TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

Chia sẻ: chipchip1122

Như chúng ta biết, trong năm 2008 và cho tới những tháng năm 2009 này khủng hoảng toàn cầu đã lan rộng và hậu quả nặng nề của nó ngày càng lộ rõ trên tất cả mọi mặt của kinh tế - xã hội. Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng với một nền kinh tế đã hội nhập thì những tác động gián tiếp là không thể tránh khỏi. Đúng như cảnh báo của nhiều chuyên gia, xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu Việt Nam đang bắt đầu gánh chịu những khó khăn...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

TIỂU LUẬN:

Ảnh hưởng của khủng hoảng

kinh tế toàn cầu đến xuất nhập

khẩu của Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU

Như chúng ta biết, trong năm 2008 và cho tới những tháng năm 2009 này khủng
hoảng toàn cầu đã lan rộng và hậu quả nặng nề của nó ngày càng lộ rõ trên tất cả mọi mặt
của kinh tế - xã hội. Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng với một nền
kinh tế đã hội nhập thì những tác động gián tiếp là không thể tránh khỏi. Đúng như cảnh
báo của nhiều chuyên gia, xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu Việt Nam đang bắt đầu
gánh chịu những khó khăn bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính thế giới.

Với mục tiêu, đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu cơ bản trở thành nước công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh như hiện nay và hy vọng tình hình có thể cải
thiện nhanh trong những năm tiếp theo, mục tiêu đó có thể đạt được hay không là nhờ
đóng góp phần không nhỏ của hoạt động xuất nhập khẩu trong chuỗi các hoạt động kinh
tế nói chung.

Từ việc quan sát thực tiễn, nghiên cứu thực tế trong quá trình thực tập ở Vụ Tổng
hợp Kinh tế quốc dân – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng với sự tham khảo ý kiến của thầy
giáo hướng dẫn tôi đã quyết định chọn đề tài: “Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vẫn đang còn tiếp diễn, vì vậy cần tiếp tục theo
dõi, kịp thời phân tích ảnh hưởng và tác động của nó đối với nền kinh tế trong nước đặc
biệt với hoạt động xuất nhập khẩu, để có chủ trương và biện pháp thích hợp.
Chương 1: Cơ sở lý luận để đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

1.1. Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu
1.1.1. Các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc tế
1.1.1.1. Lý thuyết lợi ích tuyệt đối của Adam Smith
Năm 1776, Adam Smith đã đưa ra học thuyết về “lợi thế tuyệt đối” và thương mại
quốc tế. Theo Adam Smith, cơ sở tiến hành phân công chuyên môn hóa quốc tế là sự
khác biệt tuyệt đối của giá thành sản xuất giữa các nước: một quốc gia phải sản xuất
những sản phẩm sở trường nhất của mình, tức là những sản phẩm mà giá thành sản xuất
“tuyệt đối” rẻ, rồi dùng những sản phẩm này để trao đổi với các nước khác, đem về
những sản phẩm không phải sở trường của mình, nhất là những sản phẩm có giá thành
sản xuất cao.
Nước A, xét trong tương quan với nước B, có thể tỏ ra hiệu quả hơn (có lợi thế
tuyệt đối) trong việc sản xuất mặt hàng X, và kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất mặt
hàng Y. Khi đó B là nước có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng Y, và bất lợi tuyệt đối trong
sản xuất mặt hàng X. Theo A. Smith, nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất mặt hàng
mà mình có lợi thế tuyệt đối và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia để đổi lấy mặt
hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối, thì sản lượng của cả hai mặt hàng đều tăng lên và
cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn.
Để đơn giản hóa sự phân tích, mô hình thương mại được xây dựng với giả thiết:
thế giới chỉ bao gồm 2 quốc gia Nhật Bản và Việt Nam, và 2 mặt hàng thép và vải, chi
phí vận chuyển bằng 0, lao động là yếu tố sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển
được giữa các quốc gia, cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường
Trong điều kiện tự cung cấp, mỗi quốc gia tự sản xuất hai mặt hàng để tiêu dùng
trong nước. Số lượng lao động cần tới ở mỗi nước để sản xuất một đơn vị thép và vải
được cho bởi bảng sau.
Bảng 1: Mô hình thương mại dựa trên thuyết tuyệt đối
Nhật Bản Việt Nam
Thép 2 6
Vả i 5 3


Nhật Bản là nước có hiệu quả cao hơn hay có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất thép
vì để làm ra một đơn vụ thép nước này chỉ cần 2 lao động, trong khi Việt Nam cần tới 6
lao động. Ngược lại, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải vì nước này chỉ cần 3
lao động để sản xuất một đơn vị vải, trong khi Nhật Bản phải dùng tới 5 lao động. Khi đó
Nhật Bản sẽ tập trung toàn bộ số lao động của mình để sản xuất thép, còn Việt Nam thì
thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn trong việc sản xuất vải, và sau đó 2 nước đem trao
đổi một lượng nhất định các mặt hàng này với nhau để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước. Điều này dẫn tới sự gia tăng sản lượng thép và vải của toàn thế giới, và mỗi quốc
gia có khả năng tiêu dùng nhiều hơn so với trường hợp tự cung cấp.
Ưu, nhược điểm của mô hình: Mô hình giúp giải thích cho một phần nhỏ của
thương mại quốc tế, cụ thể trường hợp nếu một quốc gia không có điều kiện tự nhiên
thích hợp để trồng các loại cây như lúa, cà phê… thì buộc phải nhập khẩu các mặt hàng
này từ các nước khác. Mô hình này cũng không giải thích được trường hợp tại sao thương
mại vẫn có thể diễn ra ở một quốc gia có mức bất lợi tuyệt đối.




1.1.1.2. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế
tương đối, giúp giải quyết một phần hạn chế mà lý thuyết tuyệt đối của Adam Smith gặp
phải. Ông này cho rằng nếu mỗi nước chuyên môn hóa vào các sản phẩm mà nước đó có
lợi thế tương đối thì thương mại sẽ có lợi cho các bên.
Với các giả thiết của mô hình vẫn giữ nguyên, tuy nhiên lượng lao động cần thiết
để sản xuất thép và vải có khác đi theo bảng dưới đây
Bảng 2: Mô hình giản đơn về lợi thế so sánh
Nhật Bản Việt Nam
Thép 2 12
Vả i 5 6



Các số liệu cho thấy Nhật Bản cần ít số lượng lao động hơn so với Việt Nam để
sản xuất ra cả 2 mặt hàng, thế nhưng điều này cản trở thương mại có lợi giữa hai nước.
Tuy Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức lợi thế về sản xuất
thép hơn mức lợi thế về sản xuất vải (2/12 –t– nước A được coi là giàu tương đối về lao động so
Tương tự, nếu hì
KA KB
với nước B
Trong đó: LA và LB là lượng lao động, KA và KB là lượng vốn tương ứng ở hai
nước A và B
c) Định lý H-O
Các nước sẽ có lợi thế so sánh trong việc sản xuất và xuất khẩu loại hàng hóa mà
việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố tương đối rẻ và sãn có ở nước đó và nhập khẩu
loại hàng hóa mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở
nước đó.
Tóm lại, với những giả thiết đơn giản hóa các vấn đề liene quan đến sản xuất và
trao đổi giữa hai quốc gia như hiệu suất sản xuất các mặt hàng không thay đổi theo quy
mô, cạnh tranh hoàn hảo trên thị trường, tự do hóa thương mại và không tồn tại chi phí
vận chuyển… các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã chỉ ra rằng, bằng việc chuyên
môn hóa sản xuất các sản phẩm dựa vào các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và các yếu
tố nguyên liệu sẵn có thì sản xuất của mỗi nước sẽ hiệu quả hơn, giá thành sản phẩm sẽ rẻ
hơn và khi đem ra trao đổi với các nước sẽ thu được lợi ích nhiều hơn khi mỗi nước tự
sản xuất và tự tiêu dùng.
1.1.2. Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế
1.1.2.1. Thương mại dựa trên tính kinh tế theo quy mô
Buôn bán giữa các nước không những chỉ xảy ra giữa các nước có các yếu tố
nguồn lực khác nhau mà còn xảy ra mạnh mẽ giữa các nước có lợi thế giống nhau.
Những hình thức thương mại này không thể lý giải bằng học thuyết về lợi thế so sánh.
Giả sử, Mỹ và Nhật cùng sản xuất hai mặt hàng là tàu thủy và máy bay trong điều
kiện có cùng các điều kiện về nguồn lực như nhau được biểu thị bằng một đường giới hạn
khả năng sản xuất là MA (là đường lồi so với gốc tọa độ do lợi tức tăng dần) và các
đường bàng quan I1, I2, I3.
Khi chưa có thương mại, 2 nước có chung điểm cân bằng, tức là cùng mức sản
xuất và tiêu thụ tại điểm E1 và có khả năng tiêu dùng tại điểm này




Hình 1: Thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô

Tàu thủy


M I3
S I1 I2
F E2 E3
E1




TL A Máy bay
Khi có thương mại, Mỹ sẽ tập trung sản xuất máy bay tại điểm A, khi đó điểm tiêu
dùng của Mỹ là E2 và Nhật Bản sẽ sản xuất tàu thủy tại điểm M, điểm tiêu dùng là E3. E2
và E3 đều cao hơn mức ban đầu E1. Nhật xuất khẩu một lượng MF tàu thủy và nhập FE2
máy bay từ Mỹ. Mỹ nhập từ Nhật một lượng E3L = MF tàu thủy và xuất sang Nhật LA =
FE2 máy bay.
1.1.2.2. Thương mại dựa trên sự biến đổi công nghệ
Thương mại quốc tế với các sản phẩm công nghệ thường xảy ra theo học thuyết về
vòng đời sản phẩm của Raymon Vernon (Hình 2)
Từ t0 – t1: Giai đoạn sáng tạo và phát triển sản phẩm ở trong nước phát minh ra
sản phẩm. Tại t1 sản phẩm được giới thiệu
Từ t1 – t2: Nước phát minh XK và các nước phát triển NK
Từ t2 – t3: Sản phẩm thành thục, thị trường tiêu thụ mở rộng, các nước đang phát
triển như Việt Nam bắt đầu NK, tạo điều kiện sản xuất với quy mô lớn, chi phí thấp. Lợi
thế so sánh chuyển từ nước phát minh sang nước phát triển và đến thời điểm t3 các nước
này tiến hành XK, nước phát minh giảm XK.


Hình 2: Vòng đời sản phẩm và thương mại quốc tế
XK




t0 t1 t2 t3 t4 t




NK

Các nước phát triển Các nước đang phát triển (Việt Nam)

Từ t3 – t4: Công nghệ trở nên hoàn toàn được chuẩn hóa và phổ biến rộng, các
nước đang phát triển có thể bắt chước để sản xuất được. Với lợi thế chi phí lao động thấp,
các nước phát triển mất dần lợi thế so sánh. Vì thế, việc sản xuất ra sản phẩm chuyển dần
sang các nước đang phát triển và tại thời điểm t4 các nước đang phát triển XK sang các
nước phát minh ra sản phẩm.
1.1.2.3. Lý thuyết thương mại liên quan đến cầu
Đối với các mặt hàng công nghiệp cao cấp thì nguyên nhân nảy sinh trao đổi hàng
hóa giữa các nước lại xuất phát từ mặt cầu của người tiêu dùng. Nhà kinh tế học
S.B.Linder cho rằng, công nghiệp mà lượng cầu trong nước khá lớn sẽ tác dụng đến
doanh nghiệp và sự kích thích ra sự phát minh ra sản phẩm mới. Nhân tố chính ảnh
hưởng đến nhu cầu của một nước là thu nhập binh quân đầu người.
Ngoài ra, nhu cầu nhu cầu của người tiêu dùng còn do các yếu tố khác như: văn
hóa, thói quen… hay nói cách khác là thị hiếu của họ. Chẳng hạn, người Việt Nam rất
thích dùng các mặt hàng nhập khẩu của các nước phát triển. Vì vậy, mặc dù hoàn toàn có
thể giống nhau về chất lượng, giá cả trong nước lại thấp hơn nhưng người Việt lại chọn
các sản phẩm có xuất xứ từ Mỹ, Nhật, Pháp… Do vậy, có thể nói rằng bất chấp mọi yếu
tố khác, thị hiếu người dùng vẫn tồn tại như một nguồn gốc độc lập của thương mại quốc
tế.

Các lý thuyết về kinh tế quốc tế đã đưa ra được các cách giải thích khác nhau về
nguyên nhân của thương mại quốc tế cũng như cách tiếp cận khác nhau trong việc giải
thích các hiện tượng kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế, khả năng cạnh tranh quốc gia
và các quan hệ tiền tệ quốc tế khu vực. Chúng là những căn cứ quan trọng về mặt lý
thuyết để nhận thức một cách có hệ thống và hợp logic các quan hệ kinh tế quốc tế. Mức
độ hoàn chỉnh và tổng quát của các lý thuyết này ngày càng được nâng cao.

1.1.3. Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu

1.1.3.1. Khái niệm xuất khẩu

Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho
nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng
hóa cho nước ngoài.

Theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại việt nam 2005, xuất khẩu hàng
hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt
nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp
luật

Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không
thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái.
Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài
tăng tốc), thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên. Tỷ giá hối đoái tăng (tức là tiền tệ trong
nước mất giá so với ngoại tệ), thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính
bằng ngoại tệ trở nên thấp đi.
1.1.3.2. Khái niệm nhập khẩu

Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa
và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức
biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình
mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ
được tính vào mục cán cân phi thương mại.

Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối
đoái. Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng
hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao. Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính
bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi.

Đơn vị tính khi thống kê về xuất, nhập khẩu thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu
Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định. Đôi khi, nếu
chỉ xét tới một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng
(cái, tấn, v.v...)

1.1.3.3. Cán cân thương mại

Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán
quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của
một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh
lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán
cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân
thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng
thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại.
Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị
dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang
giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các
khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý
luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán
quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.

Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:

- Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn.
Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ).
MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví dụ, MPZ bằng
0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập
khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước
và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị
trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại
Việt Nam tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ
nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.

- Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác
vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ
thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô
hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.

- Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ
giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ
hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc
tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến
kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ
có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên
1.1.4. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu với hoạt động kinh tế

Trong quá trình phân công lao động quốc tế, xuất nhập khẩu giúp tạo điều kiện tạo
điều kiện phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý dựa trên việc khai thác hiệu quả lợi thế
so sánh của từng quốc gia. Nhờ đó, sản xuất và tiêu dùng không ngừng được nâng cao về
hiệu quả và quy mô. Nói cách khác, xuất nhập khẩu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.

a) Vai trò của xuất khẩu

- Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam có tỷ lệ tăng dân số khá cao, lực
lượng lao động dồi dào. Nếu xuất khẩu được mở rộng thì lượng lao động trực tiếp tham
gia trực tiếp vào các ngành xuất khẩu tăng lên, đồng thời lao động của các ngành khác
liên quan cũng tăng theo.

Như vậy, xuất khẩu có tác dụng khai thác nguồn lực sẵn có, tăng thêm việc làm và
thu nhập cho người lao động.

- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực, tiến bộ, phục vụ
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Khi thực hiện xuất khẩu tức là hàng hóa được đưa ra thị trường các nước khác
nhau và chịu cạnh tranh rất lớn. Tất yếu, những hàng hóa không đủ phẩm chất sẽ bị trả lại
và không có cơ hội phát triển thị trường. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia xuất
khẩu phải luôn luôn đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất, quản lý hiệu quả,mở rộng quy
mô theo hướng ngày càng hiện đại. Xuất khẩu còn thúc đẩy các ngành cung cấp đầu vào
cho hoạt động xuất khẩu và các hoạt động dịch vụ khác cũng phát triển như bảo hiểm,
vận tải và du lịch. Đối với các nước đang phát triển, xuất khẩu là nguồn tạo vốn cho
nhập khẩu, thúc đẩy chủ động nhập khẩu công nghệ. Trong điều kiện các yếu tố công
nghệ, vốn và trình độ quản lý còn hạn chế thì xuất khẩu đóng vai trò thu hút FDI. Hay
chính hoạt động xuất khẩu thúc đẩy sự phát triển toàn diện các lĩnh vực trong nền kinh tế
góp phần tạo dựng cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn.
- Hoạt động xuất khẩu có thể có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và
tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ khác phát triển. Xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng
xuất khẩu sẽ thúc đẩy hệ thống tín dụng, đầu tư, mở rộng quan hệ quốc tế

Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề để mở rộng xuất
khẩu.

Như vậy, xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại và phụ
thuộc lẫn nhau. Hay, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.

b) Vai trò của nhập khẩu

- Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho
đất nước.

- Nhập khẩu có tác dụng bổ sung những thiếu hụt của nền kinh tế, cải thiện và
nâng cao mức sống của người dân.

- Nhập khẩu các nguyên nhiên liệu phục vụ cho xuất khẩu, thúc đẩy xuất khẩu

Như vậy, xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng thực
hiện một mục đích là phát triển nền kinh tế.Hiệu quả của hai hoạt động này chính là sự
kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu để thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế.

1.2. Diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

1.2.1. Khủng hoảng tài chính ở Mỹ - Xuất phát điểm của khủng hoảng tài
chính toàn cầu

Khủng hoảng tại Mỹ được đánh dấu bằng sự đổ vỡ của hệ thống các ngân hàng tại
đây. Tình trạng thua lỗ, phá sản thường chỉ xảy ra trong các ngân hàng nhỏ và trung bình
ở Mỹ. Nhưng kể từ tháng 8/2008, tình trạng này đã lan sang các ngân hàng có tầm ảnh
hưởng lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu. Freddie Mac và Frannie Mae là hai tập
đoàn cho vay thế chấp khổng lồ của Mỹ. Nếu hai tập đoàn này sụp đổ thì hệ thống tài
chính toàn cầu sẽ rơi vào một cú sốc lớn. Vì thế, để tạm thời ngăn chăn sự việc này, ngày
7/9/2008, Chính phủ Mỹ đã phải bỏ ra 25 tỷ USD để tiếp quản hai tập đoàn.

Tập đoàn lớn thứ tư tại Mỹ - Lehman Brothers Holdings đã thua lỗ gần 7 tỷ USD
trong quý II và III năm 2008, trong đó quý III lỗ 3,9 tỷ USD. Nguyên nhân là do các
khoản nợ xấu trong lĩnh vực tín dụng thứ cấp thế chấp mua nhà tại Mỹ của ngân hàng này
không có khả năng thanh toán. Sau 158 năm hoạt động, Lehman Brothers Holdings đã
nộp đơn xin phá sản ngày 15/9/2008. Cùng ngày với lý do như trên, tập đoàn ngân hàng
lớn khác của Mỹ là Merrill Lynch đã tuyên bố sáp nhập với Bank of America với giá trị
50 tỷ USD, tương đương 29 USD/cổ phần, trở thành tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính
lớn nhất thế giới.

Tập đoàn bảo hiểm hàng đầu của Mỹ, AIG tuyên bố thua lỗ 18 tỷ USD trong quý
II và quý III, riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã lỗ hơn 13 tỷ USD. Để cứu tập đoàn này khỏi
nguy cơ phá sản, FED đã cho AIG vay 85 tỷ USD trong vòng 2 năm, đổi lại Chính phủ
Mỹ sẽ nắm giữ 80% cổ phần và thay đổi ban lãnh đạo của tập đoàn này.

Ngày 26/9, ngân hàng tiết kiệm lớn nhất của Mỹ - Washington Mutual Inc cũng
được bán lại cho JP Morgan Chase do thua lỗ 19 tỷ USD. Cuối ngày 29/9/2008, cổ phiếu
của ngân hàng Wachovia – một trong những ngân hàng lớn nhất của Mỹ- chỉ còn dưới 1
USD báo động đứng bên bờ vực phá sản. Citigroup đã quyết định mua lại mảng hoạt
động tín dụng của ngân hàng này với giá gần 2,2 tỷ USD và cơ quan liên bang tiền đảm
bảo quyền lợi của người gửi tiền ở ngân hàng này.

Từng là ngân hàng lớn nhất thế giới và có chi nhánh hoạt động hơn 100 quốc gia,
trong quý IV/2008 Citigroup thông báo bị lỗ ròng tới 8,29 tỷ USD, và cả năm 2008 lỗ
tổng cộng là 18,72 tỷ USD. Do khủng hoảng tài chính toàn cầu, trong năm 2008, các cổ
phiếu của ngân hàng này đã giảm gần 87% giá trị. Ngân hàng này đã phải bán đi một số
cơ sở cùng một số nguồn lực khác, cắt giảm thêm 52000 việc làm, tương đương 20% số
nhân viên của hãng. Quyết định này của Citigroup đã khiến cho thị trường chứng khoán
thế giới sụt giảm tới mức thấp nhất trong hàng thập kỷ qua. Chỉ số chứng khoán quan
trọng nhất tại Mỹ là Dow Jones lần đầu tiên trong nhiều năm rớt khỏi mức 8000 điểm,
trong khi đó chỉ số S&P 500 xuống thấp nhất trong 2 năm qua. Trong điều kiện kinh tế
khó khăn, Citigroup đã thực hiện giải pháp tái cấu trúc mà theo đó, ngân hàng này sẽ
được tách làm 2 bộ phận riêng biệt: Citi Holidings tập trung vào cho vay tiêu dùng, môi
giới, quản lý tài sản khách hàng, và quản lý các tài sản gặp sự cố, Citicorp chuyên trách
về dịch vụ ngân hàng phục vụ khách hàng lẻ và kinh doanh.

Không chỉ những ngân hàng có quy mô tài sản hàng tỷ USD mà hàng loạt các
ngân hàng có quy mô tài sản vài trăm triệu USD cũng lần lượt rơi vào tình trạng tồi tệ.
Theo công bố của FED, đã có 25 ngân hàng Mỹ bị giải thể trong năm 2008. Theo các
chuyên gia thì con số này sẽ tăng lên trong năm 2009 do khủng hoảng tài chính chưa chịu
buông tha hệ thống tài chính nước này và viễn cảnh kinh tế nói chung còn tiếp tục u ám.

1.2.2. Khủng hoảng ở các quốc gia khác

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu không chỉ riêng có ở riêng Mỹ mà nhanh
chóng lan rộng toàn cầu. Trong thời đại toàn cầu hóa, khi các ngân hàng toàn cầu có mối
quan hệ tín dụng đan xen nhau nhằng nhịt, cuộc khủng hoảng tài chính của nền kinh tế
lớn nhất là Mỹ đã nhanh chóng lây lan sang các nước khác như hiệu ứng đô-mi-nô.

1.2.2.1. Khủng hoảng ở Châu Âu

Ủy ban châu Âu cũng đã vừa thừa nhận nền kinh tế 15 nước sử dụng chung đồng
tiền Euro đã bước vào một đợt suy thoái.

Các ngân hàng ở Anh chịu ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính
Mỹ. Mặc dù đã được hỗ trợ từ năm 2007 nhưng tính đến hết tháng 7/2008 thì Northem
Rock chịu khoản nợ xấu lên tới 191,6 tỷ USD. Do tình trạng tổn thất tín dụng ngày càng
gia tăng, trong tháng 7 và đầu tháng 8/2008, Bộ Tài chính Anh đã phải bơm thêm 3 tỷ
bảng (tương đương 5,86 tỷ USD) để cứu ngân hàng này.

Ngày 29/9/2008, nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng chịu thua lỗ lớn, không
có khả năng trụ vững do liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, Bộ Tài chính
Anh đã tuyên bố quốc hữu hóa tập đoàn cho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất nước
là Bradford & Bingley Plc. Tổng giá trị các khoản thế chấp và vay trên sổ sách là 50 tỷ
bảng.

Lối tiếp ngân hàng của Anh là một số ngân hàng lớn khác tại châu Âu như Fortis
của Bỉ và Lúcxămbua, Dexia của Bỉ và Pháp. Đầu tháng 10/2008, ngân hàng Hypo Real
Estate của Đức cũng lâm vào khủng hoảng và Chính phủ phải cứu trợ bằng biện pháp tài
chính cần thiết. Mới đây, ngày 8/1/2009, chính phủ Đức đã tuyên bố quốc hữu hóa ngân
hàng thương mại lớn thứ hai của Đức là Commerzbank, để cứu cơ sở này khỏi bị phá sản.
Dấu hiệu đầu tiên và rõ ràng nhất cho thấy nền kinh tế nước này đã bước vào giai đoạn
suy thoái là GDP liên tục giảm: trong quý II/2008 đã giảm 0,4%, quý III/2008 giảm
0,5%. Sự sụt giảm tăng trưởng mạnh hơn dự báo của kinh tế Đức là từ thương mại quốc
tế, với sự tăng mạnh của nhập khẩu trong khi xuất khẩu giảm.

Tại Nga, hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, chứng khoán cũng bị ảnh
hưởng nghiêm trọng. Trong tháng 9/2008, đợt suy giảm thị trường chứng khoán diễn ra
đã làm mất 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu trên thị trường. Tính đến ngày 7/10/2008, thị
trường chứng khoán Nga đã 2 lần tạm thời đóng cửa và chỉ số chứng khoán giảm mạnh.
Chỉ trong khoảng 3 tuần cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2008, ngân hàng Trung ương Nga
đã phải tung ra thị trường 170 tỷ USD để cứu các ngân hàng và các công ty tài chính. Để
hỗ trợ cho các ngân hàng, ngày 8/10/2008, Tổng thống Nga công bố kế hoạch cho vay
với thời hạn 5 năm với tổng giá trị là 950 tỷ rúp, tương đương 36,4 tỷ USD.

1.2.2.2. Sự lan tỏa của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế Châu Á

Ngày 8/10/2008, thị trường chứng khoán châu Á trải qua một ngày tồi tệ; hàng
loạt thị trường chứng khoán châu Á trong tình trạng sụt giảm nghiêm trọng. Chỉ số
Nikkei 255 của Nhật Bản giảm xuống còn 9253,32 điểm. Kể từ năm 1987, đây là mức
giảm lớn nhất: 9,4%. Hàng loạt các chỉ số chứng khoán trên các thị trường các nước khác
cũng ở tình trạng tương tự: chỉ số Hangseng của Hồng Kông giảm 5,2%, chỉ số Sensex
của Ấn Độ giảm 4,3%, chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm 5,8%... Sự sụt giảm này trên thị
trường chứng khoán châu Á còn kéo dài đến tháng 11. Cụ thể là ngày 2/11, chỉ số Nikkei
225 giảm 352,09 điểm, tương đương 2,09%, xuống còn 16517,34 điểm, chỉ số Hang
Sheng giảm tới 3,3% và đóng cửa ở mức 30468,34 điểm, chỉ số CSI của thị trường
Thượng Hải giảm 2,3% xuống còn 136,47 điểm, các chỉ số trên thị trường Xingapo, Hàn
Quốc, Malaixia cũng sụt giảm.

Ngay từ cuối năm 2008, kinh tế Nhật Bản cũng bước vào suy thoái và được dự
báo sẽ có mức tăng trưởng âm trong năm 2009. Sản lượng công nghiệp sụt giảm tới
8,1%, lợi nhuận của các công ty giảm mạnh và tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên 3,9%. Theo
báo cáo của Chính phủ Nhật, xuất khẩu tháng 11/2008 so với cùng kỳ năm 2007 cũng
giảm 26,7% trong đó xuất khẩu xe hơi giảm 32%. Ngoài ra, sự lên giá mạnh của đổng
Yên so với USD cũng gây áp lực không nhỏ cho các nhà xuất khẩu của Nhật. Nguyên
nhân là do giới đầu tư Nhật Bản ồ ạt rút vốn về nước vì lo ngại khủng hoảng tài chính ở
các thị trường bên ngoài đã đẩy đồng Yên tăng 25% so với USD.

Tại Hàn Quốc, theo thông tin tài chính quốc tế Hàn Quốc (KCIF), từ tháng 6 đến
tháng 9/2008, các nhà đầu tư nước ngoài đã rút gần 15 tỷ USD khỏi thị trường chứng
khoán Hàn Quốc. Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại các thị trường chứng khoán lớn
trong khu vực như: Đài Loan, Philippin, Thái Lan, Ấn Độ, Inđônêxia…

1.3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân,
có nguyên nhân trực tiếp, sâu xa… nhưng tóm lại là bắt nguồn từ 4 nguyên nhân cơ bản
sau:
Thứ nhất: Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, các khoản cho vay dưới
chuẩn
Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn
vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình
lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì
người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm cho bong bóng nhà đất hình
thành. Khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá
nhà xuống thấp.

Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation)
để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản
(MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay
mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng
bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản
càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của
trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng.

Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm
mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp
hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả
là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.
Thứ hai: Hệ thống tín dụng đổ vỡ
Sự co lại của thị trường tín dụng, sự đổ vỡ của các thị trường các công cụ phái
sinh như CDS có mức độ ảnh hưởng còn lớn hơn sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất rất
nhiều.
Trong cho vay nhà đất lẫn trong thị trường nợ, việc dùng đòn bẩy tài chính là hết
sức quan trọng. Một doanh nghiệp có thể đi vay 3 nếu có vốn riêng là 1, như vậy được
gọi là sử dụng đòn bẩy bằng 3 lần. Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thực
nếu có đòn bẩy tài chính không lớn hơn 3 thì được coi là bình thường. Với hình thức này,
trong trường hợp rủi ro người đi vay sẽ chịu rủi ro đầu tiên và khi đòn bẩy càng cao thì
tức là rủi ro càng lớn. Khi cho vay, các ngân hàng thường chú ý đến hệ số đòn bẩy nảy
bởi vì nếu hệ số đòn bẩy quá cao, thì khi có lãi người vay được lợi, khi thua lỗ thì ngân
hàng phải gánh chịu. Trên thị trường tài chính, các ngân hàng sử dụng đòn bẩy cao hơn,
có khi lên đến cả trăm lần do các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính không có quy
định nghiêm ngặt về vấn đề này.
Thứ ba: Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Các ngân hàng thương mại chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan nhà nước,
còn các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính chịu sự giám sát ít hơn. Các cơ quan
quản lý lỏng lẻo, không theo kịp hoạt động của tất cả các tổ chức tài chính ngân hàng dẫn
đến những rủi ro khôn lường. Có tiền, các công ty “thoải mái” cho khách hàng vay bằng
tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông qua việc mua lại danh mục cho vay của các
công ty này. Các ngân hàng này, trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành
chứng khoán để vay tiền. Danh mục cho vay được chia ra thành các mục như rủi ro ít, rủi
ro cao… tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình.
Có loại chứng khoán không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng
lớn.
Như vậy, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài
chính sang ngân hàng đầu tư. Nhà đầu tư trên thế giới đổ tiền mua các chứng khoán này,
nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹ
tăng nóng.
Thứ tư: Khủng hoảng niềm tin

Theo Giáo sư Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốc
của niềm tin. Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản.
Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị
tài sản thực của ngân hàng. Đây là một trò chơi mà khi người ta bắt đầu cảm nhận “mùi
vị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ sẽ xuất hiện, cả thị
trường xuống dốc và tất cả “người chơi” đều thua lỗ.

Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị
xói mòn, xuống cấp. Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy
xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục.

1.4. Những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến các vấn đề kinh
tế - xã hội
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là cuộc khủng hoảng sâu rộng và để lại hậu
quả to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Cho đến nay, những tác động của nó đối với nền
kinh tế toàn cầu vẫn chưa lường hết được vì khủng hoảng vẫn đang còn tiếp diễn. Ba
hiểm họa lớn đang chờ các nước trong năm 2009 là: suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia
tăng và nguy cơ giảm phát. Biểu hiện cụ thể như sau:

1.4.1. Tác động đến tăng trưởng kinh tế
Kinh tế thế giới năm 2009 sẽ tiếp tục chìm sâu vào suy thoái và được dự báo chỉ
có thể thoát ra vào nửa cuối năm 2009 hoặc đầu năm 2010. Kết quả dự báo của IMF về
tăng trưởng kinh tế thế giới 2009 – 2010 cho rằng, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2009
được dự báo là 0,5% - mức thấp nhất kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ II. Sự tăng trưởng
của các nước phát triển dù chỉ là nhỏ nhưng với quy mô nền kinh tế lớn thì đó cũng là
đáng kể. Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì mức tăng trưởng
của các nước này được dự báo là âm trong năm 2009; Mỹ sẽ có mức tăng trưởng -1,6%,
Anh là -2,8% trong năm 2009... Còn mức tăng trưởng của các nền kinh tế đang nổi như
Trung Quốc hay Ấn Độ cũng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề với mức tăng trưởng được dự
báo lần lượt là 6,7% và 5,1%. Các nước đang phát triển khác, dưới tác động của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt.
Năm 2008 kinh tế Thái Lan chỉ tăng trưởng 2,6. Trong năm 2009, dự kiến, nền
kinh tế hướng tới xuất khẩu của nước này sẽ suy giảm từ 0-1%

Malaysia: Nhu cầu trong nước trên thị trường khá mạnh trong 6 tháng đầu năm
2008, nhưng sự suy giảm mạnh mẽ về các điều kiện kinh tế toàn cầu và giá hàng hóa
giảm đã khiến cho nhu cầu trong nước sụt giảm mạnh trong 6 tháng cuối năm 2008, dẫn
đến tăng trưởng kinh tế Malaysia trong 6 tháng cuối năm 2008 chỉ đạt 2,4%, so với 7,1%
trong 6 tháng đầu năm 2008.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu rất yếu kém, nhu cầu yếu trên thị trường thế giới
dự báo sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Malaysia trong năm 2009 đi khoảng 4 %.
Theo Bank Negara, ngân hàng trung ương Malaysia, kinh tế Malaysia tăng trưởng
khoảng 4,6% năm 2008. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu môi trường kinh
tế thế giới đang xấu đi nhanh chóng dự báo tăng trưởng GDP thực tế của nước này năm
2009 sẽ từ âm 1% đến 1% do bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.

Kinh tế Inđônêxia: Theo lời Phó Thống đốc Ngân hàng trung ương Inđônêxia (BI)
Miranda S. Goeltom cho biết “kinh tế nước này đang ngày càng trở nên xấu đi”, với tốc
độ tăng trưởng kinh tế năm nay dự kiến chỉ ở mức từ 3-4%, thấp hơn so với dự báo tăng
4-5% trước đây.

Các số liệu của BI cũng cho thấy tỷ lệ nợ không sinh lời trong hệ thống ngân hàng
Inđônêxia sẽ tiếp tục gia tăng, trong khi thu nhập của ngân hàng bị giảm sút đáng kể. Các
khoản nợ thuộc diện “cần giám sát đặc biệt” đến nay đã tăng lên tới 84.720 tỷ Rupiah.

Bên cạnh việc triển khai gói kích thích kinh tế nhằm ứng phó với khủng hoảng
kinh tế, Chính phủ Inđônêxia hiện đang tiếp tục tìm kiếm sự giúp đỡ tài chính và kinh tế
của Nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh G20 sắp diễn ra tại
thủ đô Luân Đôn. Trước đó, Bộ trưởng Tài chính Inđônêxia Sri Mulyani Indrawati đã có
mặt tại Luân Đôn để tham dự Hội nghị trù bị cho Hội nghị G20, nhằm thảo luận các biện
pháp khôi phục kinh tế và duy trì luồng vốn dành cho các nước đang phát triển và kích
thích nhu cầu trên thị trường quốc tế.

1.4.2. Tác động đến thương mại quốc tế

Dự báo của các tổ chức quốc tế có uy tín đều có chung nhận định là kinh tế thế
giới tiếp tục ảm đạm mà ảnh hưởng trực tiếp rõ nét nhất là tăng trưởng thương mại thế
giới tiếp tục giảm (Bảng 1.4.2).

Bảng 1.4.2. Dự báo tăng trưởng thương mại thế giới năm 2009 – 2010
Đơn vị: %
2006 2007 2008 2009 2010
(DB) (DB)

Tăng trưởng xuất khẩu

Các nước phát triển 8,4 5,9 3,1 -3,7 2,1
Các nền kinh tế mới nổi 11,2 9,6 5,6 -0,8 5,4

Tăng trưởng nhập khẩu

Các nước phát triển 7,5 4,5 1,5 -3,1 2,1

Các nền kinh tế mới nổi 14,9 14,5 10,4 -2,2 5,8



Nguồn : IMF, Word Economic Outlook, ngày 28/1/2009
Theo dự báo của IMF, năm 2009, tăng trưởng xuất khẩu ở các nước là âm, các
nước phát triển giảm xuống ở mức -3,7%, và ở các nền kinh tế mới nổi cũng chỉ đạt -
0,8%. Tình hình nhập khẩu cũng tương tự, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu năm 2009 ở các
nước phát triển ở mức -3,1%, còn các nền kinh tế mới nổi đạt mức tăng trưởng nhập khẩu
-2,2%. Tốc độ tăng trưởng thương mại năm 2009 được dự báo âm là do còn chịu tác động
mạnh của cuộc khủng hoảng kinh tế, cả nhập khẩu và xuất khẩu đều có xu hưởng giả m
dẫn đến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giảm.
Chủ tịch Uỷ ban Thương nghiệp Nội địa thuộc Phòng Công nghiệp và Thương
mại Inđônêxia (KADIN) ngày 29/3/2009 công bố, trước tác động ngày càng nghiêm
trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu tới nền kinh tế Inđônêxia, đầu tư
tiếp tục bị đình trệ do thiếu lượng tiền mặt, xuất khẩu trong quý I/09 đã giảm 30% so với
cùng kỳ năm 2008.

Xuất khẩu hàng hoá từ các nước châu Á đến Trung Quốc tháng 12/2008 thấp hơn
27% so với một năm trước.

Khi xem xét kỹ về số liệu xuất khẩu và nhập khẩu của các nước cho thấy như tiêu
dùng nội địa suy yếu là nguyên nhân chính dẫn đến kinh tế các nước này đi xuống.

Tại Trung Quốc, tiêu dùng nội địa đi xuống là yếu tố chính kéo lùi tăng trưởng
kinh tế Trung Quốc năm 2009.
Xét chung thì nhập khẩu giảm nhưng xuất khẩu giảm mạnh hơn, dẫn đến cán cân
thương mại thế giới sẽ chịu thâm hụt lớn trong năm 2009 này. Báo cáo của WB cho rằng
thương mại thế giới năm nay sẽ sụt giảm kỷ lục trong vòng 8 thập kỷ qua, lớn nhất là tại
khu vực Đông Á. Trong năm 2009, các quốc gia đang phát triển - trong đó có nhiều nước
nghèo được dự báo sẽ đối mặt với khả năng thâm hụt tài chính 270 - 700 tỷ USD.

Tình trạng này được dự báo có được cải thiện đôi chút vào năm 2010, khi mà nền
kinh tế không còn chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính.




1.4.3. Tác động đến các vấn đề xã hội
Khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn đến những hậu quả xã hội nghiêm trọng mà biểu
hiện rõ rệt nhất của nó là tỷ lệ thất nghiệp ở các khu vực trên thế giới liên tục tăng nhanh
một cách đáng báo động. Thế giới có nguy cơ phải đối mặt với “khủng hoảng xã hội” do
chính nạn thất nghiệp gây ra. Trong một báo cáo chính sách cho Hội nghị Bộ trưởng Tài
chính G7 vào ngày 14/2/2009, Ngân hàng Thế giới cho rằng khoảng 40/107 nước đang
phát triển có nguy cơ bị ảnh hưởng cao và các nước còn lại có khả năng bị ảnh hưởng
trung bình. Chỉ có 10% các nước bị ảnh hưởng nhẹ.
Theo số liệu của Văn phòng thống kê quốc gia Thái Lan cho biết, đã có 540.000
người thất nghiệp vào cuối năm 2008 chiếm tỷ lệ 1,4%. Tuy nhiên, trong năm 2009, dự
kiến, tỷ lệ thất nghiệp sẽ là 2,8%. Số người thất nghiệp ước tăng gần gấp đôi lên ít nhất
trên 1 triệu người trong năm 2009.
Tại Malayxia, tình trạng tương tự cũng xảy ra. Các điều kiện thị trường lao động
dự báo sẽ tiếp tục yếu đi, với tỷ lệ thất nghiệp dự báo tăng 4,5% trong năm 2009. Trong
khi đó, lạm phát dự báo trung bình khoảng 1,5-2% trong năm 2009, phản ảnh sự đảo
chiều mạnh mẽ của giá hàng hóa toàn cầu sau khi đã tăng lên mức cao đỉnh điểm trong
năm 2008.
Giống như hai phần ba thế giới, Philíppin hiện chưa rơi vào tình trạng suy thoái
nhưng cũng đã chịu những ảnh hưởng không nhỏ. Có khoảng 41 nghìn lao động mất việc
làm vì khủng hoảng.Trong tháng 1/09, tỷ lệ thất nghiệp ở Philíppin đứng ở mức 7,7%
(2,855 triệu người), tăng 188.000 người (0,33 điểm phần trăm) so với cùng kỳ năm ngoái.
Trước đó, theo báo của của chính phủ Philíppin, có khoảng 9 triệu người dân nước này
(1/10 dân số) trong tình trạng thiếu việc làm hoặc đang tìm việc. Con số này có thể còn
tăng thêm vào cuối năm học, khi các sinh viên sắp ra trường và tìm kiếm việc làm.
Tổng thống Philíppin, Gloria Arroyo ngày 24/3 cho biết, có ít nhất 41.000 người
dân nước này đã mất việc làm trong bối cảnh khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu, cao
hơn 6.000 người so với báo cáo của Bộ Lao động Philíppin công bố hồi đầu tháng 3/09

Tỷ lệ thất nghiệp sẽ liên tục tăng và tăng mạnh năm 2009. Dự báo của một số tổ
chức chuyên môn cũng chứng minh điều này. Theo dự báo của OECD, thất nghiệp của
các nước trong tổ chức này sẽ tăng từ 34 triệu người lên 42 triệu người. Còn theo dự báo
của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho hay, đến cuối năm 2009 sẽ có khoảng 50 triệu
người không có việc làm.
Khủng hoảng kinh tế gây ra thất nghiệp. Thất nghiệp sẽ dẫn đến đói nghèo và
những tệ nạn xã hội khác. An ninh của nhiều nước nghèo đứng trước nguy cơ bất ổn do
khủng hoảng kinh tế gây ra. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương được dự báo là có nguy
cơ trở lại tỷ lệ bần cùng hồi năm 2004.

Ngày 12/02/2009, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố bản báo cáo “Cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Đánh giá rủi ro từ con mắt nghèo đói”, cho thấy khủng
hoảng kinh tế toàn cầu đang đe dọa đến việc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo
toàn cầu.

Theo WB, số liệu cho năm 2009 cho thấy tăng trưởng kinh tế chậm sẽ làm khoảng
46 triệu người không thoát được nghèo (ở mức 1,25 USD/ngày) và khoảng 53 triệu người
khác sẽ vẫn nằm dưới mức 2 USD/ngày. Đó là chưa kể đến khoảng 130 - 155 triệu người
vừa tái nghèo do cuộc khủng hoảng lương thực và năng lượng vừa qua.

Báo cáo này cho thấy nguy cơ không hoàn thành các mục tiêu thiên niên kỷ của
Liên Hợp Quốc, trong đó có mục tiêu giảm nghèo cụ thể cho năm 2015. Báo cáo mới còn
cho thấy tăng trưởng chậm cũng làm tăng tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, với khoảng từ 1,4 - 2,8
triệu trẻ sơ sinh có thể tử vong trong khoảng từ nay đến năm 2015, nếu khủng hoảng này
còn tiếp diễn.
“Cuộc khủng hoảng kinh tế có thể biến thành cuộc khủng hoảng nhân đạo tại
nhiều nước nếu không có các biện pháp bảo vệ người nghèo. Trong khi toàn thế giới chỉ
chú ý đến các gói kích thích tăng trưởng kinh tế, chúng ta không nên quên là người nghèo
ở các nước đang phát triển còn rủi ro hơn nếu kinh tế ở các nước đó đi xuống.
Cuộc khủng hoảng này đòi hỏi phải có những giải pháp toàn cầu, cần phải thảo
luận cả những nhu cầu của người nghèo ở các nước đang phát triển”, Chủ tịch Nhóm
Ngân hàng Thế giới nói.
Do đó, bản báo cáo với tựa đề “Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Đánh giá rủi
ro từ con mắt nghèo đói”, nhấn mạnh các quốc gia cần tập trung tài chính để tạo công ăn
việc làm, cung cấp các dịch vụ cơ bản, cơ sở hạ tầng và các chương trình an sinh xã hội
cho người dễ thương tổn.
Tuy nhiên, bản báo cáo này cũng chỉ ra 3/4 các nước đang phát triển không thể
huy động nguồn tài chính trong và ngoài nước để giảm thiểu ảnh hưởng của giảm phát.
Trong đó, 1/4 các nước không có khả năng tiếp cận tới các nhóm dễ thương tổn. Báo cáo
cũng đề xuất hỗ trợ tài chính cho các nước này dưới dạng viện trợ không hoàn lại, hoặc
cho vay không lãi.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay đã khiến cho ngành ngân hàng bị tổn
thất nặng nề, tình trạng phá sản hàng loạt, nhiều nhà máy bị đóng cửa, làn sóng tịch biên
tài sản và những “cơn thủy triều thất nghiệp” tiếp tục làm chao đảo nhiều nước nghèo. Ở
nhiều quốc gia có tỷ lệ nghèo đói tăng lên. Tuy nhiên, hậu quả khôn lường khác của nó
bắt đầu lộ diện. Đó là những cuộc nội loạn và xung đột sắc tộc gia tăng. Các cuộc biểu
tình ở khắp các nước châu Âu, châu Á, châu Phi... có lúc đã biến thành các cuộc bạo
động nguy hiểm. Thậm chí nếu cứ tiếp tục đói nghèo hơn, một ngày nào đó chúng sẽ
bùng lên thành những ngọn lửa chiến tranh.
Hình 1.4.3. WB khoanh vùng các nước rủi ro: Vùng giữa là các nước có khả
năng rủi ro về đói nghèo nhất


Rủi ro đói nghèo
1.5. Khung lý thuyết để đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
đến xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Việt Nam chủ yếu xuất hàng nông sản sang Mỹ và các nước Châu Âu và nhập t ừ
các nước này các loại thiết bị, máy móc nên có thể nói ảnh hưởng lớn nhất đến nền kinh
tế Việt Nam khi kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng là ảnh hưởng về xuất nhập khẩu. Tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là tác động mang tính hai chiều nhưng chủ
yếu là tác động tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu cũng như của Việt Nam.
1.5.1. Tác động đến xuất khẩu
Ảnh hưởng lớn nhất đối với Việt Nam trước hết là về xuất khẩu sang các thị
trường như Mỹ và châu Âu (chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu). Trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế, nhu cầu nhập khẩu của một số nước giảm đáng kể đặc biệt là các
thị trường chính của Việt Nam dẫn đến giá trị hợp đồng xuất khẩu giảm và ảnh hưởng
trực tiếp tới cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu hầu hết đều giảm hoặc không tăng. Cũng có thể
một số mặt hàng của Việt Nam thuộc loại hàng khiếm dụng, có nghĩa là khi thu nhập
giảm xuống thì cầu sẽ gia tăng. Tuy nhiên, có lẽ loại này là không đáng kể.
Vậy, khủng hoảng kinh tế thị trường xảy ra, kim ngạch và tốc độ xuất khẩu của
Việt Nam giảm mạnh.
Về cơ cấu mặt hàng, nhóm hàng thô có xu hướng tăng, hàng qua chế biến giảm.
Cơ cấu thị trường cũng có sự thay đổi, khi các thị trường chính hạn chế nhập khẩu,
Việt Nam phải mở rộng ra các thị trường phi truyền thống. Do đó, cơ cấu thị trường có
xu hướng tăng lên các thị trường phi truyền thống, ít chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng
kinh như Châu Phi và Trung Đông. Các thị trường Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản có xu
hướng giảm xuống.
1.5.2. Tác động đến nhập khẩu
Do nhu cầu người dân giảm; các doanh nghiệp không tránh khỏi những tác động
tiêu cực do tình trạng nền kinh tế khó khăn, không đủ nguồn lực tài chính dể nhập khẩu.
Một phần do xuất khẩu giảm nên nhập khẩu cũng giảm theo vì giảm lượng nguyên liệu
được nhập khẩu dể phục vụ xuất khẩu.
Sự phá giá của các đồng tiền khu vực kích thích việc nhập khẩu hàng hóa từ các
nước bị khủng hoảng vào nước ta, đặc biệt là qua đường nhập khẩu tiểu ngạch và buôn
lậu. Tình hình đó gây khó khăn cho sản xuất trong nước nhất là hàng tiêu dùng đã ở mức
bão hòa, khó tiêu thụ.
Do đó, khi xảy ra khủng hoảng thì tất yếu kim ngạch nhập khẩu giảm.
Cơ cấu mặt hàng nhập, nhóm thiết bị máy móc giảm do giá trị hàng máy móc thiết
bị giảm mạnh, nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu có xu hướng tăng lên, hàng tiêu dùng ít
bị thay đổi nên có thay đổi không đáng kể.
Cũng tương tự như xuất khẩu, cơ cấu thị trường nhập khẩu sẽ có xu hướng giảm
đối với các thị trường Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản do lượng máy móc, thiết bị hiện đại chủ
yếu nhập khẩu ở các thị trường này. Tuy nhiên, thị trường nhập khẩu của Việt Nam chủ
yếu là các nước Đông Á, ít chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên cơ cấu thị
trường nhập khẩu không có biến động nhiều
1.5.3. Tác động đến cán cân thương mại
Như vậy, kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung rơi vào tình trạng suy
thoái, tốc độ tăng trưởng giảm sút. Điều này sẽ dẫn đến hệ lụy là cầu đối với các mặt
hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm trong khi cung đối với các mặt hàng nhập khẩu sẽ
tăng do các nhà sản xuất bị giảm thị trường ở các nước phát triển sẽ tìm cách mở rộng các
thị trường khác. Như vậy, khả năng xuất khẩu bị giảm mạnh là rất cao trong khi nhập
khẩu nếu có giảm cũng sẽ giảm ít hơn so với xuất khẩu. Điều này sẽ làm cho thâm hụt
ngoại thương của Việt Nam sẽ gia tăng, nhất là trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đã
rất mở.




1.6. Kinh nghiệm của các nước để đối phó với tác động của khủng hoảng đế n
xuất khẩu
Có rất nhiều quốc gia và khu vực trong thời gian qua đã đưa ra các nhóm giải
pháp kích thích nền kinh tế và đạt những kết quả là bài học kinh nghiệm đối với Việt
Nam. Đối với thị trường trong nước và mở rộng xuất khẩu, thế giới cũng ứng phó rất
nhanh và khác nhau ở mỗi nước do tình hình mỗi nước là khác nhau phần nào đó khắc
phục hậu quả trước mắt và có chiến lược lâu dài.
1.6.1. Trung Quốc
Trung Quốc là nước có thặng dư thương mại trong nhiều năm nay. Trong các nước
châu Á, Trung quốc là quốc gia sản xuất các hàng hóa xuất khẩu lớn vào thị trường Bắc
Mỹ và Châu Âu. Chính vì thế, Trung Quốc sẽ chịu nhiều tác động xấu từ khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế tại hai khu vực nói trên. Hàng năm, với kim ngạch xuất khẩu
lớn, các doanh nghiệp Trung Quốc đã thực hiện phân phối sản phẩm của mình tại các thị
trường các nước phát triển, từ đó thu được một lượng lớn ngoại tệ cho doanh nghiệp và
chính phủ. Do đó, tình trạng xấu trên thị trường xuất khẩu sẽ tác động nặng nề đến nền
kinh tế Trung Quốc. Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái, tình hình xuất khẩu khó khăn,
để khắc phục những khó khăn do khủng hoảng và suy thoái tại các thị trường xuất khẩu
cũng như thị trường trong nước, Chính phủ Trung Quốc thực hiện nới rộng chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ, giảm lãi suất, tỷ lệ an toàn vốn đối với các ngân hàng. Bên
cạnh đó, để tháo gỡ những khó khăn cho thị trường, với sự huy động từ ngân sách TW,
địa phương và các ngân hàng, Trung Quốc đã tuyên bố thực hiện giải pháp kích cầu lên
tới 4.000 tỷ NDT (586 tỷ USD) và dự kiến giải ngân trong vòng 2 năm.

Số tiền nói trên sẽ thực hiện chi tiêu cho đầu tư xây dựng, hỗ trợ người nghèo và
các vấn đề an sinh xã hội với mục tiêu để duy trì mức tăng trưởng 8% của GDP. Ngoài
ra, chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu, hỗ trợ các
doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu, đẩy nhanh hoàn
thuế VAT,…

Bên cạnh đó, chính quyền các cấp từ TW đến địa phương đẩy mạnh hỗ trợ mọi
mặt đối với những khó khăn của các doanh nghiệp, thực hiện phối hợp với các doanh
nghiệp để đảm bảo hạn chế sa thải lao động. Ngoài ra, chính phủ nước này cũng đưa ra
quan điểm để chỉ đạo và thực hiện “làm tốt những gì mà Trung Quốc phải làm”.

Từ phía các doanh nghiệp Trung Quốc, trong thời gian khó khăn của nền kinh tế,
họ cũng năm bắt được thời điểm, tận dụng cơ hội để cải cách doanh nghiệp bằng việc đào
tạo lại cán bộ, nhân viên lao động, chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp lớn còn tính đến bài toán mở rộng thị trường và bành trướng thương hiệu trên các
thị trường lớn.

Trung Quốc còn là nền kinh tế dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (1900 tỷ USD), họ
là chủ nợ của nhiều quốc gia, do vậy họ không lo lượng tiền này làm đồng NDT bị mất
giá và họ cũng như chỉ đang sử dụng của cải của họ trước đây cho các nước vay để xây
dựng cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Nói cách khác, Trung Quốc đang
thực hiện cấu trúc lại nền kinh tế từ sản xuất để xuất khẩu sang một nền kinh tế tiêu dung
nội địa nhiều hơn.
Theo tính toán thì mặc dù năm 2009 Trung Quốc vẫn ở giai đoạn điều chỉnh giảm
tốc nhưng hiệu quả để lại của chính sách kích cầu trong nước của Chính phủ sẽ giảm đi
phần nào tác dụng sự phụ thuộc của sự sụt giảm xuất khẩu, mức đáy của đường diều
chỉnh sẽ được nâng cao một cách rõ rệt, giúp tốc độ tăng GDP duy trì khoảng 8-9% là
hoàn toàn có cơ sở thành hiện thực.
1.6.2. Thái Lan
Với Thái Lan, cuộc khủng hoảng lần này không chỉ đơn thuần gây tổn thất tài
chính mà còn liên quan đến những vấn đề khác mà Thái Lan đang phải đối mặt. Đó là
những bất ổn về chính trị đang làm suy giảm mạnh lòng tin của giới đầu tư và gây thiệt
hại nghiêm trọng cho nền kinh tế vốn chủ yếu dựa vào xuất khẩu và du lịch. Chính phủ
Thái Lan cũng đã có những giải pháp cụ thể khắc phục tình trang hiện nay ngay từ những
ngày đầu

Tháng 12/2008, Thủ tướng Thái Lan thông báo chính phủ nước này sẽ dành 300 tỷ
bath (tương đương 8,7 tỷ USD) để hỗ trợ kinh tế phát triển.

Tháng 5/2009, Chính phủ Thái Lan thông qua giai đoạn 2 của gói kích thích kinh
tế trị giá 1.400 tỷ baht (xấp xỉ 40 tỷ USD) nhằm vực dậy nền kinh tế đang gặp khó khăn
từ trong tới ngoài của nước này. Giai đoạn 2 của gói kích thích kinh tế trị giá 40 tỷ USD
này được đưa ra trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm. Chính phủ Thái Lan hy vọng
nhờ đó sẽ tạo việc làm cho 2 triệu người và làm gia tăng các lợi thế cạnh tranh của nước
này.

Bộ Tài chính nước này cho biết Chính phủ sẽ phân bổ vốn cho các dự án đầu tư
vào các lĩnh vực vận tải, thuỷ lợi, giáo dục và y tế công cộng trong giai đoạn từ nay cho
tới năm 2012.

Các dự án đầu tư theo giai đoạn 2 của gói kích thích này sẽ được triển khai ngay
sau khi Quốc hội Thái Lan thông qua kế hoạch vay vốn 22 tỷ USD để có nguồn tài trợ.

Trước gói kích thích này, Thái Lan hồi đầu năm nay cũng đã thông qua 7 biện
pháp kích thích phát triển kinh tế mới, nhằm thúc đẩy du lịch, thị trường bất động sản và
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời làm tăng nhu cầu chi tiêu tiêu dùng.

Trong đó, biện pháp đầu tiên nhằm tăng doanh số bán trong lĩnh vực bất động sản,
thông qua kế hoạch giảm thuế cho người mua nhà. Những biện pháp còn lại tập trung vào
hỗ trợ khoảng 97.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ qua nâng mức giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp; tăng mức giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp phục vụ cộng đồng; giúp
thúc đẩy các doanh nghiệp trong ngành khách sạn và du lịch; tiếp tục triển hạn các mức
thuế ưu đãi cho các quỹ đầu tư rủi ro rót vào doanh nghiệp vừa và nhỏ đến năm 2010;
miễn thuế cho người đã thanh toán hết nợ nần; và cắt giảm thuế chuyển dịch doanh
nghiệp trước cuối năm nay nhằm khuyến khích họ thay đổi cơ cấu để nâng cao khả năng
cạnh tranh và giảm chi phí.
Bằng nỗ lực của mình, Chính phủ Thái Lan mong muốn gói kích cầu sẽ tạo công
ăn việc làm, chống lại sự suy giảm của xuất khẩu và đầu tư nước ngoài.
1.6.3. Mỹ
Là nước khởi nguồn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Mỹ đã áp dùng đồng
thời các gói cứu trợ và các biện pháp kích cầu nền kinh tế.
Ngày 29/9/2008, Mỹ đã thông qua gói cứu trợ TARP với trị giá 700 tỷ USD trong
2 năm. Đây là chương trình giải phóng các tài sản nợ xấu của các tổ chức tài chính và
cứu cánh của các hãng ô tô. Ngoài ra, Chính phủ Mỹ đã kích thích hàng loạt các chương
trình cứu trợ và kích thích tăng trưởng kinh tế với các cam kết hỗ trợ lên khoảng 12,1
nghìn tỷ USD.
Do tác động của khủng hoảng, Mỹ thâm hụt thương mại trong thời gian dài buộc
doanh nghiệp cũng như Chính phủ phải tìm nguồn tài trợ hỗ trợ bằng cách phát hành trái
phiếu, mà người mua là các nước xuất khẩu nhiều vào Mỹ như Trung Quốc, các nước
Trung Đông. Mỹ hiện đang vay nợ quốc gia xuất khẩu hàng tiêu dùng Trung Quốc và các
quốc gia xuất khẩu dầu ở Trung Đông.
Kích cầu đối với nền kinh tế Mỹ là chưa đủ, Mỹ thực hiện giải pháp cấu trúc lại
nền kinh tế từ tiêu thụ sang nền kinh tế có khả năng xuất khẩu nhiều hơn. Theo đó, các
doanh nghiệp cạnh tranh kém hiệu quả buộc phải giải thể hoặc thu hẹp sản xuất để
chuyển năng lực sản xuất sang các lĩnh vực có nhiều ưu thế hơn như nông nghiệp, công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, giáo dục...
1.6.4. Nhật Bản
Kinh tế Nhật Bản bị ảnh hưởng nặng nề bởi kinh tế toàn cầu suy giảm. Trong năm
2008, xuất khẩu của Nhật Bản, khu vực chủ lực thúc đẩy kinh tế Nhật Bản tăng trưởng,
chịu tác động trực tiếp từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã giảm một nửa, mức thấp
nhất kể từ năm 1980, do nhu cầu đối với hàng công nghệ cao và xe hơi của nước này.
Hàng tồn kho tăng nhanh, nhất là vào cuối năm 2008, buộc các công ty ô-tô và công nghệ
lớn của Nhật Bản phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm hàng chục nghìn việc làm. Tỷ lệ thất
nghiệp tháng 2-2009 tăng lên 4,4%, mức cao nhất trong ba năm qua.

Cuối tháng 8/2008, Chính phủ Nhật đã công bố gói trị giá 11700 tỷ Yên (khoảng
111 tỷ USD) nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách giảm bớt những tác động
tiêu cực do giá năng lượng và nguyên liệu thô tăng.
Chương trình này chủ yếu hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị tác động bởi giá
lương thực và xăng dầu tăng cao; nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với khủng
hoảng tín dụng do các ngân hàng hạn chế cho vay vì lo ngại các doanh nghiệp này bị phá
sản.

Ngày 09/4/2009, Chính phủ Nhật Bản đã công bố các kế hoạch kích thích kinh tế
trị giá đến 15.400 tỷ yên (hơn 150 tỷ USD) và tạo ra hàng triệu việc làm mới.

Gói kích thích kinh tế mới sẽ bao gồm các biện pháp giúp công nhân mất việc,
giúp các công ty khó khăn dễ dàng vay ngân hàng, cải thiện hệ thống chăm sóc y tế và
khuyến khích tăng cường sử dụng công nghệ năng lượng mặt trời.

Gói chi tiêu mới này, tương đương 3% GDP, là một phần của gói kích thích kinh
tế lớn trị giá hơn 56.800 tỷ yên (khoảng 570 tỷ USD) khi các biện pháp cắt giảm thuế,
bảo lãnh nợ và các biện pháp khác được thực hiện.

Gói kích thích này, dự kiến sẽ được Thủ tướng Aso chính thức công bố trước khi
đệ trình ngân sách bổ sung lên Quốc hội Nhật Bản, gồm hơn 2.000 tỷ yên cho việc phát
triển các thiết bị và đồ điện dân dụng sử dụng năng lượng mặt trời và tiết kiệm năng
lượng. LDP cũng đề nghị sử dụng quỹ công để mua tới 50.000 tỷ yên cổ phiếu từ thị
trường nếu chúng rớt giá không phanh.

Trước đó, chính quyền tỉnh Hockaido và tỉnh Aomori ở phía Bắc Nhật Bản đã bắt
đầu phát tiền trợ cấp cho người dân địa phương. Theo quy định của Chính phủ Nhật Bản,
tất cả công dân trong đó có cả người nước ngoài đang sống tại Nhật Bản sẽ được một
khoản trợ cấp do khó khăn.

Các doanh nghiệp lớn của nước này liên tục đưa ra những con số thua lỗ đáng báo
động trong khi nạn thất nghiệp ngày một gia tăng chính là nguyên nhân khiển ông Taro
Aso phải “mạnh tay” với gói kích cầu này, nếu muốn nhận được thái độ hợp tác của các
đảng đối lập trong thời gian tổ chức tổng tuyển cử sắp tới.

Đối với Việt Nam, chúng ta chịu tác động sau nên có thể học hỏi, áp dụng kinh
nghiệm của các nước để khắc phục tác động của khủng hoảng đến xuất khẩu. Bài học rút
ra cho Việt Nam là:
Việt Nam ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng nên tập trung vào các
gói kích cầu nền kinh tế bao gồm các nhóm biện pháp chính sau: nhóm kích thích tiêu
dùng, nhóm kích thích đầu tư của doanh nghiệp, nhóm kích thích thông qua đầu tư công
và nhóm các biện pháp phụ trợ. Trong đó có thể áp dụng hình thức giãn thuế, giảm thuế,
hoãn thuế như Trung Quốc và Mỹ đã làm; thông qua kích cầu để kích thích cầu tiêu dùng
và đầu tư, hướng mạnh vào thị trường nội địa (bài học từ Trung Quốc).
Chính phủ và doanh nghiệp cần có mối quan hệ mật thiết với nhau trong việc tìm
kiếm, phát triển thị trường và sản phẩm mới… Về lâu dài chúng ta cần phải đổi mới, cơ
cấu lại nền kinh tế.
Không ai có thể nói trước đến khi nào thì kinh tế thế giới sẽ thoát khỏi tình trạng
suy thoái. Điều đó thực sự phụ thuộc vào lỗ lực của mỗi quốc gia với những biệ n pháp
nhằm vực dậy nền kinh tế.
Chương 2: Đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất
nhập khẩu của Việt Nam

2.1. Bối cảnh kinh tế Việt Nam trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu
2.1.1. Giai đoạn 2001 – 2007
Đây là giai đoạn kinh tế Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế đạt tốc
độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước.
Hình 2.1.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế các năm giai đoạn 2001 – 2007
(%)




Nguồn: Niên giám thống kê
Thành quả nổi bật của những năm qua là duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân đạt 7,5%/ năm trong 5 năm 2001 – 2005 và 8,17% năm 2006, thế và lực của
Việt Nam đã mạnh lên so với các năm trước. Giai đoạn 2001 – 2005 tăng trưởng GDP
bình quân 7,5%/năm đạt kế hoạch đặt ra, trong đó ngành nông lâm, thủy sản tăng 3,8%,
ngành công nghiệp và xây dựng tăng cao 10,2%, ngành dịch vụ tăng 7,0%. Đến năm
2007, tổng sản phẩm trong nước ước tăng 8,44%, đạt kế hoạch đề ra (8,0 – 8,5%), cao
hơn năm 2006 (8,17%) và là mức cao nhất trong vòng 11 năm gần đây. Với tốc độ này,
Việt Nam đứng vị trí thứ 3 về tốc độ tăng GDP năm 2007 của các nước châu Á sau Trung
Quốc (11,3%) và Ấn Độ (khoảng 9%) và cao nhất trong các nước ASEAN (6,1%). Tốc
độ tăng trưởng GDP cả 3 khu vực kinh tế chủ yếu đều đạt mức khá: Khu vực nông – lâm
nghiệp và thủy sản ước tăng 3,0%/ so với mức 3,32% cùng kỳ 2006, khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng 10,33% (riêng công nghiệp tăng 10,32%)/ so với mức 10,4% và
10,32% cùng kỳ và khu vực dịch vụ tăng 8,5%/ so với mức 8,29% của năm 2006.
Cơ cấu sản xuất và chất lượng sản phẩm có bước chuyển biến tích cực theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ lệ công nghiệp chế tác, công nghiệp cơ khí chế tạo và tỷ
lệ nội địa hóa sản phẩm công nghiệp tăng, nhiều sản phẩm cạnh tranh được trên thị
trường. Ngành nông nghiệp và thủy sản vượt qua nhiều khó khăn, duy trì được mức tăng
trưởng khá và vượt mức kế hoạch. Năm 2007, GDP khu vực nông – lâm nghiệp – thủy
sản giảm còn dưới 20,0%/ so với 20,81% năm 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng dần và chiếm trên 41,7% so với 41.56% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30%
so với 38,08% trong 2 năm tương ứng. Trong điều kiện có khó khăn nhiều mặt, nhất là
dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng trong bối cảnh hội nhập WTO,
tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao và tốc độ tăng khá ổn định.

Năm 2007 cũng là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
WTO và thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó, thị trường xuất khẩu mở rộng, các
rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏ hoặc hạn chế.
Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao qua Hội nghị cấp cao APEC năm
2006.

2.1.2. Năm 2008 và đầu năm 2009
Năm 2008, tình hình kinh tế rơi vào trạng thái tồi tệ do ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, đặc biệt vào những tháng cuối năm, khi nền kinh tế của Việt Nam
chính thức ngấm đòn khủng hoảng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 6,23%, trong
đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%. Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế,
khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,68 điểm phần trăm; công nghiệp, xây
dựng đóng góp 2,65 điểm phần trăm và dịch vụ đóng góp 2,9 điểm phần trăm. Xét theo
ngành kinh tế, mức tăng của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 cao hơn
mức tăng năm 2007 và 2006, chủ yếu do sản xuất nông nghiệp được mùa, sản lượng lúa
cả năm tăng 2,7 triệu tấn so với năm 2007 và là mức tăng cao nhất trong vòng 11 năm trở
lại đây. Tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng năm nay đạt mức thấp hơn mức
tăng của năm 2007, chủ yếu do sản xuất của ngành công nghiệp khai thác giảm nhiều so
với năm trước (giá trị tăng thêm giảm 3,8%); công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 63,5%
trong tổng giá trị tăng thêm công nghiệp nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 10%, thấp hơn
mức tăng 12,8% của năm 2007; đặc biệt giá trị tăng thêm của ngành xây dựng năm nay
không tăng, trong khi năm 2007 ngành này tăng ở mức 12%. Hoạt động của khu vực dịch
vụ tuy ổn định hơn so với khu vực công nghiệp và xây dựng nhưng giá trị tăng thêm vẫn
tăng thấp hơn mức tăng 8,7% của năm trước.
Giá tiêu dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp, khác
thường so với xu hướng giá tiêu dùng các năm trước. Giá tăng cao ngay từ quý I và liên
tục tăng lên trong quý II, quý III, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm (so với tháng
trước, tháng 10 giảm 0,19%; tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%) nên giá tiêu
dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng
bình quân năm tăng 22,97%.

Bước vào năm 2009, kinh tế-xã hội nước ta tiếp tục chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều nền kinh tế lớn suy thoái. Trong khi chưa khắc phục hết
những khó khăn của năm 2008 và những năm trước đó để lại thì nước ta lại phải đương
đầu với những thách thức mới. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2009 tăng 3,1%
so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,4%; khu
vực công nghiệp và xây dựng tăng 1,5%; khu vực dịch vụ tăng 5,4%. Trong tốc độ tăng
trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,1
điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 0,7 điểm phần trăm; khu
vực dịch vụ đóng góp 2,3 điểm phần trăm. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I
năm nay tuy thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ của một số năm gần đây, nhưng
trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hầu hết các nền kinh tế trên thế giới bị suy
giảm mạnh mà nền kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng như trên là một kết quả đáng
khích lệ và cần quan tâm, rút kinh nghiệm để làm tốt hơn nữa trong những tháng tiếp
theo.

Bảng 2.1.3. Một số chỉ tiêu chủ yếu quý I năm 2009 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm
trước (%)

Tổng sản phẩm trong nước +3,1

Giá trị sản xuất công nghiệp +2,1

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng +21,9

Tổng kim ngạch xuất khẩu +2,4

Tổng kim ngạch nhập khẩu -45,0

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước thực hiện (so với 17,8
kế hoạch 2009)

Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đầu năm 2009 so với 3 tháng đầu năm 2008 +14,47

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nhận định về kinh tế Việt Nam trong năm 2009, ông Shogo Ishii, Phó giám đốc
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam cho rằng, nền kinh tế có thể tăng trưởng thấp
hơn mục tiêu 6,5%, nhưng lạm phát sẽ hạ nhiệt nhanh chóng. IMF dự báo, trong năm
2009, Việt Nam có thể tăng trưởng khoảng 5%. Tỷ lệ lạm phát sẽ lùi về dưới 10% vào
cuối năm 2009, phần nhiều nhờ giá cả hàng hóa giảm.
Tình hình kinh tế Việt Nam năm 2009 chắc chắn còn nhiều biến đổi và chúng ta
cũng chờ đợi sẽ có những điểm sáng kinh tế trong thời gian gần đây.

2.2. Đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với Việt
Nam
Không thể đứng ngoài cuộc, những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu đối với nền kinh tế Việt Nam là không thể tránh khỏi. Kinh tế - xã hội của Việt Nam
đã và đang chịu tác động xấu của khủng hoảng kinh tế toàn cầu:
2.2.1. Tác động đến kinh tế
Kinh tế Việt Nam năm 2008 có nhiều biến động mạnh, những thay đổi, tăng giảm
của hàng hóa dịch vụ trong nước và của hàng hóa xuất nhập khẩu. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế Việt Nam giảm mạnh, chỉ còn 6,23% năm 2008 và đảo chiều từ lạm phát sang
giảm phát.
Nếu như đầu năm 2008, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao, trung
bình 6 tháng đầu năm là 2,86%/tháng – gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2007, thì đến
những tháng cuối năm 2008, tình hình hoàn toàn đảo ngược. Tính trung bình 6 tháng cuối
năm, CPI chỉ tăng 0,21%/tháng, chỉ bằng khoảng 1/13 tốc độ tăng bình quân trong 6
tháng đầu năm; đặc biệt là những tháng 10, 11, 12 chỉ số CPI là âm (Biểu 2.1.1). Tháng
1/2009, lạm phát ở mức 0.32% và tháng 2/2008 là 1.17% là do những tháng đó đúng vào
dịp tết âm lịch, nhu cầu mua hàng của người dân tăng đẩy giá hàng hóa tăng lên, nhưng
không nhiều. Tháng 3/2009, lạm phát trở lại là âm 0.17%. Tính cả quý I/2009 lạm phát so
với quý I/2008 là 14,47%. Tháng 4 và tháng 5 năm 2009 chỉ số này là 0,35% và 0,44%
Tình trạng thắt chặt tiêu dùng trong nước cũng khiến sức mua của thị trường nội
địa giảm. Bên cạnh đó, trường bất động sản gần như đóng băng, các giao dịch nhà đất
không được hoàn thành do thiếu vốn. Thị trường chứng khoán cũng giảm mạnh.
Biểu 2.2.1. Chỉ số lạm phát các tháng trong năm 2008 và những tháng đầu
năm 2009
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là:
Một mặt, với ý nghĩa tích cực là giảm lạm phát của Chính phủ trước đó, 8 nhóm
giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ đã phát huy tác dụng.
Mặt khác, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá của nhiều loại
hàng hóa, dịch vụ trên thế giới giảm mạnh. Việt Nam là nước nhập khẩu lớn và phụ thuộc
chặt chẽ vào giá cả thị trường thế giới. Những biến động giá cả thế giới ảnh hưởng rất lớn
đến giá cả trong nước, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế nước ta.
Trong thời điểm hiện nay, khó có thể đánh giá hết quy mô tác động của giảm phát đến
kinh tế Việt Nam và xu hướng phát triển của nó đến đâu; có thể đây chỉ là một bước thụt lùi
trong bối cảnh kinh tế thế giới đang suy thoái, nhưng nguy cơ lạm phát quay trở lại nếu không
áp dụng các biện pháp triệt để.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn biểu hiện những ảnh hưởng không nhỏ khác
của nó đến nền kinh tế Việt Nam như:
- Chịu tác động của khủng hoảng, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa dịch vụ
trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu chịu ảnh hưởng lớn
nhất. Nhiều doanh nghiệp thua lỗ, sản xuất kinh doanh trì trệ, các đơn hàng bị hủy bỏ
hoặc trì hoãn, dẫn đến thâm hụt thương mại lớn và có thể còn gia tăng.
- Đầu tư và các dòng vốn từ bên ngoài vào giảm biểu hiện là tốc độ thu hút đầu tư
của nước ta, cả vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp đều giảm. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh
tế vẫn đang tiếp diễn và trong năm 2009, tốc độ tăng trưởng của những nền kinh tế lớn, các
đối tác đầu tư như Mỹ, EU, Nhật sẽ tiếp tục suy thoái dẫn đến khả năng đầu tư giảm sút. Mặt
khác, sự cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư trực tiếp ngày càng mạnh mẽ; các
nhà đầu tư sẽ lựa chọn những môi trường đầu tư có hiệu quả sử dụng vốn tốt nhất. Trong khi,
năm 2008 độ tín nhiệm tín dụng của Việt Nam giảm xuống mức bất ổn, chỉ số giá tiêu dùng
tăng cao so với năm 2007. Một nguyên nhân nữa là, kể từ năm 2009, Việt Nam sẽ thực hiện
nhiều cam kết quốc tế đặc biệt là các cam kết khi gia nhập WTO, theo đó những chính sách
cũng thay đổi trong khi những hướng dẫn cụ thể cho nhà đầu tư thường chậm được thực
hiện, khiến cơ hội nhà đầu tư đồng hành cùng doanh nghiệp giảm xuống. Như vậy, khủng
hoảng tài chính tiền tệ thế giới đã , đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tình hình huy động và
giải ngân vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
- Sức cầu giảm cả trong tiêu dùng và trong sản xuất. Trong những tháng đầu năm,
do lạm phát cao, người tiêu dùng phải cắt giảm chi tiêu, sức tiêu thụ giảm. Các doanh
nghiệp vừa phải đối mặt với giá nguyên liệu đầu vào tăng, vừa phải đối mặt với sức mua
giảm, họ đã cắt giảm lượng và điều chỉnh giảm kế hoạch sản xuất kinh doanh. Khi khủng
hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, cùng với xu hướng giảm giá, nhu cầu cho sản xuất và
tiêu dùng đều giảm, làm giảm tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
- Hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam chưa hội nhập sâu vào hệ thống ngân
hang toàn cầu nên ít bị những tác động mạnh mẽ và trực tiếp. Hoạt động cho vay liên
ngân hàng bị hạn chế do các ngân hàng lo sợ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu; hoạt động cho vay tín dụng cũng đang chững lại bởi lý do trên. Hiện nay, hệ
thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu hoạt động trên 3 lĩnh vực: quan hệ tiền gửi, kinh
doanh ngoại tệ và thanh toán xuất nhập khẩu.
2.2.2. Tác động đến các vấn đề xã hội
Cũng tuân theo tình hình chung của thế giới, Việt Nam cũng rơi vào tình trạng thất
nghiệp cao. Do không bán được hàng, vòng quay vốn chậm nên các doanh nghiệp buộc
phải giảm giá với mong muốn tiêu thụ được hàng. Ngoài ra, các doanh nghiệp đồng thời
giảm sản lượng sản xuất, giảm tiền lương và cắt giảm mạnh nhân công. Cụ thể, trong
tháng 12/2008, tại các khu công nghiệp, nhiều doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sản xuất,
thậm chí là phá sản làm số lượng lao động thất nghiệp tăng lên. Tại khu công nghiệp Sài
Đồng B (Long Biên), Công ty đèn hình Orion – Hanel phá sản đã đẩy 1000 công nhân
lâm vào tình cảnh thất nghiệp; công ty Canon Việt Nam giảm khoảng 500 công nhân; tập
đoàn Grami đã giảm 30% lao động tại các đơn vị. Tình trạng trên cũng xảy ra tại nhiều
tập đoàn khác từ nhiều tháng nay.
Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì năm 2008 đã có khoảng 30000 lao
động mất việc và cũng cảnh báo năm 2009 tình trạng thất nghiệp sẽ còn tăng mạnh,
chiếm khoảng 0,65% trong tổng số lao động, tương đương khoảng 300000 người mất
việc làm.
2.3. Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ trước khủng hoảng
Xuất nhập khẩu rất quan trọng, quyết định sự thành công của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn là một nước
nhập siêu cao, có khi tình trạng đáng báo động.
2.3.1. Kim ngạch xuất - nhập khẩu

Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109217 triệu USD, gấp 3,5 lần so
với 31189 triệu USD của năm 2001(Hình 2.3.1). Trong giai đoạn 2001 - 2007, tốc độ
tăng trưởng xuất nhập khẩu không ổn định. Năm 2001, tăng trưởng xuất nhập khẩu chỉ
đạt 3,7% do tình tình kinh tế - chính trị thế giới biến động. Chỉ số này đã được cải thiện
vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm 2004-2005. Sau khi suy giảm nhẹ vào năm
2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao, đặc biệt năm 2007 là 28,9%, cao nhất
trong 7 năm của giai đoạn 2001–2007. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là
20,5%.

Có thể khẳng định, trong những năm qua, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta
tăng lên nhanh chóng. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ là 15 tỷ USD,
trên 20 tỷ USD năm 2003, 26,5 tỷ USD năm 2004, lên gần 32,5 tỷ USD năm 2005, lên
trên 39,8 tỷ USD trong năm 2006 và năm 2007 đạt 48,5 tỷ USD. Khi đó, kim ngạch xuất
khẩu bình quân đầu người cũng tăng lên 391 USD năm 2005, lên 473,2 USD năm 2006
và năm 2007 đạt 557 USD
Hình 2.3.1. Kim ngạch xuất - nhập khẩu và cán cân thương mại giai đoạn
2001 – 2007
Đơn vị tính: Triệu USD




Nguồn: Niên giám thống kê
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của kim ngạch xuất nhập khẩu, tỷ lệ kim ngạch
xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 30,8% năm 1990 lên 46,5% năm 2000, lên
61,3% năm 2005, lên 65% năm 2006 và 67% năm 2007 - thuộc loại cao so với các nước
(đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ở châu Á và thứ 8 trên thế giới).
Về nhập khẩu, quy mô nhập khẩu ngày càng lớn, năm sau sao hơn năm trước. Kim
ngạch nhập khẩu năm 2007 là 60656 triệu USD. Nhập khẩu nhiều, về cơ bản đáp ứng
nhu cầu máy móc thiết bị, vật tư và nguyên nhiên liệu cũng như hàng tiêu dùng thiết yếu
cho phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Khu vực có vấn đầu tư nước ngoài
ngày càng có vai trò quan trọng trong nhập khẩu hàng hóa nhất là nhập khẩu máy móc
thiết bị và công nghệ hiện đại.
 Tình trạng nhập siêu:
Nhập siêu xảy ra liên tục và có chiều hướng gia tăng dần. Ngoại trừ một số năm
đặc biệt có giá trị nhập siêu giảm nhẹ, các năm còn lại giá trị nhập siêu tăng liên tục, đặc
biệt năm 2007 tăng hơn 2,5 lần so với 2006 và ở mức 12095 triệu USD. Đây là mức tăng
kỉ lục trong thời gian qua. Tỉ lệ nhập siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 cũng
cao kỉ lục: 25,82%, cao nhất trong những năm trở lại đây.
2.3.2. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu
Hình 2.3.2.1. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2007
Đơn vị: %




Nguồn: Tổng cục Thống kê
Cơ cấu hàng xuất khẩu khá ổn định trong những năm gần đây, nhóm hàng chế
biến, chế tạo và nhóm hàng có công nghệ và chất xám tăng, nhóm hàng thô chế có tỷ
trọng giảm. Nhóm hàng Công nghiệp nhẹ và Tiểu thủ công nghiệp gia tăng nhanh về giá
trị và chiếm vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu quốc gia. Vai trò của
nhóm hàng nông, lâm thủy sản giảm đáng kể. Năm 2007, hàng công nghiệp nặng và
khoáng sản chiếm tỷ trọng 35,01%, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiế m
41,93% và hàng nông, lâm, thủy sản chiếm 23,06%. Sự chuyển dịch tích cực có được do
cơ cấu từng mặt hàng cụ thể đang thay đổi, xuất khẩu có xu hướng tăng các hàng có giá
trị lớn như dệt may thay vì các hàng giá rẻ.
Hình 2.3.2.2. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2007
Đơn vị: %




Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong những năm gần đây, cơ cấu hàng nhập khẩu có sự chuyển dịch tích cực theo
hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu, giảm tỉ trọng hai nhóm hàng
máy móc, thiết bị và hàng tiêu dùng. Trong giai đoạn 2001-2006 tốc độ tăng trưởng bình
quân 3 nhóm hàng: máy móc, thiết bị, phụ tùng; nguyên nhiên vật liệu và hàng tiêu dùng
lần lượt là 17,4%; 25,9% và 19,3%.
Tóm lại, sự chuyển dịch cơ cấu nhóm hàng xuất nhập khẩu có xu hướng tích cực
nhưng còn biến chuyển rất chậm. Từ 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
của WTO nhưng sự chuyển biến về cơ cấu mặt hàng không có gì tạo đột biến như kỳ
vọng. Nếu chúng ta không có cải cách cơ cấu trong dài hạn thì sẽ rất khó khăn trong việc
tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, đặc biệt khi chúng ta đã gia nhập WTO và phải thực hiện
các cam kết khi gia nhập.
2.3.3. Thị trường xuất nhập khẩu
Sự tăng tốc của xuất khẩu của Việt Nam do nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân quan trọng là do mở rộng thị trường xuất khẩu. Trong những năm qua, Việt
Nam đã mở rộng thị trường cả nhập khẩu và xuất khẩu.
Trong mười năm qua, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ nước ta đã
tăng lên nhanh chóng. Các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là:
Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia…
Bảng 2.3.3.1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2007
Đơn vị: %
1986 đến 1991 đến 1996 đến 2001 đến 2006 2007
Chỉ tiêu
1990 1995 2000 2005
Châu Á 30,4 73,1 61,9 50,9 47,3 46,2
Châu Âu 51,7 15,6 23,9 20,7 19,2 21,6
Châu Mỹ 1,0 2,6 5,9 18,9 22,9 23,3
Châu Phi 0,1 0,6 0,8 1,4 1,7 0,8
Châu Đại dương 0,3 1,1 5,7 7,6 8,9 8,1


Nguồn: Niên giám thống kê
Định hướng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩu
sang các nước châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước châu Á.
Trước đổi mới, Việt Nam chủ yếu có quan hệ buôn bán với các nước trong hệ
thống xã hội chủ nghĩa cũ và một số nước bạn bè có cảm tình với Việt Nam. Từ sau đổi
mới, đặc biệt là từ sau khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, số nước và vùng
lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam cũng như nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam bước đầu được
mở rộng. Nhưng do Việt Nam còn là nền kinh tế thiếu hụt, lại vẫn còn bị bao vây cấ m
vận, nên số nước và vùng lãnh thổ đầu tư này vẫn còn rất ít và quy mô xuất khẩu của Việt
Nam cũng còn rất nhỏ bé.
Từ năm 1995, sau khi Mỹ bỏ cấm vận, giữa Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ
bình thường, Việt Nam gia nhập Hiệp hội Các nước Đông Nam Á, số nước và vùng lãnh
thổ nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam đã tăng nhanh. Trong giai đoạn 2001-2007, kim
ngạch xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu
vào EU tăng 2,8 lần, vào Nhật tăng 2,3 lần và vào ASEAN tăng 2,8 lần. Đáng chú ý nhất
là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Nếu như năm 2001, giá trị xuất khẩu sang
thị trường lớn nhất thế giới này chỉ là 1065,3 triệu USD, thì đến năm 2007, kim ngạch
xuất khẩu đạt 10,54 tỷ USD, xấp xỉ 10 lần năm 2001. Kết quả này có được là nhờ Hiệp
định Thương mại Việt-Mỹ kí kết vào năm 2000 và có hiệu lực vào cuối năm 2001 khi
Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007. Hầu hết
các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đã nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam. Cũng vì thế
mà kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng lên nhanh chóng.
Có khoảng 200 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam, trong đó
số đạt trên 100 triệu USD có 28, số đạt trên 500 triệu USD có 16, số đạt trên 1 tỷ USD có
7, đứng đầu là Mỹ, tiếp đến là Nhật Bản, CHND Trung Hoa, Australia, Singapore, Đức,
Malaysia, Anh.
Như vậy, bên cạnh việc mở rộng thị trường, theo phương châm đa dạng hoá, đa
phương hoá, việc xác định các thị trường trọng điểm là hết sức cần thiết để giảm chi phí
vận chuyển, tiếp thị quảng cáo...
Tuy nhiên, việc xuất hoặc nhập khẩu nhiều mặt hàng ở cùng một quốc gia cũng là
điều nên tránh. Việc mở rộng thị trường còn là để tăng lượng tiêu thụ, phòng tránh
những rủi ro khi xảy ra ở một thị trường nào đó (chẳng hạn như việc kiện bán phá giá).
Có thể phân chia thị trường xuất khẩu của Việt Nam ra làm 3 nhóm chính: thị
trường truyền thống, thị trường tiềm năng, thị trường mới. Ở một số thị trường thì kim
ngạch nhập khẩu từ Việt Nam còn thấp, như Indonesia, Mông Cổ, các nước Trung Nam
Á, (kể cả Ấn Độ), các nước xã hội chủ nghĩa cũ, các nước Mỹ La tinh, các nước châu
Phi, các nước Châu Đại Dương (trừ Australia là thị trường lớn).
Trong hơn 200 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với Việt Nam, thì:
Việt Nam đã có vị thế xuất siêu đối với 159 nước và vùng lãnh thổ, trong đó xuất siêu lớn
là Mỹ, Australia, Anh, Philippines, Đức, Bỉ,..
Việt Nam còn ở vị thế nhập siêu đối với 47 nước và vùng lãnh thổ, trong đó nhiều
nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Ấn
Độ, Kuwait,..
Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung
Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông. Năm
2001, Việt Nam nhập khẩu đến 73,7% hàng hóa từ các nước trên; đến 11 tháng đầu năm
2007, con số này là 76,3%. Trong chính sách về cơ cấu thị trường nhập khẩu, định hướng
đưa ra là giảm tỷ trọng nhập khẩu từ các nước châu Á xuống còn 55% vào năm 2010.
Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kì 2001-2010 còn đề cập tới việc gia tăng nhập
khẩu từ các thị trường công nghệ nguồn như Mỹ, EU, Nhật Bản lên 40% vào năm 2010.
Tuy nhiên, đến thời điểm này có thể thấy mục tiêu này hoàn toàn không khả thi.
Bảng 2.3.3.2. Cơ cấu thị trường nhập khẩu hàng hóa
của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2007
Đơn vị: Triệu USD
1986 đến 1991 đến 1996 đến 2001 đến 2006 2007
Chỉ tiêu
1990 1995 2000 2005

Châu Á 15,6 70,5 79,4 79,5 79,3 78,7

Châu Âu 72,8 17,2 13,5 13,3 12,8 12,5

Châu Mỹ 0,4 1,4 3,1 4,5 4,7 4,6

Châu Phi 0,0 0,1 0,2 0,5 0,7 1,2

Châu Đại dương 0,4 1,0 2,1 1,8 2,5 3,0



Nguồn: Niên giám thống kê
Theo đó, thì nhập siêu của Việt Nam chủ yếu là ở các thị trường gần, chưa phải là
nơi có công nghệ nguồn; còn xuất siêu của Việt Nam lại chủ yếu là ở các thị trường xa,
thị trường có công nghệ nguồn.
Tóm lại, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam tuy còn tồn tại một số hạn chế
cần được khắc phục kịp thời như: thị trường xuất khẩu chưa đa dạng, cơ cấu xuất nhập
khẩu chậm biến đổi, hiện tượng nhập siêu… nhưng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt
Nam thực sự đã vượt nhiều khó khăn và đạt được những thành tựu to lớn.
2.4. Đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến xuất nhập khẩu của
Việt Nam
Việt Nam là nước có kim ngạch xuất - nhập khẩu chiếm khoảng 170-180% giá trị
GDP, vốn nước ngoài chiếm tới hơn 30% tổng số vốn của xã hội nên khi khủng hoảng
kinh tế xảy ra thì kinh tế Việt Nam mói chung và xuất nhập khẩu nói riêng đã chịu ảnh
hưởng không nhỏ.
2.4.1. Ảnh hưởng đến kim ngạch xuất - nhập khẩu
Hình 2.4.1. Kim ngạch xuất – nhập khẩu và cân đối
Đơn vị tính: Triệu USD
7000

6000

5000

4000

3000

2000

840
1000
400
390

0
-32
-237
-258
-432 -500
-1000
-1200
-1500
-2000
tháng tháng tháng tháng tháng tháng tháng tháng tháng tháng
8/08 9/08 10/08 11/08 12/08 01/09 02/09 3/09 4/09 5/09
KNXK 6018 5274 5044 4219 4900 3719 5028 4700 4200 4400
KNNK 6276 5511 5076 4651 5400 3329 4188 4300 5400 5900
CĐ -258 -237 -32 -432 -500 390 840 400 -1200 -1500

Nguồn: Tổng cục thống kê
2.4.1.1. Kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm mạnh
Vì đơn đặt hàng sẽ ít đi do bạn hàng giảm nhập khẩu bởi những khó khăn về tài
chính - kinh tế ở nước họ, hàng đã giao thanh toán chậm, có một số thị trường đề nghị lùi
lại thời gian giao hàng. Mặt khác, nhu cầu của người tiêu dùng giảm, giá cả các mặt hàng
chủ lực cho xuất khẩu giảm nên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm xuống đáng kể
(Hình 2.4.1)

Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 12/2008 đạt 4,9 tỷ USD, tăng 16,2% so với
tháng 11/2008 chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác tăng, nhu cầu tiêu dùng hàng dệt
may mạnh hơn vào tháng cuối năm và lượng gạo xuất khẩu đã tăng trở lại. Tính chung cả
năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 ;
trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%,
đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ
USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3%.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 01/2009 đạt gần 3,8 tỷ USD, giảm 18,6% so
với tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do sự giảm giá xuất
khẩu của nhiều mặt hàng cũng như nhu cầu nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam của một số
thị trường quan trọng giảm sút như: Mỹ, EU, Nhật Bản. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu
của khu vực kinh tế trong nước đạt 1,7 tỷ USD, giảm 21,9% so với tháng 01/2008; khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 13,7%.

Tháng 2/2009 có sự biến động mạnh về xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh,
lên hơn 5 tỷ USD là do nước ta thực hiện xuất khẩu vàng miếng

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 3/2009 đạt 4,7 tỷ USD, giảm 6,5% so với
tháng trước và giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2009, kim ngạch
hàng hóa xuất khẩu đạt 13,5 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu
vực kinh tế trong nước đạt 7,6 tỷ USD, tăng 40,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
(trừ dầu thô) đạt 4,5 tỷ USD, giảm 13%. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I/2009 tăng
chủ yếu do tái xuất vàng 2,3 tỷ USD (Nếu không tính lượng vàng xuất khẩu thì kim
ngạch hàng hoá xuất khẩu quý I/2009 đạt 11,2 tỷ USD, giảm 15% so với cùng kỳ năm
trước). Tháng 4 và tháng 5 kim ngạch xuất khẩu ở mức thấp, khoảng 4,2 tỷ USD và 4,4
tỷ USD.

2.4.1.2. Về nhập khẩu
Việt Nam nhập khẩu tới 70-80% nguyên liệu để làm hàng xuất khẩu. Do xuất khẩu
giảm dẫn đến giá nhập khẩu các nguyên liệu cũng giảm theo do nhu cầu trong nước ít đi.
Kim ngạch nhập khẩu giảm 7,1% (11/2008); 27,6% (1/2009) và giảm 44,8% so với cùng
kỳ năm trước – giảm mạnh hơn xuất khẩu (24,2%). Sự sụt giảm diễn ra ở cả khu vực
trong nước (giảm 46,4%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (giảm 41,1%). Điều này
cũng gây ảnh hưởng đến cơ cấu hàng xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam: cơ cấu hàng
qua chế biến giảm, hàng thô tăng.
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 12/2008 đạt 5,4 tỷ USD, tăng 16,1% so với
tháng trước do một số mặt hàng nhập khẩu tháng này tăng mạnh là: Máy móc thiết bị tăng
272 triệu USD; xăng dầu tăng 78 triệu USD; thức ăn gia súc tăng 53 triệu USD; sắt, thép
tăng 182 triệu USD. So với tháng 12/2007, kim ngạch nhập khẩu tháng 12 năm nay giảm
25%. Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu khoảng 80,4 tỷ USD, tăng
28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%;
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Trong tổng kim ngạch hàng
hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuất chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng
chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ trọng của 03 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%).
Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm 2008 chỉ tăng
28,3% so với năm 2007.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 01/2009 đạt 3,3 tỷ USD, giảm 55,2% so với
cùng kỳ năm trước và giảm 18,8% so với số liệu đã ước tính do giảm nhập khẩu một số
mặt hàng liên quan đến đầu tư và sả n xuất hàng công nghiệp như: Máy móc thiết bị;
hàng điện tử, máy tính và linh kiện; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép; thức ăn gia súc...
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 02/2009 đạt 4,4 tỷ USD, tăng 32,1% so với tháng
trước và giảm 28,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2009, kim
ngạch hàng hóanhập khẩu đạt 7,7 tỷ USD, giảm 43,1% so với cùng kỳ năm trước, bao
gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 4,9 tỷ USD, giảm 48,7%; khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài đạt 2,8 tỷ USD, giảm 29,8%.

Một số nguyên nhân dẫn tới giảm kim ngạch nhập khẩu trong tháng 1 và tháng
2/2009 là do giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới giảm mạnh so với năm 2008 : giá
xăng dầu giảm 56,2%, chất dẻo giảm 33,7%, sợi dệt giảm 29,2%, sắt thép giảm 9,4%...
Nếu nhìn vào danh sách thống kê các loại hàng hóa nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng
phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước thì nhìn chung giá đều giảm so với cùng kỳ
năm 2008.

Sự sa sút về kim ngạch nhập khẩu ngay từ những tháng đầu năm là một dấu hiệu
báo động cho tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trong nước ngày càng khó khăn.
Tính đến tháng 1/2009 là tháng thứ 8 liên tiếp nhập siêu ở mức dưới 1 tỷ USD. Nhất là,
so với các chỉ tiêu về xuất khẩu mà ngành công thương đề ra năm nay đạt khoảng 91 tỷ
USD, tăng 9,6% so với năm 2008, trong đó nhập siêu ở mức 18,68 tỷ USD, chiếm
khoảng 25,8% kim ngạch xuất khẩu.

Đối với các hợp đồng nhập khẩu máy móc thiết bị, các nguyên liệu dành cho đầu
tư và sản xuất xuất khẩu thì chưa bao giờ bị liệt vào danh sách hạn chế nhập khẩu. Trong
bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, nếu các doanh nghiệp vẫn
duy trì được nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu về cho sản xuất xuất khẩu là điều đáng khích
lệ. Ngược lại việc giảm sút hàng loạt các loại hàng hóa thuộc nhóm này chính là hệ lụy
lớn báo hiệu sự mất ổn định trong sản xuất của các doanh nghiệp trong nước.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 3/2009 đạt 4,3 tỷ USD, tăng 2,7% so với
tháng trước và giảm 46,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung kim ngạch hàng hóa
nhập khẩu quý I/2009 đạt khoảng 11,8 tỷ USD, giảm 45% so với cùng kỳ năm trước, bao
gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 7,5 tỷ USD, giảm 50,4%; khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài đạt 4,3 tỷ USD, giảm 32,4%.

Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng trong quý I/2009 đều giảm so với
cùng kỳ năm trước do cả lượng và giá nhập khẩu đều giảm. Sự suy giảm nhập khẩu tháng
4 và tháng 5 năm 2009 bắt đầu có sự chững lại. kim ngạch nhập khẩu tháng 4 và tháng 5
lần lượt ở mức 5,4 và 5,9 tỷ USD.

Với tình hình như hiện nay thì hoạt động nhập khẩu cũng chưa thể tăng cao đột
ngột trong thời gian tới. Chỉ khi các doanh nghiệp có nhu cầu về nguyên liệu dành cho
sản xuất, hoạt động nhập khẩu mới có cơ hội khôi phục trở lại. Các giải pháp tháo gỡ khó
khăn mà chính phủ, các ngân hàng, bộ chức năng đưa ra cần có thời gian thì mới phát
huy hết tác dụng. Dự báo 6 tháng cuối năm tình hình mới được cải thiện đáng kể.




2.4.2. Ảnh hưởng đến cơ cấu mặt hàng xuất - nhập khẩu
2.4.2.1. Cơ cấu hàng xuất khẩu
So với năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng năm 2008
đều tăng, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng. Xuất khẩu dầu thô đạt 13,9 triệu
tấn, tương đương 10,5 tỷ USD, tuy giảm 7,7% về lượng nhưng tăng 23,1% về kim ngạch
so với năm trước do giá dầu tăng cao trong những tháng giữa năm. Hàng dệt may đạt 9,1
tỷ USD, tăng 17,5% so với năm 2007; trong đó Hoa Kỳ vẫn là bạn hàng lớn nhất về hàng
dệt may với 5,1 tỷ USD, tăng 14,2% so với năm 2007; tiếp đến là EU 1,7 tỷ USD, tăng
13,8%; Nhật Bản 810 triệu USD, tăng 15,9%.

Kim ngạch xuất khẩu giày dép năm 2008 đạt 4,7 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm
trước, trong đó hai thị trường EU và Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng trên 74% tổng kim ngạch
xuất khẩu giày dép. Thủy sản đạt 4,6 tỷ USD, tăng 21,2% so với năm 2007. Thị trường
EU vẫn là thị trường chính nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam, đạt 1,2 tỷ USD, tăng
26,5% so với năm 2007; tiếp theo là Nhật Bản đạt 850 triệu USD, tăng 12,8%; Hoa Kỳ
760 triệu USD, tăng 4,3%; Hàn Quốc 310 triệu USD, tăng 12,7%. Xuất khẩu gạo năm
2008 ước tính đạt 4,7 triệu tấn, đạt 2,9 tỷ USD, tuy chỉ tăng 3,6% về lượng nhưng tăng
94,8% về kim ngạch so với năm trước, do có mức tăng kỷ lục về giá xuất khẩu trong năm
qua.
Năm 2008 có 8 nhóm hàng/mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD là: Dầu
thô 10,5 tỷ USD; hàng dệt may 9,1 tỷ USD; giày, dép 4,7 tỷ USD; thuỷ sản 4,6 tỷ USD;
gạo 2,9 tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,8 tỷ USD; điện tử, máy tính 2,7 tỷ USD; cà phê 2 tỷ
USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2007 là gạo và cà phê. Tuy kim ngạch hàng hoá xuất
khẩu năm 2008 tăng khá cao so với năm 2007 nhưng nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt, thép,
vàng và yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo, cà phê, cao su, hạt
tiêu, hạt điều, chè) thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ tăng 13,5%.
Từ những tháng cuối của năm 2008 và bước sang năm 2009, do chịu ảnh hưởng
nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam như dệt may, dầu thô, điều, hải sản, cà phê, cơ khí, điện tử... đều có mức tăng
trưởng rất thấp và đang đi xuống.
Tháng 1/2009, kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều giảm so với cùng
kỳ năm 2008, trong đó hàng dệt, may đạt 550 triệu USD, giảm 33,2%; dầu thô đạt 424 triệu
USD, tương đương 1,4 triệu tấn, tuy tăng 12,4% về lượng nhưng giảm 52,4% về kim ngạch
do giá xuất khẩu dầu thô giảm 57,7%; giày dép đạt 350 triệu USD, giảm 26%; thủy sản đạt
250 triệu USD, giảm 18,6%; cà phê đạt 217 triệu USD, giảm 30,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt
200 triệu USD, giảm 31,8%. Bên cạnh những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm, kim
ngạch xuất khẩu gạo đạt 130 triệu USD, gấp 2,5 lần tháng 01/2008 (lượng gấp 2,3 lần).

Trong 2 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng tăng thấp
hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu như: Giá thế giới
giảm, một số doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn trong khâu thanh toán, nhu cầu tiêu
thụ tại một số thị trường giảm sút. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 2 tháng đầu năm
2009 đạt 1,3 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2008; dầu thô đạt 958 triệu USD,
giảm 42,4% (tăng 26,7% về lượng); giày dép đạt 658 triệu USD, giảm 7,3%; thủy sản đạt
461 triệu USD, giảm 5,8%; cà phê đạt 440 triệu USD, giảm 9,6% (tăng 10,8% về lượng);
gỗ và sản phẩm gỗ đạt 327 triệu USD, giảm 26,3%; hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt
307 triệu USD, giảm 13,7%. Riêng xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm đạt tốc độ tăng cao cả
về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng đạt 919 nghìn tấn, tăng
103,6%; kim ngạch đạt 399 triệu USD, tăng 113,2%. Nếu 8 mặt hàng (Hạt điều, cà phê,
chè, hạt tiêu, gạo, than đá, dầu thô, cao su) được tính theo giá bình quân 2 tháng đầu năm
2008 thì kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2009 tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý I/2009, một số mặt hàng nông sản vẫn đạt mức xuất khẩu tăng cao so
với quý I/2008 như: Gạo đạt 1,7 triệu tấn, tăng 71,3% và kim ngạch đạt 785 triệu USD,
tăng 76,2%; hạt tiêu tăng 64,5% về lượng và tăng 15,5% về kim ngạch; chè tăng 10,2%
về lượng và tăng 10,5% về kim ngạch; rau quả tăng 2,6% về kim ngạch; cà phê tuy giả m
7,1 về kim ngạch do giá giảm nhưng tăng 21,4% về lượng. Ngoài các mặt hàng nông sản,
hầu hết các mặt hàng xuất khẩu khác đều có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước,
trong đó hàng dệt may đạt 1,9 tỷ USD, giảm 0,1%; giày dép đạt 915 triệu USD, giảm
10,8%; thủy sản đạt 714 triệu USD, giảm 10,4%; cà phê đạt 634 triệu USD, giảm 7,1%;
gỗ và sản phẩm gỗ đạt 527 triệu USD, giảm 22,9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 496
triệu USD, giảm 12,8%; than đá đạt 262 triệu USD, giảm 1,4%; dầu thô tuy đạt 4,3 triệu
tấn, tăng 22,4% về lượng nhưng kim ngạch chỉ đạt 1,4 tỷ USD, giảm 45,5% do giá bình
quân giảm 55%.




Hình 2.4.2.1. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
(phân loại theo SITC)
Đơn vị tính : %
100%
90%
80%
70%
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
T10/0 T11/0 T12/0 T01/0 T02/0
T8/08 T9/08 T3/09 T4/09 T5/09
8 8 8 9 9
hàng thô 68.84 68.05 63.36 60.49 62.65 66.44 68.34 65.64 65.22 64.98
hàng qua chế biến 31.16 31.95 36.64 39.51 37.35 33.56 31.66 34.36 34.78 35.02

Nguồn: Tổng cục thống kê
Phân loại theo SITC cho thấy: tỷ trọng hàng chế biến tăng giảm không theo xu
hướng nhất định, tháng 8 năm 2008 hàng qua chế biến chiếm khoảng 31%, tăng dần lên
đến hơn 39% ở tháng 11 năm 2008, sau đó lại giảm dần xuống, tháng 1 năm 2009 là 33%,
tháng 2 năm 2009 chiếm gần 32% và tăng trở lại vào tháng 4 lớn hơn tháng 3 và ở mức
gần 35%. Nhóm hàng này có xu hướng tăng, tỷ trọng nhóm hàng thô có xu hướng giả m
xuống phù hợp với xu thế của sự phát triển.
2.4.2.2. Cơ cấu hàng nhập khẩu
Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản
xuất trong nước năm 2008 đều tăng so với năm 2007. Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu
cho sản xuất những tháng cuối năm 2008 có xu hướng giảm nhiều, đây là một trong
những dấu hiệu xấu báo hiệu sự chững lại trong đầu tư và sản xuất. Trong khi đó, kim
ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng có tăng vào các tháng cuối năm 2008 cho thấy hàng tiêu
dùng nước ngoài đang tạo sức ép lớn lên hàng tiêu dùng của Việt Nam ngay tại thị trường
trong nước. Năm 2008, nhập khẩu ô tô đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô
nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc,
tương đương 380 triệu USD). Nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng khác (trừ ô tô và
máy tính, điện tử) ước tính đạt 13,7 tỷ USD, tăng 23,3% so với năm 2007. Nhập khẩu
xăng dầu đạt 12,9 triệu tấn, tăng 0,1% so với 2007, tương ứng với kim ngạch 10,9 tỷ
USD, tăng 41,2%. Sắt thép đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,5%. Vải và nguyên phụ liệu dệt may
là những mặt hàng phục vụ chủ yếu cho sản xuất hàng xuất khẩu vẫn đạt kim ngạch cao
với 6,8 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2007. Hàng điện tử máy tính và linh kiện đạt 3,7
tỷ USD, tăng 25,8% so với năm trước, đây là nhóm hàng không chỉ gắn với tiêu dùng
trong nước mà còn liên quan tới gia công, lắp ráp để xuất khẩu.
Đến 01/2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế, kim ngạch nhập khẩu của
hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước nhìn chung đều giảm so
với cùng kỳ năm 2008. Trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1 tỷ USD, giảm
19,5%; xăng dầu đạt 244 triệu USD, giảm 75,2%; vải đạt 230 triệu USD, giảm 20,6%;
hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 200 triệu USD, giảm 45,1%; sắt thép đạt 155 triệu
USD, giảm 82,3%; chất dẻo đạt 130 triệu USD, giảm 53%; nguyên phụ liệu dệt, may, da
đạt 110 triệu USD, giảm 35,9%. Nguyên nhân chủ yếu tác động đến kim ngạch hàng hoá
nhập khẩu tháng 1/2009 giảm là do giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới giảm mạnh
so với cùng kỳ năm 2008, trong đó giá xăng dầu giảm 56,2%; giá chất dẻo giảm 33,7%;
sợi dệt giảm 29,2%; sắt thép giảm 9,4%.
Tháng 2/2009, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu trong 2 tháng đầu năm nay đều
giảm về lượng, bên cạnh đó giá thế giới giảm mạnh dẫn đến kim ngạch hàng hoá nhập
khẩu giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng
đạt 1,8 tỷ USD, giảm 24%; xăng dầu đạt 753 triệu USD, giảm 60% (giảm 26,2% về lượng
và giá giảm 46%); vải đạt 494 triệu USD, giảm 4,4%; điện tử máy tính và linh kiện đạt
420 triệu USD, giảm 30,1%; sắt thép đạt 412 triệu USD, giảm 74,2% (giảm 69,7% về
lượng và giá giảm 20%); chất dẻo đạt 312 triệu USD, giảm 34,4%; nguyên phụ liệu dệt,
may, giày dép đạt 219 triệu USD, giảm 27,1%; hóa chất đạt 174 triệu USD, giảm 41,6%;
phân bón đạt 169 triệu USD, giảm 22,3% về lượng và giảm 33,7% về kim ngạch; số
lượng ô tô nguyên chiếc giảm 75,3%. Nếu các mặt hàng chủ yếu được tính theo giá bình
quân 2 tháng đầu năm 2008 thì kim ngạch nhập khẩu 2 tháng đầu năm 2009 chỉ giảm 9%
so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung cho quý I/2009 kim ngạch hầu hết các mặt hàng đều giảm so với cùng
kỳ năm trước do cả lượng và giá nhập khẩu đều giảm. Kim ngạch nhập khẩu máy móc
thiết bị, dụng cụ phụ tùng quý I/2009 đạt 2,4 tỷ USD, giảm 30,2% so với cùng kỳ năm
trước; xăng dầu giảm 17,7% về lượng và giảm 60,2% về kim ngạch; sắt thép giảm 65%
về lượng và giảm 71% về kim ngạch; phân bón giảm 16,5% về lượng và giảm 33,8% về
kim ngạch; sợi dệt giảm 7,2% về lượng và giảm 28,7% về kim ngạch; ô tô nguyên chiếc
giảm 71,2% về lượng và giảm 72,4% về kim ngạch; xe máy nguyên chiếc giảm 50,7% về
lượng và giảm 34,7% về kim ngạch.




Hình 2.4.2.2. Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam
(phân loại theo nhóm hàng)
Đơn vị tính : %
Nguồn: Tổng cục thống kê

Phân loại theo nhóm hàng cho thấy nhóm hàng tiêu dung ít chịu tác động của
khủng hoảng, phần trăm tương ứng hầu như không đổi theo các tháng. Nhóm hàng
nguyên, nhiên, vật liệu tháng 9 năm 2008 tăng đột biến về tỷ trọng, từ gần 50% lên hơn
72%. Các tháng tiếp theo hơi giảm xuống do nhu cầu về hàng tiêu dùng tăng nhẹ, tính đến
tháng 1 năm 2009 là hơn 64% và lại tăng trở lại vào tháng 2 ở mức gần 71%, tháng 3
năm 2009 là hơn 69%, tháng 4 là hơn 70%. Nhìn chung nhóm hàng nguyên nhiên vật
liệu có xu hướng tăng, nhóm hàng máy móc thiết bị giảm chút ít. Hàng tiêu dùng hầu như
không có biến động.
2.4.3. Ảnh hưởng đến cán cân thương mại
Tâm điểm của cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra tại Mỹ, rồi lan sang EU, Nhật
Bản; đó cũng chính là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Do vậy, không
thể tránh khỏi khả năng thâm hụt thương mại ở Việt Nam sẽ tiếp tục ở mức cao.
Trong bối cảnh các doanh nghiệp của Việt Nam chịu sức ép về giá ngày càng
mạnh hơn do giá nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên vật liệu, hàng hóa liên tục giảm:
xăng dầu giảm 12%, thiết bị giảm 8,5%, vải giảm 7,5%, chất dẻo giảm 10,2%, sắt, thép
giảm 5,2%... Trước đây, khi giá cả thế giới leo thang, các doanh nghiệp Việt Nam phải
chịu “nhập khẩu lạm phát” hàng hóa, nguyên vật liệu, thì hiện nay là “nhập khẩu giả m
phát”. Một mặt doanh nghiệp phải chịu mức lãi suất vay vốn cao do vay để mua nguyên
liệu đầu vào giá cao từ trước đó, mặt khác lại phải giảm giá hàng hóa để cạnh tranh tiêu
thụ sản phẩm nếu không muốn bị mất thị phần. Do vậy rất dễ rơi vào tình trạng phá sản.
Mặc dù dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá nhiều mặt hàng
nhập khẩu trong những tháng qua đã giảm, Việt Nam vẫn là một nước nhập siêu. Nhập
siêu hàng hóa năm 2008 vẫn lên tới 17,5 tỷ USD. Điều này cho thấy, nếu xuất khẩu tiếp
tục suy giảm thì bất chấp giá hàng hóa nhập khẩu giảm, nhập siêu vẫn tăng lên
Một thực tế là, nhiều ngành sản xuất của Việt Nam bấy lâu nay chỉ chú trọng xuất
khẩu và để thị trường trong nước cho hàng nhập khẩu chiếm lĩnh như điện, điện tử, dệt
may, da giày… Khi xảy ra khủng hoảng tài chính, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, các
doanh nghiệp Việt Nam mới nghĩ đến việc chiếm lĩnh thị trường trong nước. Việc quay
trở lại chiếm lĩnh thị trường nội địa là vô cùng khó khăn do khả năng PR, quảng cáo của
hàng Việt Nam còn yếu kém, nhiều hạn chế. Mặt khác, chúng ta nằm ngay cạnh công
xưởng gia công hàng hóa khổng lồ của thế giới là Trung Quốc, và khả năng hàng hóa
trong nước khó có thể cạnh tranh được với hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc, một phần đã
đi sâu vào thói quen tiêu dùng của người Việt Nam.
Những tháng đầu năm 2009 cán cân thương mại hoàn toàn bị đảo ngược từ nhập
siêu sang xuất siêu. Tháng 01/2009 là tháng đầu tiên xuất siêu kể từ tháng 01/2006 với
mức xuất siêu đạt 390 triệu USD, tháng 02/2009 xuất siêu tăng vọt lên đến 840 trệu USD.
Xuất siêu tháng 3 là 400 triệu USD, bằng 8,5% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Tính
chung quý I/2009, xuất siêu 1,6 tỷ USD, bằng 12,2% tổng kim ngạch xuất khẩu (Nếu loại
trừ kim ngạch tái xuất vàng thì quý I/2009 nhập siêu 640 triệu USD, bằng 5,7% tổng kim
ngạch xuất khẩu)

Cán cân thương mại quý I/2009 không u ám như dự báo, tuy nhiên kết quả này lại
chính là nỗ lực của việc xuất khẩu vàng miếng. Theo số liệu thống kê, xuất khẩu nhóm
hàng kim loại quý, đá quý và các sản phẩm có liên quan trong tháng 2/2008 không đáng
kể, chỉ vào13 triệu USD. Thế nhưng, tháng 2/2009 tình hình đã khác hẳn. Kim ngạch
xuất khẩu loại hàng này lên đến 800 triệu USD. Tính chung hai tháng đầu năm, kim
ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đạt khoảng 939 triệu USD, bằng 3.152,6% cùng kỳ
năm trước. Nếu loại trừ phần xuất khẩu vàng ra khỏi kim ngạch xuất khẩu của cả nước
thì trong 2 tháng đầu năm nay, nước ta sẽ nhập siêu tới 617 triệu USD, chứ không phải
xuất siêu hơn 300 triệu USD như đã công bố. Tháng 4 và tháng 5 lại trở về nhập siêu lớn
ở mức 900 và 1500 triệu USD. Nguyên nhân nhập siêu trở lại là do 2 tháng qua, hiện
tượng suy giảm nhập khẩu đã bắt đầu chững lại, còn xuất khẩu vẫn càng ngày càng đi
xuống.

Tóm lại, dưới tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì kim ngạch xuất khẩu
vẫn rơi vào tình trạng giảm mạnh và kim ngạch nhập khẩu giảm chậm là nguy cơ khiến
cán cân thương mại của nước ta tiếp tục nghiêng sang thế nhập siêu. Cơ cấu ngành hàng
cũng có sự biến động, nhóm hàng thô tăng, hàng qua chế biến có xu hướng giảm. Theo
đó cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
2.4.4. Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
Thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng ít, do các nước Việt
Nam có quan hệ thương mại chính lại là những nước chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng
kinh tế toàn cầu.
 Thị trường xuất khẩu:
Theo thống kê, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh ở
các thị trường châu Á (40%), châu Phi và Tây Nam Á (33%), nhưng tăng chậm lại đối
với châu Mỹ (23%), châu Âu (13%) và châu Đại Dương (khoảng 11,6%), chủ yếu do
chịu tác động từ cuộc khủng hoảng thị trường nhà đất tại Mỹ và kinh tế châu Âu đi
xuống. Về cơ bản, cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 được dự báo sẽ
phân chia như sau:
- Khu vực thị trường Châu Á và Châu Đại Dương: Dự báo xuất khẩu vào các thị
trường chính như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan sẽ giảm so với năm 2008, đặc biệt là
thị trường ASEAN do xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này giảm. Kế hoạch năm 2009
xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Châu Á đạt 31,6 tỷ USD, tăng 13 % so với năm 2008;
Khu vực thị trường Châu Đại Dương dự kiến giảm còn bằng 91,8% so với năm 2008 đạt
3,9 tỷ USD cũng bởi nguyên nhân trên.
Việc thực hiện đầy đủ các cam kết theo CEPT/AFTA đã và đang tạo điều kiện cho
hàng hoá Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước này, song do kim ngạch xuất khẩu
vào ASEAN tăng chậm so với tốc độ tăng trưởng bình quân, trong khi kim ngạch nhập
khẩu từ ASEAN tăng tương đối nhanh nên nhập siêu từ khu vực này tiếp tục tăng.
- Khu vực thị trường Châu Âu: Năm 2009, xuất khẩu những hàng hóa chủ yếu vào
thị trường EU dự báo sẽ giảm như dệt may, giầy dép vì nhu cầu tiêu dùng giảm do khủng
hoảng kinh tế các mặt hàng có khả năng tăng là sản phẩm nhựa, hàng điện tử, hàng thủy
sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 13,3 tỷ USD, tăng 15%.
- Khu vực thị trường Châu Mỹ: Do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ nên tăng
trưởng nhập khẩu của Hoa Kỳ năm 2009 dự báo sẽ giảm (trừ những nhóm hàng nhiên
liệu và một số nông sản có thể vẫn tăng do vẫn có nhu cầu tiêu dùng và tăng giá) nhất là
đối với các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như may mặc, giầy dép, vali, túi
xách, đồ gỗ, đồ điện tử, cáp điện, sản phẩm nhựa, hạt điều, cà phê. Dự kiến kim ngạch
xuất khẩu năm 2009 đạt 14,6 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2008, trong đó Hoa Kỳ đạt
12,7 tỷ USD, tăng 10%. Các mặt hàng như sản phẩm gỗ, dệt may, giầy dép, cà phê, thủy
sản vẫn là những mặt hàng đóng góp lớn vào tăng trưởng.
- Khu vực thị trường Châu Phi: Dự báo tình hình phát triển kinh tế tại khu vực này
có thuận lợi ở một số thị trường và không có đột biến trong chính sách thương mại, đòi
hỏi ở thị trường này không quá khắt khe, vì vậy đây là thị trường rất tiềm năng cho Việt
Nam, năm 2009 phấn đấu xuất khẩu đạt 2,3 tỷ USD, tăng 89% so với năm 2008.
 Thị trường nhập khẩu:
Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á, ít chịu
ảnh hưởng của khủng hoảng. Do đó, cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam hầu như
sẽ không biến động.
Việt Nam là quốc gia hướng mạnh về xuất khẩu để phát triển. Trong điều kiện
kinh tế thế giới tụt dốc như hiện nay, những hệ lụy mà thương mại nước ta buộc phải
gánh chịu là đương nhiên và ảnh hưởng của nó cũng đang ngày càng trở nên rõ ràng và
sâu sắc.

Trước hết, đó là nhập khẩu hàng hóa của nhóm các nước phát triển theo ba dự báo
này từ tốc độ tăng trưởng 1,9% năm 2008 thoạt đầu xuống chỉ còn 1,1%, nhưng rồi rơi tự
do xuống -0,1% và tiếp tục rơi tự do rất mạnh xuống -3,1%. Ở đây, cần phải lưu ý rằng,
tuy chỉ gồm hơn hai chục quốc gia, nhưng nhóm này hiện đang chiếm gần 2/3 “rổ hàng
hoá nhập khẩu” của toàn thế giới, cho nên tình trạng rơi tự do của nhóm các quốc gia này
cũng đủ khiến cho các nước đang phát triển lao đao trong việc tìm kiếm thị trường xuất
khẩu.

Mặc dù vậy, hiệu ứng rơi tự do của giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới mới là
gánh nặng quá lớn đối với các quốc gia xuất khẩu. Bởi lẽ, thay vì tăng 40,2% trong năm
2008, giá dầu mỏ thế giới năm 2009 được dự báo hồi tháng 10/2008 là chỉ giảm 6,3%,
còn tháng 11/2008 được dự báo là sẽ rơi tự do tới 31,8%, còn dự báo tháng 1 năm nay
còn rơi tự do tới 48,5%. Bên cạnh đó, mức giảm giá của nhóm hàng nguyên liệu phi dầu
mỏ được dự báo cũng thê thảm không kém. Đó là, từ tăng 9,4% chuyển sang giảm 6,2%,
rồi giảm 18,7% và cuối cùng chốt lại ở mức rơi tự do 29,1%.
2.5. Các chính sách của Chính phủ nhằm hạn chế tác động tiêu cực của
khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của việt Nam trong thời gian qua
Trước những tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà ảnh hưởng rõ
rệt của nó đối với Việt Nam là xuất nhập khẩu giảm sút, Việt Nam đã chủ động có các
chính sách nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, bao gồm:


2.5.1. Chính sách kích cầu
Gói chính sách kích cầu được thực hiện trên tổng thể, tập trung ở các nhóm đối
tượng: doanh nghiệp, hộ gia đình, chính phủ và hoạt động xuất nhập khẩu. 3 nhóm biện
pháp kích cầu của Việt Nam là:
(1) Nhóm biện pháp kích thích tiêu dùng nội địa: Chính phủ thực hiện trợ cấp cho
người dân nghèo trong dịp tết nguyên đán 200000 đồng/người; thực hiện giảm 50% VAT
của một số mặt hàng; hỗ trợ người lao động mất việc làm; tăng lương tối thiểu từ 540000
đồng lên 650000 đồng; tăng lương hưu lên 5%.
(2) Nhóm biện pháp kích cầu đầu tư của doanh nghiệp: hỗ trợ 4% cho các doanh
nghiệp vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh; gia hạn nộp thuế TNDN; hỗ trợ lãi suất với
các khoản vay dài hạn và trung hạn, cho vay vốn máy móc, thiết bị, vật t ư phục vụ sản
xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu nông thôn.
(3) Nhóm biện pháp kích cầu thông qua đầu tư công
Gói kích cầu được phát huy, hưởng ứng mạnh và đạt được những thành quả đáng
mừng: tăng trưởng công nghiệp tích cực, kim ngạch xuất nhập khẩu và tốc độ tăng những
tháng gần đây tăng đáng kể, tiêu thụ trên thị trường nội địa cũng khởi sắc, hoạt động mua
bán trên thị trường bất động sản bước đầu có những chuyển biến tích cực. Chỉ số giao
dịch VNIndex vào ngày 14/4 đã vượt ngưỡng 340 điểm. Số người mất việc làm không
tăng lên. Diễn biến tỷ giá hối đoái (VNĐ/USD) được kiểm soát và điều chỉnh linh hoạt
theo hướng có lợi cho xuất khẩu.
Kết quả ban đầu cho thấy, gói kích cầu đã có tác dụng tới hoạt động xuất khẩu của
Việt Nam: từ tháng 2 và tháng 3 tình hình xuất khẩu dần tốt lên, tiêu thụ trên thị trường
nội địa cũng có chuyển biến tích cực. Chính sách hỗ trợ lãi suất hợp lý đã thúc đẩy luồng
vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Mặt khác, diễn biến của tỷ giá hối đoái được kiểm
soát, có thay đổi nhưng trong biên độ cho phép, tạo điều kiện cho xuất khẩu phát triển.


2.5.2. Chính sách thuế
Nằm trong gói kích cầu của Chính phủ, chính sách thuế nhằm thúc đẩy xuất khẩu
đã đạt được những kết quả không thể phủ định.
Trong thời gian qua, chính phủ ta đã thực hiện được một số nội dung như: Thông
tư số 04/2009/TT-BTC ngày 13/01/2009. Theo hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài chính,
doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng trong 7 ngày và hoàn
10% còn lại trong 4 ngày khi doanh nghiệp nộp bổ sung chứng từ thanh toán qua ngân
hàng. Điều này giúp DN vừa và nhỏ giảm áp lực về chi phí vốn.

Ngoài ra, quy định mới đã rút ngắn 1/2 thời gian hoàn thuế cho DN nói chung so
với quy định trước đây. Đối với doanh nghiệp được hoàn thuế trước - kiểm tra sau sẽ
được thực hiện trong 8 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ (trước đây là 16 ngày); trường hợp
doanh nghiệp kiểm tra trước - hoàn sau thực hiện trong 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
(trước đây là 60 ngày).

Theo Thông tư số 05/2009/TT-BTC ngày 13/01/2009, Bộ tài chính hướng dẫn
theo hướng giãn thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu của một số ngành như đóng tàu, cơ khí, chế biến nông, lâm, thuỷ
sản…; đơn giản hoá thủ tục và rút ngắn thời gian hoàn thuế đối với nguyên liệu nhập
khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, kể cả khi doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán
qua ngân hàng; giao doanh nghiệp tự đăng ký và chịu trách nhiệm về định mức sử dụng
nguyên liệu, vật tư sản xuất hàng xuất khẩu gồm cả phần phế liệu, phế phẩm nằm trong
định mức không phải nộp thuế nhập khẩu.

Để có thể đưa ra chính sách thuế linh hoạt nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp và
người lao động vượt qua thời kỳ khủng hoảng, vừa qua Vụ Chính sách thuế đã tổng hợp
tình hình và các ý kiến đề xuất của các đơn vị báo cáo Bộ trình Thủ tướng Chính phủ và
Ủy ban Thường vụ Quốc hội hạ mức sàn khung thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
đối với nhóm hàng than củi, da sống, các mặt hàng cá xuống còn 0-25%, 0-26% và 0-
27%.

Những động thái này được xem là nỗ lực trong các biện pháp liên quan đến tài
chính giúp các DN giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh.

2.5.3. Chính sách hỗ trợ lãi suất
Trong thời gian qua, để khôi phục lại thị trường xuất nhập khẩu, chính phủ đã đưa
ra nhiều chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động xuất
nhập khẩu. Cùng nằm trong gói kích cầu của Chính phủ là chính sách hỗ trợ lãi suất 4%
và nhóm 6 giải pháp chính sách tiền tệ được hưởng ứng. QĐ 131/2009/QĐ – TTg về lãi
suất cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp; theo quyết định này các ngân hàng triển
khai cho vay hỗ trợ 4% lãi suất làm cho mức lãi suất trung bình từ 10,5%/năm giảm
xuống còn chưa đầy 6,5%/năm. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu mức lãi xuất cho
vay khi trừ ưu đãi còn 1,5% đến 2%/năm. Tuy nhiên chính sách này chỉ được áp dụng
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn điều lệ nhỏ hơn 10 tỷ đồng hoặc sử dụng dưới 300
lao động, những doanh nghiệp có quy mô lớn hơn không được ưu đãi 4%.
Khi một số doanh nghiệp kêu khó tiếp cận được vốn vay ngân hàng mà nguyên
nhân chính là điều kiện về tài sản thế chấp thì QĐ 14/2009/QĐ – TTg đưa ra quy chế bảo
lãnh vốn vay mở rộng thêm đối tượng doanh nghiệp. theo trên, các doanh nghiệp chỉ cần
có dự án kinh doanh và tại thời điểm hiện tại không có nợ quá hạn là được xem xét bảo
lãnh cho vay vốn – không cần tài sản thế chấp. Ngân hàng phát triển Việt Nam thực hiện
bảo lãnh cho các doanh nghiệp có vốn tối đa 20 tỷ đồng và sử dụng tối đa 200 lao động
(trên điều kiện doanh nghiệp vừa và nhỏ) với mức bảo lãnh tối đa bằng 100% số nợ gốc
và lãi phát sinh.

Tác động của việc hỗ trợ lãi suất 4% tới chi phí sản xuất còn rất hạn chế do chi phí
lãi suất chỉ chiếm khoảng 5% giá thành sản phẩm, trong khi đó thời gian đầu Việt Nam
chỉ duy trì hỗ trợ lãi suất đến cuối năm 2009. Quyết định 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009 đã
khắc phục hạn chế này, khoản vay mới có thời hạn 2 năm; nhưng việc áp dụng mức lãi
suất cũ 4% là chưa thực sự phù hợp.
Hiện nay, nhiều ngân hàng đã công bố hàng loạt các chính sách cụ thể hỗ trợ DN
tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi để duy trì sản xuất và xuất khẩu. Ngân hàng TMCP Xuất
nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) đang triển khai một chương trình hỗ trợ DN xuất khẩu
bằng cách giảm lãi suất cho vay, với lãi suất hỗ trợ vay bằng tiền đồng Việt Nam (VND)
chỉ còn 4,5%/năm. Theo đó, DN xuất khẩu có thể vay vốn bằng VND và cam kết bán
USD theo tỷ giá ngày giải ngân sẽ được vay với lãi suất ưu đãi trên. Thời hạn cho vay tối
đa 180 ngày và lãi suất này không thay đổi trong suốt thời gian cho vay. Eximbank cũng
loan báo một số phương án khác cho các DN lựa chọn, như tài trợ DN xuất khẩu vay
VND và cam kết bán ngoại tệ theo tỷ giá Eximbank công bố tại thời điểm bán ngoại tệ có
lãi suất 0,75%/tháng, tức 9%/năm. Được biết, Eximbank đã chuẩn bị nguồn vốn khoảng
5.000 tỷ đồng để thực hiện chương trình tài trợ này. Theo cam kết của Eximbank, khi các
DN tham gia chương trình tài trợ xuất khẩu sẽ nhận được rất nhiều tiện ích như ngay khi
ký hợp đồng hay có L/C xuất khẩu, DN có thể được tài trợ đến 90% giá trị hợp đồng,
cũng như tài trợ vốn mua nguyên phụ liệu cho đến khi nhận được tiền thanh toán từ nước
ngoài.
Bên cạnh đó, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) cũng có những biện pháp hỗ trợ
và chia sẻ với DN bằng chủ trương giảm lãi suất cho vay đối với các hợp đồng vay cũ
trước đây phải chịu lãi suất cao. Việc giảm sẽ tùy từng trường hợp cụ thể, theo từng phần,
như DN vay 21%/năm sẽ giảm còn 18%; vay 18% giảm còn 16%; và vay 16% sẽ giảm
xuống còn 13% - 14%.
Đồng thời, ACB cũng đang xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ và cho vay mới lãi
suất rẻ đối với các DN đang gặp khó khăn do yếu tố tác động từ bên ngoài, trong đó ưu
tiên các DN xuất nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu của nền kinh tế. Ngân hàng ACB
cũng cho biết thêm, trong năm 2009 ACB sẽ xây dựng bộ tiêu chí cho vay thoáng hơn,
mở rộng đối tượng và phạm vi tài trợ so với năm 2008, đồng thời có chính sách ưu đãi lãi
suất đối với các DN sản xuất hàng xuất khẩu. Trong đó, các ngành được ưu tiên có thể kể
là gạo, đồ gỗ, dệt may, nông sản…
Tùy tình hình cụ thể hoặc mối quan hệ làm ăn lâu dài, các DN cần nắm vững
thông tin để lựa chọn ngân hàng và giải pháp có lợi nhất cho mình, nhằm giảm tối đa chi
phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, thúc đẩy mạnh xuất khẩu theo yêu cầu
của Chính phủ
2.5.4. Chính sách về xúc tiến thương mại

Tác động xấu từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho thị tr ường xuất
khẩu bị thu hẹp, nhu cầu nhập khẩu và khả năng thanh toán tại các thị trường chủ lực có
xu hướng giảm mạnh, sức ép cạnh tranh từ các nước châu Á gia tăng, đặc biệt là đối với
các mặt hàng nông thủy sản, dệt may, da giày và điện tử.

Mặt khác, một số mặt hàng công nghiệp có kim ngạch lớn như: dệt may, da
giày,… đều chịu tác động của một số quy định mới từ năm 2009 như Mỹ bỏ hạn ngạch
đối với hàng dệt may Trung Quốc; EU không gia hạn quy chế GSP đối với hàng da giày
xuất khẩu của Việt Nam,…Giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới có xu hướng tiếp tục
đứng ở mức thấp và khó có thể tăng mạnh trong năm 2009, vì vậy, khả năng tăng kim
ngạch xuất khẩu do giá tăng là rất khó.

Có nhiều biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu và xúc tiến thương mại là hoạt động
không thể thiếu để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, nắm lấy cơ hội trong thời khủng
hoảng này. Bằng hành động cụ thể trong thời gian qua Việt Nam đã thực hiện nhiều
chương trình xúc tiến thương mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Điểm mới và nổi bật trong
năm nay là “Xúc tiến thị trường, thương mại nội địa năm 2009”. Đây là một trong chuỗi
các hoạt động nhằm thực hiện chủ trương của Chính phủ về những giải pháp cấp bách
ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.

Chương trình sẽ được triển khai gồm 3 nội dung chính:

Một là: Các hoạt động hỗ trợ năng lực của cộng đồng doanh nghiệp, thông qua
việc điều tra khảo sát thị trường để cung cấp cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông
tin về người tiêu dùng, về thị phần của hàng Việt Nam, về hiện trạng hệ thống phân phối,
về năng lực của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp có chiến lược, có chính sách, giải
pháp nhằm chiếm lĩnh thị trường nội địa cũng như giúp cho các cơ quan quản lý nhà
nước, các tổ chức đào tạo, nắm bắt được nhu cầu của doanh nghiệp tổ chức các khoá đào
tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng kinh doanh cho doanh nghiệp. Đồng thời, các cuộc hội
thảo, toạ đàm cũng được tổ chức để chia sẻ kinh nghiệm thành, bại; tìm kiếm hợp tác,
liên kết nhằm thúc đẩy sản xuất, phát triển hệ thống phân phối, tiêu thụ hàng Việt Nam
tại thị trường nội địa. Nằm trong nội dung này còn có việc tổ chức hội chợ hàng nông
sản, sản phẩm làng nghề cấp vùng, miền. Hoạt động đặc thù này giúp cho việc tìm kiếm
bạn hàng, cơ hội tiêu thụ hàng nông sản, đặc sản, sản phẩm làng nghề từng vùng, miền
kết hợp với việc xây dựng thương hiệu, kỹ năng bán hàng cho khoảng 10 mặt hàng mỗi
kỳ hội chợ (năm kế tiếp sẽ tiếp tục xây dựng 10 mặt hàng khác).

Hai là: Các hoạt động hỗ trợ đưa hàng Việt Nam về bán ở nông thôn, tổ chức các
phiên bán cho công nhân các khu công nghiệp, các phiên bán hàng vào cuối tuần tại các
các khu đô thị lớn.

Ba là: Các hỗ trợ các hoạt động truyền thông trên truyền hình hướng dẫn người
tiêu dùng, kinh nghiệm thành công, bài học thất bại của doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh hàng Việt Nam; kỹ năng kinh doanh. Hỗ trợ việc biên soạn, phát hành các ấn
phẩm phổ biến các kết quả nghiên cứu thị trường, tổng kết các bài học cả hai mặt thành
công cũng như thất bại, giới thiệu các doanh nghiệp sản xuất hàng Việt Nam có danh
tiếng, các nhà phân phối được tín nhiệm của người tiêu dùng… Các hạng mục nói trên
thuộc Chương trình là những hoạt động xúc tiến thương mại được tiến hành đan xen,
lồng ghép chắc chắn sẽ tạo ra sức tương hỗ lẫn nhau cùng hướng tới đích chung là tạo ra
không khí mới, làn sóng mới, phong trào mới, xu hướng mới trong việc tiêu dùng hàng
Việt Nam trong mỗi vùng miền cũng như trong phạm vi toàn quốc.

Nhằm gia tăng thị trường xuất khẩu Việt Nam cũng đã triển khai một số công việc
cụ thể như: ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN- Nhật Bản và Hiệp định
Đối tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời có những hợp đồng thỏa thuận lớn
qua các chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ,…nhằm
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.

Bên cạnh các chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ, để đạt được mục tiêu
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2009, Bộ Công Thương đã phê duyệt chi 128,6 tỷ
đồng cho Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia năm nay; Bộ cũng hỗ
trợ chi phí cho các doanh nghiệp mời các đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam
giao thương, đàm phán, ký kết hợp đồng.

Phát biểu tại buổi tọa đàm “Xúc tiến hoạt động xuất khẩu Việt Nam năm 2009”
vừa diễn ra tại Hà Nội, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp và đại diện các Hiệp hội đều đồng ý
với quan điểm: Ngoài sự hỗ trợ về vốn, tín dụng,…các doanh nghiệp Việt Nam còn rất
cần được hỗ trợ các thông tin cụ thể về các thị trường nhập khẩu để từ đó có kế hoạch
thâm nhập và mở rộng thị trường.

Khách quan mà nói, nếu so với các mục tiêu đã đề ra cho năm nay, bức tranh xuất
nhập khẩu của nước ta hai tháng đầu năm có sự chuyển dịch chậm lại. Tuy nhiên, nếu so
với thực trạng bức tranh thương mại thế giới, có thể nói, xuất nhập khẩu VN lại là điểm
sáng trong bức tranh tối của thương mại toàn cầu.




Chương 3: Các giải pháp giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng đến hoạt động
xuất nhập khẩu của Việt Nam

3.1. Cơ hội và thách thức đối với xuất nhập khẩu Việt Nam trong điều kiện
khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu để lại hậu quả không nhỏ đối với nền kinh tế mà
biểu hiện rõ nhất ở xuất nhập khẩu của Việt Nam. Xét riêng đối với ngành xuất nhập
khẩu của Việt Nam, cơ hội thì ít ỏi mà thách thức thì nhiều.
3.1.1. Cơ hội
- Đối với các doanh nghiệp chế biến từ nguyên liệu nhập khẩu để tổ chức xuất khẩu
nên tranh thủ sự xuống giá của hầu hết các mặt hàng để mua nguyên liệu dự trữ chờ cơ hội
nền kinh tế phục hồi ngành chế biến sẽ có cơ hội tăng trưởng xuất khẩu cao. Như vậy, cũng
có thể nói, sự sụt giảm về giá trị kim ngạch nhập khẩu, đặc biệt là giảm về yếu tố giá cả, sẽ
tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất, thay đổi công nghệ và giảm chi phí đầu
vào.
- Đây là cơ hội để các doanh nghiệp tìm hiểu và phát triển các thị trường mới, tiềm
năng, cacs nước ít chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng.
- Là thách thức nhưng cũng là cơ hội để tăng khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam
trên trường quốc tế. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp sẽ phải thực hiện nghiên cứu
và phát triển các sản phẩm có chất lượng quốc tế. Khủng hoảng sẽ thanh lọc những yếu kém
của thị trường, gây dựng những chủ thể có khả năng đi xa hơn trong phát triển và hội nhập.
- Hàng Việt Nam thuộc nhóm hàng giá rẻ, cần tranh thủ quảng bá để có cạnh tranh
về giá với hàng của các thị trường khác.
3.1.2. Thách thức
- Khi khủng hoảng xảy ra, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, công nhân bị mất việc,
nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường lớn đều giảm kéo theo nhu cầu nhập khẩu tại các thị
trường lớn đều giảm mạnh. Về phương diện cầu, ngoài thị trường Mỹ nơi đang chiế m
hơn 20% kim ngạch xuất khẩu chung, 57% xuất khẩu dệt may đã khiến cho xuất khẩu
vào thị trường này có nhiều tín hiệu chậm lại. Bên cạnh đó, thị trường EU và Nhật Bản
cũng bị ảnh hưởng và đây lại chính là những thị trường lớn của Việt Nam. Hiện nay, do
khủng hoảng, nhiều đơn hàng cuối năm vẫn chưa được ký kết. Một số ngành bị đối tác
rút đơn hoặc yêu cầu sẽ trả trước 60 - 70% giá trị đơn hàng, nợ lại 30 - 40% thanh toán
sau. Điều này cho thấy đối tác đang khó khăn và điều này cũng gây khó khăn hơn cho
doanh nghiệp nhất là trong tình hình tín dụng trong nước khó khăn như hiện nay.
- Bên cạnh đó, tỷ giá EURO/USD biến động như hiện nay sẽ là bất lợi cho xuất
khẩu Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam phần lớn là gia công. Nếu xuất
khẩu sang EU, các doanh nghiệp thường nhập khẩu bằng USD, trả các chi phí khác bằng
VND và bán vào thị trường sử dụng EURO. Hiện đồng USD đang tăng giá so với EURO,
sức ép giảm giá EURO càng lớn. Như vậy, chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ tăng
trong khi doanh thu thì khó tăng.
Giao dịch ngoại tệ của Việt Nam hiện nay chủ yếu là đồng USD (chiếm tới 80%),
20% còn lại rơi vào các loại ngoại tệ khác như Euro, JPY, bảng Anh (GBP)… Riêng với
một số ngoại tệ khi giao dịch sẽ được chuyển đổi qua USD (chẳng hạn như đồng JPY).
Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải để ý và theo dõi chặt hơn nữa diễn biến các
cặp tiền khác như Euro, và đồng Yên Nhật (JPY) … để tránh những thiệt hại đáng tiếc có
thể xảy ra.
- Mặt khác, từ tháng 1/2009, Việt Nam thực hiện cam kết khi gia nhập WTO, mở
cửa thị trường dịch vụ dẫn đến tình hình trong nước sẽ khó khăn hơn do hàng hóa nước
ngoài vào Việt Nam với mức giá thấp hơn vì không phải áp mức thuế thấp nữa.
- Đồng thời, các nước sử dụng hàng rào kỹ thuật, thương mại để hạn chế nhập
khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước, chống thâm hụt thương mại.
Thách thức nhiều nhưng cũng không thể không nói đến cơ hội cho các doanh
nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhạy bén, sáng tạo.
3.2. Định hướng và mục tiêu xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế toàn cầu
3.2.1. Định hướng
Về xuất khẩu: Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, làm
động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, tích
cực phát triển các mặt hàng khác có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực
mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có
giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ
và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô.
Phát triển các thị trường mới, tiềm năng, ít chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng như
thị trường Trung Đông, Châu Phi, Ấn Độ…
Nhập khẩu: Tuy những tháng đầu năm 2009 nước ta có hiện tượng xuất siêu
nhưng kiềm chế nhập siêu vẫn là định hướng lâu dài, phấn đấu tiến tới cân bằng hợp lý
cán cân xuất - nhập khẩu. Ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến; gi ữ
thế chủ động trong nhập khẩu, tập trung vào nhập thiết bị hiện đại từ các nước có công
nghệ nguồn; giảm nhanh và tiến tới hạn chế nhập thiết bị công nghệ lạc hậu hoặc công
nghệ trung gian; hạn chế nhập khẩu hàng hóa vật tư thiết bị cũng như hàng hóa tiêu dùng
trong nước có thể sản xuất và đáp ứng được.
3.2.2. Mục tiêu
Kinh tế thế giới suy giảm đang tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu ít
nhất trong năm 2009. Trong bối cảnh bất lợi về thị trường, mục tiêu tăng trưởng trung
bình xuất khẩu giai đoạn 2009 – 2011 là 13%. Kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt
khoảng 70,85 tỷ USD. Nhập khẩu giai đoạn 2009 – 2011 tăng trung bình khoảng 14%.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 đạt khoảng 91,66 tỷ USD.
Mục tiêu dài hạn, đến năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng
353,76 tỷ USD và tốc độ tăng trung bình là 16,5%/năm
Tốc độ tăng nhập khẩu đạt khoảng 15,2%/năm, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng
hóa khoảng 381,73 tỷ USD
Cán cân thương mại quốc tế: nhập siêu khoảng 27,97 tỷ USD
 Đối với xuất khẩu: Cụ thể, xuất khẩu tập trung phát triển các nhóm mặt hàng
sau:
- Nhóm nguyên, nhiên liệu: Nhóm hàng này tiến tới hạn chế xuất khẩu để sử dụng
cho sản xuất trong nước. Trong đó, lượng xuất khẩu dầu thô sẽ giảm dần, năm 2020 đạt
khoảng 7 triệu tấn, than đá khoảng 0,5 triệu tấn.
- Nhóm hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản (thủy sản, gạo, cà phê, cao su…): tập
trung đẩy mạnh phát triển những sản phẩm có lợi thế thu được năng suất cao; đảm bảo
chất lượng quốc tế và giá trị gia tăng cao. Nhóm hàng này tỷ trọng có xu hướng giả m
dần, xuống còn khoảng 12,5% năm 2020.
 Gạo là mặt hàng khó có khả năng cạnh tranh, cần nâng cao chất lượng và
hàm lượng chế biến của gạo; tập trung phát triển các loại gạo được thị trường nhiều nước
trên thế giới ưa chuộng.
 Cà phê: Cần trú trọng nâng cao chất lượng và hàm lượng chế biến của cà phê
xuất khẩu. Đồng thời, cần nhanh nhạy nắm bắt và áp dụng các phương thức kinh doanh
trên thế giới.
 Chè: Đẩy mạnh chế biến xuất khẩu nhiều hơn các sản phẩm chè, phát triển
chè sạch và nâng cao chất lượng chè xuất khẩu.
 Điều và tiêu: Duy trì sản xuất để xuất khẩu
 Cao su: Tăng tỷ lệ đầu tư cho sản xuất trong nước từ sản phẩm mủ thu hoạch
được, hạn chế xuất khẩu mủ cao su
 Thủy sản: Tăng cường hàm lượng chế biến trong sản phẩm để nâng cao giá
trị gia tăng.
- Nhóm sản phẩm chế biến và chế tạo: Năm 2020 sẽ có tỷ trọng chiếm khoảng
52% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Ngoài hai mặt hàng chính là dệt may
và giầy dép, cần tăng cường phát triển các mặt hàng mới như đóng tàu, cơ khí, điện; các
sản phẩm tiềm năng như: sản phẩm nhựa, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ…
 Hàng dệt may: Nâng cao sức cạnh tranh bằng việc thực hiện đồng bộ các
biện pháp như: từ hạ giá thành, đa dạng kiểu dáng, mẫu mã cho tới thực hiện hợp tác
trong ngành và xây dựng thương hiệu sản phẩm.
 Giầy dép: Tự thiết kế kiểu dáng, sản xuất dựa vào nguyên liệu trong nước và
tập trung sản xuất nhóm hàng cao cấp phục vụ thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật...
 Sản phẩm gỗ: là nhóm hàng cần được khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu trong
nhiều năm tới. Cần chú trọng phát triển ổn định nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất; liên kết
các doanh nghiệp trong ngành nhằm tăng cường quy mô và chất lượng sản phẩm, đa dạng
kiểu dáng, mẫu mã. Kết hợp gỗ với các nguyên liệu khác như kim loại, mây tre, sứ … để đa
dạng sản phẩm.
 Điện tử, tin học và các sản phẩm phần mềm: Tập trung phát triển các sản
phẩm phần mềm.
 Đối với nhập khẩu:
- Nhóm hàng máy móc, thiết bị và phụ tùng (ô tô, linh kiện ô tô, xe máy, các loại
máy móc thiết bị phụ tùng phục vụ sản xuất): Ưu tiên nhập khẩu ở các nước phát triển, có
nền công nghiệp chế tạo tiên tiến. Tuy nhiên cần chú trọng nhập các dây chuyền công
nghệ phù hợp với trình độ của Việt Nam cũng như thỏa mãn điều kiện về giá cả.
- Nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu (xăng dầu, phân Ure, thép thành phẩm, phôi
thép; các mặt hàng phục vụ sản xuất như bông, vải, sợi, chất dẻo, tân dược, hóa chất…):
Giảm dần nhập khẩu do khả năng tự sản xuất trong nước tăng.
- Nhóm hàng tiêu dùng, dự kiến tăng khoảng 16,3%/năm.
3.3. Một số giải pháp giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn
cầu đến hoạt động xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu là hoạt động liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành
nghề khác nhau của nền kinh tế nên cần thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ. Dưới
đây tôi xin trình bày theo 2 nhóm: đối với chính phủ và đối với doanh nghiệp xuất nhập
khẩu
3.3.1. Đối với Chính phủ
3.3.1.1. Nâng cao hiệu quả của chính sách kích cầu

Gói kích cầu của Chính phủ đã đem lại hiệu quả không nhỏ thúc đẩy xuất nhập
khẩu, tuy nhiên còn một số hạn chế:
- Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam hiện nay là Hoa Kỳ, EU và Nhật
Bản… Các nước này đều đang thu hẹp nhập khẩu hàng hóa từ các nước trong đó có Việt
Nam. Doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với việc cạnh tranh quyết liệt để giành thị
trường, đặc biệt lo lắng về cạnh tranh với hàng Trung Quốc, một khi hàng Trung Quốc
cũng phụ thuộc vào thị trường Mỹ thì rất có thể sẽ đẩy hàng sang Việt Nam. Vì thế, kích
cầu tốt có thể lại là nguy cơ khuyến khích tiêu dùng hàng Trung Quốc chứ không có tác
dụng khuyến khích sản xuất.
- Nhóm các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, hỗ trợ xuất
khẩu còn tồn tại nhiều hạn chế: các giải pháp chung chung, dừng lại ở định hướng, chưa
cụ thể thành hành động.
- Đối với chính sách hỗ trợ lãi suất, tăng mức hỗ trợ lãi suất đối với cho vay trung
và dài hạn lên mức trên 5%.
- Nghiên cứu , triển khai biện pháp hỗ trợ lãi suất vay vốn bằng ngoại tệ: Việc hỗ
trợ 4% lãi suất vay ngân hàng nên áp dụng với cả vay vốn ngoại tệ. Xét về tính hợp lý và
logic là đúng đắn. Do tiến hành hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn bằng VND cũng đã tạo ra sự
mất cân đối giữa mặt bằng lãi suất VND và USD. Điều đó khiến các doanh nghiệp có
nguồn thu ngoại tệ găm giữ lại ngoại tệ và đi vay VND để phục vụ sản xuất kinh doanh
của mình. Vì thế, NHNN cần có phương án để các tổ chức tín dụng áp dụng mức lãi suất
tiền gửi thích hợp đối với các tổ chức kinh tế có nguồn thu ngoại tệ để khắc phục tình
trạng trên.
Theo các ngân hàng, việc tăng mạnh tín dụng tiền đồng trong các tháng đầu năm
vì vay tiền đồng sẽ được hỗ trợ lãi suất từ Chính phủ, trong khi nhu cầu nhập khẩu hàng
hóa của các doanh nghiệp cũng đã sụt giảm nhiều nên nhu cầu vay ngoại tệ cũng giả m
theo. Vì thế, các ngân hàng thời gian gần đây đã giảm dần lãi suất tiền gửi đô la Mỹ, chỉ
còn 2-3%/năm; đồng thời cần tăng cường thêm nhiều biện pháp khuyến khích doanh
nghiệp nhập khẩu vay ngoại tệ để nhập hàng, thúc đẩy nhập khẩu để xuất khẩu.
- Khi quyết định miễn, giảm, giãn nộp thuế đối với cá nhân và doanh nghiệp,
Chính phủ kỳ vọng đây sẽ là cơ hội để người dân có thêm thu nhập, góp phần kích cầu
tiêu dùng và giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp. Chính sách kích cầu của Việt Nam
trong thời gian qua đã có tác dụng tích cực thúc đẩy nền kinh tế nhưng nó vẫn còn những
hạn chế nhất định:

Thứ nhất, mặc dù Chính phủ tuyên bố hai gói kích cầu với quy mô rất lớn nhưng
hình thù cụ thể của các bộ phận cấu thành chưa rõ ràng khiến nhiều người bán tín bán
nghi.

Thứ hai, nhiều đối tượng nằm trong diện thụ hưởng chính sách nhưng lại chưa
tiếp cận được với nguồn tiền kích cầu, có thể là do việc truyền đạt chính sách chưa hiệu
quả hay do thủ tục hành chính phức tạp, phiền nhiễu.

Thứ ba, như ở trên, hiệu quả kích cầu của những chính sách hiện nay chưa rõ rệt,
đặc biệt là chưa kích thích được nhu cầu thị trường và khi ấy thì dù có kích thích như thế
nào đi chăng nữa cũng không giúp ngăn chặn đà suy giảm kinh tế vì không có cầu thì
doanh nghiệp càng sản xuất càng chỉ càng lỗ vốn mà thôi.
Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng kinh tế nhờ các gói chính sách kích cầu, hỗ
trợ đầu tư. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay vẫn còn một số vấn đề về cơ cấu nền kinh
tế. Sau khủng hoảng, Mỹ vẫn là nền kinh tế đầu tàu. Việt Nam có nền kinh tế phụ thuộc
quá nhiều vào bên ngoài nên nhất thiết cơ cấu kinh tế phải thay đổi để phù hợp. Kinh
nghiệm của Trung Quốc cho thấy, Chính phủ đã thay đổi tư duy tập trung nhiều cho thị
trường nội địa thay cho xuất khẩu như trước kia. Các giải pháp mà Trung Quốc tập trung
cho nội địa bao gồm tăng lương, tăng phúc lợi xã hội…

Vì vậy, về lâu dài Chính phủ cần có chính sách tái thiết cơ cấu nền kinh tế. Đó là
điều hết sức cần thiết vì chính những tồn tại có tính cơ cấu của nền kinh tế đã đưa chúng
ta đến những bất ổn vĩ mô trong năm 2008 và cũng chính những yếu kém cơ cấu này đã
làm nền kinh tế Việt Nam trở nên dễ bị tổn thương hơn trước khủng hoảng kinh tế bên
ngoài.

3.3.1.2. Chính sách thuế
Hiện tại, Việt Nam đã thực hiện các chương trình cắt giảm thuế theo yêu cầu của
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư vào
APEC đến năm 2020. Ngay sau khi chính thức gia nhập WTO, nước ta đã chủ động cắt
giảm các dòng thuế theo đúng cam kết. Thực tế cho thấy, việc cắt giảm thuế khiến sức
cạnh tranh của hàng nội và hàng ngoại càng có sự cạnh tranh gay gắt, sức cạnh tranh về
giá cả của hàng ngoại nhập tăng. Cùng với việc “mở cửa” rộng hơn và tâm lý sùng bái
hàng ngoại sẵn có trong một bộ phận người tiêu dùng cấu thành trực tiếp làm tăng lượng
hàng nhập khẩu vào nước ta trong thời gian gần đây. Ngoài ra, việc dòng vốn FDI đổ vào
Việt Nam tăng cả về vốn cam kết và mức độ thực hiện, cũng làm kích thích nhu cầu nhập
thiết bị cho việc triển khai và hoạt động của các dự án và giá cả hàng nguyên liệu và hàng
hóa tăng cao trong thời gian gần đây.
Về lâu dài, cần có phương án cụ thể để thuế hóa các hàng rào phi thuế quan nhằ m
đáp ứng một nguyên tắc hàng đầu của WTO là chỉ bảo hộ bằng thuế quan, mọi hàng rào
phi thuế quan phải được loại bỏ. Việc thuế hóa cần được tiến hành theo tiến độ và
phương án cân nhắc cụ thể, sẽ tránh cho nền kinh tế gặp phải những biến động đột ngột
khi phải loại bỏ ngay hàng rào phi thuế quan và thay bằng hàng rào thuế quan, nhất là
trong trường hợp chưa có giải pháp hữu hiệu khác để bảo vệ hợp lý nền sản xuất nội địa
và ngăn chặn gian lận thương mại.
Trong thời kỳ khủng hoảng, nhóm 9 giải pháp thuộc chính sách tài khóa của Chính
phủ đã phát huy tác dụng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế bởi các lý do sau:
- Thời gian áp dụng giảm thuế, giãn thời gian nộp thuế là quá ngắn, chỉ trong quý
IV năm 2008 làm cho một bộ phận các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đã và đang thua lỗ không có cơ hôi thụ hưởng chính sách này
- Biện pháp về thuế giá trị gia tăng mới chỉ dừng lại ở đẩy nhanh việc hoàn thuế
nên mức độ tác động của chính sách này không được mạnh

Các nỗ lực là không nhỏ, tuy nhiên trong thời gian tới cần có một số giải pháp cụ
thể như sau:

- Điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số loại tài nguyên, khoáng sản
theo hướng hạn chế xuất khẩu, bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước;
giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với một số nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào của sản
xuất, trong nước chưa sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu
để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí.
- Giãn thời gian ân hạn nộp thuế đối với một số ngành hàng phù hợp với chu kỳ
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (đóng tàu, sản xuất cơ khí....). Thực hiện tốt chính sách về
ân hạn thời hạn nộp thuế nhập khẩu (275 ngày) đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để
sản xuất hàng xuất khẩu.
- Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu, rút ngắn thời gian thông quan hàng hoá, đơn
giản hoá thủ tục hoàn thuế, quyết toán thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất,
gia công hàng xuất khẩu.
Ngoài ra, việc thay đổi thói quen xuất khẩu hàng hóa giá FOB và nhập khẩu hàng
hóa giá CIF bằng xuất khẩu giá CIF và nhập khẩu giá FOB tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp Việt Nam thu được tiền bảo hiểm và cước tàu, xuất khẩu theo giá CIF cũng
khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm và vận tải Việt Nam phát triển mạnh hơn. Việc
xuất khẩu theo điều kiện CIF và nhập khẩu theo điều kiện FOB không còn quá mới mẻ
với các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, do thói quen và do thiếu thông tin nên các
doanh nghiệp chưa lưu ý đúng mức về vấn đề này. Vấn đề thay đổi thói quen là khó
nhưng không phải không thực hiện được mà cần có sự quyết tâm của cộng đồng doanh
nghiệp cũng như công tác tuyên truyền, vận động, áp dụng những biện pháp khuyến
khích của chính phủ.
- Quy định rõ và phù hợp tỷ lệ phế liệu, phế phẩm thu được trong quá trình nhập
khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu không phải chịu thuế nhập khẩu.
3.3.1.3. Chính sách tài chính, tiền tệ
Tác động của việc hỗ trợ lãi suất 4% còn một số hạn chế như:
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận với nguồn vốn này do bản thân họ
có nhiều bất lợi hơn so với các doanh nghiệp Nhà nước.
- Chính phủ khó khăn trong việc kiểm soát đảo nợ của doanh nghiệp. Nhiều doanh
nghiệp đã bị vay với lãi suất cao năm 2008 sẽ lợi dụng cơ hội này vay khoản lớn để trả
nợ cũ.
- Thủ tục vay vốn còn rườm rà, phức tạp. Các ngân hàng thương mại còn e ngại
với các quy định về thanh tra, kiểm tra.
- Việc hỗ trợ sản xuất không đủ mạnh và kết quả là khuyến khích tiêu dùng hàng
nhập khẩu ( đặc biệt là hàng Trung Quốc) hơn là tiêu dùng hàng trong nước.
Về lâu dài cần có các biện pháp cụ thể để tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn
tín dụng cho các doanh nghiệp; tiếp tục xem xét điều chỉnh giảm dự trữ bắt buộc của các
tổ chức tín dụng; điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh.
Nghiên cứu, hướng dẫn các tổ chức tín dụng thực hiện việc cho vay theo lãi suất
thoả thuận; điều chỉnh linh hoạt tỷ giá ngoại tệ theo tín hiệu thị trường…
Nên xem xét điều chỉnh áp dụng lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng xuống
phù hợp theo mức lãi suất hiện hành; không phạt do quá hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa gặp khó khăn; thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa, hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh.
Về các giải pháp trung và dài hạn, cần xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên -
phụ liệu; thực hiện chương trình hiện đại hoá và cải cách thủ tục hải quan; hoàn thiện hệ
thống chính sách tài chính, tín dụng phục vụ xuất khẩu; nâng cao hiệu quả và tăng cường
công tác xúc tiến thương mại; hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho một số ngành
sản xuất xuất khẩu; và nâng cao vai trò của các hiệp hội ngành hàng…
Trong tình hình hiện nay, có một rào cản lớn đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam
là vấn đề tỷ giá.
Nếu đồng bạc được đánh giá cao thì xuất khẩu sẽ gặp bất lợi, khi giá hàng xuất
khẩu tính theo USD bị đẩy lên cao hơn. Để cạnh tranh, một là phải đẩy giá lên để bù lại
khoản thiệt, hai là giảm giá đi và cũng giảm luôn cả lợi nhuận.
Mà trong khủng hoảng thì với các nước kém phát triển, cạnh tranh trước hết là
phải bằng giá. Bởi thương hiệu, chất lượng, mẫu mã, hệ thống phân phối… là những thế
mạnh mà những nước kém phát triển chưa có, nếu có mạnh cũng chỉ là thứ yếu trong thời
điểm này.
Hơn nữa, một đồng bạc giá thấp hơn chính là hàng rào tốt nhất trước cuộc xâm
nhập của hàng ngoại, để nâng sức cạnh tranh của hàng nội tại chính thị trường trong
nước, thay thế hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật.
Hình 3.3.1.3. Tỷ giá USD/VND những tháng vừa qua




Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trong quý 1, mặc dù xuất khẩu của Việt Nam tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước,
tuy nhiên, điều này có sự đóng góp lớn của việc tái xuất vàng (đóng góp khoảng hơn 2 tỷ
USD trong quý 1), trong khi đáng lo ngại là các mặt hàng chủ lực đều giảm trung bình từ
15-20%. Sự hỗ trợ xuất khẩu bằng tỷ giá sẽ có tính chất chiến lược và đón đầu với những
khó khăn của xuất khẩu trong các tháng còn lại của năm 2009.
Quyết định nới biên độ tỷ giá từ +/-3% lên +/-5% được Ngân hàng Nhà nước đưa
ra ngày 23/3/2009 đã nhận được nhiều phản ứng. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu,
việc nới biên độ tỷ giá trong lúc xu thế tỷ giá tăng sẽ tạo ra sự kích thích tốt hơn.
Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước “điều chỉnh linh hoạt tỷ giá ngoại tệ
theo tín hiệu thị trường, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ
mô, phấn đấu điều hành cán cân thanh toán quốc tế theo hướng không để thâm hụt”.

Trong thời gian tới cần kiên trì mục tiêu điều hành tỷ giá linh hoạt trong ngắn hạn,
tương đối ổn định trong dài hạn là rất quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và khôi
phục ổn định kinh tế vĩ mô.

Phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các Bộ, ngành đóng vai trò rất quan trọng và
quyết định sự thành công của công tác điều hành tỷ giá. Trong năm 2008, NHNN đã phối
hợp chặt chẽ và thường xuyên với Bộ Công thương trong việc kiểm soát nhập siêu và với
Bộ Tài chính trong việc huy động các nguồn ngoại tệ để tăng dự trữ quốc gia cũng như
khả năng can thiệp thị trường.

Với tính nhạy cảm của tỷ giá và trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập
kinh tế quốc tế, các luồng chu chuyển vốn gia tăng, công tác điều hành tỷ giá phải gắn
với việc bám sát mọi diễn biến của thị trường để có biện pháp kịp thời, phù hợp với diễn
biến thị trường.

Sự phối hợp chặt chẽ với các NHTM đóng góp đáng kể vào hiệu quả công tác điều
hành tỷ giá do các NHTM có ảnh hưởng lớn trên thị trường là kênh truyền tải nhanh, hiệu
quả ý đồ can thiệp của NHNN đến thị trường.

Công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố lòng tin của
người dân, doanh nghiệp, tăng cường hiệu quả điều hành chính sách.
3.3.1.4. Chính sách đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu
Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của nước ta chuyển biến còn chậm trong nhiều năm
qua. Trong thời gian qua, cần có chính sách mạnh mẽ hơn để có sự đổi mới rõ nét về cơ
cấu hàng hóa xuất nhập khẩu.




 Đối với mặt hàng xuất khẩu
Cần tạo điều kiện phát triển cả mặt hàng truyền thống và các mặt hàng mới có khả
năng cạnh tranh trên thị trường
- Tăng cơ cấu các mặt hàng chế biến là sản phẩm chủ yếu cho xuất khẩu, giảm
mạnh và tối đa các mặt hàng nguyên liệu thô và sơ chế
- Thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm, chuyển dịch cơ cấu trong toàn bộ lĩnh vực,
trong mỗi ngành và từng loại sản phẩm vừa củng cố, hình thành các mặt hàng chủ lực,
vừa đa dạng hóa các mặt hàng
- Tận dụng thành quả KHCN và những cam kết đổi mới khi gia nhập WTO như
thuế suất để phát triển quy mô XK các mặt hàng, đặc biệt hướng tới tạo ra các sản phẩm
hoàn toàn mới.
 Đối với mặt hàng nhập khẩu
- Các mặt hàng máy móc, thiết bị và công nghệ luôn luôn được khuyến khích nhập
khẩu để phục vụ sản xuất
Giảm tỷ trọng các mặt hàng tiêu dùng
3.3.1.5. Chính sách đổi mới cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
Khâu then chốt của chiến lược phát triển hoạt động xuất nhập khẩu là mở rộng và
đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa các quan hệ đối tác nhất là khi chúng ta đã là thành
viên chính thức của WTO. Để có thể phát triển tốt thị trường, Chính phủ cần có biện
pháp khyến khích phát triển mở rộng thị trường đặc biệt là các thị trường ít bị ảnh hưởng
bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các thị trường cần hướng tới nhiều hơn trong thời gian
tới là Úc, New Zealand, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á (đối với hàng hóa thủy sản và
sản phẩm công nghiệp); thị trường Trung Đông (đối với hàng hóa nông sản, thực phẩm
và hàng gia dụng); thị trường Nam Mỹ, Châu Phi (đối với hàng tiêu dùng và hàng công
nghiệp). Chính sách cụ thể với từng thị trường như sau:
- Thị trường Châu Á: là thị trường rộng lớn với nhu cầu phong phú. Việt Nam chủ
yếu quan hệ thương mại với Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN và Đài Loan
 Thị trường Nhật Bản: Việt Nam nhập các mặt hàng có chứa hàm lượng công
nghệ và kỹ thuật cao của Nhật Bản, trong khi Việt Nam tổ chức xuất khẩu sang Nhật Bản
các mặt hàng thô, xơ chế. Đây là mối quan hệ 2 chiều, thúc đẩy GDP 2 nước. Để có môi
trường thân thiện và hợp tác cao chúng ta cần thực hiện một số biện pháp sau đây:
Thứ nhất, hợp tác tổ chức XTTM với Nhật Bản để 2 bên cung cấp thông tin về thị
trường cho nhau
Thứ hai, cần thúc đẩy quá trình ký kết hiệp định thương mại song phương Việt
Nam – Nhật Bản
 Thị trưởng Trung Quốc: vừa là bạn hàng quan trọng, vừa là đối thủ cạnh
tranh lớn. Để phát triển thương mại 2 nước cần quan tâm đến các khía cạnh sau:
Khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này bằng
chính ngạch, tiểu ngạch, mậu dịch và phi mậu dịch.
Hai quốc gia cần thống nhất xây dựng danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai
bên. Đồng thời đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác, hữu nghị lâu đời giữa 2 quốc gia.
 Thị trường ASEAN: Có sự cạnh tranh về mặt hàng gạo với Thái Lan,
Malaysia, Philippin, Indonesia. Với các nước này, cần có thỏa thuận để làm tốt công tác
thị trường. Với các nước khác trong khu vực, cần đẩy mạnh xuất khẩu gạo. Ngoài ra phát
triển xuất khẩu linh kiện máy tính, thực phẩm chế biến và các sản phẩm, hàng hóa khác.
Tổ chức đàm phán, thỏa thuận đối với những mặt hàng trùng lặp để tránh tranh chấp
thương mại. Nắm lấy lợi thế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang Lào và Campuchia.
- Thị trường EU: Thị trường này được bảo hộ chặt chẽ bởi các hàng rào kỹ thuật
nghiêm ngặt như: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu
chuẩn bảo vệ môi trường, lao động, xã hội. Đối với một thị trường khó tính và khắt khe
với hàng nhập khẩu như thế này, Chính phủ ta cần thực hiện một số biện pháp sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện các hệ thống chính sách thương mại giữa Việt Nam với EU
Thứ hai, thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và EU bằng các biện pháp XTTM cho
doanh nghiệp hai bên có thể hiểu về thị trường của nhau, hiểu về các luật lệ và tâm lý tiêu
dùng
- Thị trường Hoa Kỳ: Là một đối tác lớn của Việt Nam, có nhiều quy định khắt
khe đối với hàng nhập khẩu. Cần chủ động tiếp cận thị trường này.

- Thị trường Trung Đông và châu Phi: Là thị trường rất nhiều tiềm năng

Hiện nay, Việt Nam đã có chiến lược thâm nhập thị trường này và cần phải đẩy
mạnh nghiên cứu thị trường này một cách bài bản, song trước mắt rất cần phải có sự hỗ
trợ của nhà nước. Cụ thể, tăng cường tổ chức các đoàn cán bộ cao cấp của Việt Nam sang
làm việc tại một số nước châu Phi, có sự tham gia của doanh nghiệp, để tiếp tục ký các
thỏa thuận thương mại và hợp đồng xuất khẩu. Các mặt hàng nhiều tiềm năng là gạo, chè,
sản phẩm nhựa, may mặc.

Với thị trường Trung Đông, ngoài Iraq, cần chú trọng Dubai (Các tiểu vương quốc
Ảrập thống nhất) vì đây là cửa ngõ của khu vực Trung Cận Đông và là địa điểm trung
chuyển hàng hóa đi Syria, Ảrập Xêut, châu Phi, châu Âu... Dubai có nền kinh tế mở, môi
trường kinh doanh tự do, hầu như không có thuế nhập khẩu, các công ty ở đây làm ăn nói
chung nghiêm chỉnh, vì vậy doanh nghiệp Việt Nam cần cố gắng thâm nhập được Dubai,
làm bàn đạp để vào các nước lân cận.

Việc phát triển, mở rộng thị trường mới, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà
nước với các hiệp hội ngành hàng xuất khẩu và doanh nghiệp.

3.3.2. Đối với doanh nghiệp
3.3.2.1. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại đặc biệt là các thị trường ít bị
ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Công tác xúc tiến thương mại (XTTM) ở Việt Nam ngày càng được quan tâm.
Mặc dù trong thời gian qua, một số doanh nghiệp đã tổ chức các chuyến đi nghiên cứu thị
trường hay tham gia các hội trợ, triển lãm ở nước ngoài; cũng như trong nước luôn tích
cực trong các hoạt động quảng bá sản phẩm, các chương trình khuyến mại được áp dụng
rộng và trong thời gian dài… nhưng nhìn chung những hoạt động này còn mang tính tự
phát và phần nào chưa đạt đươc hiệu quả như mong muốn.
Chính phủ cho biết, nguồn kinh phí cho hoạt động XTTM không thiếu, nếu có
điều kiện sẽ hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp, hỗ trợ các hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ
tăng trưởng xuất khẩu đề ra. Các hiệp hội ngành hàng cần gửi về Bộ Công thương những
sự kiện XTTM của hiệp hội, ngành hàng đã và đang tổ chức trong năm 2009, nếu các sự
kiện đó cần hỗ trợ của nhà nước để đẩy mạnh xuất khẩu. Việc hỗ trợ chi phí cho doanh
nghiệp kể cả các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam để khảo sát, thương giao, kí kết
hợp đồng cũng có thể được xem xét. Tuy nhiên tránh lợi dụng, gây thất thoát, lãng phí.
Để đẩy mạnh công tác XTTM, trước hết các doanh nghiệp cần làm tốt khâu thông
tin. Mặc dù công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, cập nhật nhanh chóng và độ chính
xác tương đối cao nhưng cũng không thể tránh khỏi việc thông tin bị sai lệch để dẫn đến
những dự báo lệch như đợt xuất khẩu gạo năm 2008 làm thất thu không nhỏ từ xuất khẩu.
Hoặc như việc, khi nói đến châu Phi, các doanh nghiệp thường lo sợ về một thị trường
đầy rủi ro, bất trắc mà bỏ qua tiềm năng, cơ hội dể hợp tác, mở rộng tại thị trường này…
Như vậy, muốn phát triển thương mại thì các doanh nghiệp phải tự nâng cao khả năng
thu thập và xử lý thông tin.
Tích cực quảng bá thương hiệu sản phẩm về các ngành hàng, sản phẩm xuất khẩu
có thế mạnh của Việt Nam thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở
nước ngoài. Các doanh nghiệp cần chủ động công tác quảng bá sản phẩm và thương hiệu
của mình trên thị trường nhiều nước, bằng nhiều hình thức, cho nhiều đối tượng ở các thị
trường khác nhau. Các hiệp hội, ngành hàng và doanh nghiệp cần có các chương trình
XTTM ở các nước mà lâu nay chưa tham gia hoặc tham gia chưa đúng mức, chưa đủ
tầm, nhất là với các chương trình ở các thị trường mới, mặt hàng mới
Các doanh nghiệp Việt Nam đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tham gia
hội chợ và triển lãm quốc tế. Do chưa gắn mục tiêu tham gia với chính sách mặt hàng
cùng những hạn chế về mặt kinh phí mà hoạt động quảng bá sản phẩm cũng như tìm
kiếm đối tác còn hạn chế.
Trong thời gian tới, cần vừa tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng
thị trường xuất khẩu sang các khu vực ít bị tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái
kinh tế, vừa tận dụng lợi thế từ các hiệp định khu vực mậu dịch tự do (FTA) để đẩy mạnh
xuất khẩu.
Thúc đẩy sớm việc ký kết hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, các hiệp
định khu vực mậu dịch tự do (FTA) với Úc, New Zealand, Ấn Độ. Đồng thời, xúc tiến
chuẩn bị đàm phán FTA với một số đối tác kinh tế quan trọng khác.
Về lâu dài, chính phủ cần có chính sách khuyến khích hỗ trợ các tổ chức, cá nhân
thành lập các trung tâm thương mại tại các nước. Việc thành lập các trung tâm thương
mại sẽ hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có
điều kiện thâm nhập vào thị trường.
3.3.2.2. Tăng cường đổi mới công nghệ
Công nghệ là yếu tố quan trọng giúp tăng trưởng kinh tế bởi nó chính là yếu tố
không thể thiếu trong công tác nhập khẩu tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam,
nhằm tạo điều kiện để xuất khẩu phát triển. Chính sách phát triển công nghệ của Việt
Nam cần tập trung vào nhập khẩu công nghệ của các nước tiên tiến cũng như cần đầu tư
vào công tác nghiên cứu các sản phẩm công nghệ phù hợp với khả năng phát triển và
trình độ của đất nước. Chúng ta nên thực hiện phát triển công nghệ như sau:
Đầu tiên, thông qua việc mua công nghệ chuyển giao phục vụ sản xuất trong nước,
Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu từ các nước phát triển, có công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Hoặc thông qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện nhập khẩu các
công nghệ đó.
Sau đó, bằng việc áp dụng và thực hiện nhuần nhuyễn cộng với sự cải tiến để phù
hợp hơn, chúng ta thực hiện biến công nghệ của nước ngoài thành công nghệ của ta và
tiến tới sản xuất công nghệ riêng mình.
Quá trình đó lặp lại với các công nghệ khác nhau. Các chính sách phát triển công
nghệ của Việt Nam luôn tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tuy nhiên cần lưu ý những điể m
sau:
Khi nhập khẩu thiết bị tiên tiến, các công nghệ hiện đại, doanh nghiệp sẽ tiến hành
-
cắt giảm nhân công, tỷ lệ lao động thất nghiệp tăng lên. Vì vậy chính phủ cần tính toán,
xem xét nhập khẩu công nghệ vừa phải kết hợp với sử dụng lao động.
Khi doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ, tức là các doanh nghiệp không có điều kiện
-
nhập khẩu sẽ chịu chấp nhận “hy sinh”.
Cần thực hiện các quy định về quyền sở hữu trí tuệ để khuyến khích các nhà khoa
-
học và người dân tham gia công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đất nước.
3.3.2.3. Phát triển yếu tố nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực ở đây bao gồm đội ngũ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp, nhân lực
hoạch định các chính sách, nguồn nhân lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm, thị
trường…
Trong bối cảnh hiện nay, người lãnh đạo là người dám nghĩ, dám làm, mạnh dạn
trong sản xuất các sản phẩm mang tính chất mới lạ, độc đáo cũng như phải có tầm nhìn
chiến lược, hướng thị trường đi xa hơn, rộng hơn. Trong từng doanh nghiệp cần phải có ý
thức tuyển chọn, đào tạo người lao động, người cán bộ lãnh đạo giỏi về nghiệp vụ và có
lòng nhiệt tình trong công việc.
Nguồn nhân lực có thể được phát triển từ nguồn học sinh, sinh viên trong các nhà
trường bằng việc tạo cơ hội cho họ được tu nghiệp tại nước ngoài, kết hợp với việc tiếp
cận thực tế ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.
KẾT LUẬN


Khủng hoảng kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng khá lớn đối với kinh tế nói chung và
xuất nhập khẩu nói riêng. Đối với Việt Nam là đất nước đang phát triển, kim ngạch xuất
nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn và quyết định đến GDP cũng như có ảnh hưởng quan trọng
đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Xuất khẩu có bền vững thì quốc gia mới phát
triển, tăng trưởng nhanh và ổn định.
Thực tế là, trong thời gian qua, bằng sự nỗ lực của mình, Chính phủ đã có những
giải pháp tích cực nhằm giảm thiểu tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nền
kinh tế cũng như hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Chúng ta cũng hy vọng và tin
tưởng rằng, trong thời gian ngắn nhất, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam lại sôi
động trở lại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



1. Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải, 2007, Giáo trình Kinh tế ngoại thương, Nhà
xuất bản Lao động - Xã hội
2. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, 2004, Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nhà xuất
bản Lao động - Xã hội
3. Tổng cục Thống kê, 2006, Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới
(1986 – 2005), Nhà xuất bản Thống kê
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 -2010,
2006
5. Bộ Thương mại, Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2010, 2000
6. Bộ Thương mai, Đề án xuất nhập khẩu giai đoạn 2006 -2010, 2006
7. Các website:
http: //www.gso.gov.vn
http: //www.chinhphu.vn
http: //www.economics.vnu.edu.vn
http: //www.vietnamtrdefair.com
http: //www.ngoaithuong.vn
http: //www.vitinfo.com.vn
http://www.vneconomy.vn
http://www.vn-seo.com
http://www.vietrade.gov.vn




M ỤC L ỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................ 1
Chương 1: Cơ sở lý luận để đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầ u
đến xuất nhập khẩu của Việt Nam ....................................................................... 3
1.1.Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu ....................................................... 3
1.1.1.Các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc tế .......................................... 3
1.1.1.1.Lý thuyết lợi ích tuyệt đối của Adam Smith .................................................. 3
1.1.1.2.Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo ................................................ 4
1.1.1.3.Lý thuyết Heckscher – Ohlin ........................................................................ 6
1.1.2.Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế........................................................ 7
1.1.2.1.Thương mại dựa trên tính kinh tế theo quy mô ............................................. 7
1.1.2.2.Thương mại dựa trên sự biến đổi công nghệ ................................................ 8
1.1.2.3.Lý thuyết thương mại liên quan đến cầu ...................................................... 9
1.1.4.Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu với hoạt động kinh tế ............................. 13
1.2.Diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ....................................... 14
1.2.1.Khủng hoảng tài chính ở Mỹ - Xuất phát điểm của khủng hoảng tài chính toàn cầu
.................................................................................................. 14
1.2.2.Khủng hoảng ở các quốc gia khác ................................................................ 16
1.2.2.1.Khủng hoảng ở Châu Âu ........................................................................... 16
1.2.2.2.Sự lan tỏa của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế Châu Á ............ 17
1.3.Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ................................ 18
1.4.Những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến các vấn đề kinh tế - xã
hội 20
1.4.1.Tác động đến tăng trưởng kinh tế ................................................................. 21
1.4.2.Tác động đến thương mại quốc tế ................................................................. 22
1.4.3.Tác động đến các vấn đề xã hội .................................................................... 24
1.5.Khung lý thuyết để đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến
xuất nhập khẩu ở Việt Nam ................................................................................ 27
1.5.1.Tác động đến xuất khẩu ................................................................................ 27
1.5.2. Tác động đến nhập khẩu .............................................................................. 28
1.5.3. Tác động đến cán cân thương mại ............................................................... 29
1.6. Kinh nghiệ m của các nước dể đối phó với tác động của khủng hoảng đến xuất
khẩu……………………………………………………………....34
1.6.1.Trung Quốc……………………………………………………..…..34
1.6.2.Thái Lan……………………………………………………………….36
1.6.3.Mỹ………………………………….. ……………………………....37
1.6.4.Nhật Bản kích cầu…………………………………………………….38

Chương 2: Đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhậ p
khẩu của Việt Nam .............................................................................................. 35
2.1. Bối cảnh kinh tế Việt Nam trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn
cầu………………………………………………………………………......35
2.1.1. Giai đoạn 2001 – 2007 ................................................................................ 35
2.1.2. Năm 2008 và đầu năm 2009 ........................................................................ 36
2.2. Đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với Việt
Nam……………………………………………………………………38
2.2.1. Tác động đến kinh tế ................................................................................... 38
2.2.2. Tác động đến các vấn đề xã hội ................................................................... 41
2.3. Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ trước khủng
hoảng………………………………………………………………………..42
2.3.1. Kim ngạch xuất - nhập khẩu ........................................................................ 42
2.3.2. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu ................................................................. 44
2.3.3. Thị trường xuất nhập khẩu .......................................................................... 45
2.4. Đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến xuất nhập khẩu của Việt
Nam 49
2.4.1. Ảnh hưởng đến kim ngạch xuất - nhập khẩu ................................................ 49
2.4.1.1.Kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm mạnh........................................... 50
2.4.1.2.Về nhập khẩu ............................................................................................. 51
2.4.2.Ảnh hưởng đến cán cân thương mại ............................................................. 59
2.4.3.Ảnh hưởng đến cơ cấu mặt hàng xuất - nhập khẩu ........................................ 53
2.4.3.1.Cơ cấu hàng xuất khẩu .............................................................................. 53
2.4.3.2.Cơ cấu hàng nhập khẩu ............................................................................. 56
2.4.4.Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu ................................................................. 61
2.5. Các chính sách của Chính phủ nhằm hạn chế tác động tiêu cực của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của việt Nam trong thời gian
qua…………………………………………………………….....73
2.5.1.Chính sách kích cầu…………………………………………………...74
2.5.2.Chính sách thuế……………………………………………………….75
2.5.3.Chính sách hỗ trợ lãi suất……………………………………………..76

2.5.4.Chính sách về xúc tiến thương mại…………………………………...78

Chương 3: Các giải pháp giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng đến hoạt động
xuất nhập khẩu của Việt Nam ............................................................................ 70
3.1.Cơ hội và thách thức đối với xuất nhập khẩu Việt Nam trong điều kiện khủng
hoảng kinh tế toàn cầu ........................................................................................ 70
3.1.1.Cơ hội…………………………………………………………………...70
3.1.2.Thách thức 71
3.2.Định hướng và mục tiêu xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ khủng
hoảng kinh tế toàn cầu…….………………………………………72
3.2.1.Định hướng 72
3.2.2.Mục tiêu……………………………………………………………….73
3.3.Một số giải pháp giảm tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đế n
hoạt động xuất nhập khẩu .................................................................................. 75
3.3.1.Đối với Chính phủ ........................................................................................ 75
3.3.1.1. Nâng cao hiệu quả chính kích cầu ............................................................ 75
3.3.1.2. Chính sách thuế……………………………………….…………….90

3.3.1.3. Chính sách tài chính, tiền tệ ..................................................................... 79
3.3.1.4. Chính sách đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu………….....95
3.3.1.5.Chính sách đổi mới cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu ............................... 82
3.3.2. Đối với doanh nghiệp .................................................................................. 84
3.3.2.1. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại đặc biệt là các thị trường ít bị ảnh
hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu ............................................................... 84
3.3.2.2. Tăng cường đổi mới công nghệ................................................................. 86
3.3.2.3. Phát triển yếu tố nguồn nhân lực .............................................................. 87
KẾT LUẬN.......................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO




DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
BẢNG
Bảng 1: Mô hình thương mại dựa trên thuyết tuyệt đối ........................................... 4
Bảng 2: Mô hình giản đơn về lợi thế so sánh ........................................................... 5
Bảng 1.4.2. Dự báo tăng trưởng thương mại thế giới năm 2009 – 2010 ................. 22
Bảng 2.1.3. Một số chỉ tiêu chủ yếu quý I năm 2009 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm
trước (%) .............................................................................................................. 38
Biểu 2.1.1. Chỉ số lạm phát các tháng trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 39
Bảng 2.3.3.1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ....................... 46
giai đoạn 1986 – 2007 ........................................................................................... 46
Bảng 2.3.3.2. Cơ cấu thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ...................... 48
giai đoạn 1986 – 2007 ........................................................................................... 48


HÌNH
Hình 1: Thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô ................................. 8
Hình 2: Vòng đời sản phẩm và thương mại quốc tế ................................................. 9
Hình 1.4.3. WB khoanh vùng các nước rủi ro: Vùng giữa là các nước có khả năng rủi ro
về đói nghèo nhất .................................................................................................. 26
Hình 2.1.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế các năm giai đoạn 2001 – 2007 (%).......... 35
Hình 2.3.1. Kim ngạch xuất - nhập khẩu và cán cân thương mại giai đoạn 2001 – 2007
............................................................................................................................. 43
Hình 2.3.2.1. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2007 .......................... 44
Hình 2.3.2.2. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2007 ...................... 45
Hình 2.4.1. Kim ngạch xuất – nhập khẩu và cân đối.............................................. 49
Hình 2.4.2.1. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam (phân loại theo SITC)55
Hình 2.4.2.2. Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam (phân loại theo nhóm hàng)
............................................................................... Error! Bookmark not defined.
Hình 3.3.1.3. Tỷ giá USD/VND những tháng vừa qua .......................................... 80

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản