gợi đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa, hình ảnh của một thời không phải là thời con người lịch sử, nhưng có thể nói "một vườn Eden" nằm trong Ðại-ký-ức. Vào những chương cuối của sách Luận ngữ, nhiều ẩn sĩ tân-Lão-học bi quan nhắc Khổng Tử và đồ đệ ông là nơi xã hội trần thế không còn cách gì tạo hòa bình được; tốt nhất là nên lui về ở ẩn cho yên thân: "Có phải là người biết không thể làm được mà cứ làm ư?" Khổng Tử cho rằng: "Muốn sạch cho riêng mình, mà để loạn cho luân thường xã hội sao! Người thuận đạo ra làm kẻ sĩ, cứu dân, là để trọn nghĩa làm người của mình. Ðạo không ai thi hành được, thì ta đã biết lâu rồi." Việc tạo được hòa bình trần thế, nơi xã hội, Khổng Tử cho đó là sự sắp xếp của Trời, và có thể nói tùy lòng người, là những kẻ khác mình nữa. Nhưng đạo làm người trung thực vẫn là cố lắng nghe Ðạo và làm theo tiếng gọi của Ðạo. Yêu thương (cố năng ái) phát xuất từ đức nhân, hay nhân tính chân thật, không phải làm điều tốt cho ai theo ý mình, nhưng thực hiện mối tương giao chân thật, tương kính, tôn trọng tự do theo chân lý của Ðạo. "Hòa bình" theo Nho học như thế là trật tự hài hòa giữa Trời và Ðất, giữa cộng đồng nhân loại với nhau. "Nhân" thường được con người tân thời ngày nay hiểu là Mẫu Mực Con Người hay một Ý Niệm Người do tự mình hoặc ý thức về chính mình, hoặc do lịch sử của nhiều thời đại xây đắp nên. Các chủ thuyết nhân bản tân thời Tây phương thường gọi ý niệm nầy là nhân loại. (= Humanité selon les humanismes modernes). Còn Nho học thì sẽ gọi "nhân loại tự tôn nầy" là "bất nhân tạo bất hòa", vì đây là ý niệm phát sinh do những kẻ không sợ trời đất gì nữa. "Nhân" nơi Khổng Tử có nghĩa là "con người" trong tương quan với "Trời" (nét ngang ở trên) và "Ðất" (là nét ngang ở dưới), như chữ Vương trong vương đạo. "Nhân" đó là "mệnh" theo nghĩa là tính uyên nguyên của con người, không do nơi bất cứ quan điểm, ý muốn riêng của ai, của thời đại nào làm ra. Nguyễn Du đã hiểu thâm sâu sự khác biệt nầy khi nêu lên sự tương khắc, mâu thuẩn giữa "tài" (= người tự đánh giá, làm nên mình) và "mệnh". "Nhân" của Nho thể hiện nơi sự thương yêu người, như Khổng Tử đã trả lời cho Phàn Trì, trong sách Luận ngữ: Phàn Trì hỏi: Nhân là gì? Khổng Tử đáp: Là yêu người. Nhưng yêu người thế nào mới đúng đạo nhân, vì biết bao lần nhân danh lòng yêu người, con người xâm phạm đến nhân phẩm kẻ khác. 3
  4. Ðến đây Khổng Tử mới đưa ra những chỉ dẫn thực tiễn. Khi trả lời cho Tử Cống, Ngài nói cách tiêu cực về yêu người là thứ : "Ðó là lòng thứ: việc gì mình không muốn, chớ đem làm cho người khác." Và một cách tích cực: "Thế nào là đạo nhân ư? đó hẳn phải là bậc thánh! Ngay cả Nghiêu Thuấn còn chưa đạt được! Vun trồng đạo nhân, là muốn xây dựng cho người như mình muốn xây dựng cho mình, muốn cho người được thành đạt như mình muốn vui đó cho mình. Cố gần với người trong việc thực hành như thế, có thể nói là phương pháp thực hiện đức nhân." Nhưng việc đó không phải dễ làm, vì "tâm" người "duy nguy", không những không làm nổi, mà còn không thấy rõ điều mình muốn thế nào cho đúng với chân lý để tạo điều tốt ngay cho chính mình. Vì thế, trước thực tế nhân sinh, Khổng Tử mới nói với Nhan Uyên: "Sửa mình theo lễ là thực hiện đức nhân". Và tiếp đó người nói, không phải "lễ" thì không nên nhìn, không nên nghe, không nên nói, không nên làm. Sửa mình theo lễ thực hiện đức nhân, cũng gọi là "kính" "Tiên vương thực hành lễ, là vâng Ðạo trời để chửa trị tính người." "Sự giáo hóa của lễ rất tinh tế, ngăn cấm điều xấu ngay khi chưa thành hình, làm cho người mỗi ngày gần điều thiện xa điều lầm lỗi, mà tự mình không biết." "Lễ là gì sao, là để đưa về đạo Trung vậy" Các hình thức sinh hoạt bên ngoài, tùy hoàn cảnh, tùy tâm thức văn hóa gợi lên tâm tình "kính trọng" gọi là "lễ nghi". Nhưng cốt lõi của "Lễ" là lòng kính trọng điều tai thường không nghe, mắt thường không thấy... "Yêu người" là nhân ái, nhưng kẻ trước mặt mình luôn cao cả hơn những gì mà sức lực, tài trí tự nhiên có thể biết được. Nên "yêu người" đúng đạo nhân trước hết là kính trọng người nơi sự cao cả của họ, mà các cách thẩm định giá trị của mình, của lịch sử xã hội không thể đạt đến được. Con người hôm nay và con người hôm qua - con người của ngàn xưa - dường như không khác nhau là mấy. Cởi bỏ lớp vỏ bọc văn minh vật chất, con người ấy, dẫu hình hài có thanh tú mỹ lệ hơn con người ban sơ, nhưng nỗi khắc khoải vẫn còn nguyên vẹn. Vẫn còn đấy niềm băn khoăn muôn thuở: con người, mi là ai? Một nhà thơ nào đó đã từng òa khóc cho thân phận con người trong cảnh thương hải tang điền: «Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?» Hoặc như thi nhân Trần Tử Ngang (651-702) đời Đường đã chua xót ngậm ngùi: Chúng ta đều nhìn nhận rằng con người đã và đang tiến hóa, kể từ thuở là con người tinh khôn (homo sapiens) của Đệ Tứ Nguyên Đại. Cuộc tiến hóa ấy có định 4
  5. hướng chăng? Nếu có, ta khoan nói về cái viễn đích (telefinal) xa xôi ấy, mà hãy tạm nhận thấy về cơ bản đó là con vật, một con vật thượng đẳng biết tư duy mà người Đông Phương chúng ta mệnh danh là «linh ư vạn vật». Con vật ấy có tính xã hội, và vì vậy trong cuộc cộng sinh, con vật ấy đã biết thích ứng với nhau, biết chế ngự bản năng cầm thú, để được tiến hóa thành con người văn minh hiện nay. Thế nhưng con người thực sự đã thuần hóa được cái con thú man rợ luôn chực nhe răng gầm gừ trong cõi lòng mình không? Nhìn phía trước người xưa vắng vẻ, Ngoảnh về sau quạnh quẽ người sau. Ngẫm hay trời đất dài lâu, Mình ta rơi giọt lệ sầu chứa chan. [1] Và chúng ta, ắt cũng có lần nào đó đã từng ngao ngán như Nguyễn Gia Thiều (1741-1798): «Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy, Kiếp phù sinh trông thấy mà đau; Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.» Khổng Tử dạy học Hóa ra đời người là vô nghĩa sao? 2. Con người quân tử và con người tiểu nhân: 2500 năm trước, Khổng Tử, người được mệnh danh là Vạn Thế Sư Biểu (khuôn mẫu cho vạn đời sau bắt chước), đã từng quan niệm về cái con người xã hội ấy. Trong xã hội, có những hạng người sống thuần bằng bản năng như loài cầm thú. Đó là những người phàm phu tục tử, là những kẻ hạ cấp xét về phương tiện đạo đức phẩm cách. Những kẻ này, theo Nho giáo, đều gọi là tiểu nhân ể dù rằng kẻ ấy có chiếm giữ địa vị cao và giàu có trong xã hội chăng nữa. Nếu tiểu nhân là người thô lậu, sống thuần vào bản năng, thì ngược lại, quân tử ử là người tiến hóa, biết khắc phục bản thân, hiểu mệnh trời, hiểu đạo lý và biết định mệnh con người là gì. Những đặc tính của kẻ tiểu nhân thì tương phản rõ rệt với những đặc tính của người quân tử. Nhưng tiểu nhân và quân tử không phải là hai mặt đối lập nhau, không phải là hai cực đoan, mà quân tử là giai đoạn tiến hóa của tiểu nhân. Không có tiểu nhân, thì không có quân tử. Quân tử và tiểu nhân có sự tương đồng, ấy là họ đều có cái Thiên Tính trong người. Cái tính ấy trọn sáng trọn lành, nó hướng đạo con ngưòi làm điều thiện, điều phải. Con người vì bị vật dục che khuất lương tri nên mới có phân biệt kẻ ác người thiện. 5
  6. [1] Lê Anh Minh dịch. Nguyên văn: «Tiền bất kiến cổ nhân/Hậu bất kiến lai giả/Niệm thiên địa chi du du/Độc sảng nhiên nhi lệ hạ.» (Đăng U Châu Đài Ca) Nho gia từng nói: «Người ta ai cũng giống nhau vì có bản tính lành, nhưng do tập nhiễm thói xấu nên họ mới khác xa nhau.» [2] Còn Mạnh Tử thì bảo: «Cái chỗ con người khác với cầm thú thật không xa mấy. Kẻ thứ dân thì bỏ mất sự sai biệt ấy, còn người quân tử thì biết bảo tồn nó.» [3] Rõ ràng, giữa con người và cầm thú phải có sự phân định khu biệt, nhưng kẻ tiểu nhân đã bỏ mất sự sai biệt ấy cho nên vẫn còn đồng hóa mình với cầm thú, và cư xử theo bản năng thấp hèn. Người quân tử thì biết bảo tồn sự sai biệt ấy, để vượt lên trên loài cầm thú, để khắc phục bản năng thú cầm. Chẳng hạn bản năng ăn uống, sự đói và khát có thể làm hại tâm (đói ăn vụng, túng làm càn), nhưng người ta có thể ngăn chặn mối nguy hại đó. Thà đói khát chứ không làm điều sai quấy. Mạnh Tử nói: «Nếu người ta có thể ngăn cản mối hại của đói khát đừng hại lây đến lòng dạ mình, như vậy dẫu mình chẳng bằng người nhưng lòng mình chẳng lo buồn.» [4] Người ta rất dễ dàng nhận ra đâu là tiểu nhân, đâu là quân tử. Toàn bộ Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử), cho đến Kinh Thi và Kinh Dịch phần lớn đều đề cập đến đức hạnh của bậc quân tử. Nếu chưa được tài đức đó thì họ vẫn còn là tiểu nhân. Kinh điển Nho giáo dạy chúng ta con đường tiến hóa từ tiểu nhân thành bậc quân tử. Nội chỉ đọc riêng quyển Luận Ngữ thôi, ta có thể trích dẫn vô số câu nói của Khổng Tử về quân tử. Và có thể hình dung một con người tiến hóa gọi là quân tử. Quân tử là người biết mục đích cao cả của kiếp người, biết cái Thiên Mệnh mà trời trao cho con người, nghĩa là biết cái viễn đích tối hậu của nhân sinh. Người quân tử có thể tóm ở mấy chữ: Nhân, Trí, Dũng, Lễ, Nghĩa, Trung, Tín, Thành, Hiếu Đễ, Khoan Thứ, Tự Cường, Hiếu học, Chuyên Cần (Bất Tức) ... Vì Nhân (bác ái) nên lòng yêu người tỏa khắp, mong muốn người khác cũng được hạnh phúc. Vì yêu thương nhân Khổng Tử loại, nên lòng khoan dung độ lượng thứ tha. Không nhớ lỗi (551-479 tcn) lầm của người khác, mà chỉ chú trọng giáo hóa họ nên người. Người quân tử thì chú trọng vào nghĩa, kẻ tiểu nhân chú trọng vào lợi.[5] Tiểu nhân chỉ lo trau chuốt bề ngoài, trọng hư danh, lời lẽ xảo trá. Sở dĩ như vậy vì họ mong dối gạt người. 6
  7. [2] Nhân chi sơ, tính bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn. (Tam Tự Kinh) [3] Nhân chi sở dĩ dị vu cầm thú giả kỷ hi, thứ dân khử chi, quân tử tồn chi. Mạnh Tử - Ly Lâu hạ, ch. 19) [4] Nhân năng vô dĩ cơ khát chi hại vi tâm hại, tắc bất cập nhân, bất vi ưu hỹ. (Mạnh Tử - Tận tâm thượng) [5] Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi. Luận Ngữ, 4.16. Họ sợ người khác phê phán nên phải tạo cái vỏ bọc đó để che đậy lòng dạ xấu xa. Còn quân tử hiểu giá trị của mình (dù ai không biết, không hiểu mình cũng không sao) [6] nên tự trông cậy vào chính mình. Tiểu nhân thường kiêu căng hợm hĩnh nhưng trong lòng không bao giờ thư thái, còn quân tử lòng dạ thư thái mà không kiêu mạn. Tiểu nhân thích a dua bè đảng cho nên dẫu chung đụng với mọi người nhưng luôn tạo mối bất hòa. Quân tử thì ngược lại, dẫu chung đụng với nhiều người nhiều tầng lớp nhưng luôn giữ hòa khí. Quân tử là người nhân nghĩa nên lúc nào cũng cảm thấy an tâm thư thái, tiểu nhân thì ngược lại. Quân tử làm cho người được tốt đẹp, tiểu nhân chỉ mong gieo điều ác cho người. Tiểu nhân mà nắm vận mệnh quốc gia, quả là đại họa. Quân tử có hoài bão cao đẹp, tiểu nhân thì không. Vì Trí nên biết khôn ngoan suy xét điều phải điều trái, biết minh triết bảo thân trong cảnh nguy nan, biết biện biệt, kẻ xấu người tốt trong vấn đề xử lý tiếp vật. Nếu lỡ giao du với kẻ xấu, thì phải tuyệt giao với họ nhưng không nói xấu cho họ. [7] Vì Dũng nên không biết sợ sệt là gì. Thấy việc nghĩa bèn ra tay hành động. Nếu đã hành động thì phải thiết thực chứ không chỉ ở lời nói suông. Vỉ Lễ nên giữ được hòa khí, nên trong nhà chẳng ai ghét, trong xã hội chẳng ai oán mình. Giữ được lễ nên trong việc giao tiếp với người tránh được sỗ sàng, dù giao du đã lâu. Trong việc lễ, quý nhất là ở lòng thành chứ không phải hình thức xa hoa lòe loẹt. Khắc kỷ, phục lễ cũng gọi là nhân vậy. Phục lễ nên tự chủ, không tranh chấp với ai, tuy hợp quần với người nhưng không kéo bè kết đảng. Vì Nghĩa nên luôn giữ sự công chính, chẳng tranh giành với ai. Mỗi khi thấy món lợi thì nghĩ đến điều nghĩa mà xét có nên thu nhận chăng? Nghĩa là gì? Chẳng qua là công ích và lẽ phải, cho nên quân tử không từ nan làm việc gì dù lớn dù nhỏ, miễn là việc ấy hợp nghĩa. Điều phi nghĩa đã đành không phạm, nhưng chính trong ý nghĩ cũng không được tơ tưởng đến nó. Người quân tử dù nghèo, vẫn an vui cảnh nghèo, không vì cùng khốn mà làm điều phi nghĩa. Đã nghèo nhưng không oán than. Đối với người cầm quyền, nếu họ sai lạc (làm điều phi nghĩa) thì người quân tử dũng cảm can gián không sợ mích lòng, thà vậy còn hơn là xu phụ dối gạt họ. 7
  8. Vì Trung nên giao du với bằng hữu thì hết lòng, làm việc cho người thì hết dạ. Vì trung nên làm việc cho ai hoặc phụng sự ai thì hết lòng, không phản bội. Nhưng cái Trung đó không phải là lòng trung máy móc và thiển cận (ngu trung). Bậc quân tử ngay cả lúc phụng sự vua đâu phải vì cá nhân nhà vua, mà chính vì lẽ Đạo. [6] Nhân bất tri nhi bất oán. Luận Ngữ, 1-1. [7] Quân tử giao tuyệt, bất xuất ác thanh. Nếu vua mà vô Đạo thì trung làm gì.[8] Bậc quân tử vì chữ Tín mà hành xử. Tín là tin mình, tin người. Nhờ chữ Tín đó mà thành Người. Vì tự tin vào mình nên dù ai không biết tài đức của mình, mình cũng không buồn không oán. Tự tin vào tài đức của mình, càng ngày càng trau dồi, để một mai kinh bang tế thế, bấy giờ người biết mình cũng không muộn. Vì có tin nhau nên việc mới thành tựu, người mà không tín thì không biết ra thế nào. Người quân tử cốt yếu là ở lòng Thành. Nhờ lòng thành ấy mà người khác mới tin tưởng mình. Những lễ lạc cũng chủ yếu là ở lòng thành chứ không phải hình thức xa hoa lòe loẹt. Quân tử đã Hiếu lại còn Đễ. Hiếu là cái đạo đối với phụ mẫu. Đễ là cái đạo đối với anh chị em. Đó là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết cũng như sống, lúc cha mẹ mất mà tưởng như hãy còn, ấy là chí hiếu vậy. Cái Đạo đối với anh chị em là mỗi người phải ăn ở đúng phận mình, anh ra anh, em ra em. Đễ là gì ? Chẳng qua là đạo phụng sự huynh trưởng. Theo Nho giáo, hiếu đễ là đầu mối của lòng nhân (bác ái) nếu ta chẳng yêu cha mẹ ta, chẳng tôn kính anh em ta mà bảo rằng yêu mến tôn kính người và cha mẹ người khác, đó là lừa bịp vậy. Khoan thứ là lòng bao dung quảng đại của bậc quân tử. Bởi lẽ tiểu nhân là «quân tử chưa thành và sẽ thành», cho nên người quân tử chú trọng giáo hóa tha nhân hơn là ghét bỏ họ. Quân tử không tưởng nhớ lỗi lầm của người khác. Người ta phạm điều ác, bởi lẽ không nhận ra cái ranh giới phân định giữa con người và cầm thú. Bậc quân tử không những nhìn ra cái ranh giới ấy mà còn giáo hóa tha nhân để họ phân biệt được cái ranh giới ấy và vươn lên cao hơn loài cầm thú bằng cách khắc phục bản năng tự nhiên. Quân tử khoan thứ cho người, nhưng không khoan thứ cho mình. Lúc nào cũng phải quán xét để tu thân, nếu mình có lỗi phải can đảm cải hối. Việc tu thân đó luôn luôn bền bĩ gắng công, không biết mệt mỏi. 8
  9. [8] Điều này Khổng Tử đã lý giải khi nói về Quản Trọng. Luận Ngữ, 14-18. Quân tử muốn tu thân thì phải hiếu học. Ham học hỏi nghiên cứu thì sẽ khôn ngoan hiểu biết. Hễ học thì phải thực hành. Cái việc học tập của người quân tử cũng giống như công việc của người thợ làm ngọc, luôn luôn mài dũa trau chuốt mới có ngọc quí. Cái học của người quân tử là đem ra giúp dân giúp nước, kinh bang tế thế. Cho nên khi người quân tử cầm quyền thì tôn chỉ phải là sửa đổi con người và sửa đổi xã hội. Sửa đổi con người để xã hội hoàn thiện hơn, đồng thời sửa đổi xã hội để con nguời được hạnh phúc hơn. Đó là hai công việc song hành và phải được tôn trọng như nhau. Cho nên bậc cai trị phải luôn tu thân mới đủ tư cách dẫn đạo dân chúng. Nhờ tu thân mà tâm hồn trong sạch, tác phong hợp lễ, đạo đức tràn đầy. Nhà cai trị lẫn nhân dân đều phải xem việc tu thân làm gốc. Một chính quyền tốt phải áp dụng nhân trị (dùng nhân đức để thu phục người dân), nếu dùng bạo lực cường quyền thì dân bất đắc dĩ phải tuân theo nhưng lòng dân chẳng phục. Như vậy Nho giáo quan niệm rất rõ ràng về con người xã hội. Mỗi cá nhân chính là phần tử bất khả phân của xã hội. Cho nên mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với xã hội. Rõ ràng cuộc sống con người đâu phải là rỗng tuếch vô vị, một mặt con người phải tự sửa đổi mình (tu thân). Chính sự tự sửa đổi đó đưa con người đến một giá trị tôn quí siêu việt hơn cầm thú. Và chính sự sửa đổi đó là nguồn gốc của văn minh. Nhưng mặt khác, con người phải sửa đổi xã hội, bằng cách sửa đổi lẫn nhau, sao cho những con người chỉ biết sống bằng bản năng (tiểu nhân) tiến hóa lên con người văn minh (quân tử). Nếu được vậy, thiên hạ thái bình. 9
  10. Bậc cai trị phải có lòng nhân, tức là phải yêu thương dân, vui cái vui của dân và lo cái lo của dân. Thực ra là phải lo trước cái lo của dân và vui sau cái vui của dân. Bậc cai trị phải lấy dân làm gốc và phải tâm niệm rằng: quý nhất là dân, sau đó là quốc gia, và thấp nhất là nguời cai trị (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Cho nên người cai trị phải mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy, phải biết trọng hiền tài, vời họ ra giúp dân giúp nước. Nếu không tin vào bậc hiền tài thì nước trống không, nếu không có lễ nghĩa thì nước sẽ loạn. Nhờ chính sách chiêu hiền đãi sĩ, kẻ sĩ trong nước không bỏ nước mà đi, kẻ hiền tài ở xa xôi hâm mộ mà quy phục, như vậy quốc gia mới mau phú cường, nhân dân mới chóng hạnh phúc. Đã dùng người hiền tài thì phải trao thực quyền cho họ, đừng khiến cho Mạnh Tử (372-289 tcn) họ chỉ có hư vị. Và thận trọng đừng chọn lầm mà khiến kẻ tiểu nhân ti tiện vượt lên trên người tôn quí (quân tử). Trở lại vấn đề đã nêu ở trên: Sự tiến hóa của con người rõ ràng trước mắt là làm cho xã hội hoàn thiện hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng sự tiến hóa ấy còn đi về đâu nữa ? Sự tiến hóa ấy rõ ràng là có định hướng vậy cái viễn đích (telefinal) xa xôi tối hậu ấy là gì? 3. Con người siêu xuất xã hội: Theo quan niệm của Nho giáo, con người không chỉ là con người xã hội (tiểu nhân và quân tử) mà còn là con người siêu xuất xã hội. Con người siêu xuất ấy gọi là Thánh Nhân. Thánh Nhân cũng là con người như chúng ta, nhưng Thánh Nhân cũng vượt ra khỏi đồng loại, siêu xuất trên xã hội người đời, và là kẻ siêu quần bạt tụy. [9] Thánh Nhân là người đạt Đạo, là Trời được nhân cách hóa (tức là đã Phối Thiên). Nho giáo không chỉ là cái nhân đạo thực tiễn, mà còn là cái đạo học siêu hình, và điều này được nói rõ chủ yếu trong Trung Dung. Theo Trung Dung, cái bản tính con người chính là mệnh trời (Thiên mệnh) và Đạo là gì? Chẳng qua là noi theo Tính đó (Suất Tính).[10] Tánh là hoàn thiện quang minh (Trung Dung, chương 21) Mệnh vừa Thiên Mệnh, vừa Nhân Mệnh. Muốn hiểu được Mệnh Trời phải am tường bản tánh. Và định mệnh con người là phải am tường bản tánh đó.[11] Vậy Mệnh Trời là muốn ta tìm được bản thể của mình, theo tiếng gọi lương tâm, phục tòng thiên lý để kết hợp với Trời (Phối Thiên) và Thánh Nhân đã đạt được điều đó. Như vậy trong cái nhìn của Nho Giáo, con người không phải đơn thuần là con vật hai chân. Cái sinh vật ấy tiềm ẩn trong lòng Thiên Tánh cao đẹp, toàn thiện toàn mỹ. Nếu cái Thiên Tánh ấy chưa được nhận chân, con người vẫn tương đồng với 10
  11. cầm thú (tiểu nhân). Nhận ra cái Thiên Tính ấy và tu tập để nâng cao phẩm giá con người, để thành con người tiến hóa thì gọi là quân tử. Nhưng định mệnh con người không dừng lại ở chỗ ngôi vị quân tử (dù rằng vô cùng gian nan khó nhọc mới đạt được ngôi vị này) mà còn tiến hóa tới cái viễn đích là Phối Thiên (phối hợp với Trời), và đó là ngôi vị Thánh Nhân, một con người siêu quần bạt tụy. Thành quân tử đã khó, thành Thánh Nhân lại càng khó thay. Theo quan niệm Mạnh Tử, cứ 500 năm mới có một Thánh Nhân ra đời. Thôi thì chúng ta hãy tạm gác lại quan niệm về con người siêu xuất xã hội này, mà hãy nhìn lại con người xã hội theo Nho Giáo. [9] Thánh nhân chi ư dân, diệc loại dã. Xuất ư kỳ loại, bạt hồ kỳ tụy. (Mạnh Tử - Công Tôn Sửu thượng) [10] Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị Đạo. Trung Dung, chương 1, chương 11 [11] Bất tri mệnh, vô dĩ vi quân tử dã (chẳng hiểu mệnh trời thì không đáng gọi là quân tử). Luận Ngữ, 20-3. 4. Con người xã hội theo Nho giáo: Quả thực, cái «con người cho thật con NGƯỜI» mà chúng ta đang ao ước và mệnh danh là «con người hạnh phúc, văn minh, lịch sự, toàn thiện, toàn mỹ» chẳng qua là con người quân tử mà 2500 năm trước, Khổng Tử đã nói. Học giả Mỹ James R. Ware trong quyển bình dịch về Luận Ngữ [12] của ông, đã mệnh danh đó là lời giáo huấn của bậc đại hiền Trung Hoa (the Teachings of China’s Greatest Sage) và ông nhận xét rằng: «Việc nghiên cứu chuyên cần Luận Ngữ có thể giải quyết vấn đề đạo đức sâu thẳm của người Tây phương. Đọc Khổng Tử có thể giúp ta xác định lại những niềm tin tôn giáo truyền thống, đồng thời cũng giúp ta nhận thức lại giá trị tình cảm và lý tưởng con người.» 5. Ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam: 11
  12. Qua các thời đại lịch sử của dân tộc ta, không phải bất cứ ai cũng thấu đáo được hết ý nghĩa của đạo Nho, phân tích thành hệ thống theo yêu sách của trường ốc, bác học. Hơn thế nữa, cũng có những cách hiểu, cách áp dụng đạo Nho lấy "dụng" làm "thể", nên có những hiện tượng phản kháng nếp sống cao ngạo, giả tạo và khắt khe của lớp "quan lại hủ nho", những cách đối xử thiếu tình nghĩa trong gia đình và ngoài xã hội, những lễ nghi rườm rà, bất nhân... Sứ điệp nào, tôn giáo nào cũng gặp nguy cơ như thế khi tiếp cận với lịch sử xã hội. Nhưng đằng sau những hiện tượng xã hội tiêu cực trên đây, hồn của đạo Nho vẫn thấm nhập vào nếp sống sinh hoạt của mỗi một người con dân Việt; và đôi khi chính cái hồn đó là sức mạnh tố giác những hình thức nhiêu khê, giả tạo của nếp sống "nho nhã" giả hình. [12] James Ware, The Sayings of Confucius, Mentor Books, 1960. p.17: «Diligent study of The Sayings of Confucius can help solve the profound moral problem of the West. Reading Confucius may enable us to restate our own traditional religious beliefs and help us to realize again the value of emotion and idealism to all men.» Từ triều đình đến cuộc sống làng mạc, từ cách cư xử bạn bè, thân quyến đến nếp sống gia đình... Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín được đề xuất như những mẫu mực tạo một trật tự nhân sinh tình nghĩa. Từ vua chúa đến thứ dân, từ người có học đến người dân quê không biết đọc biết viết..., thì "lễ", là sự kính trọng kẻ khác, luôn được cảm nhận như giềng mối của các tương quan xã hội. Mỗi người biết kính trọng kẻ khác, vì tất cả đều phải kính trọng "Chí Thiện", cái Ðạo sâu kín mà ngay cả Nghiêu Thuấn cũng còn bất cập. Cố tâm thực thi Ðạo, gần, thật gần với người, nhưng không do người làm ra và không bao giờ thấu đáo hết trong thân phận con người của mình, đó là "nghĩa" (= làm điều phải làm). Nên kẻ kiến tạo hòa bình không ảo tưởng cho rằng một trật tự nào đó nơi dương gian nầy bất kỳ, theo ý con người bày ra, là Hòa thật sự. Nhưng từng bước đi của mình, con người luôn cố gắng noi theo ánh sáng của Ðạo nơi Ðại Ký Ức, nơi Chí Thiện. Nỗ lực liên tục này là "nghĩa" của con người. Chữ "nghĩa" của Nho giáo, cũng như dân Việt Nam ta hiểu không nằm trong khuôn khổ sự hiểu biết sự vật. Nhưng "nghĩa" là bổn phận (= đạo đức) sống nhân phẩm của mình cho đúng với Ðạo - Nhân. Khi người Việt nói làm việc nghĩa, hoặc nói nghĩa làm người, chữ nghĩa đó không có cùng nội dung với chữ nghĩa trong câu này: Cái bàn nghĩa là gì? Từ ý thức nghĩa làm người, dân Việt Nam đã anh dũng đẩy lui, tố giác... những hành vi bạo ngược vi phạm đến tự do và sự sống an bình của đồng bào họ. Và chưa có ai, sử gia nào Việt Nam, dám viết rằng những năm tháng bị ngoại bang 12
  13. đô hộ, vua quan hà hiếp dân chúng... dầu có ổn định bên ngoài từng trăm năm, là những năm tháng hòa bình cả. Vì tự thâm sâu nơi tâm hồn người Việt Nam, hòa bình chân thật là nỗ lực xây dựng con người và xã hội trong Ðạo lý, một nền hòa bình vốn không phải do bất cứ ai, bất cứ phe nào suy nghĩ ra và áp đặt theo sở thích của mình. Nhưng hòa bình chân thật trong khuôn khổ Trung và Hòa của Nho học có căn nguồn vững bền nơi Tâm Duy Vi, xuất phát từ đáy lòng của mỗi người. Kết luận Người là con cưng của Trời. Sách Thượng Thư viết: Chỉ có Trời Đất là cha mẹ của vạn vật, trong vạn vật Người là linh hơn cả. Người là con của Trời mà cũng là dân của Trời, vua là người thay mặt Trời để cai trị muôn dân. Cho nên, trong các sách của Nho giáo, chữ dân thường dùng để thay cho chữ Nhơn là Người. Người và Trời đều đồng một thể. (Thiên Địa Nhơn đồng nhứt thể.) Người nhận lấy mệnh Trời, cho nên siêu nhiên hơn muôn vật. Muôn vật lo sợ tai vạ và không thể thi hành được lòng nhân nghĩa, chỉ riêng có Người mới có khả năng làm được điều nhân nghĩa. Muôn vật lo sợ tai vạ nên không thể sánh vai với Trời Đất, chỉ riêng con Nguời mới có thể sánh vai với Trời Đất. Người có 360 tiết sánh với số Trời, hình thể xương thịt sánh với Đất. Ở trên có tai mắt thông minh, là hình tượng của nhựt nguyệt, có đầu rộng mà tròn, tượng hình nội dung của Trời; lông tóc tượng hình các vì sao; tai mắt lanh lợi tượng hình mặt trăng mặt trời; mũi mồm hô hấp tượng trưng gió và không khí; trong bụng đạt đến hiểu biết tượng hình Thần minh, bụng ruột đầy rổng tượng hình muôn vật. Thân thể có cửa mở, có mạch lạc, tượng hình sông ngòi và thung lũng. Tâm có thương vui, mừng giận, cùng loại với Thần khí. 13
  14. Tượng trưng của Trời Đất, tương quan của khí Âm Dương thường thấy thiết dụng ở thân Người. Thân Người cũng như Trời, tương tham hợp với số Trời, nên cùng liên hệ với Trời bằng sinh mệnh. Vũ trụ mà không có Người là vũ trụ không hoàn toàn, bởi vì vũ trụ là một đại hòa điệu của Tam Tài (Thiên, Địa, Nhơn), mà thiếu đi một yếu tố thì sự hòa điệu không còn. Trời và Người quan hệ mật thiết với nhau, bởi thế mới lấy phép tắc tự nhiên của Trời làm mô phạm của Người, lấy Thiên luân làm Nhơn luân, lấy Thiên đạo làm Nhơn đạo. Nho giáo lấy ý dân làm ý Trời, sự sáng suốt của Trời hiện ra ở trong sự sáng suốt của dân, dân muốn chính là Trời muốn. Sự sáng suốt của Người thường bị mất đi là do lòng vật dục che khuất, do đó mà không cảm ứng được với Trời. Đến khi người ta mệnh chung thì cái tia sáng ấy trở về Trời, còn cái thân vật chất thì hẩm nát đi. Bởi lý tưởng ấy, cổ nhân nói rằng: “Sinh ký dã, tử qui daõ”. Nghĩa là : Sống là gởi vậy, chết là về vậy. Trong câu nói ấy hàm chứa sự Luân hồi. (Theo Nho giáo Trần Trọng Kim). Sách tham khảo chính 1. Chiêm Bình, Tứ thư tường giải, Đài Loan, 1964. 2. James Legge dịch, Tứ thư (Four Books), Hương Cảng. 3. Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Nxb Trung Tâm Học Liệu, Sài gòn, 1971. 4. Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng, Nxb Khai Trí, 1973. 5. Phan Bội Châu, Chu Dịch, Nxb Khai Trí. 6. H.G. Creel, Confucius and the Chinese Way, 1960. 7. H.G. Greel, Chinese Thought from Confucius to Mao tse Tung, 1964. 8. J.R. Ware, The Sayings of Confucius (Luận Ngữ) và (Mạnh Tử), 1960. 9. Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o, Gi¸o tr×nh TriÕt häc M¸c ­ Lªnin,  Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, 2004 14
  15. 10. Häc viÖn ChÝnh trÞ Quèc gia Hå ChÝ Minh ­ Khoa TriÕt,  Gi¸o tr×nh LÞch sö TriÕt häc, Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, 2004 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản