Tiểu luận “Các công cụ quản lý tài nguyên môi trường”

Chia sẻ: Võ Văn Thiệp Thiệp Hà | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:18

0
833
lượt xem
342
download

Tiểu luận “Các công cụ quản lý tài nguyên môi trường”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp ... đã ngày càng làm cho cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và hậu quả cuối cùng là làm suy thoái chất lượng sống của cộng đồng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận “Các công cụ quản lý tài nguyên môi trường”

  1. PHẦN I. MỞ ĐẦU Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp ... đã ngày càng làm cho cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và hậu quả cuối cùng là làm suy thoái chất lượng sống của cộng đồng. Do đó, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên đã trở thành một vấn đề hết sức quan trọng, một trong những mục tiêu chính nằm trong các chính sách chiến lược của các quốc gia. Ngày nay, vấn đề môi trường đã nổi lên như một lĩnh vực kinh tế, được đề cập đến trong mọi hoạt động của xã hội, trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Một vấn đề được đặt ra cho các cấp quản lý, làm sao sử dụng nguồn tài nguyên môi trường được hợp lý và bền vững, không những đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ cân bằng quan hệ giữa môi trường với phát triển ở hiện tại mà còn đảm bảo cho các thế hệ tương lai. Nhà nước với tư cách đại diện chung cho toàn xã hội loài người, nhằm duy trì và sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên môi trường cho sự phát triển nhân loại. Nhà nước với tư cách chung cho toàn xã hội sử dụng sức mạnh quyền lực và các truyền thống, tập quán của dân tộc để biến đường lối chỉ đạo của mình thành hiện thực thông qua việc hình thành một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý, một cơ chế sử dụng nhân lực hữu hiệu. Với các công cụ quản lý, chính sách quản lý, các giải pháp quản lý thích hợp. Tạo ra và tận dụng các thời cơ, các quan hệ quốc tế để phát triển bền vững đất nước. Trong giới hạn cho phép chúng tôi tìm hiểu: “Các công cụ quản lý tài nguyên môi trường”. 1
  2. 2
  3. PHẦN II. NỘI DUNG 1. Khái niệm và phân loại công cụ quản lý môi trường 1.1. Khái niệm Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt động về pháp luật, chính sách, kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững kinh tế xã hội. 1.2. Phân loại 1.2.1. Phân loại theo chức năng Có thể phân ra 3 loại như sau: • Công cụ điều chỉnh vĩ mô: là luật pháp và chính sách, thông qua đó nhà nước có thể điều chỉnh các hoạt động sản xuất có tác động mạnh mẽ tới việc phát sinh ra ô nhiễm. • Công cụ hành động: là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt v.v... và công cụ kinh tế. • Công cụ phụ trợ: là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc không tác động trực tiếp tới hoạt động (GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường ). 1.2.2. Phân loại theo bản chất công cụ • Công cụ luật pháp chính sách: Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương. • Công cụ kinh tế: Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. 3
  4. • Công cụ kỹ thuật quản lý: Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, monitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào • Công cụ phụ trợ 2. Các công cụ luật pháp trong quản lý tài nguyên môi trường: 2.1. Luật môi trường Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường. Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia. Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về "Môi trường con người" tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết. Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết. Luật bảo vệ môi trường Việt Nam được Quốc hội thông qua 27/12/1993 và được sửa đổi, bổ sung theo nghị quyết số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 là quy định pháp luật cao nhất của Nhà nước về môi trường.Luật gồm 15 chương. Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về 4
  5. thực hiện luật môi trường đã được ban hành. Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ các công trình giao thông. Luật bảo vệ môi trường: • Chương I: Những quy định chung • Chương II: Tiêu chuẩn môi trường • Chương III: Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường • Chương IV: Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên • Chương V: Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ • Chương VI: Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư • Chương VII: Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác • Chương VIII: Quản lý chất thải • Chương IX: Phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường • Chương X: Quan trắc và thông tin về môi trường • Chương XI: Nguồn lực bảo vệ môi trường • Chương XII: Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường • Chương XIII: Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về bảo vệ môi trường • Chương XIV: Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại về môi trường 5
  6. • Chương XV: Điều khoản thi hành 2.2. Chính sách môi trường Chính sách môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, thời đoạn, giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể. Nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược của đất nước. Nội dung của chính sách có thể trình bày theo sơ đồ 1. Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi trường. Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những chính sách môi trường riêng. Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương. Sự đúng đắn và thành công của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp Trung ương. Chính sách Các quan điểm Các biện pháp Các thủ thuật Các mục tiêu bộ phận Sơ đồ 1 2.3. Kế hoạch hóa công tác môi trường Kế hoạch hóa công tác môi trường là một nội dung quan trọng trong nội dung của công tác kế hoạch hóa sự phát triển kinh tế đất nước nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, tái tạo tiềm năng, tái tạo nguồn lực cho các giai đoạn phát triển cao hơn. Công tác kế hoạch hóa môi trường cần quan tâm đến việc huy động nội lực toàn dân, toàn quân, xây dựng các phong trào bảo vệ môi trường từ cơ sở. Nội dung kế hoạch hóa công tác môi trường của nhà nước bao quát được 5 vấn đề (sơ đồ 2). 6
  7. Kế hoạch hóa phát triển Quốc gia Kế hoạch hóa lĩnh vực môi trường sinh thái Giáo dục, tuyên truyền phổ Các ngành Các địa phương Xây dựng hệ thống pháp luật cơ chế chính sách Hình thành các dự án, chương trình cụ thể Xây dựng hệ thống quan trắc, Hợp tác quự c tế và ểm soát điều tra, d ố báo, ki khu vực Sơ đồ 2 2.4. Các tiêu chuẩn môi trường và sức khỏe 2.4.1. Khái niệm chung về tiêu chuẩn môi trường Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được qui định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường (theo luật bảo vệ môi trường của Việt Nam). Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học liên ngành nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có tính đến dự báo phát triển, gồm các nhóm chính: • Tiêu chuẩn nước • Tiêu chuẩn không khí. • Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp. • Tiêu chuẩn về bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ. 7
  8. • Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ các nguồn gen, động thực vật, đa dạng sinh học. • Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa. • Tiêu chuẩn liên quan đến môi trường do các hoạt động khai thác khoáng sản trong lòng đất, ngoài biển,… 2.4.2. Các tiêu chuẩn về sức khỏe Chiến lược xây dựng tiêu chuẩn sức khỏe: kiểm soát ảnh hưởng của các tác nhân và các thành phần môi trường, sao cho không để xảy ra sự cố hoặc chỉ cho phép xảy ra những sự cố ít tác hại đối với con người 2.4.3. Các tiêu chuẩn môi trường Quá trình xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng môi trường đều dựa trên tiêu chuẩn sức khỏe. Tiêu chuẩn môi trường được sử dụng rộng rãi như là các giá trị sinh thái. 3. Các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên môi trường Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế. Các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường với mục đích điều hòa các xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch văn bản môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất, kinh doanh và giá thành sản phẩm. Đây là biện pháp đang được nhiều nước trên thế giới vận dụng và đã đem lại những kết quả khả quan. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo giá trị. Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh. Trong khi đó, loại hàng hoá kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ 8
  9. đứng. Vì vậy, chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường. Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống các tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lý tài nguyên và môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho một hoạt động sản xuất có sinh ra ô nhiễm nào đó, hoặc xác định mức khai thác hợp lý tài nguyên tái tạo ... (Sơ đồ 3) 3.1. Thuế và phí môi trường Thuế và phí môi trường là các nguồn thu ngân sách do các tổ chức và cá nhân sử dụng môi trường đóng góp. Khác với thuế, phần thu về phí môi trường chỉ được chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Dựa vào đối tượng đánh thuế và phí có thể phân ra các loại sau: • Thuế và phí chất thải. • Thuế và phí rác thải. • Thuế và phí nước thải. • Thuế và phí ô nhiễm không khí. • Thuế và phí tiếng ồn. • Phí đánh vào người sử dụng. • Thuế và phí đánh vào sản phẩm mà quá trình sử dụng và sau sử dụng gây ra ô nhiễm (ví dụ thuế sunfua, cacbon, phân bón...). • Thuế và phí hành chính nhằm đóng góp tài chính cho việc cấp phép, giám sát và quản lý hành chính đối với môi trường. 3.2. Phí dịch vụ môi trường "Phí dịch vụ môi trường là một dạng phí phải trả khi sử dụng một số dịch vụ môi trường. Mức phí tương ứng với chi phí cho dịch vụ môi trường đó. Bên cạnh đó, phí dịch vụ môi trường còn có mục địch hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường". 9
  10. Có hai dạng dịch vụ môi trường chính và theo đó 2 dạng phí dịch vụ môi trường là dịch vụ cung cấp nước sạch, xử lý nước thải và dịch vụ thu gom chất thải rắn. Đối với một số nước nông nghiệp, dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cũng là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để có chính sách áp dụng phù hợp. 3.2.1. Phí dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lý nước thải Vấn đề cần quan tâm là mức phí dịch vụ cung cấp nước sạch phải được đặt ra như thế nào để sử dụng nước một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất. Đối tượng của loại hình dịch vụ này bao gồm các hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh dịch vụ và một số ít các nhà máy sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ. Nội dung của dịch vụ bao gồm cung cấp nước sạch, thu gom và xử lý nước thải trước khi thải ra hệ thống thoát nước của thành phố. Tuỳ theo mức độ đô thị hoá khác nhau, phí dịch vụ cung cấp nước sạch có khác nhau, nhưng thường được quy định trên một nguyên tắc tương đối chung, đó là: Tổng các nguồn phí thu được phải đủ chi trả cho dịch vụ cung cấp nước và xử lý nước thải (trừ chi phí xây dựng cơ bản). Mức phí có thể gồm hai thành phần: Mức cơ bản cộng với một khoản dịch vụ để điều tiết chi phí của dịch vụ. Mức phí cơ bản là khoản chi phí cơ bản cho việc cung cấp một đơn vị nước sạch đủ để xử lý lượng nước thải phát sinh khi các hộ gia đình sử dụng một đơn vị nước sạch đó. Mức phí dịch vụ có thể được hiểu là chi phí cho việc mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ và chi phí vận hành cung cấp nước sạch và xử lý nước thải.Ở đây, người ta căn cứ vào mức độ tiêu thụ nước sạch để có thể xây dựng các trạm cố định hoặc chuyển tiếp xử lý nước thải để chi phí xử lý nước thải là thấp nhất, tránh tác động tiêu cực đến giá dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lý nước thải. 3.2.2. Phí dịch vụ thu gom chất thải rắn và rác thải 10
  11. Chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải sinh hoạt, rác thải dịch vụ thương mại, kể cả chất thải đô thị độc hại. Dịch vụ liên quan đến chất thải rắn sẽ có tác dụng tích cực không chỉ riêng cho môi trường mà cho cả phat triển kinh tế. Chính vì thế việc xác định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn phải được nghiên cứu, xem xét kỹ trên cơ sở vừa đảm bảo bù đắp được chi phí thu gom, vận chuyển xử lý vừa gián tiếp khuyến khích các hộ gia đình giảm thiểu rác thải. Việc xác định mức phí của dịch vụ môi trường có thể thuận lợi khi cân nhắc, phân tích các chi phí cần thiết và dựa trên trọng lượng hoặc thể tích của rác thải. Nếu tiếp cận theo khối lượng rác thải thì các hộ gia đình phải có thùng đựng rác riêng đặt ở một vị trí cố định và việc trả phí phải hoàn toàn tự nguyện trên cơ sở khối lượng rác thải sản sinh ra hàng ngày hoặc hàng tuần. Còn một cách tiếp cận khác là theo số lượng người trong một gia đình, căn cứ vào số người, ví dụ 3 người một suất phí dịch vụ môi trường ... để xác định mức phí dịch vụ môi trường phải nộp. Theo cách này có thể không được công bằng nhưng thuận lợi hơn, tuy nhiên không khuyến khích được các hộ gia đình giảm thiểu rác thải. 3.3. Cota gây ô nhiễm "Côta gây ô nhiễm là một loại giấy phép xả thải chất thải có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp, v.v... được phép thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường". Nhà nước xác định tổng lượng chất gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép thải vào môi trường, sau đó phân bổ cho các nguồn thải bằng cách phát hành những giấy phép thải gọi là côta gây ô nhiễm và chính thức công nhận quyền được thải một lượng chất gây ô nhiễm nhất định vào môi trường trong một giai đoạn xác định cho các nguồn thải. 11
  12. Khi có mức phân bổ côta gây ô nhiễm ban đầu, người gây ô nhiễm có quyền mua và bán côta gây ô nhiễm. Họ có thể linh hoạt chọn lựa giải pháp giảm thiểu mức phát thải chất gây ô nhiễm với chi phí thấp nhất: Mua côta gây ô nhiễm để được phép thải chất gây ô nhiễm vào môi trường hoặc đầu tư xử lý ô nhiễm để đạt tiêu chuẩn cho phép. Nghĩa là những người gây ô nhiễm mà chi phí xử lý ô nhiễm thấp hơn so với việc mua côta gây ô nhiễm thì họ sẽ bán lại côta gây ô nhiễm cho những người gây ô nhiễm có mức chi phí cho xử lý ô nhiễm cao hơn. Như vậy, sự khác nhau về chi phí đầu tư xử lý ô nhiễm sẽ thúc đẩy quá trình chuyển nhượng côta gây ô nhiễm. Thông qua chuyển nhượng, cả người bán và người mua côta gây ô nhiễm đều có thể giảm được chi phí đầu tư cho mục đích bảo vệ môi trường, đảm bảo được chất lượng môi trường. 3.4. Trợ cấp môi trường Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở rất nhiều nước châu Âu thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Trợ cấp môi trường gồm các dạng sau: • Trợ cấp không hoàn lại. • Các khoản cho vay ưu đãi. • Cho phép khấu hao nhanh. • Ưu đãi thuế. Chức năng chính của trợ cấp là giúp đỡ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện, khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc phải xử lý ô nhiễm môi trường. Trợ cấp này chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài có thể dẫn đến phi hiệu quả kinh tế, vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. 3.5. Nhãn sinh thái 12
  13. "Nhãn sinh thái là một danh hiệu của nhà nước cấp cho các sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng các sản phẩm đó". Được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất. Vì thế các sản phẩm có nhãn sinh thái thường có sức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sản phẩm cùng loại. Như vậy, nhãn sinh thái là công cụ kinh tế tác động vào nhà sản xuất thông qua phản ứng và tâm lý của khách hàng. Do đó, rất nhiều nhà sản xuất đang đầu tư để sản phẩm của mình được công nhận là "sản phẩm xanh", được dán "nhãn sinh thái" và điều kiện để được dán nhãn sinh thái ngày càng khắt khe hơn. Nhãn sinh thái thường được xem xét và dán cho các sản phẩm tái chế từ phế thải (nhựa, cao su,...), các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm tác động xấu đến môi trường, các sản phẩm có tác động tích cực đến môi trường hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó ảnh hưởng tốt đến môi trường. 3.6. ISO 14000 Với mục đích xây dựng và đưa vào áp dụng một phương thức tiếp cận chung về quản lý môi trường, tăng cường khả năng đo được các kết quả hoạt động của môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, năm 1993, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã triển khai xây dựng bộ tiêu chuẩn về quản lý môi trường có mã hiệu ISO 14000, nhằm mục đích tiến tới thống nhất áp dụng Hệ thống quản lý môi trường (EMS), đảm bảo sự phát triển bền vững trong từng quốc gia, trong khu vực và quốc tế. ISO 14000, với tiêu chuẩn chủ đạo ISO 14001. Chỉ trong một thập kỷ, ISO 14001 đã trở thành chuẩn mực quốc tế về hệ thống quản lý môi trường, được áp dụng ở 138 quốc gia và hoàn toàn hòa nhập với nền kinh tế toàn cầu. 13
  14. Các tiêu chuẩn khác trong bộ ISO 14000 là những công cụ thực hành cụ thể như nhãn môi trường, thực hành môi trường, phân tích những tác động môi trường và truyền thông về môi trường. Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 đề cập đến 6 lĩnh vực sau: - Hệ thống quản lý môi trường (Environmental Management Systems - EMS). - Kiểm tra môi trường (Environmental Auditing - EA). - Đánh giá kết quả hoạt động môi trường (Environmental Performance - EPE). - Ghi nhãn môi trường (Environmental Labeling - EL). - Đánh giá chu trình sống của sản phẩm (Life Cycle Assessment - LCA). - Các khía cạnh môi trường trong tiêu chuẩn của sản phẩm (Environmental aspects in Product Standards). Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 được chia thành 2 nhóm: Các tiêu chuẩn về tổ chức và các tiêu chuẩn về sản phẩm. Các tiêu chuẩn về tổ chức: Tập trung vào các khâu tổ chức hệ thống quản lý môi trường của doanh nghiệp, vào sự cam kết của lãnh đạo và của các cấp quản lý đối với việc áp dụng và cải tiến chính sách môi trường, vào việc đo đạc các tính năng môi trường cũng như tiến hành thanh tra môi trường tại các cơ sở mình. Các tiêu chuẩn về sản phẩm: Tập trung vào việc thiết lập các nguyên lý và cách tiếp cận thống nhất đối với việc đánh giá các khía cạnh của sản phẩm có liên quan đến môi trường. Các tiêu chuẩn này đặt ra nhiệm vụ cho các công ty phải lưu ý đến thuộc tính môi trường của sản phẩm ngay từ khâu thiết kế, chọn nguyên vật liệu cho đến khâu loại bỏ sản phẩm ra môi trường. Hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000 yêu cầu một sự thay đổi trong cách thức quản lý về môi trường. Khác với cách thức truyền 14
  15. thống là chỉ đòi hỏi theo yêu cầu, mệnh lệnh hoặc chỉ quan tâm đến sự ô nhiễm ở công đoạn xả/thải ra, còn ISO 14000 yêu cầu phải tiếp cận vấn đề môi trường bằng cả một hệ thống quản lý, từ việc xác định các nguyên nhân đến việc xem xét các đối tượng có liên quan đến môi trường, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục và phòng ngừa. Quyền sở hữu Tạo ra thị trường Quyền sở hữu Quyền sử dụng Giấy phép thải thương mại Quyền phát Quota đánh bắt thương mại triển Quota phát triển thương mại Cổ phần nước thương mại Cổ phần TN thương mại Quyền tư pháp Giấy phép đất thương mại Đền bù/ cho chịu thương mại Thuế ô nhiễm + thuế ảnh hưởng + Thuế phát xả Hệ thống phí Công cụ tài chính Thuế đầu ra Phí ô nhiễm Thuế sản phẩm Phí sử dụng Trợ cấp TC Thuế xuất khẩu Phí giá trị Cho vây ưu đãi Thuế nhập khẩu Phí tác động Khế ước Thuế bản quyền và TN Phí đánh giá Quỹ đối ứng Thuế sử dụng đất Lệ phí giao Quỹ ngành Cho chịu thuế đầu tý thông 15 Quỹ sinh thái/MT Cho khấu hao nhanh Phí hành chính Quỹ xanh Trợ cấp nhà ở ……….
  16. Các HT đặt cọc và hoàn Các HT trách nhiệm trả pháp lý Cam kết bảo vệ MT Cam kết phục hồi đất Trách nhiệm công khai Cam kết quản lý chất thải Trách nhiệm gây thiệt Cam kết phòng ngừa sự cố hại TNTN MT Bảo hiểm trách nhiệm Hệ thống kí quỹ và hoàn Khuyến khích bắt buộc trả Cổ phần, kí quỹ hoàn trả Sơ đồ 3 5 16
  17. PHẦN III. KẾT LUẬN Để giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề bức xúc và bảo vệ môi trường chúng ta cần phải nâng cao hiểu biết của con người về các tác động của hoạt động kinh tế, về hệ sinh thái, các chu trình sinh địa hóa, các biến đổi môi trường qui mô hành tinh… Đồng thời con người phải hiểu được tự nhiên và xã hội vừa thống nhất vừa phụ thuộc lẫn nhau, trong đó con người là một phần của tự nhiên. Vì vậy loài người cần phải quản lý môi trường sống của chính mình thông qua các hoạt động phát triển bền vững. Công cụ quản lý môi trương là vũ khí hoạt động của nhà nước trong việc thực hiện công tác quản lý môi trường quốc gia. Mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng tạo ra một tập hợp các biện pháp hổ trợ nhau. Tùy các điều kiện khác nhau mà các nhà quản lý sử dụng các biện pháp thích hợp để thu được hiệu quả cao nhất. Chúng tôi thấy rằng hiệu lực thi hành pháp luật trong đó có pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay nhìn chung còn yếu. Trong giai đoạn tới cần phải nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường. Một mặt nâng cao ý thức chấp hành luật của công dân, mặt khác tăng cường việc giám sát, quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thi hành pháp luật. 17
  18. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, 2000. Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2. Nguyễn Khoa Lân, 2003. Bài giảng khoa học môi trường. ĐHSP Huế. 3. Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, 2005. Tài nguyên và môi trường biển. NXB Khoa học Kỹ thuật 4. http://www.tcvn.gov.vn 5. http://www.chatthainguyhai.net 6. http://www.irv.moi.gov.vn 7. http://www.vacne.org.vn 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản