Tiểu luận: Biến đổi khí hậu

Chia sẻ: lehuuloi

Năng lượng Mặt trời đốt nóng không đều bề mặt Trái đất. Khu vực xích đạo nhận được nhiều nhiệt hơn cả. Mỗi năm, khu vực này nhận được lượng nhiệt gấp 2.4 lần so với vùng cực. Sự tự quay của Trái đất làm phân bố nhiệt vào Đại dương và Khí quyển.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận: Biến đổi khí hậu

BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài "Biến đổi khí hậu"
MỤC LỤC


MỞ ĐẦU ....................................................................................................................................3


I-KHÍ HẬU.................................................................................................................................3


II- KHÍ HẬU TRÁI ĐẤT THỜI SƠ KHAI - KHÍ NHÀ KÍNH MẤT DẦN: ...............................5


III- LỊCH SỬ KHÍ HẬU TRÁI ĐẤT: .........................................................................................8


IV- BĂNG TIẾN VÀ BĂNG LÙI:............................................................................................15


V- SỰ ĐA DẠNG CỦA KHÍ HẬU: QUY MÔ VÀI TRĂM NĂM: ..........................................19


VI- BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG THỜI KỲ NGẮN:QUY MÔ VÀI NĂM ............................22


VII- NÚI LỬA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:................................................................................27


VIII- ẢNH HƯỞNG CỦA NÚI LỬA ĐẾN KHÍ HẬU .............................................................30


IX- NẠN ĐÓI VÀ HẠN HÁN: .................................................................................................31


X- BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU...........................................................................................................34
MỞ ĐẦU
Năng lượng Mặt trời đốt nóng không đều bề mặt Trái đất. Khu vực xích đạo nhận
được nhiều nhiệt hơn cả. Mỗi năm, khu vực này nhận được lượng nhiệt gấp 2.4 lần so với
vùng cực. Sự tự quay của Trái đất làm phân bố nhiệt vào Đại dương và Khí quyển. Sau
đó, trọng lực sẽ làm san bằng sự phân bố không đều của nhiệt lượng. Tất cả những hiện
tượng trên được coi như thuộc phạm vi của khí hậu và thời tiết. Giờ qua giờ, ngày qua
ngày và mùa qua mùa, chúng ta phải trải qua những thay đổi trong khí quyển. Khi thời
tiết được xét trong một khoảng thời gian dài như vài thập kỷ, vài thế kỷ hay hàng triệu
năm, ta gọi đó là khí hậu. Cũng giống như thời tiết, khí hậu được đặt trưng bởi những
thay đổi và sự đa dạng của nó.

Khi những điều kiện trên Trái đất thay đổi, mọi sự sống phải tự thích hợp với
những điều kiện mới đó. Mọi loài phát triển và sau đó thay đổi, chúng được thay thế bởi
những loài khác có khả năng thích ứng hơn với thời tiết. Trong khi đó có những loài
không thể tồn tại được và chúng đã bị tuyệt chủng.




I-KHÍ HẬU
Có hai nhân tố quyết định đến thời tiết. Đó là:
- Lượng bức xạ Mặt trời mà Trái đất nhận được,
- Lượng bức xạ Mặt trời được Trái đất giữ lại.
Mặc dù năng lượng Mặt trời nhận được tại mỗi thời điểm thì khác nhau nhưng nó
thường được xem như một hằng số. Những điều kiện trên Trái đất có thể làm phản xạ
hoặc giữ lại năng lượng Mặt trời, làm Trái đất ấm hoặc lạnh. Ví dụ: nếu có quá nhiều
mây, tuyết hoặc băng phủ thì sẽ khiến cho các tia bức xạ Mặt trời bị phản xạ trở lại không
gian, các tia này được gọi là Albedo và kết quả là làm cho không khí lạnh hơn.
Hình : Tia Albedo


Hoặc, nếu khí quyển chứa nhiều loại khí cho phép các tia có bước sóng ngắn từ
Mặt trời xuyên qua nhưng lại ngăn chặn và giữ lại các tia có bước sóng dài quay trở lại.
Với một lượng lớn các loại khí như vậy (CO2) sẽ có khả năng giữ nhiệt rất cao và làm
cho Trái đất nóng lên. Hiện tượng này được gọi là Hiệu ứng nhà kính.




Hình 2 : Hiệu ứng nhà kính
Khí hậu phụ thuộc vào những khuynh hướng nóng và lạnh trên bề mặt Trái đất; nó
chịu ảnh hưởng lớn bởi vòng tuần hoàn khí quyển và đại dương. Khí quyển Trái đất là
một hệ thống lớn rất phức tạp, chịu sự tác động qua lại của Mặt trời, Đại dương, Lục địa
và sự sống để phân bố lại năng lượng nhiệt. Vòng tuần hoàn gió, mây và hơi nước đóng
vai trò to lớn trong việc phân phối nhiệt và độ ẩm khắp Trái đất.

Đại dương giữ lượng nhiệt lớn hơn nhờ khối lượng lớn hơn và khả năng giữ nhiệt
trên một đơn vị thể tích cao hơn. Tuy nhiên, sự di chuyển của Đại dương lại chậm hơn.
Sự tuần hoàn bề mặt của Đại dương chịu ảnh hưởng lớn của gió thổi trên bề mặt nước.
Dòng chảy ở phía sâu trong Đại dương được xem là quan trọng nhất trong sự trao đổi của
nhiệt độ toàn cầu; Cuối cùng chúng bổ sung cho gió khí quyển và sự phân bố độ ẩm.




Hình 3 : Dòng chảy Đại dương



II- KHÍ HẬU TRÁI ĐẤT THỜI SƠ KHAI - KHÍ NHÀ KÍNH MẤT DẦN:
Khí hậu xuất hiện từ rất sớm trên Trái Đất - hành tinh thứ 3 trong Hệ Mặt trời.
Hiệu ứng nhà kính vẫn còn tác động lên Trái Đất ngày nay. Trái Đất luôn luôn bị ảnh
hưởng bởi hiệu ứng nhà kính và cuộc sống của con người luôn chịu tác động bởi điều đó.
Tuy nhiên ngày nay, con người đang thay đổi nồng độ của CO2 trong khí quyển qua việc
tác động đến thực vật sống (cây gỗ, cây bụi) và thực vật hóa thạch (than đá, dầu, khí thiên
nhiên). Thông qua việc đốt cháy cacbon trong thực vật đã thải ra lượng lớn CO2 trong
bầu khí quyển. Khoảng 6 tỷ tấn khí này được thải ra trên bầu khí quyển mỗi năm thông
qua việc đốt cháy nguyên liệu hóa thạch; trong số khoảng 5000 tỷ tấn CO2 được luân
chuyển trong tự nhiên. Sự tác động của con người là rất nhỏ so với sự thay đổi liên tục
của khí CO2 giữa khí quyển với đại dương và giữa khí quyển với các lục địa. Dự báo vào
khoảng năm 2100 với lượng khí nhà kính do con người tạo ra, do một nền kinh tế chậm
phát triển thì nhiệt độ trung bình hằng năm sẽ tăng 2 - 3 oC, còn nếu với nền kinh tế phát
triển nhanh thì nhiệt độ trung bình hằng năm có thể sẽ tăng 5 - 10 oC.

Một so sánh: cách đây 11000 năm có 1 thời kỳ ấm lên toàn cầu khoảng 5oC đánh
dấu sự kết thúc kỉ băng hà cuối cùng bằng việc băng tan đã gây nên sự dâng lên của mực
nước biển thế giới. Ví dụ: Mực nước ở Đại Tây Dương và vùng biển Gulf (Mexico) đã
tiến vào đất liền khoảng 100 dặm và đã làm thay đổi các khu rừng trên pham vi toàn cầu.

Nếu như con người vẫn thải CO2 vào bầu khí quyển thì nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng
vài độ. Qua những hóa thạch và sự tính toán của máy tính dự báo sẽ có những vấn đề
nghiêm trọng sẽ xảy ra trong tương lai.

Sao Kim là hành tinh thứ hai trong hệ Mặt Trời, do đó nhận được bức xạ mặt trời
cường độ cao. Năng lượng mặt trời bị giữ lại do khí quyển dày đặc carbon dioxide của
nó, tạo nên nhiệt độ bề mặt là 477oC. Sự sống trên sao Kim là rất khó để tưởng tượng khi
nhiệt độ rất cao, bề mặt đá rực đỏ.

Sao Hỏa là hành tinh thứ tư trong hệ Mặt Trời, và do khoảng cách xa nên nó nhận
ít năng lượng mặt trời hơn. Tuy nhiên lớp khí quyển mỏng ở Sao hỏa tương đối giàu CO2
giúp nó giữ lượng nhiệt nhận được và làm gia tăng nhiệt độ bề mặt. Khí quyển Sao kim
và sao Hỏa rất ít thay đổi trong hơn 4 tỉ năm, thế nhưng khí quyển Trái Đất đã trải qua
một sự thay đổi căn bản từ giàu CO2 chuyển sang lượng CO2 như bây giờ.

Tại sao khí quyển của Trái Đất luôn thay đổi? Các thay đổi một phần lớn là do các
quá trình sống. Cây hấp thu CO2 từ khí quyển thông qua quang hợp và thải O2 như một
bằng sản phẩm của quá trình hô hấp, tạo nên bầu khí quyển. Tuy nhiên, lượng CO2 được
giữ trong trong thực vật là rất nhỏ so với lượng ban đầu trong không khí. Ngoài ra, trên
Trái Đất thời sơ khai thực vật có khả năng quang hợp không thể tồn tại ở nồng độ CO2 và
nhiệt độ cao ở thời kì đó.

Vậy lượng CO2 trong khí quyển của Trái Đất đã đi đâu? Nó được lưu trữ vật lý
theo nhiều cách nhưng hơn 99% khí CO2 liên kết hóa học gắn trong đá vôi. Phần lớn đá
vôi được tạo thành từ những phần cứng của các sinh vật sống ở đại dương như vỏ ốc, rạn
san hô và mô khoáng của các loài động vật không xương sống và các loại tảo . CO2 trong
khí quyển dễ dàng hòa tan trong nước. Trong thực tế, tồn tại một trạng thái cân bằng giữa
lượng khí CO2 trong nước đại dương và khí quyển. Do đó, khí CO2 có trong khí quyển lại
có trong bề mặt lớp nước của các đại dương, đây không phải là do ngẫu nhiên.

Ví dụ: Một là, nó sẽ xảy ra những trận khô hạn nghiêm trong vào mùa hè ở những
vùng trồng ngũ cốc ở miền Trung nước Mỹ. Hai là, một vài vùng trên Trái Đất sẽ ẩm và
lạnh hơn, một số nơi khác lại nóng hơn. Ba là, rừng và đất nông nghiệp sẽ phải thay đổi
và di chuyển sang những vùng địa lý khác. Bốn là, mực nước biển sẽ dâng lên 1m trong
100 năm tới, làm ảnh hưởng tới các thành phố và hải cảng thấp. Năm là, việc chìm xuống
của nước mặn tại Bắc Đại Tây Dương tạo nên hệ thống hải lưu hiện nay ở đại đương, hệ
thống này sẽ bị thay đổi do sự hòa nhập của nước ngọt tan ra từ băng. Sự thay đổi này sẽ
có tác động lên khí hậu toàn cầu.

Dự báo những hậu quả thảm khốc do con người gây ra qua việc nóng lên của hiệu
ứng nhà kính thì không được chấp nhận. Do việc thải CO2 của con người là quá nhỏ so
với tự nhiên. Kết quả từ các hoạt động của con người thì không đủ điều kiện để tiên đoán
hệ thống khí hậu của Trái Đất vốn đã rất phức tạp.

Nguyên nhân thứ 2 là do bức xạ của Mặt Trời, giữa 1978 - 1997 bức xạ thay đổi
0.14% và có thể thay đổi lớn hơn trong thời gian dài. Nguyên nhân thứ 3 là do núi lửa
phun trào, nó có tác động trực tiếp lên sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

Chúng ta sẽ xem xét tác động đến khí hậu do phun trào gần đây của Tampora, El
Chichon, Pinatubo ("hiệu ứng khí hậu do núi lửa"). Thứ tư, thay đổi khí hậu là thay đổi
về quỹ đạo và độ nghiêng của Trái Đất. Độ nghiêng của trục Trái Đất sẽ thẳng lên có
nghĩa là trên 8000 - 1000 năm tới, bức xạ được nhận sẽ ít hơn.

Trái Đất lúc nguyên sơ nhất, khi chưa có tại của sự sống, một lượng nhỏ đá vôi
được hình thành và bầu khí quyển đầy khí CO2, thì nhiệt độ bề mặt của Trái Đất có thể là
290oC. Tại sao Trái Đất lại quá nóng như vậy? Điều này là do sự nóng lên toàn cầu là
một phần của hiệu ứng nhà kính. Bức xạ mặt trời bước sóng ngắn (khoảng 0.05
micromet) làm ấm đối tượng bên trong nhà kính. Nhiệt tích tụ bên trong nhà kính và phát
ra bức xạ hồng ngoại với bước sóng dài hơn (khoảng 10 micromet) . Tuy nhiên, kính thì
chắn các bức xạ sóng dài, và như vậy năng lượng bức xạ bị giữ lại, tạo ra một môi trường
ấm bên trong nhà kính.

Hiệu ứng nhà kính còn được tạo ra bởi các khí khác trong khí quyển như: CO2, hơi
nước, mêtan và CFC. Do sự biến động liên tục, CO2 là khí nhà kính quan trọng nhất. Qua
thời gian biến đổi địa chất, như CO2 hòa tan trong nước và trầm tích CaCO3 được hình
thành, nồng độ CO2 trong khí quyển thấp dần. Thực vật quang hợp cổ sống trên Trái Đất
hấp thụ CO2 trong khí quyển làm giảm nồng độ. Qua các loài động vật có thành phần
xương là CaCO3, thì quá trình giảm nồng độ CO2 lại giảm mạnh. Sinh vật sử dụng khí
CO2 đã làm giảm đi hiệu ứng nhà kính, và tạo nhiệt độ giống với nhiệt độ hiện nay trên
Trái Đất.

Ngày nay, CO2 chỉ chiếm 0,033% khí quyển Trái Đất, nhưng nó tạo hiệu ứng nhà
kính cường độ nhẹ và giữ nhiệt độ trung bình Trái Đất là 16oC, cao hơn nhiều lúc không
tồn tại khí CO2. Nếu không có mặt CO2 trong khí quyển, nhiệt độ trung bình ở bề mặt
Trái Đất là khoảng -18oC, và sẽ có nhiều dạng sống khác nhau mà chúng ta đã biết.




III- LỊCH SỬ KHÍ HẬU TRÁI ĐẤT:
Nhiều loại đá trầm tích có chứa các thông tin về khí hậu tại thời điểm nó được sinh
ra. Khí hậu nóng được hiển thị qua: 1)Các rạn san hô và đá vôi (đá hóa thạch), 2)Các
quặng bauxit nhôm, loại quặng chỉ hình thành ở đất nhiệt đới, 3)Trầm tích của các
khoáng vật, thứ được kết tinh từ các vật thể mất nước (muối mỏ) .

Khí hậu lạnh có thể được đánh dấu bởi sự xói mòn mạnh mẽ của các sông băng
tạo nên đường vân trong cảnh quang. Nó bào mòn đường rãnh bên dưới bề mặt chúng. Sự
phân bố của sinh vật hóa thạch nói nhiều về khí hậu cổ đại. Trước tiên, các
paleomagnetic trong các loại đá có thể xác định được khu vực đá này hình thành. Khi khu
vực cổ xưa được biết, việc phân tích paleoclimatic có thể bắt đầu. Ví dụ, khi vỏ hóa thạch
của các sinh vật chỉ sống ở vùng biển cực được tìm thấy rất nhiều trong các loại đá hình
thành trong vĩ độ trung, thì khí hậu từ phải lạnh hơn tại thời điểm hiện tại.

Tập hợp các điều kiện trên và những điều kiện khác nhau cho ta biết rõ hơn về lịch
sử biến đổi khí hậu của Trái Đất. Các loại đá cho biết về những thay đổi về nhiệt độ thế
giới và lượng mưa trong suốt thời gian địa chất. Đặc điểm của các thời kỳ:

- Kỷ băng hà Đại cổ sinh muộn thì lạnh và ẩm ướt.

- Kỷ Eocen sớm thì nóng và ẩm ướt

- Việc lạnh toàn cầu bắt đầu từ cuối kỷ Eocen đưa chúng ta vào trong khoảng
thời băng giá hiện tại

Khí hậu Trái Đất phụ thuộc vào sự cân bằng giữa nhiệt thu vào và tỏa ra. Tại thời
điểm bất kỳ, hệ thống khí quyển đại dương - lục địa có thể thu được hay mất đi tổng nhiệt
của nó. Trao đổi nhiệt toàn cầu có một ảnh hưởng sâu sắc bởi nước, trên bề mặt của Trái
Đất luôn chuyển tiếp giữa ba giai đoạn của băng: rắn, lỏng, và hơi (khí). Điều này tạo ra
một nguồn năng lượng lớn để hấp thụ hoặc tỏa nhiệt. Nó hoạt động như một bộ đệm tác
động mạnh mẽ đến khí hậu toàn cầu

Bề mặt của Trái Đất được chia thành các vùng nhiệt độ lạnh và nóng được xác
định bằng vĩ độ. Khí hậu phân bố theo chu kì không đều lúc thì nhiệt độ lạnh thống trị
Trái Đất lúc khác thì khí hậu ấm áp bao trùm. Trong suốt một thời gian lạnh lẽo - kỷ băng
hà, các vùng có khí hậu lạnh thuộc vĩ độ cao mở rộng trong khu vực, trong khi khu vực
nóng ở vĩ độ thấp thu nhỏ nhưng không biến mất. Ngược lại, trong thời đại của sự ấm áp,
kỷ torrid, toàn cầu được đánh dấu bằng việc mở rộng các khu vực khí hậu cận nhiệt đới,
trong khi các vành đai khí hậu lạnh thu về phía cực. Chúng ta hãy xem xét ví dụ của thời
đại có khí hậu khắc nghiệt.

Kỷ băng hà hậu đại cổ sinh:
Một trong những kỷ băng hà chính trong lịch sử Trái Đất bắt đầu từ kỷ tiền
Carbon (360 triệu năm trước) và kéo dài hàng chục triệu năm cho đến kỷ Hậu Permi
(260 triệu năm trước) là 1 khoảng thời băng hà kéo dài. Một thời kỳ băng hà cần một
khoảng không gian rộng và thời gian lâu dài. Đó là yếu tố chính để xuất hiện, thay đổi
hình dạng, kích cỡ, định hướng của các châu lục và đại dương

1. Lúc đầu điều kiện tuyệt đối của một thời kì băng hà là có một hoặc nhiều đại
lục địa gần cực. Một đất rộng vùng cực là cần thiết để tích tụ lượng tuyết rơi, cho phép sự
tích tụ rộng lớn 3km lớp băng dày lục địa. Sông băng Massive không thể được hình thành
trên mặt nước biển. Trong thời Hậu Đại Cổ sinh, phần lớn các lục địa đã được tập trung
thành một vùng đất rộng duy nhất là Pangaea. Phần phía Nam của siêu lục địa Pangaea
được biết đến như Gondwanaland, nó hình thành nên Nam Mỹ, Châu Phi, Nam Cực, Úc
và Ấn Độ ngày nay. Trong thời gian Hậu Giới cổ sinh, Gondwanaland di chuyển ngang
qua vùng cực Nam, những lớp băng chính luôn luôn tồn tại gần cực nam. Phía Nam Mỹ -
Châu Phi có lẽ tạo nên lớp băng vĩ đại đầu tiên Antarctica Và Cuối cùng Australia.

2. Một mặt quan trọng khác là sự tuần hoàn nước đại dương. Do bức xạ mặt trời
thay đổi, những lớp nước ở xích đạo sẽ nhận được nhiều năng lượng mặt trời hơn lớp ở
cực. Nếu hiện tại không có lục địa để ngăn chặn dòng hải lưu, thì lớp nước ở xích đạo sẽ
di chuyển theo vĩ độ (phương tây sang đông) vì sự quay tròn của Trái Đất

Dòng hải lưu ấm toàn cầu tại đường xích đạo sẽ tác động ra sao với các lớp băng
lớn? Trong chu trình thủy văn, nước đầu tiên phải được bốc hơi từ đại dương để tạo thành
mây và di chuyển tới vùng lạnh hơn để tạo nên tuyết. Nước lạnh rất khó khăn để bốc hơi,
nước ấm bốc hơi dễ hơn. Các hồ sơ địa chất cho thấy rằng ở kỉ băng hà, vòng tuần hoàn
đại dương theo hướng dọc (phía bắc và phía nam) chiếm ưu thế hơn theo hướng vĩ độ
(phía đông và phía tây) vì châu lục này là một liên kết theo phía bắc - nam, nó ngăn cản
việc di chuyển theo hướng vĩ độ của nước biển, do đó đẩy vùng biển ấm hơn ở xích đạo
về phía cực, nơi việc bốc hơi hình thành những đám mây tạo nên tuyết rơi và cuối cùng
tạo nên các tảng băng. Các lục địa đã có dạng bắc - nam trong thời Đại Cổ sinh, như
trong suốt kỉ băng hà này.

Tại sao kỉ băng hà ở hậu Đại Cổ sinh lại kết thúc? Có lẽ vì Gondwanaland bắt đầu
tách ra. Khi lục địa di chuyển, vòng tuần hòan đại dương trên toàn thế giới đã thay đổi.
Vùng nước ấm vẫn ở gần xích đạo và vùng nước lạnh bao quanh vùng cực, làm giảm độ
ẩm cung cấp cho những vùng đất rộng lớn ở cực. Ngoài ra, khi lục địa di chuyển ra khỏi
vùng cực, điều kiện cho sự tích lũy của tuyết và hình thành sông băng không còn tồn tại.

Kỷ hậu Paleocen Torrid.
Thế giới đã nóng lên trong thời gian Paleocen (65 - 55 triệu năm trước). Đại
dương và khí quyển trong kỷ Paleocen nóng nhất kể từ trước tới nay. Khu vực xích đạo
có khí hậu nhiệt đới và lượng mưa cao, tương tự như những gì ta thấy ngày hôm nay. Tuy
nhiên, khu vực cận cực ấm hơn rõ rệt. Nhiệt độ bề mặt nước ở đại dương phía Nam gần
Nam Cực là 10 - 15oC ấm hơn so với ngày nay.

Nhiệt độ cổ đại được xác định từ tỉ lệ đồng vị ổn định của ôxy trong vỏ CaCO3
hóa thạch của động vật đơn bào. Một nguyên tử ôxy hoặc là có16, 17 hoặc 18 proton và
nơtron trong hạt nhân của nó. Ôxy 16 (O16 ) thường là nhẹ hơn và do đó bốc hơi dễ dàng
hơn, để lại đằng sau tương đối nhiều đồng vị ôxy nặng (O18). Lớp vỏ tạo nên trong nước
biển với tỉ lệ O18/O16 nhất định của nước đại dương trong suốt vòng đời của nó tạo thành
lớp vỏ chứa CaCO3. Vì vậy, đo tỷ lệ O18/O16 trong lớp vỏ để ước tính nhiệt độ của biển
thời cổ đại.

Thế giới thì ra sao trong thời hậu Paleocen Torrid? Có ít sự khác biệt về nhiệt độ
giữa các vùng biển nhiệt đới và vùng cực; cái lạnh mất đi, nước chìm ở hai cực; có sự
chênh lệch nhỏ về nhiệt độ giữa nước bề mặt và dưới biển sâu,nghĩa là lực hút của lực
hấp dẫn sẽ ít hiệu quả và vòng tuần hoàn đại dương trở nên khó khăn.

Chênh lệch nhiệt độ trong khí quyển cũng sẽ giảm đi, dẫn đến thời tiết trên toàn
thế giới ôn hòa. Không có thời tiết khắc nhiệt, các mùa ít thay đổi, tần suất và lượng mưa
phân bố đều trong năm. Hầu hết các nơi trên Trái Đất thì ẩm ướt và ấm hơn.

Giáp ranh nước Mỹ được bao phủ bởi một trong hai vùng khí hậu nhiệt đới hoặc
cận nhiệt đới. Dọc theo vùng ven biển, khí hậu cận nhiệt đới tồn tại ở vành đai Bắc cực
bởi việc tìm thấy hóa thạch cá sấu và cây cọ. Lớp băng lục địa dường như không tồn tại
bất cứ nơi nào trên thế giới. Rừng thường xanh và thực vật rụng lá bao phủ nhiều vùng
đất. Sa mạc nóng và lãnh nguyên bắc cực chiếm tỷ lệ nhỏ trên mặt đất. Khí hậu thế giới
thiếu đi sự khắc nghiệt.

Làm thế nào mà khí hậu Trái Đất trở nên ấm áp? Một số yếu tố kết hợp làm gia
tăng nhiệt độ là:

- Khu vực xích đạo phần lớn được bao phủ bởi các đại dương, cho phép hấp thu
thêm nhiệt mặt trời.
- Đại dương nóng lên, các khu vực bao phủ bởi tuyết và băng giảm, do đó đất lộ
ra. Tuyết và băng phản xạ ánh mặt trời, đất hấp thụ nhiệt.
- Lượng lớn dung nham từ việc mở rộng Bắc Đại Tây Dương có thể thải ra một
lượng lớn các loại khí vào bầu khí quyển, làm ấm lên toàn cầu thông qua tăng
hiệu ứng nhà kính.
- Các đại dương thay đổi đặc điểm của nó về sự khác biệt mật độ. Hiện nay,
nước lạnh ở vùng biển Nam Cực và Bắc Cực là nặng nhất, nó chìm xuống và
tạo dòng chảy bên dưới sâu đại dương.
Trong Kỷ Eocen, nước ở vùng cực trở nên quá ấm. Nước nặng nhất là nước biển
nhiệt đới do lượng muối cao thông qua việc bốc hơi. Nước ấm, thiếu ôxy, mặn chìm
xuống, chảy dưới biển và ấm lên do bề mặt đáy đại dương. Khối lượng nước mặn di
chuyển dọc theo đáy đại dương ảnh hưởng sự sống ở sâu trong đại dương. Sinh vật sống
trong nước lạnh với lượng ôxy cao ở dưới đáy sẽ bị sốc đột ngột do môi trường trở nên
ấm áp và nghèo ôxy. 55.5 triệu năm trước, sự thay đổi lớn về nhiệt độ sâu nước biển đã
đạt đến đỉnh cao, làm cho 50% các loài động vật đơn bào biển sâu bị tuyệt chủng - một
thảm họa thiên nhiên.

Nguyên nhân gây nên sự tăng nhiệt này? Sự nóng lên của nước dưới đáy đại
dương khoảng 8oC gây ra tan băng CH4 dưới đáy biển, làm phát thải khí mê tan vào bầu
khí quyển. Hydrates methane là gì? Vi khuẩn sống sâu dưới đáy đại dương tạo ra mê tan
như là một phần của chu kì sống của nó, nhưng lớp nước bên trên quá lạnh và áp lực từ
trọng lượng của nước là quá lớn khiến mê tan bị giữ lại được liên kết với phân tử nước
đóng băng để tạo thành một lớp băng giống trầm tích. CH4 giữ năng lượng bức xạ nhiều
hơn dầu, than đá, và khí tự nhiên của Trái Đất kết hợp. Nó trở nên không ổn định nếu
nhiệt độ tăng lên một vài độ trên điểm đóng băng, hoặc nếu áp suất thấp hơn áp suất ở độ
sâu 500m nằm dưới đại dương. Ngày nay, khoảng 15 nghìn tỷ tấn CH4 tồn tại ở đáy biển,
làm tan nó thế giới sẽ tăng mạnh nhiệt độ. Phân tích gần đây của các đồng vị cacbon
trong đá trầm tích hậu Paleocen cho thấy rằng một sự giải phóng mê tan xảy ra khoảng
55.5 triệu năm trước. Việc giải phóng mê tan xảy ra khoảng 10.000 năm. Đây là một thời
gian rất ngắn cho khí quyển để nhận được một khối lượng lớn các khí nhà kính (methane
có hiệu suất gấp 24 lần trong việc hấp thụ nhiệt so với cacbon dioxide). Trong khoảng
250.000 năm lượng metan dư thừa đã được loại bỏ, nhưng theo sau đó là sự thay đổi về
sự sống rất khác trên Trái Đất. Ví dụ, sự tuyệt chủng hàng loạt ở đáy biển cùng với các
đại di cư và xuất hiện của nhiều loài động vật có vú trên đất liền.

Trên thế giới đã thay đổi từ một ngôi nhà băng hậu Đại Cổ sinh đến một ngôi nhà
hậu Paleocen nóng.

Kỷ băng hà cuối Tân sinh:
Bắt đầu từ đỉnh nhiệt độ tại 55.5 triệu năm trước, Trái Đất bắt đầu có xu hướng
mát đi trong 1 khoảng thời gian dài đưa chúng ta vào kỉ Băng hà. Chuỗi sự kiện bao gồm:
- 40 triệu năm trước, Nam Cực được bao quanh bởi các dòng nước lạnh.
- 36 triệu năm trước, các băng hà nhỏ đã lan rộng ở Nam Cực.
- 5 triệu năm trước, những dải băng Nam Cực đã mở rộng
- 14 triệu năm trước, một dải băng lục địa tồn tại trên châu Nam Cực và băng hà
núi cao đã có ở Bắc bán cầu.

Tại sao có những thay đổi này xảy ra? Đó không phải là câu trả lời đơn giản. Vài
yếu tố ảnh hưởng phức tạp trong hình dạng mang đến khí hậu mát tại 55.5 triệu năm
trước. Tầm quan trọng tương đối của các yếu tố này là trọng tâm của việc nghiên cứu ở
hiện tại cho nhiều nhà khoa học trên thế giới. Các yếu tố chính xuất hiện liên quan đến
việc kiến tạo mảng thay đổi tức là sự thay đổi vị trí của châu lục và đại dương.

1. Sự thay đổi khí hậu gắn liền với việc tách rời đang diễn ra của Pangaea thành
những lục địa nhỏ.

2. Khi lục địa trôi dạt, đường bờ tạo ra và khép lại, do đó thay đổi các hòan lưu
trong các đại dương và sự phân bố về nhiệt toàn cầu.

3. Các khối lục địa đã di chuyển về vĩ độ ở vùng cực, với trung tâm Nam Cực
xoay và di chuyển về phía cực Nam, trong khi Bắc Mỹ và Á - Âu đã di chuyển đến xung
quanh khu vực phía Bắc Cực.

4. Tuyết và băng bắt đầu tích lũy trên vùng đất rộng lớn, nó phản xạ nhiều ánh
sáng mặt trời (trong phản xạ toàn phần) và do đó nhiệt lượng quay về không gian.

5. Hoàn lưu nước biển xung quanh xích đạo đã bị ngăn lại khoảng 23 triệu năm
trước với việc đóng kín phía đông Địa Trung Hải và kết thúc lúc 3 triệu năm trước khi
núi lửa đã hình thành nên eo đất của Panama như rào cản ngăn dòng chảy đông - tây của
đại dương.

6. Diện tích các đại dương nông đã giảm xuống; do đó, lượng nước mặt để hấp
thụ ánh sáng mặt trời
7. Các mảng cao của cao nguyên Tây Tạng / dãy núi Himalaya ở Châu Á và cao
nguyên Colorado ở miền tây nước Mỹ đã làm chệch hướng hoàn lưu đông - tây của khí
quyển ở vĩ độ trung

Ba triệu năm trước:
Dải băng trên Nam Cực lớn tuổi và ổn định hơn ở Bắc Cực. Hoàn lưu nước biển
lạnh quanh Nam Cực sẽ giúp nó không bị ảnh hưởng từ những biến động lớn. Các lớp
băng trên Bắc Mỹ và Á-Âu có một ảnh hưởng lớn hơn về biến đổi khí hậu toàn cầu, vì nó
mở rộng và thu nhỏ trong hình dạng liên tục. Sự phát triển ban đầu của nó là băng hà lục
địa xảy ra giữa 3 và 2.7 triệu năm trước và trùng hợp với sự hình thành của eo đất
Panama. Nguyên nhân và ảnh hưởng ở đây là gì? Sau khi Trung Mỹ hình thành một dải
liên tục giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ nó bị ngăn cản dòng biển Tây, bắt đầu chuyển hướng
dòng hải lưu ấm của biển Caribe và dòng hải lưu Gulf của Vịnh Mexico, đẩy nó vào dòng
chảy phía bắc dọc theo phía tây Đại Tây Dương. Các dòng hải lưu ấm chuyển tới Canada
và Châu Âu gây ra bốc hơi lớn hơn và hình thành hơi nước, kết quả tuyết rơi nhiều hơn
tích lũy để hình thành các sông băng.

Khi lớp băng lục địa tồn tại ở Bắc bán cầu, nó trải qua các chu kỳ phức tạp của
băng hà tiến và lùi. Các chu kỳ dường như đã được trình bày trong suốt kỷ băng hà cổ và
được liên kết chặt chẽ cho sự biến đổi thường xuyên trong quỹ đạo và quanh trục của
Trái Đất.



IV- BĂNG TIẾN VÀ BĂNG LÙI:
Trong suốt 2 triệu năm cuối, Trái đất đã trải qua khoảng 20 kỳ băng tiến. Khi một
kỉ Băng hà bắt đầu, bề mặt của Đại dương bốc hơi, và tạo tuyết rơi xuống các Lục địa.
Tuyết rơi xuống thành đống, bị nén dưới áp suất và thành băng. Những băng hà trên lục
địa dày khoảng 3 km, chôn sâu lớp đất mặt. Dưới sức nặng và sự chuyển động chậm của
những khối băng lớn, chúng là méo mó, gây nên những vết xước và tạo những hình dạng
mới cho bề mặt đất đai. Những vết tích trên lớp trầm tích cho ta biết về những kỳ băng
tiến và lùi lớn của lịch sử. Bắt đầu vào những năm 1970, những hiểu biết của chúng ta về
lịch sử băng lùi tăng lên một bước mới, chúng ta đã dựa vào những vết tích của trầm tích
dưới đáy Đại dương và những vết tích để lại do sự di chuyển của sông băng từ
Greenland. Mỗi vết tích là kết quả tích lũy của sự lắng đọng trầm tích và băng một cách
thường xuyên.




Hình : Những vết xước trên đá do sự di chuyển

của các dòng sông băng


Lịch sử của 1 triệu năm cuối là thời kỳ băng tiến trải qua khoảng 100,000 năm, và
theo sau đó là thời lỳ băng lùi đã diễn ra rất nhanh, khoảng vài thập kỷ đến 100 năm. Cái
tạo nên vòng tuần hoàn của sự hình thành một cách chậm chạp của băng hà chính là sự co
rút và lùi một cách nhanh chóng của nó? Câu trả lời dựa trên những tính chất đặc biệt
mang tính chu kỳ của vòng quay Trái đất và quỹ đạo của nó quanh Mặt trời, chúng ảnh
hưởng đến năng lượng Mặt trời mà Trái đất nhận được. Bằng chứng quan trọng của quỹ
đạo và sự luân phiên của vòng tuần hoàn được biết vào năm những năm 1980, khi máy
tính phân tích những dữ liệu từ trầm tích và vết tích băng hà được đưa ra để so sánh với
những lý thuyết thiên văn học đã được nhà địa chất học Milutin Milankovitch hợp nhất
trong những năm 1920 và 1930. Vòng tuần hoàn của băng tiến và lùi, bao gồm: sự dao
động đầu tiên, lần thứ hai và lần thứ ba, được giải thích rõ hơn bởi ba tính chất thiên văn
học.

1. Độ lệch tâm của quỹ đạo Trái đất quanh Mặt trời. Hình dạng của quỹ đạo thay đổi
mỗi 100,000 năm, từ quỹ đạo gần tròn đến hình dạng ellipse, thời gian dài gần bằng
một thời kỳ băng hà lùi hoặc tiến; điều này được dự đoán là do sự lệch tâm đã tạo nên
nền tảng cho những vòng tuần hoàn.
2. Độ nghiêng của trục Trái đất. Sự tự quay của trục Trái đất nghiêng so với mặt phẳng
quỹ đạo với một vòng tuần hoàn 41,000 năm, độ nghiêng đó dao động từ 21.50 đến
24.50. Hiện tại góc nghiêng đó là 23.50.
3. Sự tiến động của xuân phân và thu phân khi mà hướng nghiêng thay đổi mặc dù góc
nghiêng vẫn được giữ nguyên. Hiệu ứng sự lắc lư như sự quay tròn của đỉnh một đồ
chơi. Sự lắc lư có hai chu kỳ: 23,000 và 19,000 năm. Hiện tại, sự lắc lư khiến cho Trái
đất ở gần Mặt trời nhất trong suốt mùa đông ở Bắc bán cầu, đem lại mùa đông và mùa
xuân ôn hòa hơn Nam bán cầu. Sự thay đổi theo thời gian của độ lệch tâm, độ
nghiêng, và chu kỳ lắc lư được tính toán cho hiện tại và cả quá khứ.M

Những vết tích của băng hà và trầm tích đã chỉ ra rằng những thời kỳ băng tiến và
lùi gần như đồng bộ ở cả Bán cầu Bắc và Nam. Làm thế nào mà những khối băng lớn ở
cực bị ảnh hưởng cùng một lúc bởi sự nghiêng và sự lắc lư? Cũng có thể bởi sự phân phối
nhiệt giữa Đại dương và Lục địa. Cứ mỗi lượng nhiệt tăng lên nhận được ở một Bán cầu
sẽ được chia cho bán cầu còn lại. Ví dụ như, những vết băng ở Greenland đã chỉ ra sự
thay đổi mãnh liệt. Khoảng cách đây 14,000 năm, nhiệt độ Trái đất bắt đầu tăng lên do sự
thay đổi hằng năm trong các lớp băng – lượng O18, CO2 và methane tăng lên. Sự tăng lên
của O18 có nghĩa là nhiệt có khả năng làm bốc hơi một lượng lớn hơn đồng vị của oxi, sự
tăng lên của CO2 làm cho Trái đât nóng lên thông qua Hiệu ứng nhà kính, và sự tăng lên
của khí Methane là do sự tăng lên của số lượng đầm lầy. Đó đều là những triệu chứng của
sự nóng lên của Trái đất trong thời kỳ băng gian hiện tại của chúng ta, thời kỳ mà những
khối băng bị đẩy lùi một cách nhanh chóng.

Từ cách đây 18,000 đến 20,000 năm, khi những khối băng hà còn ở trên đỉnh, Trái
đất của chúng ta lúc đó như thế nào? Những dải băng trên lục địa chứa khoảng 70 triệu
km3 băng, và những khối băng lớn che phủ khoảng 27% bề mặt đất đai, bao gồm toàn bộ
Canada, một phần Đông bắc nước Mỹ. Mỗi dải băng đều có áp suất cao, áp suất này thế
chỗ cho hệ thống bão phía Nam. Sự thế chỗ của hệ thống bão làm gia tăng mưa ở vĩ độ
giữa, chuyển khu vực sa mạc của Tây nam nước Mỹ thành những hồ lớn và gây lượng
mưa lớn khắp vùng Mediterranean. Áp suất cao ở Châu Á đẩy những cơn mưa gió mùa
đi, vì vậy mà làm tăng sự khô cằn ở Ấn Độ.




Hình : Canada và Đông bắc nước Mỹ bị che phủ bởi băng hà
Một lượng lớn nước biển biến thành băng nên mực nước biển thấp hơn hiện tại,
chỉ khoảng 130 m. Sự mở rộng của những khối băng là mầm mống cho sự phá hoại lớn:
bề mặt Đại dương bị thu hẹp cộng với nước biển lạnh hơn đồng nghĩa với việc lượng bốc
hơi ít hơn, sự phản xạ năng lượng Mặt trời tăng, vì vậy mà năng lượng được hấp thụ sẽ ít
hơn. Lượng bốc hơi bị giảm cũng có nghĩa là giảm lượng tuyết rơi cần thiết để giữ những
khối băng, vì vậy mà chúng ngày càng thu nhỏ lại.

Thời kỳ băng hà của chúng ta không hề qua đi. Chúng ta đang sống trong một thời
kỳ ấm hơn của lịch sử Trái đất, vì đây là thời kỳ băng lùi. Khoảng 10% lục địa ngày nay
còn giữ 25 triệu km3 băng, ở Nam Cực và Greenland. Nếu những khối băng này tan chảy,
do con người hoặc không do con người, mực nước biển sẽ tăng lên khoảng 65 m, và
những thành phố lớn của Thế giới sẽ bị nhấn chìm trong biển nước. Sự thay đổi kết hợp
với sự dao động khí hậu là áp lực cho thực vật và động vật, khi khả năng chịu đựng thấp
các loài vật này sẽ bị tuyệt chủng.




V- SỰ ĐA DẠNG CỦA KHÍ HẬU: QUY MÔ VÀI TRĂM NĂM:
Nhiệt độ của không khí ở Greenland có một thời kỳ ấm lên đáng kể, theo sau là
một khoảng thời gian lạnh hơn, điều này có được là do tỷ lệ giữa khí O2 và các đồng vị ở
các lớp băng. Thậm chí trong suốt khoảng giữa của cuối kỷ băng hà, cách đây 20 ngàn
năm và sớm hơn, có một thời kỳ nhiệt độ ấm hơn. Thời kỳ cách đây 20 ngàn năm trở về
sau:

1. Nhiệt độ bắt đầu tăng lên;
2. Sự ấm lên bị ngắt quãng bởi thời kỳ Older Dryas, ở thời kỳ này nhiệt độ lạnh hơn;
3. Khoảng thời kỳ lạnh đột ngột này được thay thế bởi sự tăng nhiệt độ của thời kỳ
Bolling;
4. Nhiệt độ cao bắt đầu hạ xuống trong suốt thời kỳ Allerod;
5. Ở thời kỳ Younger Dryas cách đây từ 12,900 đến 11,600 năm, nhiệt độ lại tiếp tục
hạ xuống thấp hơn;
6. Cuối cùng là đến thời kỳ gian băng.




Hình : Biểu đồ nhiệt độ của Greenland



Tại sao nhiệt độ lại thay đổi lên xuống một cách đột ngột như vậy? Một lí do được
dự đoán dựa trên sự thay đổi xảy ra ở khu vực Bắc Đại Tây Dương. Khi những tảng băng
lớn trên lục địa tan chảy sẽ tạo nên những hồ nước tinh khiết lớn, nước lạnh được giữ bởi
những con đập làm bằng băng. Hình dạng của bề mặt mặt đất và lớp trầm tích nói cho
chúng ta biết về những đợt lũ lớn do sự tan vỡ của những đập băng. Dòng lũ chảy từ
Mississppi, Lawrence, Columbia, và những con sông khác, tạo nên lớp nước bề mặt lạnh
và ngọt. Ở Bắc Đại Tây Dương, lớp nước lạnh ở bề mặt này làm thay đổi vòng tuần hoàn
đại dương(1.12)…
Khi nước biển lạnh và mặn ở Bắc Đại Tây Dương chìm xuống và di chuyển thành
dòng ở phía dưới Đại dương, chúng được thay thế lớp nước ấm hơn chảy từ vùng biển
Gulf của Mehico và Caribean. Cùng với lớp nước ấm ở vùng vĩ độ bắc, gió đưa thêm một
lượng nhiệt từ bề mặt nước và mặt đất có nhiệt độ ấm hơn ở lân cận Greenland và Châu
Âu. Tuy nhiên khi bề mặt nước của Đại Tây Dương lạnh đi, mật độ thấp của nó ngăn cản
việc chìm xuống và nhiệt độ lạnh của nó làm cho nhiệt độ không khí lạnh hơn. Những gì
xảy ra trong suốt thời kỳ Younger Dryas là một điều hiển nhiên. Những cơn lũ do băng
tan kéo dài từ cách đây 12,900 đến 12,700 năm đưa lớp nước lạnh lên phía trên Bắc Đại
Tây Dương, kết thúc một vòng tuần hoàn. Phải tốn thêm 1,100 năm khác để năng lượng
Mặt trời trở lại làm bề mặt Đại dương nóng lên và mặn hơn.

Mực nước biển thấp hơn 130m (425ft) và nước được giữ trên mặt đất dưới dạng
băng tuyết. Băng tan ra và làm mực nước biển tăng lên. Sự quay trở lại của một thể tích
nước lớn này ảnh hưởng đến sự phân phối nhiệt của Đại Dương; đây cũng là một quá
trình thay đổi khí hậu. Thời kỳ cuối của quá trình tan băng được thể hiện bằng một đường
cong đi lên của mực nước biển (9.21)

Khoảng cách đây 7,000 năm, nhiệt độ trung bình của Trái đất cao hơn và tổng
lượng mưa thì lớn hơn. Thời gian này được biết đến như “khí hậu tối ưu”, thậm chí Bắc
Phi cũng có đủ lượng mưa để cung cấp cho mùa vụ. Sau thời kỳ đó, nhiệt độ hạ xuống,
nhiệt độ trung bình là 20C.

Kéo dài thang đo thời gian ra xa hơn, ta thấy rằng sự đa dạng của khí hậu vẫn rất
rõ ràng. Thời kỳ băng hà ngắn ảnh hưởng đến Châu Âu từ 1450 đến 1850 trước công
nguyên(?), nhiệt độ thấp hơn chỉ khoảng 10C nhưng đủ để làm giảm năng suất mùa màng,
dẫn đến mùa đông khắc nhiệt hơn thế kỷ 20. Con người không biết rằng cái gì đã tạo nên
những vòng tuần hoàn khí hậu dài hàng trăm năm như vậy, có nhiều nghi vấn cho câu trả
lời dựa trên những luồng nhiệt tỏa ra từ Mặt trời. ví dụ như, có những vệt đen Mặt trời
trong suốt thời kỳ băng hà ngắn, làm giảm hoạt động của Mặt trời, chính vì vậy mà Trái
Đất nhận được ít nhiệt hơn.
Có nhiều giả thiết được đưa ra để giải thích cho sự biển đổi khí hậu xảy ra trong
những thời kỳ khác nhau. Khi một giả thiết được kiểm tra sẽ những kết quả không mong
muốn, tuy nhiên đôi khi nó lại làm tăng giá trị của những giả thiết khác. Sự biến đổi khí
hậu là một phần của một hệ thống thực sự phức tạp.




VI- BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG THỜI KỲ NGẮN:QUY MÔ VÀI NĂM
El Nino

Khả năng giữ nhiệt cao của nước khiến nó có khả năng hấp thu và giữ một lượng
nhiệt lớn khi trời nóng và thoát nhiệt khi trời lạnh. Nhiệt lượng cung cấp trong đại dương
có ảnh hưởng lớn lên khí quyển và khí hậu thế giới. Một ví dụ cho mối liên hệ này là một
hiện tượng thường gặp ở phía Nam Châu Mỹ bởi sự xuất hiện của khối nước nóng ở Peru
và Ecuado gần mùa giáng sinh, được gọi là EL Nino (tiếng Tây Ban Nha là đứa bé trai).

Nguyên nhân của áp suất khí quyển cao ở phía Đông Thái Bình Dương là kết quả
của gió Mậu Dịch, loại gió thổi từ hai cực về phía Xích Đạo. Trong vùng xích đạo, lớp
nước bề mặt hấp thụ năng lượng Mặt trời và bị gió Mậu Dịch thổi về phía Tây Thái Bình
Dương. Gió thổi mạnh đến mức làm cho mực nước biển phần phía tây của đại dương cao
hơn 1.5 feet (45.72 cm) so với bình thường. Phần nước ấm bị đẩy dồn về phía tây, sau đó
bốc hơi, tạo thành những cơn mưa lớn ở những khu rừng nhiệt đới của Indonexia và
Đông Nam Á, cung cấp môi trường sống cho rặng san hô Great Barrier Reef của
Australia. Khi đó, ở phía Đông Thái Bình Dương, dòng nước lạnh ở cực cùng với dòng
nước lạnh ở tầng sâu hơn trồi lên thay thế cho lớp nước ấm đã bị dồn về phía Tây. Do
nước lạnh nên lượng nước bay hơi rất ít, chính vì vậy mà hình thành nên những sa mạc
dọc bờ biển Ecuado, Peru, Baja California và California.
Hình : Vòng tuần hoàn khí quyển



Cứ khoảng 2 đến 7 năm, gió Mậu Dịch yếu đi, áp suất khí quyển thấp ở Indonexia
sẽ di chuyển về trung tâm Thái Bình Dương, và gió sẽ thổi vào khu vực này theo hướng
Tây. Lớp nước ấm trên bề mặt sẽ chảy về hướng Nam và trung tâm của Châu Mỹ.
Khi gió từ phía Tây thổi lớp nước bề mặt về phía Đông thì một số dòng nước bề mặt sẽ
được giữ lại, không di chuyển sang phía Đông nữa. Chúng thế chỗ cho một lượng nước
ấm, vì vậy mà lượng nước bốc hơi nhiều hơn, mây nhiều hơn và áp suất khí quyển giảm
xuống. Khi áp suất khí quyển giảm, không khí ẩm ướt sẽ di chuyển về phía Châu Mỹ
hình thành những cơn mưa lớn. Gió khí quyển ở trên cao (jet stream) cũng chịu ảnh
hưởng như thế, bao gồm một nhánh phía Nam mang lượng mưa lớn về Đông Nam nước
Mỹ và gây bão lớn ở Đại Tây Dương và Caribbean.
Hình : Điều kiện thời tiết khi El ninô không xảy ra




Hình : Điều kiện thời tiết khi El Ninô xảy ra




Một trong những EL Nino mạnh nhất là vào năm 1982 – 1983. Trên vùng biển
phía Đông Thái Bình Dương, những khu vực đánh bắt cá nước lạnh ở vùng biển Peru và
Ecuado bị thất thu khi nước biển ấm lên khoảng 140F so với bình thường. Nước ấm lên
làm lượng hơi nước bốc hơi nhiều hơn, dẫn đến những trận mưa cực lớn. Chúng tạo
thành những trận lũ quét và sạt lở, giết chết 600 người ở Peru và Ecuado và ảnh hưởng
lớn đến nền kinh tế của nhiều quốc gia. Dòng nước ấm dọc bờ biển cũng làm tăng những
cơn mưa lớn trong các cơn bão ở phía Tây nước Mỹ. California chịu thiệt hại 300 triệu $,
10,000 phải di dời do nước lũ và lở đất, 12 người chết. Bên cạnh đó, vành đai mưa nhiệt
đới cũng di chuyển tới trung tâm Thái Bình Dương, hình thành những trận mưa lớn ở
Hawaii và Tahiti. Ở phía Tây Thái Bình Dương, Australia và Indonexia bị che phủ bởi
vùng không khí có áp suất cao và lượng mưa dưới mức trung bình. Australia phải gánh
chịu thời kỳ hạn hán nặng nề nhất thế kỷ và không thể kiểm soát được những trận cháy
rừng do gió thổi quá mạnh, giết chết 75 người, nhiều gia súc và động vật hoang dã, gây
thiệt hại 2.5 tỷ $ (see chapter 13).

Những ảnh hưởng của EL Nino đến khu vực Thái Bình Dương thật sự rất lớn,
nhưng hệ thống Đại dương – Khí quyển đã được kết nối với nhau thành một hệ thống lớn
hơn. Ở Ấn Độ Dương, sự thay đổi của khí hậu được biết như dao động phía Nam
(Southern Oscillation), xuất hiện khi khí quyển có áp suất thấp được thay thế bằng áp
suất cao, được đo ở Darwin, Australia. Ví dụ như, vào cuối 1996, một hệ thống khí hậu
lớn ở Ấn Độ Dương di chuyển sang phía Tây Thái Bình Dương, hình thành EL Nino lớn
năm 1997 – 1998.

Khi sự hiểu biết của con người ngày càng tăng lên, con người biết một điều hiển
nhiên rằng: những cơn mưa lớn không thường xuyên ở một vùng nào đó và hiện tượng
khô hạn ở một khu vực khác không phải là những hiện tượng cô lập, mà hơn thế nữa, cả
hai đều là một bộ phân của một hệ thống khí hậu đã được kết nối toàn cầu. Một sự thay
đổi xuất hiện ở khu vực này có thể gây những thay đổi khắp thế giới, giống như những
quân cờ Domino – Khi một quân cờ bắt đầu tiến trình thì tất cả những quân còn lại sẽ ngã
xuống theo. Cứ vài năm, khí hậu ở vùng nhiệt đới thay đổi và sự thay đổi này được liên
kết khắp thế giới. Ấn Độ Dương ấm lên và vùng khí hậu của nó bị thổi sang phía Tây
Thái Bình Dương, gây nên hiện tượng EL Nino. Sau khi những cơn gió El Nino thổi
xuyên qua Thái Bình Dương và Nam Mỹ, vùng Đại Tây Dương bắt đầu ấm lên. Vòng
tuần hoàn này kéo dài 4 năm.

La Nina

Lớp nước bề mặt Đại dương giống như một lớp khảm của những khối nước ấm
xen giữa những khối lạnh hơn. Nhiệt độ khác nhau của những khối nước bề mặt Thái
Bình Dương được đo bởi hệ thống vệ tinh Topex – Poseidon và được tải lên trang
http://topex-www.jpl.nasa.gov. Khi bề mặt nước ấm hơn so với bình thường kéo dài dọc
theo bờ biển phía Tây của châu Mỹ trong suốt một thời kỳ EL Nino sẽ mang đến lượng
mưa lớn và đi kèm với những trận lũ. Nhưng EL Nino còn có một người chị em khác
được gọi là La Nina (đứa bé gái) – có những tính chất hoàn toàn khác so với El Nino.

La Nina xuất hiện khi dòng nước lạnh di chuyển đến vùng xích đạo Thái Bình
Dương và hệ thống gió thay đổi mang lại những kiểu khí hậu khác ở Bắc Mỹ. Một mùa
đông La Nina điển hình sẽ có không khí lạnh với lượng mưa cao ở Tây bắc nước Mỹ và
Bắc Canada, nhưng lại khiến cho khí hậu hầu hết Bắc Mỹ nóng lên và lượng mưa dưới
mức trung bình. Mùa đông 1999 – 2000 là mùa đông điển hình với lượng mưa lớn ở Tây
bắc và lượng mưa thấp ở những nơi khác đi cùng với những trận cháy rừng lớn ở phía
Tây.




Hình : La Nina trên vùng biển Thái Bình Dương


Có những tai biến đi cùng với không khí lạnh của La Nina ở Thái Bình Dương. La
Nina gây nên những cơn bão rất lớn ở Đại Tây Dương, gây nên những thiệt hại cho vùng
phía Đông nước Mỹ và vùng bờ biển Guft của Mehico. La Nina làm giảm lượng mưa ở
Tây nam Châu Mỹ, gây hạn hán và những trận cháy rừng như vào mùa hè 2000.




VII- NÚI LỬA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:
Năm 1784, Benjamin Franklin công nhận rằng núi lửa có thể ảnh hưởng đến khí
hậu. Ông cho rằng các đám mây và thời tiết lạnh tại châu Âu từ 1783 - 1784 là do sự
phun trào dung nham và khí đốt ở Laki, Iceland. Núi lửa ảnh hưởng đến khí hậu như thế
nào? Một đợt phun trào lớn có thể làm bùng nổ một lượng tro khổng lồ và đủ cao ở phía
trên khu vực xảy ra các hiện tượng thời tiết. Tại đây, bụi thoát khỏi tác dụng làm sạch
bởi mưa, vì thế các sản phẩm núi lửa có thể lơ lửng trong nhiều năm và ngăn cản ánh
sáng mặt trời

Hầu hết hơi nước và các hiện tượng thời tiết diễn ra trong lớp thấp nhất của bầu
khí quyển là tầng đối lưu. Tầng đối lưu dày khoảng 8 km, ở xích đạo có thể dày đến 18
km. Tầng đối lưu thì ấm ở dưới và lạnh hơn ở trên, tạo nên sự bất ổn định không khí ấm
có khuynh hướng di chuyển lên trên và không khí lạnh chìm xuống dưới. Sự xáo trộn của
không khí ở tầng đối lưu là một phần của mô hình thời tiết thay đổi

Đỉnh của tầng đối lưu - tropopause, là một ranh giới quan trọng nơi có sự nghịch
đảo của không khí lạnh và không khí bắt đầu ấm lên qua tầng bình lưu. Sự đảo ngược
nhiệt độ hoạt động như một rào cản, giới hạn các hiện tượng thời tiết trong phạm vi tầng
đối lưu. Ở trên Tropopause là tầng bình lưu, cái tên đã cho thấy tình trạng phân tầng của
nó. Tại đây, lớp không khí ấm nằm phía trên lớp không khí lạnh, đây là một cấu trúc ổn
định. Tầng bình lưu là nơi có điều kiện lạnh, khô, và ít nắng. Với điều kiện không mưa
và rất ít xáo trộn dọc, tầng bình lưu tạo điều kiện tốt nhất để tro núi lửa (0,001 mm) lơ
lửng trong nhiều năm. Đa số các loại khí khi vào tầng bình lưu đều biến mất vào không
gian, nhưng lưu huỳnh dioxit thì kết hợp với oxy và nước để tạo thành axit slfuric tồn tại
ở đó trong nhiều năm. Việc kết hợp giữa axit sulfuric và tro tạo ra sương mù, làm giảm số
giờ nắng ở tầng đối lưu và bề mặt đất, dẫn đến khí hậu mát mẻ.
Tambora 1815

Vào đầu những năm 1800, núi Tambora trên đảo Sumbawa ở Indonesia, cao 4300
mét. Sau khi phun trào vào ngày 10 - 11 tháng 4 năm 1815, Tambora chỉ còn cao 2.900 m
và có một hõm chảo rộng 7 km và sâu 650 m. Khoảng 100km3 đá được nổ ra trong quá
trình phun trào, tạo ra 175 Km3 tro bụi và mảnh vỡ khác. Sự phun trào lớn nhất trong lịch
sử làm chết khoảng 10.000 người bởi dòng chảy dung nham và gián tiếp giết 107.000
ngừơi khác thông qua nạn đói và bệnh tật.

Năm 1816 được biết như " năm không có mùa hè " do tro bụi và sol khí, đặc biệt
là sunfua dioxit, được đưa vào tầng bình lưu để. Sản xuất nông nghiệp đã giảm ở mọi nơi
trên Thế Giới lúc nhiệt độ toàn cầu giảm 0,3 0C trong những năm lạnh giá. Ở phía bên
kia của thế giới, tại liên minh các quốc gia đông bắc, nơi mà tuyết hay sương rơi mỗi
tháng trong năm. Tại đó,ước tính có 8% bộ trưởng đã bị buộc phải rời khỏi nhà nước
Vermont do sự thất bại nông nghiệp. Giả thuyết còn đưa ra núi lửa Tambora làm mát khí
hậu gây ra nạn đói ở Ấn Độ, làm suy giảm sức khỏe người dân tạo điều kiện bùng nổ dịch
tả. Sau đó bệnh lan ra khắp thế giới, giết chết những người sống dưới điều kiện khắc
nghiệt, vệ sinh kém.

El Chichon, 1982

Nằm ở bang Chiapas phía nam Mexico là núi lửa tương đối nhỏ gọi là El Chichon.
Ba đợt phun trào lớn của El Plinian Chichon ngày 28 tháng 3 và 3-4 tháng 4 năm 1982
phun ra khoảng 0,6 Km3 vật liệu, để lại một hố đường kính 1 km. Mặc dù không lớn như
sự kiện phun trào Mount St Helens vào năm 1980, nhưng hơn 1.000 người chết trong vụ
nổ. Với khối lượng khí lưu huỳnh dioxit gấp 100 lần được thải vào tầng bình lưu cùng
với tro bụi. Đám mây khí tại tầng bình lưu che phủ toàn cầu trong 23 ngày. Điôxít lưu
huỳnh khí kết hợp với Oxi và hơi nước, chuyển đổi thành axít sulfuric. Trong vài tháng,
hoàng hôn rất kỳ lạ, bắt đầu với ánh sáng tím phía cao đường chân trời thay đổi dần dần
sang màu vàng lạ kì và màu cam lúc hoàng hôn, cuối cùng chuyển sang ánh ửng hồng sau
khi mặt trời lặn . Sau cùng bầu trời tối đen. Nhiệt độ thế giới từ sự kiện này đã được hạ
xuống 0,2 oC.
Mùa xuân 1982, EL Chichon phun dioxide lưu huỳnh vào tầng bình lưu kéo theo
hiện tượng El nino vào năm 1982-1983. Giữa El Chichon và El Nino Đã có mối quan hệ
không? Hay là một sự trùng hợp? Hay là các sol khí từ El Chichon giảm năng lượng mặt
trời đến bề mặt Trái Đất, từ đó làm suy yếu gió mậu dịch? Gió mậu dịch không thổi mặt
nước ấm về phía tây Thái Bình Dương, kết quả điều kiện hình thành El Nino được tạo ra
với dòng nước ấm quay về miền Nam và Bắc America.

Núi Pinatubo 1991

Sau giấc ngủ 635 năm, vào mùa xuân năm 1991 núi Pinatubo thức tỉnh và phá vỡ
cuộc sống của đảo Luzon Philippines. Ngọn núi cao 1.745 m đã phun trào và phát nổ tạo
nên một hõm chảo rộng 2km và có 5km3 macma dày đặc đã phun những mảnh vỡ núi
lửa. Bất chấp sự cảnh báo trước khi sự kiện xảy ra, hơn 300 người chết trong dòng chảy
dung nham. Thêm vào đó, sự tàn phá tài sản to lớn do cơn bão khủng khiếp đã đổ những
trận mưa trút nước trên những mảng vỡ do núi lửa tạo thành làm chuyển động cả khối
lahars khối lượng lớn.

Tầm quan trọng của khí hậu là 20.000.000 tấn khí SO2 đẩy vào tầng bình lưu gấp
ba lần lượng SO2 của El Chichon. Sol khí H2SO4 phản xạ 2-4% bức xạ sóng ngắn từ mặt
trời trở về không gian, gây ra một sự suy giảm 20-30 % lượng bức xạ mặt trời trực tiếp
đến mặt đất. Có nghĩa là nhiệt độ toàn cầu ở mặt đất bị giảm 0.5oC. Việc làm hạ nhiệt độ
lớn nhất xảy ra trong vĩ độ trung bình của Bắc bán cầu, bao gồm Hoa Kỳ, nơi mà nhiệt
độ giảm 1oC. Trong 1991-1992 do hoạt động núi lửa tạo ra SO2 trong tầng bình lưu đã
bù đắp sự nóng lên bởi hiệu ứng nhà kính do CO2 được thải vào tầng đối lưu do con
người đốt gỗ, dầu, than đá, và khí tự nhiên.
VIII- ẢNH HƯỞNG CỦA NÚI LỬA ĐẾN KHÍ HẬU
Sự phun trào của núi lửa Tambora ở El Chichon, và Pinatubo khiến con người
quan tâm đến những tác động của núi lửa đến khí hậu. Những loại khí sinh ra từ hoạt
động của núi lửa sẽ làm giảm lượng bức xạ đến được mặt đất, khiến mùa màng thất thu,
do đó có thể dẫn đến nạn đói, bệnh tật. Tuy nhiên nó chỉ ảnh hưởng đến khí hậu trong
vòng một đến hai năm.

Sự nóng lên toàn cầu từ 1912-1952 đã được giải thích không chỉ do con người thải
ra khí CO2 vào khí quyển từ hoạt động công nghiệp, mà một phần là do sự thiếu hụt một
lượng lớn SO2 từ sự phun trào núi lửa.

1. Những yếu tố quyết định đến sự ảnh hưởng của núi lửa đến khí hậu:
2. Kích thước và tốc độ phun trào.
3. Chiều cao của cột phun trào.
4. Các loại khí được sinh ra và vị trí tồn tại của chúng trong bầu khí quyển.
Lưu huỳnh dioxit trong tầng bình lưu phản xạ ánh sáng Mặt trời và làm
không khí bên dưới lạnh đi. Halogen, thường là clo, phản ứng với ozone,
phá hủy tầng ozone, do đó làm suy yếu khả năng che chắn tia cực tím.
Carbon dioxide thì gây nên hiệu ứng nhà kính.
5. Những núi lửa ở vĩ độ thấp khi phun trào sẽ đưa vào khí quyển một lượng
lớn khói bụi, điều này ảnh hưởng đến toàn cầu.

Điều tồi tệ nhất mà những đợt phun trào núi lửa gây nên cho khí hậu là gì? Có thể
là sự hủy diệt số lượng lớn các loài, trong đó có khủng long, xảy ra 65 triệu năm trước.
Có những giả thiết cho rằng sự tuyệt chủng này là do những những ảnh hưởng của những
dòng basalt phun trào tạo nên cao nguyên Deccan ở Ấn Độ. Khoảng 2.600.000 Km3 dung
nham bazan tuôn trào trong một thời gian 500.000 năm. Người ta đã ước lượng rằng
lượng CO2 trong khí quyển đã tăng lên 10-25 phần trăm, đi cùng với nó là sự nóng lên
của Trái đất, nhiệt độ Trái đất tăng hơn 100C. Nhiệt độ và độ acid bề mặt nước Đại dương
tăng lên, tầng ozone mỏng đi.
IX- NẠN ĐÓI VÀ HẠN HÁN:
Hạn hán là thời gian khô hạn bất thường trong một khu vực khi mưa không xuất
hiện thường xuyên và tất cả sự sống phải thích nghi với sự thiếu hụt nước trầm trọng.
Việc thiếu hoặc giảm độ ẩm có thể gây ra mất mùa trong nông nghiệp dẫn đến nạn đói,
bệnh tật, tử vong và sự di cư đến các khu vực ẩm ướt hơn. Trong tất cả các loại thảm họa
thì nạn đói kéo dài và chậm nhất. Động đất, núi lửa phun trào, lốc xoáy,… với năng
lượng lớn, đến một cách bất ngờ và sau đó nhanh chóng biến mất. Tuy nhiên, nạn đói thì
chậm hơn. Đầu tiên, những cơn mưa được dự kiến trước đó sẽ không đến, sau đó thực vật
khô héo, nguồn cung cấp thực phẩm giảm và cuối cùng nạn đói xuất hiện.


Không giống như những tai biến tự nhiên khác, hạn hán có xu hướng khiến con
người mất đoàn kết hơn. Tình trạng thiếu lương thực và nước dẫn đến những trận xung
đột giữa cộng đồng, chính phủ…, họ tranh nhau để sống sót. Sau một trận động đất hoặc
lũ lụt, người dân thường cố gắng hết sức để viện trợ hàng xóm và kể cả những người lạ
đang cần đến sự giúp đỡ; còn trong một trận hạn hán, con người thường tranh giành nhau
để có thể tồn tại.

Trong giai đoạn đầu của một nạn đói, thực phẩm vẫn còn nhưng vẫn không đủ.
Người khỏe mạnh có thể mất đến 10 phần trăm trọng lượng cơ thể mà vẫn giữ được tỉnh
táo và khỏe mạnh. Giai đoạn sau, trọng lượng cơ thể giảm khoảng 20 phần trăm và cơ thể
sẽ có những phản ứng để bảo vệ mạng sống. Tế bào cơ thể hoạt động ở mức độ thấp hơn,
làm giảm năng lượng cần thiết để giữ các chức năng quan trọng. Con người sẽ mất đi
những tình cảm vốn có. Giai đoạn gần với cái chết, khi hơn 30 phần trăm trọng lượng cơ
thể đã bị mất, con người trở nên thờ ơ với môi trường xung quanh, với những khổ đau
của người khác và cái chết đang kế cận.

Nạn đói Dust Bowl, Mỹ những năm 1930
Một trong những thảm họa lớn nhất trong lịch sử Mỹ xảy ra trong những năm
1930, khi hạn hán xảy ra trong nhiều năm ở khu vực trung tâm đến "Dust Bowl". Mùa
màng bị thất bát và thiếu lương thực do hàng ngàn trang trại bị bỏ không và tình trạng di
dân với quy mô lớn, chủ yếu đến California và các tiểu bang miền Tây. Sự kiện này được
đăng trong nhiều sách báo, trong đó có The Grapes of Wrath của John Steinbeck.

Điều gì đã gây ra hạn hán? Dòng không khí bên trên di chuyển uốn khúc với quy
mô lớn tạo áp suất cao kết hợp với dòng di chuyển theo hướng kim đồng hồ, kết quả là
làm không khí hạ xuống. Dòng không khí áp suất cao bên trên rất khô và khi nó hạ
xuống, nó trở nên nóng hơn. Do đó mặt đất nóng, khô, thiếu nước. Khi gió thổi ngang
qua mặt đất, nó hút độ ẩm, làm chết cây và làm đất trống bị xói mòn. Gió hình thành nên
những đám bụi lớn được gọi là roller. Khi chúng di chuyển đến một khu vực nào đó, Mặt
Trời sẽ bị che khuất, không gian tối hơn, chúng len lỏi vào trong những ngôi nhà thông
qua những khe nứt. Thậm chí bụi còn di chuyển đến những thành phố dọc bờ biển phía
Đông.

Hạn hán bắt đầu vào năm 1930. Tháng 10 năm 1929, thị trường chứng khoán Mỹ
suy sụp, và nền kinh tế bắt đầu chìm vào khủng hoảng. Nông dân trở nên bạo động. Ví
dụ, một nhóm vũ trang 500 nông dân đã đi đến thị trấn của Anh ở Arkansas để xin cầu
viện thức ăn từ Hội chữ thập đỏ. Họ đã bị từ chối viện trợ, vì vậy họ đã đến cửa hàng và
lấy thực phẩm họ cần. Sự kiện này đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới. Đây chính là
những nông dân sinh sống ở trung tâm nước Mỹ, những người cung cấp lương thực cho
thế giới sau Thế chiến thứ nhất và đầu thế kỷ XX, bây giờ thậm chí họ không thể nuôi
sống chính bản thân họ.

Những cơn bão bụi trở nên tồi tệ hơn nữa vào năm 1932 và 1936. Trong thời kỳ
hạn hán, những vùng đất đã cày xới được gieo hạt giống, tuy nhiên chúng không thể sống
sót được, đất bị suy thoái nhiều hơn nữa. Những biện pháp nông nghiệp đã làm không
phải là tốt nhất, nhưng chúng không gây ra hạn hán mà chỉ làm tăng thêm tác dụng của
nó. Có những bằng chứng khảo cổ học cho thấy hạn hán đã xảy ra khá phổ biến. Ví dụ,
hạn hán trong quá khứ đã dẫn tới sự sụp đổ của nền văn minh Anasazi của Tây Nam nước
Mỹ và sự di cư của con người tới các khu vực có nguồn cung cấp nước khác.

Thời kỳ hạn hán Dust Bowl đã ảnh hưởng không chỉ đến ngành nông nghiệp địa
phương. Hạn hán, kết hợp với sự sụp đổ thị trường chứng khoán, đã gây ra những thay
đổi trong hệ thống kinh tế, xã hội và cả chính trị của Hoa Kỳ.

Sub – Sahenlia Africa, 1968 - 1975

Sahel tiếng Ả Rập nghĩa là "bờ" hay "ranh giới" "; bờ ở đây là phần ranh giới phía
nam của sa mạc Sahara. Phía nam của Sahel, từ vĩ độ 14o đến 18oN, không khí ẩm ướt
với cây bụi và cây cỏ tương tự như Tây Nam Mỹ. Ở Châu Phi, khoảng 25 triệu người
sống trong vùng này là người dân du mục ở phía bắc và nông dân ở miền nam. Tất cả phụ
thuộc vào lượng mưa hàng năm (khoảng 14-23 inch), thông thường vào tháng Sáu và
tháng Bảy. Đó là thời gian mà không khí nóng được thay thế bằng không khí ẩm từ Đại
Tây Dương di chuyển về phía Tây Nam.

Năm 1968, lượng mưa thấp hơn một nửa so với bình thường, khởi đầu cho một
thời kỳ hạn hán kéo dài cho đến năm 1975. Khoảng 200.000 người đã chết vì nạn đói,
hàng triệu động vật không thể sống sót, và hàng ngàn trẻ em bị bại não do không đầy đủ
dinh dưỡng. Nền kinh tế của khu vực này bị sụp đổ, ảnh hưởng đến một số nước khu vực,
bao gồm Mauritania, Senegal, Mali, Niger, Sudan, Ethiopia và Somali. Trận hạn hán đã
gây ra những thay đổi lớn trong cách sống, thay đổi lớn trong dân số và biến động đến xã
hội cho đến ngày nay.

Tại sao lượng mưa giảm đột ngột như vậy? Hạn hán ở vùng nhiệt đới thường nằm
giữa khu chí tuyến nơi hội tụ gió mậu dịch từ bán cầu. Gió mậu dịch bắt đầu khoảng vĩ
độ 30o, nơi không khí xuống và di chuyển về hướng xích đạo, gió khô lấy độ ẩm của
những vùng đất mà nó đi qua. Trong khoảng 1968 - 1975, khu vực hội tụ di chuyển xa
hơn về phía nam về 2o, vùng Sub - Sahelian Châu Phi phải chịu những cơn gió nóng và
khô, chúng lấy độ ẩm và tạo mưa ở vùng phía Nam xa hơn.
Các tài liệu địa chất và khảo cổ học cho thấy hạn hán xảy ra định kỳ và những điều
kiện khô cằn dọc theo mép phía nam sa mạc Sahara là phổ biến. Sự trở lại của hạn hán
dường như phản ánh sự thay đổi trước đó của khu vực hội tụ. Trong tương lai, khu vực
hội tụ sẽ thay đổi một lần nữa, gây nên sự khô hạn. Cùng với nạn phá rừng và gia tăng
dân số thì diện tích sinh sống của con người sẽ giảm xuống.




X- BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Biến đổi khí hậu xuất hiện trong mỗi thời kỳ lịch sử và địa chất, điều đó đã
được kiểm chứng. Mỗi quá trình ảnh hưởng đến khí hậu đều có những nguyên lý
hoạt động riêng và những thời gian hoạt động riêng. Làm thế nào để chúng ta cân
bằng chúng?

1. Năng lượng Mặt trời thì khác nhau vào những thời điểm khác nhau, cho nên rất
khó để chúng ta hiểu rõ và tính toán nó.
2. Quỹ đạo và độ nghiêng của Trái đất cũng thay đổi và nhờ Milankovitch mà ta
có thể hiểu rõ điều này. Ở hiện tại, sự lệch tâm và độ nghiêng phân bố khí hậu
lạnh, trong khi sự lắc lư lại làm ấm khí hậu.(know what die now!!!T_T)
3. Sự trôi dạt của các lục địa về những vĩ độ gần cực, và vị trí của của các lục địa
tất nhiên ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn đại dương và khí quyển.
4. Khi mực nước biển tăng lên, khí hậu ấm lên; khi mực nước biển hạ xuống, khí
hậu lạnh đi.
5. Núi lửa sinh ra khí SO2 vào tầng đối lưu và có thể làm khí hậu trở nên lạnh
hơn.
6. Con người đang làm khí quyển nóng lên bằng việc đốt củi gỗ, dầu, than đá và
các khí tự nhiên khác, chúng sinh ra một lượng lớn khí CO2 vào khí quyển và
làm gia tăng hiệu ứng nhà kính.
7. Nhiệt độ trái đất tăng lên 10C cho phép khí quyển giữ thêm 6% hơi nước.
8. Nhiệt độ và độ ẩm tăng lên tạo điều kiện tốt cho các loại bệnh phát triển như
bệnh dịch tả, sốt rét, viêm não…, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con
người.

Tương lai gần của chúng ta đang theo đuổi những gì? Nhiều ý kiến khác nhau
được đưa ra tuy nhiên quan trọng nhất là có thể đưa ra một tiên đoán về tương lai.
Hiện tại chúng ta biết rằng khí hậu luôn thay đổi, giống như một bóng đèn đã tắt mờ;
phần lớn sự thay đổi trong khi hậu diễn ra đột ngột và tương tự như một cái bóng đèn
với chỉ một lần mở và tắt.

Những tàn tích để lại trên đá cho chúng ta biết nhiều hơn về khí hậu trái đất ở
quá khứ và sự hình thành sự sống. Khí hậu luôn thay đổi mãnh liệt, và khoảng 99%
các loài sinh vật từng tồn tại đã bị tuyệt chủng. Sự sống tạo nên những tiến trình của
Trái đất và hầu như không thể phá hủy. Tuy nhiên, việc giữ vững sự tồn tại của các cá
thể và loài thì rất mỏng manh và mọi sự vật có thể sẽ dẫn đến một kết thúc đột ngột.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản