TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:94

0
125
lượt xem
64
download

TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Như chúng ta biết, trong năm 2008 và cho tới những tháng năm 2009 này khủng hoảng toàn cầu đã lan rộng và hậu quả nặng nề của nó ngày càng lộ rõ trên tất cả mọi mặt của kinh tế - xã hội. Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng với một nền kinh tế đã hội nhập thì những tác động gián tiếp là không thể tránh khỏi. Đúng như cảnh báo của nhiều chuyên gia, xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu Việt Nam đang bắt đầu gánh chịu những khó khăn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

  1. TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam
  2. LỜI MỞ ĐẦU Như chúng ta biết, trong năm 2008 và cho tới những tháng năm 2009 này khủng hoảng toàn cầu đã lan rộng và hậu quả nặng nề của nó ngày càng lộ rõ trên tất cả mọi mặt của kinh tế - xã hội. Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng với một nền kinh tế đã hội nhập thì những tác động gián tiếp là không thể tránh khỏi. Đúng như cảnh báo của nhiều chuyên gia, xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu Việt Nam đang bắt đầu gánh chịu những khó khăn bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính thế giới. Với mục tiêu, đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh như hiện nay và hy vọng tình hình có thể cải thiện nhanh trong những năm tiếp theo, mục tiêu đó có thể đạt được hay không là nhờ đóng góp phần không nhỏ của hoạt động xuất nhập khẩu trong chuỗi các hoạt động kinh tế nói chung. Từ việc quan sát thực tiễn, nghiên cứu thực tế trong quá trình thực tập ở Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng với sự tham khảo ý kiến của thầy giáo hướng dẫn tôi đã quyết định chọn đề tài: “Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vẫn đang còn tiếp diễn, vì vậy cần tiếp tục theo dõi, kịp thời phân tích ảnh hưởng và tác động của nó đối với nền kinh tế trong nước đặc biệt với hoạt động xuất nhập khẩu, để có chủ trương và biện pháp thích hợp.
  3. Chương 1: Cơ sở lý luận để đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam 1.1. Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu 1.1.1. Các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc tế 1.1.1.1. Lý thuyết lợi ích tuyệt đối của Adam Smith Năm 1776, Adam Smith đã đưa ra học thuyết về “lợi thế tuyệt đối” và thương mại quốc tế. Theo Adam Smith, cơ sở tiến hành phân công chuyên môn hóa quốc tế là sự khác biệt tuyệt đối của giá thành sản xuất giữa các nước: một quốc gia phải sản xuất những sản phẩm sở trường nhất của mình, tức là những sản phẩm mà giá thành sản xuất “tuyệt đối” rẻ, rồi dùng những sản phẩm này để trao đổi với các nước khác, đem về những sản phẩm không phải sở trường của mình, nhất là những sản phẩm có giá thành sản xuất cao. Nước A, xét trong tương quan với nước B, có thể tỏ ra hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất mặt hàng X, và kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất mặt hàng Y. Khi đó B là nước có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng Y, và bất lợi tuyệt đối trong sản xuất mặt hàng X. Theo A. Smith, nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối, thì sản lượng của cả hai mặt hàng đều tăng lên và cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn. Để đơn giản hóa sự phân tích, mô hình thương mại được xây dựng với giả thiết: thế giới chỉ bao gồm 2 quốc gia Nhật Bản và Việt Nam, và 2 mặt hàng thép và vải, chi phí vận chuyển bằng 0, lao động là yếu tố sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia, cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường Trong điều kiện tự cung cấp, mỗi quốc gia tự sản xuất hai mặt hàng để tiêu dùng trong nước. Số lượng lao động cần tới ở mỗi nước để sản xuất một đơn vị thép và vải được cho bởi bảng sau.
  4. Bảng 1: Mô hình thương mại dựa trên thuyết tuyệt đối Nhật Bản Việt Nam Thép 2 6 Vả i 5 3 Nhật Bản là nước có hiệu quả cao hơn hay có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất thép vì để làm ra một đơn vụ thép nước này chỉ cần 2 lao động, trong khi Việt Nam cần tới 6 lao động. Ngược lại, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải vì nước này chỉ cần 3 lao động để sản xuất một đơn vị vải, trong khi Nhật Bản phải dùng tới 5 lao động. Khi đó Nhật Bản sẽ tập trung toàn bộ số lao động của mình để sản xuất thép, còn Việt Nam thì thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn trong việc sản xuất vải, và sau đó 2 nước đem trao đổi một lượng nhất định các mặt hàng này với nhau để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Điều này dẫn tới sự gia tăng sản lượng thép và vải của toàn thế giới, và mỗi quốc gia có khả năng tiêu dùng nhiều hơn so với trường hợp tự cung cấp. Ưu, nhược điểm của mô hình: Mô hình giúp giải thích cho một phần nhỏ của thương mại quốc tế, cụ thể trường hợp nếu một quốc gia không có điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng các loại cây như lúa, cà phê… thì buộc phải nhập khẩu các mặt hàng này từ các nước khác. Mô hình này cũng không giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra ở một quốc gia có mức bất lợi tuyệt đối. 1.1.1.2. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế tương đối, giúp giải quyết một phần hạn chế mà lý thuyết tuyệt đối của Adam Smith gặp phải. Ông này cho rằng nếu mỗi nước chuyên môn hóa vào các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối thì thương mại sẽ có lợi cho các bên. Với các giả thiết của mô hình vẫn giữ nguyên, tuy nhiên lượng lao động cần thiết để sản xuất thép và vải có khác đi theo bảng dưới đây
  5. Bảng 2: Mô hình giản đơn về lợi thế so sánh Nhật Bản Việt Nam Thép 2 12 Vả i 5 6 Các số liệu cho thấy Nhật Bản cần ít số lượng lao động hơn so với Việt Nam để sản xuất ra cả 2 mặt hàng, thế nhưng điều này cản trở thương mại có lợi giữa hai nước. Tuy Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức lợi thế về sản xuất thép hơn mức lợi thế về sản xuất vải (2/12<5/6) cho nên nước này có lợi thế so sánh về mặt hàng thép. Ngược lại, Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả 2 mặt hàng, nhưng do mức bất lợi về sản xuất vải nhỏ hơn mức bất lợi về sản xuất thép nên Việt Nam có lợi thế so sánh về vải (6/5<12/2). Như vậy, một cách khái quát, Nhật Bản có lợi thế so sánh về mặt hàng thép và sẽ chuyên môn hóa sản xuất thép để xuất khẩu. Trái với lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh là một khái niệm có tính tương đối: trong một thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 mặt hàng, khi đã xác định được một quốc gia có lợi thế hơn so sánh về một mặt hàng nào đó thì có thể rút ra kết luận là quốc gia thứ 2 sẽ có lợi thế về mặt hàng kia. Một cách tổng quát, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia. Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn mộ cách tương đối so với quốc gia kia. Cụ thể, nếu quốc gia A có lợi thế tuyệt đối ( hay bất lợi tuyệt đối) trong sản xuất cả hai sản phẩm X và Y thì A chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm X khi và chỉ khi: Chi phí lao động để sản xuất Chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị X ở A 1 đơn vị Y ở A –––––––––––––––––––––––– < –––––––––––––––––––––––– Chi phí lao động để sản xuất Chi phí lao động để sản xuất
  6. 1 đơn vị X ở B 1 đơn vị Y ở B Tuy có những tiến bộ quan trọng so với lý thuyết của Adam Smith nhưng lý thuyết của David Ricardo vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Với những giả định trong mô hình thương mại ở trên, lý thuyết lợi thế tương đối khó có thể đứng vững trước những kiểm nghiệm thực tế, tuy nhiên kết luận của Ricardo vẫn là một kết luận rất quan trọng giải thích về nguồn gốc thương mại quốc tế. 1.1.1.3. Lý thuyết Heckscher – Ohlin Là công trình của hai nhà kinh tế học E.F.Hekscher và B.C.Ohlin. Lý thuyết đã đưa ra cơ chế hoạt động của quy luật lợi thế so sánh là do sự khác nhau giữa các yếu tố sản xuất sẵn có ở các nước a) Các giả thiết của mô hình H-O: - Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 mặt hàng, 2 yếu tố sản xuất (lao động và vốn), mức độ trang bị các yếu tố sản xuất ở mỗi quốc gia là cố định - Sản xuất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo quy mô, còn mỗi yếu tố sản xuất thì có năng suất cận biên giảm dần - Các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố sản xuất khác nhau, và không có sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương quan nào - Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cat thị trường hàng hóa lẫn thị trường yếu tố sản xuất (mức giá trên thị trường là duy nhất và được xác định bởi cung cầu, và về dài hạn giá cả hàng hóa đúng bằng chi phí sản xuất) - Chuyên môn hóa là không hoàn toàn (hai nước có quy mô tương đối giống nhau, không có nước nào được coi là nước nhỏ hơn nước kia) - Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia, nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia - Sở thích là giống nhau giữa hai quốc gia (nếu hai nước có cùng thu nhập và mức giá cả hàng hóa thì sẽ có xu hướng tiêu dùng lượng hàng hóa như nhau)
  7. - Thương mại được thực hiện tự do, chi phí vận chuyển bằng 0 (thương mại hàng hóa sẽ cân bằng giá cả hàng hóa giữa hai nước) b) Khái niệm Định lý H-O được xây dựng trên 2 khái niệm cơ bản: hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố LX và LY là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y, còn KX và KY là lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y. Mặt hàng X được coi là có LX LY hàm lượng lao động cao nếu: –––– > –– KX KY LA LB –––– > –t– nước A được coi là giàu tương đối về lao động so Tương tự, nếu hì KA KB với nước B Trong đó: LA và LB là lượng lao động, KA và KB là lượng vốn tương ứng ở hai nước A và B c) Định lý H-O Các nước sẽ có lợi thế so sánh trong việc sản xuất và xuất khẩu loại hàng hóa mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố tương đối rẻ và sãn có ở nước đó và nhập khẩu loại hàng hóa mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở nước đó. Tóm lại, với những giả thiết đơn giản hóa các vấn đề liene quan đến sản xuất và trao đổi giữa hai quốc gia như hiệu suất sản xuất các mặt hàng không thay đổi theo quy mô, cạnh tranh hoàn hảo trên thị trường, tự do hóa thương mại và không tồn tại chi phí vận chuyển… các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã chỉ ra rằng, bằng việc chuyên môn hóa sản xuất các sản phẩm dựa vào các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố nguyên liệu sẵn có thì sản xuất của mỗi nước sẽ hiệu quả hơn, giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn và khi đem ra trao đổi với các nước sẽ thu được lợi ích nhiều hơn khi mỗi nước tự sản xuất và tự tiêu dùng. 1.1.2. Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế 1.1.2.1. Thương mại dựa trên tính kinh tế theo quy mô
  8. Buôn bán giữa các nước không những chỉ xảy ra giữa các nước có các yếu tố nguồn lực khác nhau mà còn xảy ra mạnh mẽ giữa các nước có lợi thế giống nhau. Những hình thức thương mại này không thể lý giải bằng học thuyết về lợi thế so sánh. Giả sử, Mỹ và Nhật cùng sản xuất hai mặt hàng là tàu thủy và máy bay trong điều kiện có cùng các điều kiện về nguồn lực như nhau được biểu thị bằng một đường giới hạn khả năng sản xuất là MA (là đường lồi so với gốc tọa độ do lợi tức tăng dần) và các đường bàng quan I1, I2, I3. Khi chưa có thương mại, 2 nước có chung điểm cân bằng, tức là cùng mức sản xuất và tiêu thụ tại điểm E1 và có khả năng tiêu dùng tại điểm này Hình 1: Thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô Tàu thủy M I3 S I1 I2 F E2 E3 E1 TL A Máy bay Khi có thương mại, Mỹ sẽ tập trung sản xuất máy bay tại điểm A, khi đó điểm tiêu dùng của Mỹ là E2 và Nhật Bản sẽ sản xuất tàu thủy tại điểm M, điểm tiêu dùng là E3. E2 và E3 đều cao hơn mức ban đầu E1. Nhật xuất khẩu một lượng MF tàu thủy và nhập FE2 máy bay từ Mỹ. Mỹ nhập từ Nhật một lượng E3L = MF tàu thủy và xuất sang Nhật LA = FE2 máy bay. 1.1.2.2. Thương mại dựa trên sự biến đổi công nghệ Thương mại quốc tế với các sản phẩm công nghệ thường xảy ra theo học thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymon Vernon (Hình 2)
  9. Từ t0 – t1: Giai đoạn sáng tạo và phát triển sản phẩm ở trong nước phát minh ra sản phẩm. Tại t1 sản phẩm được giới thiệu Từ t1 – t2: Nước phát minh XK và các nước phát triển NK Từ t2 – t3: Sản phẩm thành thục, thị trường tiêu thụ mở rộng, các nước đang phát triển như Việt Nam bắt đầu NK, tạo điều kiện sản xuất với quy mô lớn, chi phí thấp. Lợi thế so sánh chuyển từ nước phát minh sang nước phát triển và đến thời điểm t3 các nước này tiến hành XK, nước phát minh giảm XK. Hình 2: Vòng đời sản phẩm và thương mại quốc tế XK t0 t1 t2 t3 t4 t NK Các nước phát triển Các nước đang phát triển (Việt Nam) Từ t3 – t4: Công nghệ trở nên hoàn toàn được chuẩn hóa và phổ biến rộng, các nước đang phát triển có thể bắt chước để sản xuất được. Với lợi thế chi phí lao động thấp, các nước phát triển mất dần lợi thế so sánh. Vì thế, việc sản xuất ra sản phẩm chuyển dần sang các nước đang phát triển và tại thời điểm t4 các nước đang phát triển XK sang các nước phát minh ra sản phẩm. 1.1.2.3. Lý thuyết thương mại liên quan đến cầu Đối với các mặt hàng công nghiệp cao cấp thì nguyên nhân nảy sinh trao đổi hàng hóa giữa các nước lại xuất phát từ mặt cầu của người tiêu dùng. Nhà kinh tế học
  10. S.B.Linder cho rằng, công nghiệp mà lượng cầu trong nước khá lớn sẽ tác dụng đến doanh nghiệp và sự kích thích ra sự phát minh ra sản phẩm mới. Nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu của một nước là thu nhập binh quân đầu người. Ngoài ra, nhu cầu nhu cầu của người tiêu dùng còn do các yếu tố khác như: văn hóa, thói quen… hay nói cách khác là thị hiếu của họ. Chẳng hạn, người Việt Nam rất thích dùng các mặt hàng nhập khẩu của các nước phát triển. Vì vậy, mặc dù hoàn toàn có thể giống nhau về chất lượng, giá cả trong nước lại thấp hơn nhưng người Việt lại chọn các sản phẩm có xuất xứ từ Mỹ, Nhật, Pháp… Do vậy, có thể nói rằng bất chấp mọi yếu tố khác, thị hiếu người dùng vẫn tồn tại như một nguồn gốc độc lập của thương mại quốc tế. Các lý thuyết về kinh tế quốc tế đã đưa ra được các cách giải thích khác nhau về nguyên nhân của thương mại quốc tế cũng như cách tiếp cận khác nhau trong việc giải thích các hiện tượng kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế, khả năng cạnh tranh quốc gia và các quan hệ tiền tệ quốc tế khu vực. Chúng là những căn cứ quan trọng về mặt lý thuyết để nhận thức một cách có hệ thống và hợp logic các quan hệ kinh tế quốc tế. Mức độ hoàn chỉnh và tổng quát của các lý thuyết này ngày càng được nâng cao. 1.1.3. Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu 1.1.3.1. Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài. Theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại việt nam 2005, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái.
  11. Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc), thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên. Tỷ giá hối đoái tăng (tức là tiền tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ), thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi. 1.1.3.2. Khái niệm nhập khẩu Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại. Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái. Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao. Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi. Đơn vị tính khi thống kê về xuất, nhập khẩu thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định. Đôi khi, nếu chỉ xét tới một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng (cái, tấn, v.v...) 1.1.3.3. Cán cân thương mại Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
  12. Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ. Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại: - Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng. - Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định. - Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên
  13. 1.1.4. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu với hoạt động kinh tế Trong quá trình phân công lao động quốc tế, xuất nhập khẩu giúp tạo điều kiện tạo điều kiện phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý dựa trên việc khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của từng quốc gia. Nhờ đó, sản xuất và tiêu dùng không ngừng được nâng cao về hiệu quả và quy mô. Nói cách khác, xuất nhập khẩu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. a) Vai trò của xuất khẩu - Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam có tỷ lệ tăng dân số khá cao, lực lượng lao động dồi dào. Nếu xuất khẩu được mở rộng thì lượng lao động trực tiếp tham gia trực tiếp vào các ngành xuất khẩu tăng lên, đồng thời lao động của các ngành khác liên quan cũng tăng theo. Như vậy, xuất khẩu có tác dụng khai thác nguồn lực sẵn có, tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động. - Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực, tiến bộ, phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Khi thực hiện xuất khẩu tức là hàng hóa được đưa ra thị trường các nước khác nhau và chịu cạnh tranh rất lớn. Tất yếu, những hàng hóa không đủ phẩm chất sẽ bị trả lại và không có cơ hội phát triển thị trường. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải luôn luôn đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất, quản lý hiệu quả,mở rộng quy mô theo hướng ngày càng hiện đại. Xuất khẩu còn thúc đẩy các ngành cung cấp đầu vào cho hoạt động xuất khẩu và các hoạt động dịch vụ khác cũng phát triển như bảo hiểm, vận tải và du lịch. Đối với các nước đang phát triển, xuất khẩu là nguồn tạo vốn cho nhập khẩu, thúc đẩy chủ động nhập khẩu công nghệ. Trong điều kiện các yếu tố công nghệ, vốn và trình độ quản lý còn hạn chế thì xuất khẩu đóng vai trò thu hút FDI. Hay chính hoạt động xuất khẩu thúc đẩy sự phát triển toàn diện các lĩnh vực trong nền kinh tế góp phần tạo dựng cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn.
  14. - Hoạt động xuất khẩu có thể có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ khác phát triển. Xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu sẽ thúc đẩy hệ thống tín dụng, đầu tư, mở rộng quan hệ quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề để mở rộng xuất khẩu. Như vậy, xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Hay, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. b) Vai trò của nhập khẩu - Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước. - Nhập khẩu có tác dụng bổ sung những thiếu hụt của nền kinh tế, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân. - Nhập khẩu các nguyên nhiên liệu phục vụ cho xuất khẩu, thúc đẩy xuất khẩu Như vậy, xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện một mục đích là phát triển nền kinh tế.Hiệu quả của hai hoạt động này chính là sự kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu để thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế. 1.2. Diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 1.2.1. Khủng hoảng tài chính ở Mỹ - Xuất phát điểm của khủng hoảng tài chính toàn cầu Khủng hoảng tại Mỹ được đánh dấu bằng sự đổ vỡ của hệ thống các ngân hàng tại đây. Tình trạng thua lỗ, phá sản thường chỉ xảy ra trong các ngân hàng nhỏ và trung bình ở Mỹ. Nhưng kể từ tháng 8/2008, tình trạng này đã lan sang các ngân hàng có tầm ảnh hưởng lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu. Freddie Mac và Frannie Mae là hai tập đoàn cho vay thế chấp khổng lồ của Mỹ. Nếu hai tập đoàn này sụp đổ thì hệ thống tài
  15. chính toàn cầu sẽ rơi vào một cú sốc lớn. Vì thế, để tạm thời ngăn chăn sự việc này, ngày 7/9/2008, Chính phủ Mỹ đã phải bỏ ra 25 tỷ USD để tiếp quản hai tập đoàn. Tập đoàn lớn thứ tư tại Mỹ - Lehman Brothers Holdings đã thua lỗ gần 7 tỷ USD trong quý II và III năm 2008, trong đó quý III lỗ 3,9 tỷ USD. Nguyên nhân là do các khoản nợ xấu trong lĩnh vực tín dụng thứ cấp thế chấp mua nhà tại Mỹ của ngân hàng này không có khả năng thanh toán. Sau 158 năm hoạt động, Lehman Brothers Holdings đã nộp đơn xin phá sản ngày 15/9/2008. Cùng ngày với lý do như trên, tập đoàn ngân hàng lớn khác của Mỹ là Merrill Lynch đã tuyên bố sáp nhập với Bank of America với giá trị 50 tỷ USD, tương đương 29 USD/cổ phần, trở thành tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính lớn nhất thế giới. Tập đoàn bảo hiểm hàng đầu của Mỹ, AIG tuyên bố thua lỗ 18 tỷ USD trong quý II và quý III, riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã lỗ hơn 13 tỷ USD. Để cứu tập đoàn này khỏi nguy cơ phá sản, FED đã cho AIG vay 85 tỷ USD trong vòng 2 năm, đổi lại Chính phủ Mỹ sẽ nắm giữ 80% cổ phần và thay đổi ban lãnh đạo của tập đoàn này. Ngày 26/9, ngân hàng tiết kiệm lớn nhất của Mỹ - Washington Mutual Inc cũng được bán lại cho JP Morgan Chase do thua lỗ 19 tỷ USD. Cuối ngày 29/9/2008, cổ phiếu của ngân hàng Wachovia – một trong những ngân hàng lớn nhất của Mỹ- chỉ còn dưới 1 USD báo động đứng bên bờ vực phá sản. Citigroup đã quyết định mua lại mảng hoạt động tín dụng của ngân hàng này với giá gần 2,2 tỷ USD và cơ quan liên bang tiền đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền ở ngân hàng này. Từng là ngân hàng lớn nhất thế giới và có chi nhánh hoạt động hơn 100 quốc gia, trong quý IV/2008 Citigroup thông báo bị lỗ ròng tới 8,29 tỷ USD, và cả năm 2008 lỗ tổng cộng là 18,72 tỷ USD. Do khủng hoảng tài chính toàn cầu, trong năm 2008, các cổ phiếu của ngân hàng này đã giảm gần 87% giá trị. Ngân hàng này đã phải bán đi một số cơ sở cùng một số nguồn lực khác, cắt giảm thêm 52000 việc làm, tương đương 20% số nhân viên của hãng. Quyết định này của Citigroup đã khiến cho thị trường chứng khoán thế giới sụt giảm tới mức thấp nhất trong hàng thập kỷ qua. Chỉ số chứng khoán quan
  16. trọng nhất tại Mỹ là Dow Jones lần đầu tiên trong nhiều năm rớt khỏi mức 8000 điểm, trong khi đó chỉ số S&P 500 xuống thấp nhất trong 2 năm qua. Trong điều kiện kinh tế khó khăn, Citigroup đã thực hiện giải pháp tái cấu trúc mà theo đó, ngân hàng này sẽ được tách làm 2 bộ phận riêng biệt: Citi Holidings tập trung vào cho vay tiêu dùng, môi giới, quản lý tài sản khách hàng, và quản lý các tài sản gặp sự cố, Citicorp chuyên trách về dịch vụ ngân hàng phục vụ khách hàng lẻ và kinh doanh. Không chỉ những ngân hàng có quy mô tài sản hàng tỷ USD mà hàng loạt các ngân hàng có quy mô tài sản vài trăm triệu USD cũng lần lượt rơi vào tình trạng tồi tệ. Theo công bố của FED, đã có 25 ngân hàng Mỹ bị giải thể trong năm 2008. Theo các chuyên gia thì con số này sẽ tăng lên trong năm 2009 do khủng hoảng tài chính chưa chịu buông tha hệ thống tài chính nước này và viễn cảnh kinh tế nói chung còn tiếp tục u ám. 1.2.2. Khủng hoảng ở các quốc gia khác Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu không chỉ riêng có ở riêng Mỹ mà nhanh chóng lan rộng toàn cầu. Trong thời đại toàn cầu hóa, khi các ngân hàng toàn cầu có mối quan hệ tín dụng đan xen nhau nhằng nhịt, cuộc khủng hoảng tài chính của nền kinh tế lớn nhất là Mỹ đã nhanh chóng lây lan sang các nước khác như hiệu ứng đô-mi-nô. 1.2.2.1. Khủng hoảng ở Châu Âu Ủy ban châu Âu cũng đã vừa thừa nhận nền kinh tế 15 nước sử dụng chung đồng tiền Euro đã bước vào một đợt suy thoái. Các ngân hàng ở Anh chịu ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ. Mặc dù đã được hỗ trợ từ năm 2007 nhưng tính đến hết tháng 7/2008 thì Northem Rock chịu khoản nợ xấu lên tới 191,6 tỷ USD. Do tình trạng tổn thất tín dụng ngày càng gia tăng, trong tháng 7 và đầu tháng 8/2008, Bộ Tài chính Anh đã phải bơm thêm 3 tỷ bảng (tương đương 5,86 tỷ USD) để cứu ngân hàng này. Ngày 29/9/2008, nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng chịu thua lỗ lớn, không có khả năng trụ vững do liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, Bộ Tài chính
  17. Anh đã tuyên bố quốc hữu hóa tập đoàn cho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất nước là Bradford & Bingley Plc. Tổng giá trị các khoản thế chấp và vay trên sổ sách là 50 tỷ bảng. Lối tiếp ngân hàng của Anh là một số ngân hàng lớn khác tại châu Âu như Fortis của Bỉ và Lúcxămbua, Dexia của Bỉ và Pháp. Đầu tháng 10/2008, ngân hàng Hypo Real Estate của Đức cũng lâm vào khủng hoảng và Chính phủ phải cứu trợ bằng biện pháp tài chính cần thiết. Mới đây, ngày 8/1/2009, chính phủ Đức đã tuyên bố quốc hữu hóa ngân hàng thương mại lớn thứ hai của Đức là Commerzbank, để cứu cơ sở này khỏi bị phá sản. Dấu hiệu đầu tiên và rõ ràng nhất cho thấy nền kinh tế nước này đã bước vào giai đoạn suy thoái là GDP liên tục giảm: trong quý II/2008 đã giảm 0,4%, quý III/2008 giảm 0,5%. Sự sụt giảm tăng trưởng mạnh hơn dự báo của kinh tế Đức là từ thương mại quốc tế, với sự tăng mạnh của nhập khẩu trong khi xuất khẩu giảm. Tại Nga, hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, chứng khoán cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong tháng 9/2008, đợt suy giảm thị trường chứng khoán diễn ra đã làm mất 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu trên thị trường. Tính đến ngày 7/10/2008, thị trường chứng khoán Nga đã 2 lần tạm thời đóng cửa và chỉ số chứng khoán giảm mạnh. Chỉ trong khoảng 3 tuần cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2008, ngân hàng Trung ương Nga đã phải tung ra thị trường 170 tỷ USD để cứu các ngân hàng và các công ty tài chính. Để hỗ trợ cho các ngân hàng, ngày 8/10/2008, Tổng thống Nga công bố kế hoạch cho vay với thời hạn 5 năm với tổng giá trị là 950 tỷ rúp, tương đương 36,4 tỷ USD. 1.2.2.2. Sự lan tỏa của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế Châu Á Ngày 8/10/2008, thị trường chứng khoán châu Á trải qua một ngày tồi tệ; hàng loạt thị trường chứng khoán châu Á trong tình trạng sụt giảm nghiêm trọng. Chỉ số Nikkei 255 của Nhật Bản giảm xuống còn 9253,32 điểm. Kể từ năm 1987, đây là mức giảm lớn nhất: 9,4%. Hàng loạt các chỉ số chứng khoán trên các thị trường các nước khác cũng ở tình trạng tương tự: chỉ số Hangseng của Hồng Kông giảm 5,2%, chỉ số Sensex của Ấn Độ giảm 4,3%, chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm 5,8%... Sự sụt giảm này trên thị
  18. trường chứng khoán châu Á còn kéo dài đến tháng 11. Cụ thể là ngày 2/11, chỉ số Nikkei 225 giảm 352,09 điểm, tương đương 2,09%, xuống còn 16517,34 điểm, chỉ số Hang Sheng giảm tới 3,3% và đóng cửa ở mức 30468,34 điểm, chỉ số CSI của thị trường Thượng Hải giảm 2,3% xuống còn 136,47 điểm, các chỉ số trên thị trường Xingapo, Hàn Quốc, Malaixia cũng sụt giảm. Ngay từ cuối năm 2008, kinh tế Nhật Bản cũng bước vào suy thoái và được dự báo sẽ có mức tăng trưởng âm trong năm 2009. Sản lượng công nghiệp sụt giảm tới 8,1%, lợi nhuận của các công ty giảm mạnh và tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên 3,9%. Theo báo cáo của Chính phủ Nhật, xuất khẩu tháng 11/2008 so với cùng kỳ năm 2007 cũng giảm 26,7% trong đó xuất khẩu xe hơi giảm 32%. Ngoài ra, sự lên giá mạnh của đổng Yên so với USD cũng gây áp lực không nhỏ cho các nhà xuất khẩu của Nhật. Nguyên nhân là do giới đầu tư Nhật Bản ồ ạt rút vốn về nước vì lo ngại khủng hoảng tài chính ở các thị trường bên ngoài đã đẩy đồng Yên tăng 25% so với USD. Tại Hàn Quốc, theo thông tin tài chính quốc tế Hàn Quốc (KCIF), từ tháng 6 đến tháng 9/2008, các nhà đầu tư nước ngoài đã rút gần 15 tỷ USD khỏi thị trường chứng khoán Hàn Quốc. Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại các thị trường chứng khoán lớn trong khu vực như: Đài Loan, Philippin, Thái Lan, Ấn Độ, Inđônêxia… 1.3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân trực tiếp, sâu xa… nhưng tóm lại là bắt nguồn từ 4 nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất: Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, các khoản cho vay dưới chuẩn Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm cho bong bóng nhà đất hình
  19. thành. Khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp. Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng. Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh. Thứ hai: Hệ thống tín dụng đổ vỡ Sự co lại của thị trường tín dụng, sự đổ vỡ của các thị trường các công cụ phái sinh như CDS có mức độ ảnh hưởng còn lớn hơn sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất rất nhiều. Trong cho vay nhà đất lẫn trong thị trường nợ, việc dùng đòn bẩy tài chính là hết sức quan trọng. Một doanh nghiệp có thể đi vay 3 nếu có vốn riêng là 1, như vậy được gọi là sử dụng đòn bẩy bằng 3 lần. Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thực nếu có đòn bẩy tài chính không lớn hơn 3 thì được coi là bình thường. Với hình thức này, trong trường hợp rủi ro người đi vay sẽ chịu rủi ro đầu tiên và khi đòn bẩy càng cao thì tức là rủi ro càng lớn. Khi cho vay, các ngân hàng thường chú ý đến hệ số đòn bẩy nảy bởi vì nếu hệ số đòn bẩy quá cao, thì khi có lãi người vay được lợi, khi thua lỗ thì ngân hàng phải gánh chịu. Trên thị trường tài chính, các ngân hàng sử dụng đòn bẩy cao hơn, có khi lên đến cả trăm lần do các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính không có quy định nghiêm ngặt về vấn đề này.
  20. Thứ ba: Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ Các ngân hàng thương mại chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan nhà nước, còn các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính chịu sự giám sát ít hơn. Các cơ quan quản lý lỏng lẻo, không theo kịp hoạt động của tất cả các tổ chức tài chính ngân hàng dẫn đến những rủi ro khôn lường. Có tiền, các công ty “thoải mái” cho khách hàng vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông qua việc mua lại danh mục cho vay của các công ty này. Các ngân hàng này, trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành chứng khoán để vay tiền. Danh mục cho vay được chia ra thành các mục như rủi ro ít, rủi ro cao… tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình. Có loại chứng khoán không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn. Như vậy, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài chính sang ngân hàng đầu tư. Nhà đầu tư trên thế giới đổ tiền mua các chứng khoán này, nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹ tăng nóng. Thứ tư: Khủng hoảng niềm tin Theo Giáo sư Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốc của niềm tin. Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản. Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng. Đây là một trò chơi mà khi người ta bắt đầu cảm nhận “mùi vị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ sẽ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả “người chơi” đều thua lỗ. Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp. Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục. 1.4. Những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến các vấn đề kinh tế - xã hội

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản