TIỂU LUẬN: Báo cáo thực tập tại Công ty Kim Khí Thăng Long

Chia sẻ: chopchop1122

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận: báo cáo thực tập tại công ty kim khí thăng long', luận văn - báo cáo, kinh tế - thương mại phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Báo cáo thực tập tại Công ty Kim Khí Thăng Long

TIỂU LUẬN:



Báo cáo thực tập tại Công ty

Kim Khí Thăng Long
Lời Mở đầu


Để cho quá trình thực tập của sinh viên cuối khoá và cho công tác giám sát
sinh viên trong thời gian thực tập được hiêu quả hơn.Theo yêu cầu của nhà trường,
trước khi vào viết báo cáo chuyên đề thực tập sinh viên phải viết báo cáo thực tập
tổng hợp. Giới thiệu sơ lược về công ty mình thực tập, về những thành tựu cũng như
các khó khăn mà Công ty đang mắc phải, từ đó kiến nghị một số giải pháp để khắc
phục những khó khăn, tồn tại đó.
Trong khoảng thời gian thực tập tại Công ty Kim Khí Thăng Long, tuy
không dài nhưng nhờ nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của ban giám đốc, các phòng
ban trong Công ty, đặc biệt của các cán bộ Phòng Kế Hoạch giúp em có được nhiều
thông tin quan trọng cần thiết để hoàn thành bài báo cáo này. Bài viết của em được
trình bày theo bố cục như sau:
Phần i. Quá trình hình Thành và phát triển của Công ty Kim Khí Thăng Long
I ,Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
II, Đặc điểm kinh Tế - Kỹ thuật của Công ty.
1, Đặc điểm về công nghệ sản xuất.
2, Đặc điểm vể sản phẩm của Công ty.
3, Đặc điểm về Nguyên vật liệu, vật tư.
4, Đặc điểm và lao động.
5, Đặc điểm mô hình tổ chức quản lý của Công ty.
Phần ii. Tóm lược thực trạng Công ty Kim Khí Thăng Long.
I.Thực trạng hoạt động sản xuất-kinh doanh của Công ty.
1, Tình hình sản xuất- tiêu thụ các mặt hàng.
2, Chất lượng sản phẩm của Công ty.
3, Hiệu quả sản xuất-kinh doanh của Công ty.
II. Thực trạng hoạt động quản lý của Công ty.
1, Công tác kế hoạch.
2, Công tác quản lý vật tư, bán thành phẩm.
3, Công tác quản lý nhân sự.
4, Công tác thu nhập, xử lý thông tin và quản lý thông tin nội bộ
Phần iii. Nhận xét chung.


Phần i :
Quá trình hình Thành và phát triển của
Công ty Kim Khí Thăng Long


i.1> Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Kim Khí Thăng Long là một Công ty TNHH một thành viên, trực
thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 522/QĐ - TCCQ
ngày 13/3/1969 của Uỷ ban Hành Chính Thành phố Hà Nội trên cơ sở sáp nhập 3
Xí nghiệp:
- Xí nghiệp Đèn Pin.
- Xí nghiệp Đèn Bão.
- Xí nghiệp Khoá Hà Nội.
Với tên gọi ban đầu là: Nhà Máy Kim Khí Thăng Long. Khi mới thành lập,
Nhà máy có gần 300 lao động, trong đó lao động thủ công chiếm hơn 60%. Cán bộ
lãnh đạo không được đào tạo chuyên sâu, chủ yếu đều trưởng thành từ công nhân
hoặc từ quân đội chuyển ngành sang. Xét trong phạm vi toàn c ơ quan lúc đó không
có người tốt nghiệp Đại học, tất cả chỉ có 9 cán bộ Trung cấp. Bên cạnh đó hệ thống
nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc nghèo nàn, công nghệ thì lạc hậu, chủ yếu do
trong nước tự chế tạo. ở giai đoạn này sản phẩm chính của Nhà máy là: đèn bão,
đèn pin, khóa và một số mặt hàng nhôm như Xoong, ấm. . .
Thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, sắp xếp lại Doanh nghiệp Nhà
nước theo Nghị định 388/HĐBT ngày 23/11/1992, UBND Thành phố Hà Nội ra
Quyết định số 2950/ QĐ-UB cho phép thành lập lại doanh nghiệp.
Ngày13/ 9/1994, doanh nghiệp được UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định
số 1996/QĐ-UB cho phép đổi tên thành: Công Ty Kim Khí Thăng Long.
Kể từ đó đến nay mọi giao dịch trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty đều sử dụng tên:
Tên doanh nghiệp: Công ty Kim Khí Thăng Long.
Tên quan hệ Quốc Tế: Thang long metal Wares company.
Trụ sở chính: Thị Trấn Sài Đồng, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội. Với
diện tích mặt bằng có trên 25.000 m2, trong đó có gần 12.000 m2 nhà xưởng và kho
tàng.
Điện thoại: (04) 8.271304
Fax: 8.276670
Website: www.thanglongmetalwares.com
Chi nhánh tại Hà Nội: 195 Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội.
Chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh: 2A-Đường Minh Phụng-Phường 5-Quận 6.
Theo quyết định số: 1996/QĐ-UB ngày 13/9/1994 của UBND TP Hà Nội.
Số đăng ký kinh doanh: 100094.
Ngành nghề kinh doanh chính: sản xuất các mặt hàng kim khí gia dụng và
chi tiết sản phẩm cho các ngành công nghiệp khác từ kim loại mỏng bằng công
nghệ đột dập.
Ngày 4/3/1998, UBND Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 93/QĐ-UB về
việc sáp nhập Nhà máy Cơ khí Lương Yên vào Công ty Kim Khí Thăng Long.
Cuối năm 2002, Công ty sáp nhập thêm Công ty Thiết bị Lạnh Long Biên.
Khi Đảng và Nhà nước ta có chủ trương đổi mới cơ chế từ cơ chế quan liêu
bao cấp sang nền KTTT có sự quản lý của Nhà n ước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, đã có không ít các doanh nghiệp trong ngành cơ khí không chịu được sự cạnh
tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường đã bị phá sản. Tưởng chừng Công ty Kim
Khí Thăng Long cũng sẽ bị cuốn theo xu hướng đó, nhưng nhờ sự chỉ đạo đúng
hướng của Sở Công nghiệp Hà nội, sự nhận thức đúng đắn của ban lãnh đạo đã
giúp cho Công ty đứng vững trong nền KTTT. Lãnh đạo Công ty đã đi sâu đi sát,
nắm bắt tình hình, đề ra các giải pháp đúng hướng tháo gỡ khó khăn như: nhanh
chóng ổn định tổ chức, nâng cao các mặt trong công tác quản lý, đầu tư đổi mới
thiết bị công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, đề ra các biện pháp tiếp cận thị
trường…. Do đó Công ty đã liên tục hoàn thành các nhiệm vụ với thành tích năm
sau cao hơn năm trước, đời sống của CBCNV trong những năm trở lại đây từng
bước được cải thiện và nâng cao, công nhân có việc làm đầy đủ với thu nhập ổn
định. Chính vì thế ban lãnh đạo của Công ty đã có được sự tin tưởng tuyệt đối của
công nhân viên, để rồi từ niềm tin ấy khiến công nhân lao động hăng hái hơn, tạo đà
để Công ty phát triển ngày càng lớn mạnh.
Sự phát triển của Công ty trong những năm qua thực sự là đáng khích lệ.
Trong các năm qua, Công ty đã trưởng thành và phát triển không ngừng, không
những về số lượng mà còn cả về chất lượng. Một số chỉ tiêu sau đã một phần chứng
minh điều đó:
Bảng 1: Một số chỉ tiêu chủ yếu của Công ty trong các năm qua


Năm thực hiện
Chỉ tiêu Đơnvị
2000 2001 2002 2003 2004
Tỷ vnđ 100 121 135 206 315
1, Giá trị SXCN
101 113 134 205 312
2, Doanh thu
Tỷ vnđ
25,5 42 23 53 98
Trong đó XK
Tỷ vnđ 6,0 6,2 4,6 5,1 6,8
3, Nộp ngân sách
Triệu/người
4, Thu nhập BQ
/tháng 1,280 1,496 1,433 1,509 1,650
người 992 1.059 1.227 1.850 1.910
5, Lao Động
Nguồn: Phòng Kế hoạch
Với những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, Công ty đã vinh dự
được Nhà nước tặng:
- 1 Huân chương chiến công hạng ba.
- 1 Huân chương lao động hạng ba.
- 1 Huân chương chiến công hạng hai.
- Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
Công ty đã vinh dự được đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí Thư Đảng
Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch Nước về
thăm hỏi, động viên.
Công ty liên tục được công nhận là đơn vị sản xuất-kinh doanh giỏi của
Thành phố và Bộ công nghiệp.
Để tiếp tục phát triển và thoả mãn tốt hơn nhu cầu thị trường, với quan điểm
mở rộng hợp tác, Công ty Kim Khí Thăng Long đã cùng các tập đoàn HONDA,
GOSHI GIKEN của Nhật Bản; ASEAN Motor, Co.,ltd của Thái Lan thành lập liên
doanh sản xuất phụ tùng ôtô xe máy Goshi-Thang Long với tổng vốn đầu tư là
13.780.000 USD, trong đó Công ty 30% vốn.
i.2> Đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của Công ty
i.2.1> Công nghệ sản xuất:
Để sản xuất ra các mặt hàng kim khí tiêu dùng các loại đạt tiêu chuẩn chất
lượng cao, C.ty đang sử dụng nhiều công nghệ sản xuất khác nhau, cụ thể như sau:
1, Công nghệ Đột, Dập:
Để tạo hình sản phẩm phải dùng công nghệ dập tấm, dập thể tích trên các
máy dập cơ khí, dập thuỷ lực có lực từ 1 đến 1000 tấn. Sau đó, dùng các công nghệ
khác để hoàn chỉnh sản phẩm như: gấp viền, uốn trên các máy chuyên dùng.
2, Công nghệ Hàn:
Sau khi tạo hình, các chi tiết rời được ghép với nhau bằng công nghệ Hàn,
với các máy hàn cao tần, hàn điểm, hàn đường, hàn chương trình, hàn có khí bảo
vệ…
3, Công nghệ Mạ, Sơn và Tráng men:
Sản phẩm sau hàn được xử lý bề mặt, đánh bóng, sơn, mạ, tráng men theo
yêu cầu của từng loại sản phẩm. Để thực hiện công đoạn, Công ty đã trang bị các
công nghệ Sơn tĩnh điện, mạ kẽm, mạ Crôm, mạ Niken, mạ vàng
4, Công nghệ chế tạo và sữa chữa khuôn mẫu:
Để sản xuất ra sản phẩm, trước tiên phải chế tạo khuôn mẫu, đồ gá và các
thiết bị chuyên dùng để sửa chữa. Ngoài các công nghệ gia công cơ khí thông
thường, Công ty đã trang bị thêm một Trung tâm gia công cơ khí theo công nghệ
CNC (Computer Numerical Control). Đây là công nghệ gia công cơ khí hiện đại
nhất mà thế giới đang áp dụng và lần đầu tiên được áp dụng ở một Công ty cơ khí
của Hà Nội, Công ty Kim Khí Thăng Long. Với công nghệ này toàn bộ quá trình
thiết kế hàng mẫu, khuôn mẫu đều được lập trình và điều khiển trên máy vi tính với
độ chính xác rất cao.
5, Công nghệ lắp ráp:
Đây là công nghệ cuối cùng của quá trình sản xuất, là kết qủa của toàn bộ
quá trình.
6, Hệ thống kiểm soát chất lượng:
Trong tất cả quá trình công nghệ trên, các chi tiết đều được kiểm tra chất
lượng nghiêm ngặt bằng các thiết bị đo độ cứng, độ bền mối hàn, đo chiều dày lớp
sơn, cũng như quản lý chất lượng sản phẩm.
Năm 1998, Công ty bắt đầu áp dụng các biện pháp chỉ tiêu của ISO 9002.
Tháng 7 năm 2000, tổ chức QMS (AUSTRALIA) và Quacert (Việt Nam) đã
cấp chứng chỉ ISO 9002 cho hệ thống quản lý chất lượng Công ty Kim Khí Thăng
Long. Đây là sự ghi nhận những cố gắng và tiến bộ của Công ty trong công tác quản
lý chất lượng. Để đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của ISO 9002, Công ty đã có
những sự đầu tư đúng đắn và hiệu quả: đầu tư cho giáo dục đào tạo, nâng cấp hệ
thống lưu trữ thông tin, nâng cấp trang thiết bị máy móc… Cơ cấu trong hệ thống
chất lượng cũng có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Chính sách,
mục tiêu chất lượng được lập và đưa tới tất cả các phòng, ban, phân xưởng để động
viên cán bộ công nhân viên phấn đấu vì sự phát triển chung của Công ty.




Sơ đồ 1: Quá trình sản xuất

Nguyên vật
liệu:
sắt, thép,



Dập tạo hình
Đội xe
PX Cơ
vận điện

sản phẩm
Hàn ghép các chi
tiết sản phẩm.
Sản
xuất Bộ phẫn
Tráng men
lên bề mặt chế tạo
Mạ hoặc sản phẩm khuôu
sơn lên
chi tiết


Sửa Lắp ráp hoàn chỉnh
chữa
điện

Thành
I.2.2> Đặc điểm về sản phẩm của Công ty.
Hiện nay, Công ty chuyên sản xuất các mặt hàng kim khí gia dụng và các chi
tiết sản phẩm cho các ngành công nghiệp khác từ kim loại tấm, lá mỏng bằng công
nghệ đột, dập. Sản phẩm được bảo vệ và trang trí bằng công nghệ Mạ, tráng Men,
nhuộm kim loại và các công nghệ khác. Với trang thiết bị hiện đại, quy trình công
nghệ khép kín, hàng năm Công ty có thể sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu sản phẩm hoàn
chỉnh.
Sản phẩm của Công ty rất phong phú và đa dạng, có khoảng trên 100 mặt
hàng thuộc các nhóm sau:
 Nhóm mặt hàng truyền thống: bếp dầu tráng men các loại, đèn toạ đăng,
đèn bão, vỏ đèn chiếu sáng công cộng, ấm, Xoong, Chảo nhôm. .
 Nhóm mặt hàng gia dụng cao cấp (nhóm mặt hàng INOX): các loại đèn
trang trí, Xoong, chảo inox, ấm điện, bếp điện, vỏ bếp ga, đèn nến
(ROTERA), bộ đồ chơi trẻ em bằng inox…
 Nhóm mặt hàng xuất khẩu: giá để giầy 110, 55; Bát BLANDA…, mặt hàng
đèn nến, bộ đồ chơi trẻ em bằng inox được xuất khẩu trực tiếp sang thị
trường EU và Mỹ La Tinh.
 Nhóm mặt hàng chi tiết xe máy: Công ty tham gia vào chương trình nội địa
hoá các sản phẩm tiêu dùng cao cấp như: Phụ tùng xe máy SUPER DREAM,
xe máy FUTURE, phụ tùng máy bơm nước ShiNiL…)
Sản phẩm của Công ty hiện được tiêu thụ trên cả nước thông qua 30 đại lý tại
các tỉnh thành phố, và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như: Hà Nội, TP Hồ
Chí Minh, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cần Thơ, Đà Nẵng… và một số thị trường nước
ngoài như: CHLB Đức, Pháp, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung
Quốc, Nga, Bêlarut…
Do đảm bảo được chất lượng, thoả mãn thị hiếu người tiêu dùng, sản phẩm
của Công ty đã có uy tín không chỉ trên thị trường trong nước mà cả thị trường nước
ngoài, đã giành được nhiều Huy chương Vàng tại các Hội chợ triển lãm. Năm 1998,
Công ty được Tổng cục Tiêu Chuẩn-Đo Lường-Chất Lượng tặng Giải thưởng Bạc.
Mặt hàng bếp dầu tráng men của Công ty được xếp hạng 37/200 mặt hàng chất
lượng cao được người tiêu dùng tín nhiệm.
i.2.3> Đặc Điểm Nguyên Vật Liệu, vật tư.
Như đã trình bày ở trên, Công ty Kim Khí Thăng Long là một Công ty chủ
yếu sản xuất hàng kim khí tiêu dùng. Vì vậy, nguyên liệu được dùng chủ yếu là các
loại sắt thép, tôn (ở dạng tấm, miếng lớn), hoá chất và các nguyên liệu phụ khác
phục vụ cho sản xuất. Kim loại (sắt, thép, tôn) thường ở dạng tấm rất lớn do vậy
khó gia công chế biến; để đột dập, tạo hình sản phẩm Công ty đã sử dụng các máy
chuyên dùng có lực lớn.
Một đặc điểm nữa là những nguyên liệu này chủ yếu nhập từ nước ngoài. Cụ
thể gồm có các loại nguyên liệu sau:
Kim loại đen dạng tấm (loại 0,3-0,5ly) phục vụ cho sản xuất hàng truyền
thống. Năm 2003, 2004 mỗi năm Công ty đã nhập khoảng 1200 tấn.
Nguyên vật liệu dùng sản xuất hàng inox (loại 0,2-2ly) nhập khẩu từ Nhật
bản. Năm 2004, Công ty đã nhập 900 tấn loại này.
Ngoài nguyên vật liệu dùng vào sản xuất theo yêu cầu, mục đích của mình,
Công ty còn sử dụng để sản xuất theo nhu cầu khách hàng. Cụ thể để sản xuất các
chi tiết cho hãng HONDA, hãng đã yêu cầu sản xuất với nguyên liệu là thép (0,6-6
ly) của Công ty Nippon Steel của Nhật bản. Công ty đã nhập 1900 tấn thép loại này
năm 2004.
Còn lại các loại vật liệu, hoá chất phục vụ cho sản xuất, Công ty chủ yếu
mua trong nước. Ví dụ dầu, mỡ bôi trơn mua của Công ty TOTAL. Ngoài ra, để cải
tiến mẫu mã, nâng cao khả năng cạnh tranh, Công ty cũng mua một số bán thành
phẩm do các Công ty khác sản xuất như: quai ấm bằng nhựa, bao bì sản phẩm, bóng
đèn thuỷ tinh và một số bán thành phẩm khác.
Chính vì nguồn nguyên vật liệu của Công ty chủ yếu là được nhập khẩu cho
nên quá trình sản xuất-kinh doanh của Công ty đã bị chi phối bởi một nhân tố, có
thể xem là nhân tố khách quan đó là tỷ giá. Do vậy, Công ty cần phải có dự báo về
giá một số loại nguyêu liệu trong những năm tới, có kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu
hợp lý để vừa phục vụ kịp thời cho sản xuất vừa có thể tận dụng chênh lệch tỷ giá.
i.2.4> Đặc Điểm về Lao động.
1, Số lượng lao động:
Bảng 2: Tổng hợp Số lượng lao động


Năm 2003 Năm 2004
Chỉ tiêu
(người) (người)
1.640 1.677
Công nhân viên sản xuất
- Công nhân trực tiếp 1.604 1.657
- Nhân viên giám sát 36 20
210 233
Nhân viên ngoài sản xuất
- Nhân viên bán hàng 10 12
- Nhân viên quản lý 200 221
Tổng cộng 1.850 1.910
Nguồn: Phòng Tổ chức
Dự kiến năm 2005, số lượng cán bộ công nhân viên chức toàn Công ty vào
khoảng 1.950 người. Thực tế tính đến ngày 31/12/2004, Công ty có 1.910 cán bộ
công nhân viên.
2, Chất lượng lao động:
Bảng 3: Tổng hợp chất lượng lao động của Công ty
( Tính đến ngày 31/12/2004)


Số Trình độ lao động
Stt CBCNV Kỹ sư/ Cử Cao Trung Công
Tên đơn vị
(người) nhân Đẳng cấp nhân
1 Phòng Hành chính 23 4 2 17
2 Phòng Kế hoạch 12 2 4 6
3 Phòng Công nghệ 15 14 1
4 Phòng Đầu tư 10 5 4 1
5 Phòng Tài vụ 10 4 3 3
6 Phòng Vật tư 22 3 2 17
7 Phòng Tổ chức 14 9 4 1
8 Phòng Thiết kế 5 3 2
9 Phòng QC 9 3 4 2
10 Phòng Cơ điện 29 9 7 13
Số Trình độ lao động
Stt CBCNV Kỹ sư/ Cử Cao đẳng Trung Công
Tên đơn vị
(người) nhân cấp nhân
11 Phòng Tổng hợp 2 2
12 Phòng Bảo vệ 23 7 16
13 PX. Đột I 175 2 3 170
14 PX. Đột II 177 4 1 172
15 PX. Đột III 170 3 2 2 163
16 PX. Đột dập 188 5 2 4 177
17 PX. Khuôn mẫu 184 2 3 5 174
18 PX. Hàn 167 1 166
19 PX. Mạ Sơn 162 2 2 158
20 PX. Cơ điện 163 3 2 1 157
21 PX. Cơ điện 1 92 2 11 8 71
22 PX. Ráp 159 3 1 155
23 PX. INOX 82 6 13 21 42
24 Cửa hàng BLSP 12 3 2 1 6
25 Ban Giám đốc 5 5
Tổng cộng 1.910 1.657
Nguồn: Phòng Tổ chức
(Riêng Trung tâm đào tạo và dạy nghề do Phó Giám đốc phụ trách đầu tư
mở rộng sản xuất phụ trách. Cán bộ giảng viên của Trung tâm là các cán bộ bên
trong Công ty hoặc có thể thuê ngoài)
Xét về mặt cơ cấu, lao động của Công ty được chia thành 3 nhóm sau:
+ Công nhân Kỹ thuật bao gồm các công nhân phục vụ cho các dây chuyền
công nghệ, chủ yếu là công nghệ chế tạo khuôn cối bằng hệ thống máy vi tính
(trung tâm CNC), đội ngũ công nhân điều khiển sản xuất bằng máy cơ khí gồm 64
người.
+ Công nhân hoạt động mang tính chất nghề nghiệp (theo công nghệ) bao
gồm công nhân ở các PX Đột, dập, mạ…
+ Đội ngũ công nhân viên phục vụ văn phòng, phục vụ xây dựng bản của
Công ty.
i.2.5> Đặc điểm Mô hình tổ chức quản lý của Công ty.
1, Cơ cấu sản xuất của Công ty:
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận và công tác tổ chức sản xuất của
Công ty Kim Khí Thăng Long được bố trí như sau:
a, Phân xưởng Đột dập: Đột dập tạo hình các chi tiết sản phẩm.
b, Phân xưởng Đột I: sản xuất chi tiết bếp dầu các loại, đèn toạ đăng, đèn
bão, đèn chiếu sáng công cộng.
c, Phân xưởng Đột II: sản xuất các chi tiết xe máy: KFVN (SUPER
DREAM), KFLP (FUTURE)…
d, Phân xưởng Đột III: sản xuất đèn nến ROTERA, đèn nến vuông 19, đèn
nến trụ 12.
e, Phân xưởng INOX: sản xuất các sản phẩm xoong, chảo, ấm, bát inox các
loại.
f, Phân xưởng Mạ, Sơn: tuỳ theo chất lượng sản phẩm, các chi tiết, cụm chi
tiết được mạ lên toàn bộ bề mặt một lớp mạ Niken-Crôm, hoặc lớp mạ kẽm, hoặc
được sơn… nhằm bảo vệ các chi tiết, cụm chi tiết không bị ăn mòn, và trang trí sản
phẩm.
g, Phân xưởng Hàn: hàn các chi tiết riêng lẻ thành các cụm chi tiết hoặc các
sản phẩm hoàn chỉnh.
h, Phân xưởng Ráp: là bộ phận lắp ráp các chi tiết, cụm chi tiết để tạo ra sản
phẩm cuối cùng.
i, Phân xưởng Cơ điện: bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị, chế tạo các
chi tiết thay thế.
k, Phân xưởng Khuôn mẫu: sửa chữa khuôn, chế tạo các loại khuôn gá mới
phục vụ sản xuất.
Công tác tổ chức của Công ty chủ yếu theo hình thức công nghệ. Mỗi phân
xưởng chỉ thực hiện một công nghệ nhất định (đột, dập, hàn, mạ…). Phương pháp
tổ chức sản xuất là phương pháp bố trí theo dây chuyền. Do đặc điểm sản phẩm của
Công ty là có rất nhiều chi tiết nên Công ty đã lựa chọn phương pháp sản xuất song
song kết hợp với tuần tự. Điều này đã làm giảm nhiều thời gian ngừng nghỉ trong
sản xuất.
2, Các bộ phận và các cấp quản lý trong Công ty:
Cơ cấu tổ chức của một Công ty là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối
liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, được giao những
trách nhiệm, quyền hạn nhất định và được bố trí theo cấp để thực hiện các chức
năng quản lý.
Giữa cơ cấu tổ chức quản lý và cơ cấu sản xuất của Công ty có mối quan hệ
chặt chẽ, hữu cơ. Cơ sở của cơ cấu tổ chức quản lý là cơ cấu sản xuất.
Tương ứng với cơ cấu sản xuất như trên, Công ty Kim Khí Thăng Long đã
xây dựng một cơ cấu tổ chức gồm các bộ phận sau:
A. Ban Giám Đốc:
 Giám đốc Công ty: do UBND Thành phố bổ nhiệm, vừa là người đại diện
cho Nhà nước, vừa là người đại diện cho quyền lợi cán bộ trong Công ty. Là người
có quyền lực cao nhất, chịu toàn bộ trách nhiệm quản lý điều hành mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh.
 Phó Giám đốc phụ trách sản xuất: phụ trách Ban đào tạo, phòng Kế
hoạch, các phân xưởng sản xuất công nghệ.
 Phó Giám đốc phụ trách Đầu tư mở rộng sản xuất, đào tạo và dạy nghề,
Hệ thống quản lý chất lượng: phụ trách phòng Đầu tư, Trung tâm đào tạo và dạy
nghề.
 Phó Giám đốc phụ trách Nhà máy Chế tạo khuôn mẫu theo Công nghệ
cao: phụ trách Nhà máy Chế tạo khuôn mẫu theo Công nghệ cao.
 Phó Giám đốc phụ trách Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh: phụ trách
Chi nhánh Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh.
B. Các phòng ban chức năng:
a, Phòng Hành chính: giúp việc cho Giám đốc trong công tác quản lý hành
chính, chăm lo sức khoẻ, đời sống cho CBCNV, giữ gìn vệ sinh môi trường, vệ sinh
lao động, quản lý công tác xây dựng cơ bản trong phạm vi Công ty.
b, Phòng Kế hoạch: xây dựng kế hoạch sản xuất năm, quý và tháng; phối kết
hợp với các phòng ban, phân xưởng chuẩn bị vật tư, công nghệ, tác nghiệp sản xuất,
cân đối nhân lực, thiết bị và sản phẩm cho phù hợp với điều kiện sản xuất; xây dựng
và quản lý định mức lao động; tổ chức xây dựng kế hoạch quỹ tiền lương.
c, Phòng Tài vụ: tổ chức, chỉ đạo, thực hiện toàn bộ công tác kế toán thống
kê, tài chính, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế ở doanh nghiệp theo cơ chế quản
lý mới. Đồng thời làm nhiệm vụ kiểm soát viên kinh tế tài chính của Nhà nước tại
Công ty.
d, Phòng Tổ chức: đề xuất phương án tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh
doanh và tổ chức cán bộ; quản lý lao động, tuyển dụng lao động, đào tạo bồi dưỡng
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên; theo dõi việc
lập danh sách thông báo đóng BHXH và giải quyết chế độ cho CBCNV theo quy
định của Pháp luật hiện hành.
e, Phòng QC: xây dựng tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng, sản phẩm đầu vào,
chi tiết hoàn chỉnh, sản phẩm xuất xưởng; kiểm tra nguyên vật liệu, bán thành
phẩm, sản phẩm đầu vào của Công ty; kiểm soát chất lượng công đoạn trong quá
trình sản xuất; kiểm tra hàng thành phẩm và sản phẩm qua dịch vụ sau bán hàng.
g, Phòng Đầu tư: căn cứ phương hướng phát triển sản xuất và kinh doanh
của Công ty để xây dựng và triển khai thực hiện các dự án đầu tư…
h, Phòng Vật tư: cung ứng vật tư cho sản xuất, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, tổ
chức vận chuyển, xếp dỡ phục vụ sản xuất và tiêu thụ.
i, Phòng Thiết kế: nghiên cứu, thiết kế, chế thử và đưa vào sản xuất các sản
phẩm mới; thiết kế quy trình công nghệ, khuôn gá để sản xuất ra sản phẩm theo đơn
đặt hàng; tham gia Ban đào tạo Công ty.
k, Phòng Công nghệ: quản lý công nghệ sản xuất của Công ty, thiết kế cải
tiến và ban hành quy trình công nghệ, khuôn gá cho phù hợp với tình hình sản xuất
của Công ty, ban hành quy định bảo hành sản phẩm; thường trực Hội đồng An toàn
lao động Công ty.
l, Phòng Cơ điện: quản lý hệ thống thiết bị, hồ sơ thiết bị, hệ thống cung cấp
điện, thiết bị điện, hồ sơ thiết bị điện; tham mưu với Giám đốc trong công tác quản
lý hệ thống thiết bị, quản lý hệ thống cung cấp điện nhằm khai thác có hiệu quả
năng lực của thiết bị và hệ thống cung cấp điện phục vụ sản xuất.
m, Phòng Bảo vệ: tham mưu giúp việc Giám đốc trong công tác giữ gìn an
ninh chính trị, an ninh kinh tế, phòng chống cháy nổ trên địa bàn Công ty; kết hợp
với các đơn vị bạn nằm liền kề với Công ty, phối hợp với công tác nghiệp vụ do
công an hướng dẫn; kết hợp với các phòng ban, phân xưởng có liên quan duy trì
việc thực hiện các nội quy, quy chế quản lý Công ty.
n, Phòng Tổng hợp thuộc Nhà máy chế tạo khuôn mẫu theo Công nghệ
cao: tham mưu giúp việc Giám đốc Nhà máy trong công tác xây dựng kế hoạch
điều độ tác nghiệp, thực hiện hoàn thành tiến độ kế hoạch sản xuất của Nhà máy
Chế tạo khuôn mẫu theo Công nghệ cao.
p, Cửa hàng bán lẻ sản phẩm: quản lý cửa hàng GTSP, quản lý hệ thống
các đại lý ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với Công ty; bán và GTSP của Công ty.
q, Trung tâm đào tạo và dạy nghề: tuyển dụng học sinh là con em CBCNV,
lao động phổ thông ngoài xã hội để đào tạo và dạy nghề Cơ khí nhằm mục đích tạo
nguồn nhân lực cho Công ty Kim Khí Thăng Long, các đơn vị trên vùng lãnh thổ và
Sở Công nghiệp.
Phần ii
Tóm Lược thực trạng Công ty Kim Khí
Thăng Long
iI.1> Tình hình hoạt động sản xuất- kinh doanh


iI.1.1> Tình hình sản xuất-tiêu thụ theo mặt hàng.


Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng trong và ngoài nước,
Công ty đã và đang sản xuất hơn 100 mặt hàng thuộc 4 nhóm chính (hàng truyền
thống, hàng inox, hàng xuất khẩu và hàng thay thế nhập khẩu (chi tiết xe máy)).
Tình hình sản xuất mặt hàng của Công ty trong các năm qua được thể hiện qua biều
sau:
Bảng 4: Tình hình sản xuất các mặt hàng
Đơn 2005
TT Tên sản phẩm 2002 2003 2004
vị tính (KH)
1 Bếp dầu các loại 1000 chiếc 550 560 480 500
2 Đèn các loại 1000 chiếc 40 38 33 60
3 Các sản phẩm inox 1000 chiếc 32 40 50 65
4 Sản phẩm HONDA 1000 bộ 500 550 600 630
5 Sản phẩm xuất khẩu 1000 chiếc 1.500 2.000 2.500 3.000
Nguồn: Phòng Kế hoạch


Nhận xét chung:
1/ Mặt hàng bếp dầu, được sản xuất với khối lượng vừa phải, năm 2002 sản
xuất 550.000 chiếc, năm 2003 sản xuất 560.000 chiếc. Tuy nhiên, dự kiến sang năm
2005 sản xuất 500.000 chiếc (giảm so với 2002, 2003). Thực tế, qua theo dõi tình
sản xuất của Công ty trong những tháng đầu năm, số lượng bếp dầu sản xuất được
như sau:
- Tháng 1/2005: 50.803 chiếc
- Tháng 2/2005: 32.065 chiếc
Sản lượng trung bình xấp xỉ 2.200 chiếc/ngày. Mặt hàng bếp dầu được tiêu
thụ mạnh đặc biệt ở thị trường miền Nam ( Đồng bằng Sông Cửu Long) là do nhân
dân có tục sửa sang lại bếp núc vào ngày “ Ông Công, Ông Táo” hàng năm.
2/ Các sản phẩm truyền thống khác như: đèn bão, đèn toạ đăng có thể thấy
khối lượng sản xuất khá ổn định, năm 2002 sản xuất 29.000 chiếc đèn bão và
11.000 chiếc đèn toạ đăng, năm 2003 là 25.000 và 13.000 chiếc và năm 2004 là
21.000 và 12.000.
3/ Các sản phẩm inox và sản phẩm xuất khẩu (đèn nến ROTERA) đang có
bước tăng trưởng đáng kể.
4/ Sản phẩm thay thế nhập khẩu: như sản phẩm HONDA (WGBG và
KFLG), bộ giảm xóc xe máy HONDA được sản xuất theo đơn hàng của hãng
HONDA với số lượng 500.000 bộ trong năm 2002, 600.000 bộ trong năm 2004.
Đây là mặt hàng đem lại doanh thu lớn nhất cho Công ty.
Theo thông tin từ phòng Vật tư Công ty ( bộ phận có nhiệm vụ cung cấp vật
tư cho sản xuất và tiêu thụ thành phẩm) thì hàng hoá tồn kho của Công ty là không
đáng kể. Chứng tỏ, hàng hoá của Công ty được tiêu thụ mạnh trên thị trường (không
tính đến hàng được sản xuất theo đơn hàng của hãng HONDA).
Thị trường tiêu thụ của Công ty khá rộng, sản phẩm của Công ty không
những chiếm lĩnh thị trường trong mà còn được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài.
Đối với thị trường nước ngoài: xuất sang các nước như Lào, Campuchia,
Thụy Điển, Mỹ…với mặt hàng chủ yếu là các sản phẩm như đèn nến NEW
ROTERA, Giá để chai rượu, Sào treo 110...
Đối với thị trường trong nước:
- Sản phẩm Xoong, nồi, chảo inox được tiêu thụ tại Hà Nội khoảng 70%,
tại các tỉnh phía Bắc khoảng 10%.
- Sản phẩm bếp các loại được tiêu thụ ở Hà Nội và Quảng Ninh ch ỉ có
khoảng 10%, còn lại chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường miền Nam, Đồng
bằng Sông Cửu Long.
- Hầu hết các sản phẩm đèn cao áp được tiêu thụ trên thị trường miền bắc,
85% ở thị trường Hải Phòng và Quảng Ninh, 15% ở Hà Nội và các tỉnh
khác…
- Thị trường miền Trung chỉ tiêu thụ 3 sản phẩm: Bếp dầu, đèn bão, đèn
tọa đăng.
Xét về tỷ trọng, doanh thu của các nhóm sản phẩm chủ yếu thể hiện dựa vào
biểu sau:
Bảng 5: Tỷ trọng doanh thu của các nhóm sản phẩm chủ yếu
Tổng Doanh thu ( Tỷ Vnđ)
TT Nhóm sản phẩm Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
(TH) (TH) (KH)
48 65,4 78
1 Sản phẩm truyền thống
8 9,6 12
2 Sản phẩm inox
96 139 150
3 Sản phẩm chi tiết xe máy
53 98 120
4 Sản phẩm xuất khẩu
Tổng 205 312 360
Nguồn: Phòng Kế hoạch




BiÓ ® 1: Tû träng DT cña c¸ c s phÈm chñ yÕ
uå ¶n u
N¨ m 2004
S¶n phÈ truyÒ
m n
thèng
21%
31% S¶n phÈ inox
m
3%

S¶n phÈ chi tiÕ xe
m t
m¸y
45%
S¶n phÈ xuÊ khÈ
mt u
BiÓ ®å 2: C¬ cÊu mÆhµng cña C«ng ty
u t
(xÐ theo doanh thu)
t

139 S phÈ truyÒ
¶n m n
150 thèng
98
S phÈ inox
¶n m
100
65.4
S phÈ chi tiÕ xe
¶n m t
50 m¸y
9.6
S phÈ xuÊ khÈ
¶n m t u
0



Nguồn: Phòng Kế hoạch


Nhận thấy, sản phẩm truyền thống tuy được tiêu thụ ổn định, đặc biệt là mặt
hàng bếp dầu, nhưng doanh thu của loại này lại chiếm tỷ trọng chưa cao ( 21%).
Có thể nguyên nhân là việc khó mở rộng thị trường là khó khăn, sản phẩm này hầu
như được tiêu thụ trong nước, không có xuất khẩu hoặc xuất khẩu với khối lượng
quá nhỏ. Do vậy, Công ty một mặt cần tìm kiếm thị trường mới một mặt cần không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, đáp ứng đầy đủ nhu cầu
khách hàng.
Nhóm sản phẩm xuất khẩu, tỷ trọng doanh thu có cao hơn hàng truyền thống
(31%). Tuy nhiên, sản phẩm loại này thường được sản xuất theo đơn hàng độc
quyền của phía nước ngoài, chẳng hạn như đèn nến (ROTERA) được sản xuất theo
đơn hàng của hãng IKEA, Thụy Điển, cho nên giá cả không được chủ động. Đèn
nến được đặt hàng với giá 1,5 USD/ chiếc trong năm 2004, nhưng đến cuối năm họ
chỉ đặt với giá 1,1 – 1,3 USD/ chiếc. Điều này đòi hỏi Công ty phải nghiên cứu,
chế thử những loại sản phẩm mới để đảm bảo chủ động trong kinh doanh.
Nhóm sản phẩm hàng thay thế (chi tiết xe máy) đạt doanh thu cao nhất (45%
trong năm 2004). Để tiếp tục khai thác tốt mảng nay, Công ty cần phải hoàn thiện tổ
chức sản xuất của phân xưởng, bộ phận sản xuất mặt hàng này để đảm bảo giao
hàng đúng tiến độ, đúng yêu cầu khách hàng.
iI.1.2> Chất Lượng sản phẩm.
Bảng 6: Tổng hợp chất lượng sản phẩm Công ty


Năm 2003 Năm 2004
Phế
Thành Thành Phế
phẩm Tỷ lệ Tỷ lệ
Stt Tên Sản phẩm
phẩm phẩm phẩm
(chiếc (%) (%)
(chiếc) (chiếc) (chiếc)
)
1 Bếp dầu các loại 560 2 0,3 480 1 0,2
2 Đèn các loại 38 0 0 33 0 0
3 Các sản phẩm inox 40 0 0 50 0 0
4 Sản phẩm HONDA 550 2 0,3 600 1 0,1
5 Sản phẩm xuất khẩu 2000 2 0,1 2500 0 0
Nguồn: Phòng Kế hoạch
Hiện nay tỷ lệ phế phẩm của Công ty đã giảm nhiều so với một số năm trước
(khoảng trên 2%). Công ty đang phấn đấu đến năm 2005 sẽ thay thế được 70% máy
móc hiện đại làm cho tỷ lệ phế phẩm giảm hơn nữa.


iI.1.3> Hiệu Quả sản xuất-kinh doanh của Công ty.
Để đánh giá một cách khái quát về tình hình thực hiện các chỉ tiêu hiệu quả
của Công ty ta chủ yếu xem xét các nhân tố chính là doanh thu, các khoản chi phí
bỏ ra và một số chỉ tiêu kinh tế mà Công ty đã thực hiện để từ đó có cái nhìn đơn
giản nhất về những gì Công ty thu được cũng như mất đi trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Nhìn chung tình hình doanh thu của Công ty là tương đối khả quan, điều này
được thể hiện qua biểu sau:
Bảng 7: Tỷ suất lợi nhuận của Công ty Kim Khí Thăng Long


Năm thực hiện
TT Chỉ tiêu Đơn vị 2003 2004 2005 (ước)
1 Doanh thu thuần Tỷ 205 312 360
2 Vốn chủ sở hữu Tỷ 34,3 37,7 41
3 Lợi nhuận sau thuế Tỷ 13,827 17,1 18
4 Tỷ suất LN/DT (=3/1*100%) 6,74 5,48
5 ROE (=3/2 11,5
Nguồn: Phòng Kế hoạch
Bên cạnh việc làm mọi cách để tăng doanh thu Công ty luôn thực hiện đầy
đủ mọi chính sách, chế độ của Nhà nước. Điều này được thể hiện qua việc Công ty
nộp thuế vào ngân sách Nhà nước hàng năm đầy đủ. Công ty thường xuyên chăm lo
đời sống cho CBCNV. Hàng năm vào dịp Hè, Công ty thường xuyên tổ chức cho
toàn thể CBCNV đi nghỉ mát khám sức khoẻ định kỳ, kiểm tra vệ sinh môi trường,
thực hiện an toàn trong lao động, đóng BHXH và BHYT đầy đủ. Đặc biệt Công ty
đã trích tiền khen thưởng cho con em CBCNV đạt danh hiệu học sinh giỏi và tiên
tiến trong năm học, luôn chú trọng đến đời sống của CBCNV.
Ta thấy rõ ràng là đời sống CBCNV ngày càng được cải thiện. Để đạt kết
quả này hẳn Công ty phải có kế hoạch sản xuất kinh doanh tốt, dẫn tới kết quả tăng
doanh thu đều đặn hàng năm. Từ đó tạo ra lợi nhuận để thực hiện những công việc
trên.
ii.2> Thực Trạng Hoạt Động Quản Lý của Công ty Kim Khí thăng Long
Với một số thông tin thu thập, tôi xin nêu thực trạng hoạt động quản lý của
Công ty trên các mặt sau:
 Công tác Kế Hoạch Hoá.
 Công tác quản lý Nguyên vật liệu, Vật tư, Bán thánh phẩm.
 Công tác quản lý Máy móc thiết bị.
 Công tác quản lý Nhân sự.
 Công tác thu nhập, xử lý thông tin và quản lý thông tin nội bộ.


ii.2.1> Công Tác Kế Hoạch của Công ty.
A, Căn cứ lập kế hoạch.
1/ Căn cứ vào nhu cầu thị trường.
Khi nghiên cứu nhu cầu thị trường đối với các loại sản phẩm, Công ty cũng
xem xét sự tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan. Phương pháp được áp
dụng chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, ý nghĩ chủ quan của các cán bộ tham gia
nghiên cứu. Tuy nhiên trong giai đoạn gần đây Công ty đang dần tập trung vào
những phương pháp điều tra thị trường mang tính khoa học và thực tế cao.
2/ Căn cứ vào kế hoạch do Sở Công nghiệp Hà Nội giao xuống.
Hàng năm vào khoảng tháng 2, Sở Công nghiệp Hà Nội giao chỉ tiêu kế
hoạch xuống cho Công ty sau khi nhận được bản thực hiện kế hoạch năm trước và
bản kế hoạch Kinh tế – Kỹ Thuật toàn diện năm tới.
Chỉ tiêu Sở giao xuống gồm 2 chỉ tiêu chính: Chỉ tiêu pháp lệnh là chỉ tiêu
bắt buộc Công ty phải thực hiện (nộp ngân sách) và chỉ tiêu hướng dẫn Công ty
thực hiện để đạt chỉ tiêu Pháp lệnh đã giao: như chỉ tiêu Giá trị sản xuất công
nghiệp, Doanh thu…
Bảng 8: Mẫu Chỉ tiêu kế hoạch Năm …….( do Sở Công nghiệp giao)


Chỉ Tiêu. Đơn vị tính Giá trị
I. Chỉ tiêu pháp lệnh
Tổng số nộp ngân sách Triệu Vnđ
Trong đó ,,
- Thuế VAT ,,
- Thuế TTĐB ,,
- Thuế TNDN ,,
- Thuế môn bài ,,
II. Chi tiêu hướng dẫn
1. Giá trị SXCN (giá CĐ 94) Triệu Vnđ
2. Doanh thu không thuế ,,
3. Thu nhập Doanh Nghiệp ,,
4. Vốn xây dựng cơ bản ,,


3/ Căn cứ vào năng lực hiện có của Công ty.
Khi xây dựng kế hoạch, Công ty căn cứ vào tình hình, khả năng hiện có của
mình. Xem mình có bao nhiêu máy móc các loại, có bao nhiêu lao động…
Chẳng hạn để sản xuất 55.000 bếp dầu 10 bấc/tháng (BD10B) thì Phân
xưởng Đột dập phải cần 105 người làm việc trong 8h/ngày. Phòng Kế hoạch phải
dựa vào định mức sản xuất một sản phẩm, năng lực hiện có của Phân xưởng Đột để
lên kế hoạch.
4/ Căn cứ vào kết quả đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm trước.
Khi xây dựng kế hoạch năm, ngoài việc căn cứ vào các nhiệm vụ mục tiêu
của kế hoạch năm và chỉ tiêu trên giao, Công ty còn phải căn cứ vào việc đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch những năm trước đó.
B, Trình tự lập kế hoạch.
Sơ đồ 3. Trình tự lập kế hoạnh của Công ty.

Nhận công Lập kế Nhận chỉ Kiểm tra
văn đề hoạch tiêu và xây
nghị của sản xuất chính dựng các
Sở Công kinh thức của giải
Bước 1. Hàng năm, vào tháng 8, 9 năm Báo Cáo sau khi nhận được công
văn của Sở, Công ty phải báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch, thực trạng sản xuất
kinh doanh 9 tháng đầu năm, đồng thời xây dựng kế hoạch Sản xuất – Kinh tế – Kỹ
thuật toàn diện năm tới.
Bước 2. Phòng Kế hoạch tiến hành lập một bản kế hoạch Sản xuất – Kinh tế-
Kỹ thuật bao gồm các nội dụng:
 Ước tính thực hiện năm báo cáo
 Tỷ lệ dự kiến kế hoạch năm tới.
 Hướng dẫn các phòng ban chức năng lập kế hoạch.
 Phòng Tổ chức: kế hoạch lao động, kế hoạch đào tạo.
 Phòng Tài vụ: kế hoạch tài chính.
 Phòng Vật tư: kế hoạch vật tư-tiêu thụ sản phẩm.
 Phòng Kỹ thuật:
- Xây dựng kế hoạch tiến bộ, kỹ thuật.
- Chế tạo sản phẩm mới.
- Đầu tư cải tiến công nghệ
Bước 3: Sở Công nghiệp sau khi duyệt dự thảo kế hoạch của Công ty gửi
lên, chính thức giao kế hoạch cho Công ty.
Bước 4: Sau khi nhận được chi tiêu của Sở Công nghiệp giao xuống, Công
ty tiến hành kiểm tra, xây dựng biện pháp thực hiện kế hoạch.
C, Nội dung kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty.
Do yêu cầu của của thị trường cần sự linh hoạt, Công ty phải sản xuất nhiều
kế hoạch nhỏ hơn từ kế hoạnh năm:
 Kế hoạch năm
 kế hoạch 6 tháng
 kế hoạch quý
 kế hoạch chỉ tiêu tháng
 kế hoạch tổng hợp
 kế hoạch giao cho từng PX
 kế hoạch chi tiết.
ii.2.2> Công tác quản lý nguyên vật liêu, vật tư, bán thành phẩm.
A, Công tác quản lý vật tư:
Việc quản lý NVL, vật tư cũng như thành phẩm thuộc trách nhiệm phòng vật
tư của Công ty. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất-kinh doanh, vào định mức NVL, vật
tư chính, phụ, phòng Vật tư lập kế hoạch tổ chức thu mua NVL, vật tư, hoá chất
phục vụ cho sản xuất.
Thông thường việc ban hành Định mức NVL được phòng Kỹ thuật thực hiện
như sau:
- Phòng Kỹ thuật xây dựng định mức NVL trên cơ sở tính toán theo quy trình
công nghệ.
- Ban hành tạm thời trong lô hàng sản xuất thử nghiệm.
- Kiểm tra số liệu thực tế với số liệu đã ban hành.
- Hiệu chỉnh và ban hành Định mức vật tư cho quá trình sản xuất.
Do đặc điểm sản xuất của Công ty nên NVL chủ yếu ở dạng tấm, miếng lớn,
cho nên công tác kho tàng gặp một số khó khăn. Một số loại vật tư như sắt, thép, tôn
phải để ngoài trời một phần cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Điều này đòi
hỏi Công ty phải cung ứng vật tư vào một thời điểm thích hợp hạn chế thời gian lưu
kho, lưu bãi. Khi vật tư được nhập về thì trong một thời gian ngắn là phải đưa vào
sản xuất ngay vừa giảm chi phí lưu kho, vừa giảm được hư hỏng, mất mát.
Ngoài việc quản lý NVL, vật tư, phòng Vật tư còn nhiêm vụ quản lý thành
phẩm và tiêu thụ hàng hoá. Sau công đoạn lắp ráp, thành phẩm được kiểm tra thông
qua phòng QC ( phòng Quản lý Chất lượng ), nếu được gắn phiếu “XANH” thì
nhập kho thành phẩm, phiếu “vàng” chứng tỏ hàng hoá không đạt tiêu chuẩn. Sau
đó, phòng Vật tư có nhiệm vụ tiêu thụ hàng hoá.
B, Công tác quản lý bán thành phẩm.
Một sản phẩm gồm rất nhiều bộ phận, một bộ phận lạ i gồm nhiều Nguyên
công. Các chi tiết được sản xuất ở các phân xưởng khác nhau. Khi các chi tiết được
hoàn thành, kiểm tra chất lượng, sau đó nhập kho bán thành phẩm. Kho bán thành
phẩm này do Phòng Kế hoạch của Công ty phụ trách. Hiện nay, phòng Kế hoạch
của Công ty có hai kho bán thành phẩm. Một kho quản lý bán thành phẩm hàng
truyền thống (bếp dầu, đèn toạ đăng), một kho quản lý bán thành phẩm hàng
HONDA.
ii.2.3> Công tác quản lý máy móc thiết bị.
Hầu hết MMTB của công ty rất lạc hậu và không đồng bộ. Các loại máy đột
30T có từ thời Pháp thuộc (những năm 1930), chủ yếu là máy đơn lẻ, dùng trục
khuỷu, không dùng thuỷ lực. Để sản xuất không bị gián đoạn , Công ty giao cho
phòng Kế hoạch định kỳ phải lên kế hoạch bảo dưỡng, trung đại tu máy móc.
Từ năm 1996 đến nay, Công ty đã tăng cường đổi mới MMTB với mục đích
đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm. Cụ thể
như sau:
+ Đầu tư mới thiết bị gia công khuôn cối với giá trị 5,7 tỷ đồng, gồm các loại
máy sau:
- Máy tiện đứng - Máy mài tròn trong
- Máy phay hiện đại. - Máy khoan đường kính lớn.
+ Đầu tư dây truyền sơn tĩnh điện ướt ( 5 tỷ đồng).
+ Nâng cấp, hoàn chỉnh thiết bị đột dập trị giá 20 tỷ
- Máy đột 1000 tấn
- Máy đột 500 tấn
- Máy cắt xẻ tôn.
ii.2.4> Công tác quản lý nhân sự.
Việc quản lý nhân sự trong Công ty thuộc trách nhiệm phòng Tổ chức Công
ty. Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch sản xuất-kinh doanh, năng lực hiện có của Công
ty, phòng Kế hoạch lên kế hoạch về nhân sự dựa trên các yêu cầu đó.
Hiện Công ty đang mở một số lớp đào tạo công nhân tạo nguồn lao động cho
Công ty, giáo viên giảng dạy được mời từ các Trường công nhân kỹ thuật hoặc các
cán bộ, kỹ sư trong Công ty. Trong năm 2003, 2004, Công ty tuyển hơn 100 công
nhân vào làm việc, đưa tổng số CBCNV trong toàn Công ty lên 1.910 đầu năm
2005. Dự kiến đến hết năm 2005, Công ty có khoảng 1.950 CBCNV.
Việc quản lý, theo dõi CBCNV được thực hiện hết sức chặt chẽ, được sự
phối hợp của nhiều phòng ban. Đầu năm 2000, Công ty đã đưa vào hệ thống theo
dõi việc thực hiện quy định về giờ làm việc một cách tự động. Mỗi CBCNV trong
Công ty được phát một thẻ nhận dạng. Khi đến làm việc và khi hết giờ làm việc đưa
thẻ vào hệ thống đó, máy sẽ in ra thời gian làm việc của từng CBCNV trong ngày
hôm đó vào thẻ. Sau một thời gian đưa hệ thống vào sử dụng đã giảm một cách
đáng kể tình trạng đi muộn về sớm của công nhân, tạo thuận lợi cho việc xác định
mức lương cho từng người.
Còn về điều kiện làm việc và an toàn lao động của CBCNV trong những năm
qua Công ty thực hiện rất tốt.
Về điều kiện làm việc phải nói là tương đối hoàn chỉnh. Mỗi phòng ban đều
được trang bị Máy Vi Tính, Máy In, Máy Điều hoà, tủ đựng tài liệu hết sức khoa
học… tạo điều kiện cho các cán bộ, nhân viên văn phòng hoàn thành tốt nhiệm vụ
của mình. Dưới các Phân xưởng điều kiện làm việc rất thuận lợi, nhà xưởng thông
thoáng, sạch sẽ, rộng rãi, ánh sáng đầy đủ…. Đặc biệt là các nhà xưởng mới được
đầu tư: Nhà sản xuất INOX, Nhà công nghệ Sơn mới… Trong năm 1998, Công ty
đã đưa một nhà ăn mới vào phục vụ, tạo điều kiên nâng cao chất lượng bữa ăn cho
công nhân.
Về điều kiện an toàn lao động Công ty cũng đã tuân thủ chặt chẽ các quy
định của Nhà nước. Cứ 6 tháng một lần Công ty lại tổ chức khám sức khoẻ định kỳ
cho CBCNV, phát hiện và phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp cho CBCNV. Các
điều kiện về bảo hộ cũng được Công ty thực hiện đầy đủ, các CBCNV mới được
tuyển bắt buộc phải học về An toàn Lao động.
Để khuyến khích người lao động hăng say làm việc, hiện Công ty đang áp dụng các
hình thức tiền lương sau:
 Lương đơn giá sản phẩm
 Lương thời gian
 Lương làm thêm giờ
 Lương khoán
ii.2.5> Công tác thu thập, xử lý thông tin và quản lý
thông tin nội bộ.
Như đã biết, thông tin kinh tế là một trong các công cụ quan trọng của quản
lý. Nó giúp cho các cấp quản trị có cơ sở để ra các quyết định trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Việc thu thập, xử lý và bảo quản thông tin trong Công ty là hết sức
quan trọng.
Trong Công ty Kim Khí Thăng Long có các loại thông tin chính sau:
- Thông tin báo cáo: là thông tin từ Công ty đến lãnh đạo Sở Công nghiệp, đến
Thành phố Hà Nội.
- Thông tin kế hoạch: là thông tin do các phòng ban chức năng lập ra để làm
cơ sở cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Thông tin thống kê: là thông tin ghi lại kết quả đã thực hiện trong quá trình
sản xuất của đơn vị theo ngày, tháng, năm…
- Thông tin hạch toán: là các thông tin so sánh kết quả thực hiện với con số kế
hoạch.
- Thông tin kiểm tra và giám sát: là các thông tin theo dõi việc thực hiện các
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Trên đây là các loại thông tin chính trong Công ty. Nhờ có sự sắp xếp cũng
như phân biệt rõ các loại thông tin nên từ đó Công ty cũng đã dần có được sự kiểm
soát thông tin một cách khoa học, hợp lý, mang tính bảo mật cao. Thông tin trong
Công ty thực sự là kênh truyền đạt hữu hiệu về các ý tưởng, các quyết định một
cách nhanh chóng, đơn giản, dễ hiểu và nhờ đó giúp triển khai công việc được trôi
chảy hơn. Công ty cũng thường xuyên tổ chức các lớp nghiệp vụ về triển khai và
bảo mật thông tin cho toàn bộ CBCNV (đặc biệt là bộ phận quản lý) từ đó ít nhiều
đã làm cho các hoạt động chung có tính xâu chuỗi, ăn ý và kịp thời hơn.
Qua tìm hiểu, phân tích đặc điểm, thực trạng về hoạt động sản xuất kinh
doanh, hoạt động quản lý của Công ty Kim Khí Thăng Long cũng như qua nghiên
cứu, phân tích về môi trường kinh doanh trong và ngoài doanh nghiệp ta thấy nổi
lên một vài thuận lợi và khó khăn như sau:
Về thuận lợi:
- Sự mở cửa hội nhập của khu vực và thế giới không chỉ giúp cho riêng Công
ty mà cho tất cả các Công ty, các đơn vị, tổ chức trong nước khác có nhiều cơ hội
hơn để mở rộng thị trường; tìm kiếm thêm nhiều đối tác làm ăn, nhiều nguồn
nguyên liệu mới; tranh thủ được khoa học công nghệ bên ngoài; hiện đại hoá dây
chuyền sản xuất, hiện đại hoá các phòng ban…
- Các chính sách của Nhà nước ta cũng ngày càng được cải thiện cho phù hợp
với tình hình mới, mang tính thực tế hơn, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho
các Doanh nghiệp trong và ngoài nước.
- Bản thân Công ty đã không ngừng đổi mới học hỏi về nhiều lĩnh vực như
khoa học, công nghệ, quản lý, phong cách lãnh đạo và làm việc mới… Công ty
cũng đã có chính sách cử cán bộ, công nhân đi học tập ở nước ngoài. Công ty cũng
đã được cấp chứng chỉ ISO 9002 và được trao một số danh hiệu cao quý khác của
Nhà nước, sản phẩm của Công ty ngày càng được cải tiến phù hợp với nhu cầu thị
trường… Tất cả những điều đó đã làm cho uy tín của Công ty được nâng cao hơn
không chỉ trong nước mà cả trên trường Quốc tế. Đó thực sự là những thuận lợi vô
hình mà không phải Công ty nào cũng có được.
Về khó khăn:
- Sự mở cửa hội nhập ngoài đem lại cho Công ty nhiều cơ hội mới nhưng
không phải là không có những thách thức: thách thức về sản phẩm, về trang thiết bị,
sự cạnh tranh của hàng ngoại nhập ngày càng nhiều và gay gắt hơn…
- Mặc dù đã có sự chuyển biến trong nhận thức và quản lý nh ưng vẫn không
thể phủ nhận những hạn chế mà Công ty đang mắc phải như: sự đầu tư chưa có
trọng điểm, cơ chế quản lý chưa khai thác triệt để sức sáng tạo của người lao
động… Những điều đó phần nào cũng gây nên sức ỳ, gây nên những khó khăn cho
Công ty trong xu thế ngày nay.
- Các đối thủ cạnh tranh của Công ty ngày càng nhiều cũng như mạnh hơn.
Đặc biệt hơn nữa là những khó khăn do sự xuất hiện của các sản phẩm nhái, sản
phẩm làm giả…gây cho Công ty những thiệt hại không nhỏ cả về vật chất và uy tín
thương trường.
Trên đây là một vài thuận lợi và khó khăn chính mà Công ty đã và đang gặp
phải. Để có thể ngày càng phát triển và phát triển bền vững Công ty đã tự rút ra
những bài học cho riêng mình cũng như sớm đề ra những chủ trương, định hướng
phát triển trong những năm tới. Chỉ có làm như vậy mới giúp cho Công ty ngày
càng đi đúng hướng, mang lại những hiệu quả thiết thực hơn cho bản thân Công ty
cũng như cho toàn xã hội.
Trong thời gian tới Công ty có những định hướng phát triển như sau:
- Giáo dục đào tạo đội ngũ CBCNV nhằm nâng cao trình độ quản lý, trình độ
tay nghề.
- Cải tiến, đổi mới trang thiết bị, máy móc, áp dụng khoa học công nghệ tiên
tiến và phù hợp.
- Xây dựng Công ty thành đơn vị hạt nhân trong chương trình nội địa hoá xe
máy của Nhà nước.
- Tranh thủ sự hợp tác, liên kết trong ngoài.
- Cải tiến nâng cao chất lượng các loại sản phẩm truyền thống, tăng cường tiếp
thị sản phẩm, giới thiệu ra nước ngoài, phấn đấu tăng mức doanh thu hàng xuất
khẩu.
Tất cả những hoạt động trên đều nhằm mục tiêu là: Công ty Kim Khí Thăng
Long sẽ là đơn vị đi đầu trong cả nước và vươn mạnh ra tầm khu vực và quốc tế về
lĩnh vực kim khí tiêu dùng vào năm 2010.
Kết luận

Trong hơn 30 năm qua, Công ty Kim Khí Thăng Long đã trưởng thành vượt
bậc, từ một Nhà máy nhỏ với các thiết bị lạc hậu, trình độ quản lý còn nhiều hạn
chế đến nay Công ty đã là một đơn vị hàng đầu trong cả nước về sản xuất các sản
phẩm kim khí tiêu dùng. Sản phẩm của Công ty đã có uy tín trên thị trường và được
người tiêu dùng trong nước và nước ngoài tín nhiệm.
Về những thành tích mà Công ty đạt được trong những năm qua thật là đáng
khích lệ, doanh thu năm 2004 là 312 tỷ VNĐ, mức thu nhập bình quân của người
lao động là hơn 1,6 triệu đồng/ tháng…. Những thành tích này có được là nhờ sự nỗ
lực của toàn Công ty, sự đoàn kết nhất trí cao của đội ngũ cán bộ quản lý, các bộ
phận và các cá nhân trong Công ty.
Song phía trước còn cả một chặng đường dài, đầy dãy nhưng trông gai. Sự
mở cửa hội nhập đem lại cho Công ty nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn
thách thức. Để có thể tham gia hội nhập có hiệu quả, Công ty đã có những bước đi
thích hợp như đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất hiện đại, áp dụng các điều kiện
của ISO 9002…. Tuy nhiên tất cả mới chỉ là b ước đầu, chỉ có sự cố gắng nỗ lực
không mệt mỏi thì Công ty mới có thể đứng vững trong xu thế ngày nay.
Qua những thông tin thu thập được ở Công ty và lý thuyết tại trường, em
nhận thấy việc Lập kế hoạch có thể là một biện pháp hữu hiệu để hạn chế những rủi
ro trong kinh doanh, dự báo được xu hướng biến động của thị trường để có những
bước đi thích hợp trong kinh doanh tiến tới hoà nhập vào môi trường kinh doanh
quốc tế.

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản