Tiểu luận Chủ Nghĩa Mac Lênin

Chia sẻ: toanlonely1990

Bí ẩn bộ não và tâm trí Ba vấn đề phức tạp nhất của khoa học là gì? Đó là cái rất lớn (vũ trụ), cái rất nhỏ (thế giới vi mô) và cái rất phức tạp (bộ não và tâm trí). Thật đáng ngạc nhiên là con người khám phá tự nhiên nhờ bộ não và tâm trí, nhưng lại chưa hiểu chúng được bao nhiêu. Và câu hỏi bộ não sinh ra tâm trí như thế nào có lẽ là một thách thức còn rất lâu dài đối với khoa học

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận Chủ Nghĩa Mac Lênin

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 1

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Bí ẩn bộ não và tâm trí
Ba vấn đề phức tạp nhất của khoa học là gì? Đó là cái rất lớn (vũ trụ), cái rất nhỏ (thế
giới vi mô) và cái rất phức tạp (bộ não và tâm trí). Thật đáng ngạc nhiên là con người khám
phá tự nhiên nhờ bộ não và tâm trí, nhưng lại chưa hiểu chúng được bao nhiêu. Và câu hỏi bộ
não sinh ra tâm trí như thế nào có lẽ là một thách thức còn rất lâu dài đối với khoa học…

1.1 Độ phức tạp không tưởng
Có thể nói, bộ não là cấu trúc vật chất phức tạp nhất tự nhiên. Với khối lượng chỉ 1.4
kg, não chứa hàng trăm tỉ tế bào thần kinh hay nơ ron, kết nối với nhau qua các khớp thần kinh.
Ngoài ra là hệ tế bào đệm, với số lượng lớn hơn khoảng 10 lần.
Độ phức tạp trong khả năng kết nối nơ ron của bộ não là nỗi kinh hoàng có thể của cả
những máy tính lượng tử siêu việt tương lai. Vì có thể nhận tin từ 10 ngàn và truyền tin cho 10
ngàn nơ ron, nên mỗi nơ ron có thể liên kết với khoảng 100 triệu nơ ron khác (để so sánh, hãy
nhớ rằng chúng ta chỉ có thể quan hệ với không quá vài ngàn người trong toàn xã hội). Vì thế
số mạng nơ ron, yếu tố quyết định khả năng tư duy, nhận thức hay cảm xúc của bộ não, đạt
tới con số khủng khiếp. Theo những tính toán giản lược nhất, nó bằng con số N = 10110 nhân
với nhau 1017 (100 triệu tỉ) lần! Bản thân N cũng được gọi là số thiên văn, vì bằng tích của số
hạt cơ bản trong vũ trụ nhìn thấy (1080) và tuổi vũ trụ (14 tỉ năm) tính ra pico giây (1030)!
Đồng thời với khoảng một triệu kết nối mới tạo thành trong một giây, với hình thái và
trọng số kết nối luôn thay đổi, nên trên thực tế mỗi bộ não là một cấu trúc động duy nhất, theo
nghĩa không thể có hai bộ não giống nhau. Chính nhờ các kết nối luôn thay đổi đó mà kí ức
được ghi nhớ, hành vi được học tập hay nhân cách được hình thành, bằng cách tăng cường các
kiểu kết nối này hay dập tắt các kiểu kết nối khác.

1.2 Xung thần kinh và chất truyền tin hóa học
Các nơ ron truyền tin như thế nào? Xung điện là phương thức truyền tin nội nơ ron;
trong khi chất truyền tin hóa học là cơ chế liên tế bào. Hai nơ ron truyền tin cho nhau bằng
cách phóng thích và thu nhận các chất truyền đạt và điều biến thần kinh, như glutamate,
dopamine, acetylcholine, noradrenalin, serotonin hay endorphins.
Một số chất hoạt động tại khớp thần kinh, truyền thông điệp từ vị trí giải phóng tới vị
trí hấp thu, được gọi là thụ thể. Một số chất có tác dụng lan tỏa hơn, làm tăng hay giảm độ
nhạy cảm cả một vùng não.
Không chỉ quan trọng trong các hoạt động tư duy, nhận thức hay cảm xúc, sự thiếu hụt
các hóa chất nói trên liên quan với nhiều loại bệnh. Chẳng hạn thiếu dopamine ở vùng điều
khiển vận động dẫn tới bệnh liệt rung (Parkinson). Nó cũng tăng khả năng nghiện ngập vì
chức năng chuyển tải khoái cảm và cảm giác thưởng. Còn thiếu serotonin tại vùng điều khiển
cảm xúc sẽ dẫn tới trầm cảm và các rối loạn cảm xúc, trong khi thiếu acetylcholine ở vỏ não là
đặc trưng của Alzheimer, căn bệnh mất trí ở người già.

1.3 Các kỹ thuật quét não
Trong một nơ ron, tín hiệu hình thành nhờ các xung điện. Hoạt tính điện của một nhóm
nơ ron có thể ghi nhận ở ngoài hộp sọ nhờ máy đo điện não đồ EEG. Các tín hiệu đó có dạng


GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 2
sóng, được phân loại từ sóng anpha (khi thư giãn hay đang ngủ) cho tới sóng gamma (đang suy
nghĩ).

Một số nhà khoa học, như Crick (cha đẻ của mô hình ADN), xem sự đồng bộ hóa hoạt động
điện trong não là yếu tố quyết định cho nhận thức.
Các kĩ thuật tạo ảnh khác đều mang tính gián tiếp. Cộng hưởng từ chức năng (fMRI)
hay tạo ảnh nhờ bức xạ positron (PET) theo dõi dòng máu tới các vùng não khác nhau. Các kĩ
thuật cộng hưởng từ MRI và cắt lớp vi tính CT dùng đặc trưng từ và sự hấp thụ tia X của các
tổ chức khác nhau để tạo ảnh não.
Các kĩ thuật đó được ứng dụng để theo dõi các vùng não liên quan với các chức năng
khác nhau, như cảm giác, vận động, khoái cảm, lựa chọn, động cơ, thậm chí cả sự phân biệt
chủng tộc. Vài năm nay, thậm chí một số kĩ thuật được dùng để phát hiện nói dối, với kết quả
bước đầu khá hứa hẹn. Tuy nhiên một số chuyên gia cảnh báo rằng, không nên đặt quá nhiều
niềm tin vào các kĩ thuật đó, cho dù chúng hiện đại đến mức nào, vì bộ não nằm ngoài tầm với
của công nghệ; đồng thời chúng có thể vi phạm tính riêng tư của từng cá nhân được pháp luật
bảo vệ hay gây ra nhiều vấn đề đạo lý khó giải quyết khác.




H1.1 Máy đo nói dối trong ngành tội phạm




H1.1 Máy đo nói dối trong ngành điều tra tội phạm

Trước khi các kĩ thuật tạo ảnh hay quét não trở nên phổ biến, các nhà khoa học đã
nghiên cứu người bệnh với các tổn thương não do đột quị, chấn thương đầu hay bệnh thần
kinh để xác định các vùng não liên quan với cảm xúc, giấc mơ, trí nhớ, ngôn ngữ hay tri giác,
thậm chí cả các sự biến mang tính ẩn ngữ như các kinh nghiệm tôn giáo, tâm linh hay dị
thường
Điển hình nhất là trường hợp Phineas Gage, một công nhân đường sắt thế kỉ XIX, mất
phần não trước trán khi bị thanh sắt dài 1 mét xuyên qua đầu trong một vụ nổ. Khi thể chất
phục hồi hoàn toàn, nhân cách của Gage biến đổi vĩnh viễn. Đó là lần đầu tiên người ta thấy,
một hoạt động tinh thần cụ thể có thể gắn với một hay vài vùng não đặc trưng.

1.4 Cấu trúc bộ não
Chiếm phần chủ yếu trong cấu trúc não là hai bán cầu đại não, nằm trên thân não giống
như phần mũ của cây nấm. Đó là cấu trúc não được tiến hóa muộn nhất, liên quan với các hoạt
động nhận thức phức tạp. Bao phủ phía ngoài đại não là vỏ não, liên quan nhiều với quá trình
tạo các quyết định hữu thức.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
Dường như có sự phân công chức năng tương đối rõ giữa hai bán cầu não (bảng minh
họa). Theo đó, bán cầu phải giầu cảm xúc và sáng tạo hơn, trong lúc bán cầu trái gắn với logic
hơn. Với


đại đa số, bán cầu trái là bán cầu ưu thế, nên 90% dân số thuận tay phải. Trong số 10% người
thuận tay trái còn lại, nhiều người có khả năng nghệ sĩ.

Bán cầu trái Bán cầu phải
Phát âm Phi phát âm
Tuần tự Tổng thể
Phân tích Tổng hợp
Tỉ lệ Toàn cục
Phân tích theo thứ tự thời gian Cảm nhận mẫu dạng
Ngôn ngữ Không gian




GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 4

H1.2 Cấu trúc của bộ não



1.5 Giả định về phân công chức năng giữa hai bán cầu não
Đó là căn nguyên của những lập luận kiểu văn minh phương Tây là văn minh não trái
hay cần giáo dục cả hai bán cầu não cho học sinh. Đó là những lập luận không chỉnh, vì hai bán
cầu luôn hành xử đồng bộ với nhau qua thể chai, là cầu nối giữa chúng (phụ nữ có thể chai lớn
hơn nam giới, và đó có thể là lí do khiến họ nói nhiều!). Thiếu thể chai sẽ gây bệnh tâm thần,
tuy một chức năng nào đó có thể trở nên siêu việt. Đó là hội chứng bác học, mà Kim Peek là
trường hợp điển hình. Ông nhớ mã bưu điện của tất cả các thành phố Mỹ, chơi thành thạo
hàng trăm bản nhạc cổ điển khi chỉ nghe qua một lần, nhớ chi tiết thời gian, địa điểm và số
người tham dự buổi biểu diễn bản nhạc đó lần đầu tiên… Tuy nhiên ông không thể tự mặc
quần áo và phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của người thân.



Kim Peek, “nhà bác học” không biết mặc áo




H1.3 Kim Peek – “Nhà bác học” không biết mặc áo

Ngoài hai bán cầu não là thùy chẩm ở phía sau, liên quan với thị giác; thùy đỉnh phía trên
chẩm, gắn với vận động, định vị không gian và tính toán.
Sau tai và thái dương là thùy thái dương, kết nối với âm thanh và tiếng nói và một số
yếu tố kí ức. Phía trước là thùy trán và thùy trước trán, thường được xem là những cấu trúc
phát triển và “con người” nhất, gắn bó với tư duy phức tạp, ra quyết định, lên kế hoạch, tạo
quan niệm, điều khiển sự chú ý, và kí ức hoạt động. Chúng cũng liên quan với các cảm xúc xã
hội phức tạp như sự hối tiếc, đạo đức và sự đồng cảm.
Cũng có thể chia não thành hai phần: phần cảm giác và phần vận động, với chức năng
kiểm soát các thông tin đi vào và hành vi lối ra một cách tương ứng (tức cảm nhận và tác động
môi trường).


GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
Dưới hai bán cầu, nhưng vẫn thuộc phần não trước, là vỏ khứu hải mã điều khiển hành
vi và cảm giác đau. Phía dưới là thể chai nối hai bán cầu. Ngoài ra là hạch nền, tương ứng với
vận động, động cơ và hành vi thưởng.
Dưới nữa là các vùng não nguyên thủy hơn. Hệ viền, có ở mọi động vật có vú, liên
quan với ham muốn và sự ngon miệng. Cảm xúc thì liên quan với các cấu trúc như hạch hạnh
hay nhân


đuôi. Trong hệ viền còn có hồi hải mã với vai trò sống còn trong tạo kí ức mới; đồi thị có chức
năng xử lý (làm chậm) các tín hiệu cảm giác; và dưới đồi, điều khiển chức năng cơ thể bằng
các nội tiết tố phóng thích từ tuyến yên.
Phía dưới đại não là tiểu não, nơi lưu giữ các hình thái vận động, thói quen và các
nhiệm vụ tự động - những hoạt động ta có thể thực hiện mà không cần nghĩ về chúng.
Hai bộ phận nguyên thủy nhất, nằm giữa tiểu não và tủy sống, là trung não và thân não.
Chúng điều khiển các chức năng tự động hay thực vật như hô hấp, nhịp tim, huyết áp, giấc
ngủ…Chúng cũng điều khiển dòng tín hiệu hai chiều giữa não bộ và toàn bộ cơ thể thông qua
tủy sống.

1.6 Nước và rượu vang?
Mặc dù khoa học đã khám phá nhiều bí ẩn của bộ não, nhưng những bí ẩn lớn vẫn còn
nằm trong bóng tối. Trong đó căn bản nhất là bài toán bộ não và tâm trí. Nói cách khác, các hoạt
tính khách quan của bộ não được biến thành các ý niệm chủ quan, nhất là các ý niệm hữu thức,
như thế nào? Theo cách nói của nhà triết học Chammers người Úc, “nước biến thành rượu
vang như thế nào?”. Đây là bài toán phức tạp đến mức, không ít nhà khoa học cho rằng, nó
nằm ngoài khả năng nhận thức của con người.
Về mặt triết học, có thể giải quyết vấn đề đó bằng quan điểm hợp trội (hay đột phát,
đột sinh, hợp nổi…). Cần lưu ý rằng đó cũng chính là quan điểm duy vật biện chứng. Tuy
nhiên trên khía cạnh khoa học, đó là bài toán vô cùng nan giải. Như vị mặn của muối chẳng
hạn, nó “đột sinh” như thế nào từ các nguyên tử Na và Cl? Chỉ với hạt muối cấu trúc từ hai
loại nguyên tử mà còn vậy, nói gì đến bộ não với cấu trúc phức tạp nhất tự nhiên! Người viết
bài này không thể nào quên giáo sư thần kinh học Jerome Lettvin, MIT, Mỹ, chuyên gia vị giác
ếch tại khóa học về vật lý thần kinh tại Trieste, Italia, năm 1995. Khi được hỏi về bước
chuyển từ tín hiệu thần kinh lên cảm giác vị giác, sau 2 giờ thuyết trình, ông kết luận: “Vì tôi
không phải là ếch, nên tôi không biết”!
Tại sao chúng ta có thể không bao giờ biết bản chất thực sự của ý thức? Đó là hệ lụy
của định lý không đầy đủ của Godel, nói rằng một hệ logic bất kì không thể tự hiểu bản thân.
Muốn hiểu tâm trí, cần một hệ thống phức tạp hơn bộ não. Đó là điều không thể, vì bộ não
chính là cấu trúc phức tạp nhất vũ trụ.

1.7 Hệ xử lý đối ngẫu
Não xử lý các tín hiệu từ môi trường như thế nào? Năm 1981, nhà tâm lý Dixon đề xuất
lý thuyết xử lý đối ngẫu. Theo đó bộ não có hai hệ xử lý tín hiệu, hệ tiềm thức và hệ ý thức.
Hệ tiềm thức nằm ở các trung khu dưới vỏ, có nhiệm vụ xử lý sơ bộ các thông tin trước khi
chuyển lên hệ ý thức vỏ não. Hệ tiềm thức xác định ý nghĩa cảm xúc của kích thích tốt hơn
việc ra các quyết định hợp lý về chúng. Khi phát hiện thông tin quan trọng, nó chuyển ngay lên
vỏ não để hệ ý thức xử lý. Khác với hệ ý thức có độ nhạy kém và chỉ xử lý từng thông tin một,
hệ tiềm thức vận hành một cách tự động và có hai đặc trưng cơ bản. Đầu tiên, nó xử lý đồng
thời các thông tin đến từ nhiều nguồn. Tiếp theo, và quan trọng hơn, nó có ngưỡng kích thích
thấp hơn hệ ý thức nhiều. Nói cách khác, hệ tiềm thức có thể nắm bắt và giải mã các tín hiệu
rất nhỏ yếu mà hệ xử lý ý thức không nắm bắt được. Con người có hệ ý thức phát triển như
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
một đặc trưng “người” nhất nên hệ tiềm thức bị chèn ép và các bản năng sinh học suy thái dần.
Tuy nhiên qua thiền, thôi miên hay qua luyện tập một số công phu đặc biệt, có thể khôi phục
phần nào các bản năng đó. Động vật có hệ tiềm thức phát triển, nên có thể phát hiện sớm các
tai biến như động đất hay sập nhà do ghi được các biến đổi vật lý cảnh báo rất nhỏ yếu từ môi
trường (điện từ trường, hạ âm…).
Cần lưu ý rằng, phần lớn hoạt động tinh thần của con người nằm ở phần tiềm thức (và
vô thức), giống như một chuyến bay vượt đại dương phần lớn nằm ở chế độ “bay tự động”.
Tuy nhiên chế độ lái “bằng tay” khi cất và hạ cánh có vai trò quyết định. Sau gần một thế kỉ
tranh cãi gay gắt


kể từ Sigmund Freud, cha đẻ của phân tâm học, trường phái tư tưởng đề cao vô thức, cuối
cùng khoa nhận thức học đi đến kết luận, tâm trí do cả ý thức và vô thức quyết định, với phần
đóng góp mỗi bên một nửa. Có thể so sánh ý thức với bộ tư lệnh, còn vô thức với toàn bộ phần
còn lại của một đạo quân. Khi đó xét về khối lượng công việc, đạo quân hoạt động chủ yếu ở
mức vô thức; tuy nhiên vai trò của bộ tư lệnh không hề thua kém. Đại tướng Võ Nguyên Giáp
và đội ngũ cán bộ chiến sĩ có phần đóng góp bằng nhau trong chiến thắng Điện Biên Phủ chấn
động địa cầu.
Liên quan trực tiếp với vô thức và tiềm thức là các hiện tượng dị thường, như ngoại
cảm, viễn di sinh học và các hiện tượng liên quan với sự tồn tại sau cái chết - những chủ đề có
sức lôi cuốn ghê gớm đối với dư luận (Định luật Blackmore thứ nhất phát biểu rằng, ước vọng
muốn tin các hiện tượng dị thường của con người lớn hơn mọi chứng cớ phản bác!). Hầu hết,
nếu không nói là tất cả các hiện tượng đó đều có thể giải thích bằng các đặc tính khá lạ lùng
của vô thức, ít nhất là về nguyên lý.
Vô thức cũng có vai trò quyết định trong sự tự chữa bệnh. Đó là lý do trong các trị liệu
thay thế và bổ sung (châm cứu, khí công, thiền, thôi miên…), niềm tin có phần đóng góp không
nhỏ vào kết quả khỏi bệnh, nếu có.

1.8 Tập thể hay cá nhân?
Có những tế bào chuyên dụng để ghi nhớ hình ảnh của “linh miêu” Halle Bery hay cựu
tổng thống Bill Clinton? Ngớ ngẩn; và đó là suy nghĩ của hầu hết các nhà thần kinh học cho
đến rất gần đây. Nhưng nay vấn đề có thể khác.
Bộ não nhận chân các hình ảnh như thế nào là một chủ đề gây tranh cãi trong khoa học
thần kinh, với hai lý thuyết hoàn toàn ngược nhau. Lý thuyết mạng thần kinh cho rằng, hàng
triệu nơ ron sẽ hành xử đồng điệu với nhau để tạo ra trong tâm trí hình ảnh về một đối tượng.
Ở phía đối ngược là quan niệm, mỗi nơ ron (hoặc một số rất ít nơ ron) mã hóa hình ảnh về
một đối tượng (người, động vật hay đồ vật). Jerome Lettvin đặt tên cho chúng là “tế bào bà”.
Đến cuối những năm 1980, quan niệm mạng nơ ron thắng thế quan niệm “một nơron một hình
ảnh”. Chủ nghĩa tập thể đã thắng chủ nghĩa cá nhân.
Mới đây, tình cờ qua nghiên cứu các bệnh nhân đột quị, kĩ sư y sinh học Rodrigo Quian
Quiroga tại Đại học Leicester, Anh, đã ghi hoạt tính điện của từng tế bào thần kinh khi cho
bệnh nhân xem các hình ảnh trên màn hình máy tính, với thời gian lưu hình là một giây.
Một trong những “tế bào bà” là tế bào Clinton, nằm sâu trong hạch hạnh của một nữ bệnh
nhân. Nó đáp ứng với ba hình ảnh khác nhau của Clinton: một bức phác thảo, một bức tranh và
một tấm ảnh chụp với một số nhà chính trị. Khi bệnh nhân quan sát chình ảnh các tổng thống
Mỹ khác, từ George Washington tới George H.W. Bush, tế bào đó luôn im lặng.



Hoạt tính điện của nơ ron Halle Berry
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 7




H1.4 Hoạt tính điện của nơ ron Halle Berry

Nhiều nghiên cứu tiếp theo cho kết quả rất ấn tượng, chẳng hạn tế bào Halle Berry,
“linh miêu” trong giới điện ảnh Hollywood. Không chỉ đáp ứng với những hình ảnh, ngay cả
khi Berry mang mặt nạ như trong phim, mà tế bào này còn phóng điện cả khi tên cô xuất hiện
trên màn hình, với cường độ thậm chí còn mạnh mẽ hơn!
Những thí nghiệm đó chứng tỏ điều gì? Đơn giản là bộ não có hai chiến lược lưu giữ
hình ảnh: hoặc dùng mạng lưới nhiều nơ ron, hoặc dùng từng tế bào cho từng nhiệm vụ cụ
thể. Trong cấu trúc vật chất phức tạp nhất vũ trụ này, cá nhân và tập thể hành xử hoàn toàn
đồng điệu với nhau.

1.9 Những hiểu lầm thường gặp về bộ não
Vì bộ não là bí ẩn lớn nhất tự nhiên, không lạ khi xuất hiện nhiều hiểu lầm về cấu trúc
hóa và chức năng hóa của nó. Dưới đây là một số hiểu lầm thường thấy nhất, ngay cả trong
giới trí thức tinh hoa.

1.9.1 Chúng ta chỉ mới dung 10% năng lực của bộ não
Huyền thoại 10% xuất hiện khắp nơi, từ giảng đường đại học cho tới sách vở hướng
dẫn cách cải thiện năng lực tư duy.
Chứng cớ khoa học phản bác huyền thoại này không hề thiếu. Nghiên cứu bằng ảnh
cộng hưởng từ chức năng cho thấy, toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt
động tinh thần của con người. Thêm nữa, nghiên cứu trên bệnh nhân tổn thương não cho thấy,
chấn thương tại bất cứ vùng não nào cũng để lại những di chứng tâm lý dù ít dù nhiều. Nếu
chúng ta chỉ mới dùng 1/10 bộ não, sẽ có đến 90% số tổn thương không hề ảnh hưởng tới các
hoạt động tinh thần.
Huyền thoại 10% xuất phát từ đâu? Theo Barry Beyerstein thuộc đại học Simon Fraser,
nó xuất phát một phần từ cách hiểu sai quan điểm của Williams James, một người cha của
ngành tâm lý học Mỹ. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, ông viết rằng, hầu hết chúng ta chưa
khai thác hết khả năng trí tuệ bản thân. Những năm 1930, một số tác giả chuyên viết sách phổ
biến khoa học, như Lowell Thomas, đưa ra con số cụ thể; và huyền thoại 10% ra đời.
Thực ra khi quét não bằng các kĩ thuật khác nhau, các nhà khoa học thấy nhiều vùng não
“im lặng”. Tuy nhiên đó là các vùng liên hợp, có vai trò sống còn trong việc kết nối các cảm
giác, tư duy và cảm xúc giữa các trung khu khác nhau trong não bộ.

1.9.2 Một số người thiên về não trái, một số là não phải
Như trên đã viết, dường như người não trái lý tính, logic, thiên về ngôn ngữ; trong khi
người não phải được xem là sáng tạo, toàn cục, thiên về không gian. Trong cuốn Tâm lý học ý
thức bán rất chạy năm 1972, nhà tâm lý Robert Ornstein, Đại học Stanford, xem các xã hội
phương Tây quá nhấn mạnh tư duy logic não trái so với tư duy trực giác não phải. Năm 1979,
trong cuốn sách phổ biến khoa học Vẽ trên phía phải của bộ não, nhà tâm lý và nghệ sĩ Betty
Edwards cũng nhấn mạnh lợi ích của não phải trong sáng tạo nghệ thuật.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 8
Tuy nhiên, xem hai bán cầu não ngược nhau là một quan niệm quá đơn giản. Chẳng
hạn, nó hàm ý rằng người có khiếu ngôn ngữ phải kém nghệ thuật, trong khi thực tế có khi
hoàn toàn ngược lại. Và như khoa học đã chỉ rõ, hai bán cầu não hành xử đồng bộ với nhau qua
thể chai.
Giống như mọi huyền thoại khác, huyền thoại hai bán cầu cũng có một phần sự thật.
Các kỹ thuật cắt thể chai để giảm thiểu cơn động kinh cho thấy, khi đó quả thật hai bán cầu
não hành xử khác nhau. Tuy nhiên ở người bình thường, thể chai là cầu nối để bộ não thống
nhất trong hành động.

1.9.3 Có thể đạt thư giãn và cảm nhận ý thức sâu hơn nhờ tăng cường song anpha
Sóng anpha với dải tần 8-13 Hz là loại sóng được bộ não tạo ra khi chúng ta ngủ hay
thư


giãn. Tuy nhiên nó không liên quan với các đặc trưng nhân cách dài hạn hay mức độ thoải mái
ngắn hạn.
Huyền thoại sóng anpha phản ánh sự không phân biệt giữa mối tương quan và quan hệ
nhân quả. Quả thật bộ não tạo nhiều sóng anpha khi đang thăng thiền hay thư giãn sâu; nhưng
điều ngược lại không đúng: sóng anpha không tạo ra thư giãn. Nói cách khác, sóng anpha là hệ
quả, chứ không phải là nguyên nhân của sự thư giãn.

1.10 Tạm thời kết luận
Theo lời nhà triết học Chammers, bí ẩn bộ não và tâm trí được chia thành bài toán dễ và
bài toán khó. Dễ là bài toán nghiên cứu cấu trúc hệ thần kinh và hệ tín hiệu khách quan đặc
trưng cho mọi hoạt động tinh thần. Đó là một nhiệm vụ tuy rất khó khăn nhưng vẫn còn hy
vọng tìm được lời giải. Còn khó là bài toán hệ tín hiệu khách quan đó biến thành các ý niệm
chủ quan như thế nào. Và theo Chammers, đó có thể là bí ẩn vĩnh viễn đối với khoa học.
Dường như đó là sự thật, theo tinh thần định lý không đầy đủ, được nhà toán học và logic học
người Áo Godel đưa ra năm 1931.

2. Lý luận nhận thức

2.1 Bản chất của nhận thức
Nhận thức là gì? Con người có thể nhận thức được thế giới hay không? Các quan điểm
triết học khác nhau có những câu trả lời khác nhau đối với những vấn đề trên.

2.1.1 Một số quan điểm ngoài Mác xít về nhận thức

2.1.1 Quan điểm duy tâm
Không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức, do đó không thừa nhận
nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan.
+ Duy tâm chủ quan, tất cả mọi cái đang tồn tại đều là phức hợp những cảm
giác của con
người. Do đó, nhận thức, theo họ, chẳng qua là sự nhận thức cảm giác, biểu tượng của
con người.
+ Duy tâm khách quan, mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới, song
coi nhận thức cũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tự
nhận của ý niệm, tư tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người.


GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 9
+ Thuyết hoài nghi nghi ngờ tính xác nhận của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một
nguyên tắc nhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới
bên ngoài.
+ Tthuyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới. Đối với
họ, thế giới không thể biết được, lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới
hạn của cảm giác ra, con người không thể biết được gì nữa. Quan điểm của thuyết hoài
nghi và thuyết không thể biết đã bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức
loài người.

2.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh
hiện thực khách quan vào bộ óc người. Tuy nhiên, do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và trực
quan nên chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không giải quyết được một cách thực sự khoa học
những
vấn đề của lý luận nhận thức.



2.1.3 Vấn đề nhận thức và tự ý thức của con người trong triết học Đề-Các-Tơ
Trong số các nhà triết học mà cho đến nay, nhân loại không thể không kể tới,
R.Đêcáctơ được thừa nhận là người có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử triết học.
Ông là người đã sử dụng phương pháp hoài nghi của mình để đấu tranh chống lại triết học
kinh viện giáo điều từng thống trị suất thời Trung cổ đen tối và tạo dựng nền tảng cho việc
kiến tạo lâu đài khoa học với những phương pháp mới. Là người tin tưởng sâu sắc vào sức
mạnh của trí tuệ con người, Đêcáctơ đã giữ lập trường duy lý trong nhận thức luận. Việc tìm
hiểu vấn đề nhận thức và khả năng tự ý thức của con người trong triết học Đêcáctơ chỉ cho
phép chúng ta hiểu rõ hơn lập trường triết học của ông, trước hết là trong lĩnh vực nhận thức
luận.
Khi giải quyết vấn đề nhận thức, Đêcáctơ theo khuynh hướng gắn khái niệm ý thức
với khái niệm tư duy. Trong quan niệm của ông, tư duy là tất cả những gì được chúng ta ý
thức, là những cái diễn ra trong bản thân chúng ta, bởi chúng ta luôn có ý thức về điều đó. Quan
niệm đó đã được Đêcáctơ sử dụng trong cuộc tranh luận với Hốpxơ và trong thư ông gửi cho
Ginbê (1642). Dựa vào đó, một số người đã khẳng định trong triết học Đêcáctơ, tư duy và ý
thức được coi là các khái niệm đồng nghĩa. Tuy nhiên, khi xem xét quan niệm về ý thức mà
Đêcáctơ đã đưa ra trong các tác phẩm của mình, có thể nói, với ông, trở thành có ý thức là tư
duy, là sự phán tư về tư duy của mình. Điều đó cho thấy, Đêcáctơ đã không đồng nhất một
cách vô điều kiện khái niệm tư duy với khái niệm ý thức. Ông cho rằng sự phân định giữa các
khái niệm đó không chỉ thuần tuý về mặt hình thức, mà còn là ở chỗ, ý thức là cái mà thông qua
đó, chúng ta ý thức, còn tư duy là cái mà chúng ta ý thức về nó. Đêcáctơ gắn sự phân định đó
trước hết với khái niệm "phản tư,'theo quan niệm của riêng ông. Ông cho rằng sự phản tư diễn
ra khi người ta cảm thấy một điều gì đó và đồng thời nhận thấy trước đó mình chưa hề cảm
nhận thấy chính điều ấy. Sự phản tư đó gắn liền với hiểu biết và có liên quan mật thiết với
cảm xúc tới mức chúng ta có cảm tưởng là chúng không khác gì nhau. Như vậy, trong quan
niệm của Đêcáctơ, sự phản tư là cái cho phép chủng ta có thể đối chiếu giữa tri thức mới với
kinh nghiệm nhận thức đã có, tức là với lý trí với tư cách chủ thể của tư duy. Rằng sự phản tư
là cái mang lại tính thống nhất cho tự ý thức.
Việc sử dụng khái niệm "phản tư" cho thấy, Đêcáctơ xem xét các hành vi của ý thức
không những từ giác độ đồng đại mà cả từ giác độ lịch đại và có tính tới mối liên hệ phát sinh
giữa quá khứ và tương lai với tư cách là mối liên hệ bảo đảm cho sự thống nhất có tính năng
động của tự ý thức con người. Trong "Mặc tưởng về triết học đầu tiên", Đêcáctơ còn đưa ra
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 10
sự phân định theo "mối liên hệ thời gian" giữa trực giác tiềm năng và trực giác thực tại trong ý
thức. Ông cho rằng mặc dù chúng ta luôn thực sự ý thức về các hành vi của trí tuệ chúng ta,
song không phải lúc nào chúng ta cũng ý thức được nó. Chúng ta dường như mới chỉ ý thức
được năng lực và khả năng của nó mà thôi. Đêcáctơ muốn dựa vào sự phân định đó để khẳng
định luận điểm về tính liên tục của tư duy. Và khi gán cho học thuyết về trực giác trí tuệ, bẩm
sinh một vai trò quan trọng trong việc luận chứng cho tính liên tục của tư duy, cho tính tự đồng
nhất của lý trí, Đêcáctơ cho rằng lý tri con người luôn chứa đựng trong mình các ý niệm về
Thượng đế, về bản thân mình và về mọi chân lý được coi là hiển nhiên. Các ý niệm đó không
chỉ được con người ý thức một cách hiện thực, chúng còn được con người ý thức một cách
tiềm năng, ý thức theo khả năng linh cảm của lý tính. "Không có sự vật xa xôi nào, Đêcáctơ
khẳng định, mà người ta không tìm kiếm được, không có sự vật bí hiểm nào mà người không
khám phá ra được". Bởi vậy, theo ông, không nên đặt ra cho trí tuệ con người bất kỳ một giới
hạn nào cả. Ông cho rằng khát vọng nhận thức của con người là vô biên, do vậy nó cần đến
Thượng đế với tư cách cái tượng trưng cho sự hoàn hảo và tối cao tuyệt đối, có khả năng định
hướng và tạo dựng niềm tin cho nhận thức cũng như mọi ước vọng của con người.
Với học thuyết về trực giác trí tuệ bẩm sinh, khi xem xét những quan niệm truyền
thống của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cảm, Đêcáctơ đã đứng trên lập trường của chủ
nghĩa duy lý. Ông kêu gọi con người hướng tới việc hoàn thiện và phát triển khả năng trí tuệ
của mình,


hướng tới lumen naturale (ánh sáng tự nhiên - cái được Đêcáctơ đồng nhất với khả năng trí tuệ
cao nhất của con người). Theo ông, con người muốn tìm cách "nhận thức chân lý một cách
nghiêm chỉnh thì cần phải quan tâm đến việc tăng cường lumen natu rale". Ông cho rằng điểm
khởi đầu của nhận thức chân lý và cũng là khả năng nhận thức cao nhất của trí tuệ con người
là trực giác. Từ lập trường duy lý chủ nghĩa, Đêcáctơ coi trục giác là trực giác trí tuệ hay lý
tính, là khả năng linh cảm của lý tính. Tự nó, trực giác có thể xét đoán đúng sai của tri thức, xác
định tính chân lý của nhận thức con người mà không cần đến bất cứ một sự nỗ lực nào. Khả
năng trí tuệ này, theo Đêcáctơ, hoàn toàn đúng đắn và công minh, là toà án để phân định mọi cái,
đánh giá mọi tri thức cung như mọi hành vi hoạt động của con người. Rằng trực giác "là một
khái niệm vững chắc của một trí tuệ rõ ràng và chăm chú được ánh sáng tự nhiên của lý tính
sản sinh ra và nhờ sự đờn giản của mình, nó còn xác thực hơn cả bản thân diễn dịch". Như
vậy, với ông, trực giác là sự tự ý thức, tự nhận thức về các chân lý “đang hiện lên” trong lý
tính. Coi trực giác là sự linh cảm của lý tính, Đêcáctơ đã khẳng định rằng mọi sai lầm của con
người đều do người ta hành động không tuân theo lý tính của mình, còn bản thân hoạt động
trực giác của lý tính thì bao giở cũng đúng.
Xuất phát từ quan niệm đó, Đêcáctơ đặc biệt đề cao vai trò của lý tính trong nhận thức
và đòi hỏi con người phải đi xa hơn nhận thức cảm tính. Bởi vì, theo ông, nếu "hạn chế lý tính
trong khuôn khổ những gì tai nghe mắt thấy tức là đem lại cho nó một tổn thất lớn". Tuy nhiên,
Đêcáetơ cũng đã phần nào nhận thấy tính phiến diện của lý tính trong nhận thức. Và do vậy,
ông muốn đem lại cho lý tính một tính linh hoạt hơn và lên tiếng phản đối khuynh hướng thửa
nhận một cách vô điều kiện ý thức chỉ hoàn toàn là hoạt động thuần tuý trí tuệ. Câu hỏi "Cảm
tính hay ý thức”? mà Đêcáctơ đưa ra trong tác phẩm "Các nguyên lý triết học" của ông đã chứng
tỏ ông có tính đến sự khác biệt giữa ý thức tự nó và ý thức về thế giới bên ngoài với ý thức
vốn có ở cái Tôi thuần tuý với tư cách là tư duy phản tư.
Mặc dù đề cao vai trò của lý tính, của trực giác trí tuệ trong nhận thức, Đêcáctơ vẫn
nhận thấy tính đặc thù của nhận thức cảm tính mà, theo ông, vốn có tính độc lập tương đối
nhờ mối quan hệ trực tiếp với thực tại bên ngoài. Ông coi trực giác cảm tính là một "thuộc tính
đặc biệt" của tư duy và từ quan niệm này, ông đã cố gắng phân biệt cái mà ông gọi là thuộc
tính "không rõ ràng" đó với hoạt động tư duy thuần tuý. Ông còn gắn các yếu tố của nhận thức
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 11
cảm tính với "cái tôi kinh nghiệm", với các hành vi của "ý chí tự do". Và từ đó, ông cho rằng
nguyên nhân của các sai lầm trong nhận thức là do con người có quyền tự do lựa chọn và vì sự
tự do đó nên con người muốn nhận thức được nhiều hơn trong khi khả năng nhận thức của nó
lại có hạn.
Giải thích điều đó, Đêcáctơ cho rằng con người là một sinh vật chưa hoàn thiện, con
người chỉ là một sinh vật có khả năng đi đến hoàn thiện. Nó "giống như là nấc thang trung gian
giữa Thượng đế cao siêu và hư vô". Với tư cách là kết quả sáng tạo của sự tồn tại cao siêu,
con người không có sai lầm, nhận thức của con người hoàn toàn đúng. Nhưng khi thuộc về hư
vô, con người có thể có sai lầm, có khả năng nhận thức sai. Bởi linh hồn con người, theo
Đêcáctơ, không chỉ bao gồm lý trí, mà còn có cả ý chí. Bản thân lý trí trong linh hồn con người
không đưa ra một sự khẳng định hay phủ định nào cả, nó chỉ nắm lấy những tư tưởng về các
sự vật có thể khẳng định hay phủ định. Vì vậy, theo ông, trong lý trí không có sai lầm, lý trí
không dẫn đến sai lầm. Còn ý chí trong linh hồn con người luôn có khả năng lựa chọn, tự do
nhận thức, khẳng định hay phủ định cái gì đó, và do vậy, bản thân ý chí hay khả năng lựa chọn
tự do có thể là nguyên nhân dẫn đến sai lầm, nhận thức không đúng. Sai lầm đó, theo Đêcáctơ,
còn do “lý chí rộng hơn trí tuệ", do trí tuệ không biết tự giới hạn trong phạm vi nó có thể nhận
thức mà lại mở rộng ra cả những lĩnh vực vượt quá khả năng nhận thức của nó”.
Thừa nhận sự tồn tại của cả lý trí lẫn ý chí trong linh hồn con người, Đêcáctơ cho rằng,
vì trong linh hồn con người có cả hai cái đó, nên khả năng nhận thức của con người là có hạn,
nhận thức của con người có thể đúng, có thề ai. Và do vậy, theo ông, trong nhận thức, con
người phải xuất phát từ sự nghi ngờ, nghi ngờ tất cả những gì đã được coi là chân lý. Nghi
ngờ, trong quan


niệm của Đêcáctơ, đó không phải là tin rằng không có cái gì là xác thực cả, là chân lý cả mà chỉ
là một phương tiện, một biện pháp có khả năng ngăn ngừa những kết luận vội vàng, không có
cơ sở khoa học chứ không phải là thay thế những kết luận ấy. Ở Đêcáctơ nghi ngờ là khả
năng của tư duy, của tự ý thức con người, là nguồn gốc chân thực của tri thức và là phương
thức để con người phát triển nhận thức. Với ông, nghi ngờ là nhằm học cách không nên giả
định một cách dứt khoát một cái gì đó mà chỉ mới có thí dụ và thói quen về nó đã tin nó là chân
lý. Nghi ngờ là để nhận thức con người, tự ý thức con người "được giải thoát khỏi những sai
lầm" mà con người có thể vì sai lầm đó làm lu mờ cái ánh sáng tự nhiên" của con người và làm
cho con người ít có khả năng chú ý đến tiếng nói của trí tuệ. Và như vậy, có thể khẳng định
rằng, trong quan niệm của Đêcáctơ "điểm xuất phát của khoa học chân chính phải là sự hoài
nghi phổ biến, hoài nghi để không mắc phải sai lầm trong quá trình nhận thức để sau đó có
niềm tin chắc chắn hơn, nghĩa là hoài nghi có tính chất phương pháp luận".
Với quan niệm như vậy về vai trò của sự nghi ngờ trong quá trình nhận thức, Đêcáctơ
cho rằng một chủ thể biết tư duy với sự nghi ngờ luôn chế ngự trí tuệ nó phải biết tin vào sự
không hoàn hảo của bản thân mình và đồng thời tin vào sự hoàn hảo tuyệt đối của Thượng đế
cao siêu - Đấng sáng thế đã đem lại cho con người sự tồn tại. Rằng trong hoạt động nhận thức,
chủ thể biết tư duy với sự nghi ngờ cần phải có phương pháp nhận thức để đạt tới tri thức
hiển nhiên và không thể nghi ngờ, để trên cơ sở đó, khắc phục những gì không hoàn bảo mà
bản thân mình tự ý thức được. Một chủ thể biết tư duy với sự nghi ngờ, theo Đêcáctơ, hoàn
toàn có khả năng làm chủ được những suy nghĩ của mình, có khả năng thể hiện không hẳn đã
là sự yếu kém của mình, mà chủ yếu là khả năng tụ do lựa chọn, tính độc lập của mình nhờ có
tự ý thức tỉnh táo của mình.
Luận chứng cho sự hoài nghi phổ biến, hoài nghi mang tính phương pháp luận trong
hoạt động nhận thức của con người, Đêcáctơ đã khăng đinh tính độc lập tương đối của lý trí
con người, khả năng tự ý thức của con người. Cùng với khẳng định đó, ông còn chứng minh
rằng trong lĩnh vực nhận thức lý luận, các luận điểm và giáo lý của thần học đã không còn có
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 12
hiệu lực. Và do vậy mà nhiều luận điểm của ông trong vấn đề này đã khiến cho các nhà thần
học phải “nổi khùng" và bản thận ông bị coi là kẻ tà giáo cho dù ông có cố gắng thể hiện một
con chiên ngoan đạo.
Có thể nói, quan niệm của Đêcáctơ về khả năng tự ý thức của con người, về vai trò của
lý tính, của trực giác trí tuệ bẩm sinh trong hoạt động nhận thức, mặc dù còn có những hạn
chế nhất định, song nó đã có những đóng góp không thể bác bỏ trong tiến trình phát triển tư
tưởng nhân loại nói chung, trong cuộc đấu tranh giải phóng khoa học và siêu hình học khỏi sự
thống trị của nhà thờ và thần học nói riêng. Quan niệm đó đã chứng tỏ ý nghĩa lịch sử, bản chất
tiến bộ, tư tưởng nhân đạo trong triết học Đêcáctơ.

2.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về bản chất của nhận thức

2.1.2.1 Nhận thức là gì?
Nhận thức là quá trình phản ánh tái tạo lại hiện thực trong tư duy con người trên cơ sở
của thực tiễn - xã hội.

2.1.2.2 Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mac dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, ở ngoài con người, độc lập đối với
cảm giác, tư duy và ý thức của con người - Hiện thực khách quan là đối tượng của nhận thức.
Hai là, thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người. Về nguyên tắc không có cái
gì là không thể biết. Dứt khoát là không có và không thể có đối tượng nào mà con người không
thể biết được, chỉ có những cái hiện nay con người chưa biết, nhưng trong tương lai với sự phát
triển của khoa học và thực tiễn, con người sẽ biết được. Với khẳng định trên đây, lý luận nhận
thức macxít khẳng định sức mạnh của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới.

Ba là, là một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo. Quá trình nhận thức diễn ra theo
con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản
chất sâu sắc hơn.
Bốn là, cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn. Thực tiễn còn là mục
đích
của nhân thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức. Nhận thức là quá trình con người

phản ánh một cách biện chứng, năng động sáng tạo thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch
sử - xã hội.

2.1.3 Chủ thể và khách thể nhận thức
Nhận thức là quá trình xảy ra do sự tương tác giữa chủ thể và khách thể nhận thức.
Chủ thể nhận thức: Theo nghĩa rộng đó là xã hội, là loài người nói chung. Hay cụ thể hơn
đó là những nhóm người như các giai cấp, dân tộc, tập thể, các nhà bác học.v.v.. Nhưng không
phải con người bất kỳ nào cũng là chủ thể nhận thức, con người chỉ trở thành chủ thể nhận thức
khi tham gia vào các hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể. Do vậy, con người
(cá nhân, nhóm người, giai cấp, dân tộc hoặc cả nhân loại) là chủ thể tích cực, sáng tạo của nhận
thức.
Khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo
đức… đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau và ảnh hưởng đến kết
quả nhận thức.
Còn khách thể nhận thức là một bộ phận nào đó của hiện thực mà nhận thức hướng tới
nắm bắt, phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức. Do vậy, khách thể
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 13
nhận thức không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể nhận thức
được mở rộng đến đâu là tuỳ theo sự phát triển của nhận thức, của khoa học.
Trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chủ thể nhận thức và
khách thể nhận thức quan hệ gắn bó với nhau, trong đó khách thể đóng vai trò quyết định chủ thể.
Chính sự tác động của khách thể lên chủ thể đã tạo nên hình ảnh nhận thức về khách thể. Song
chủ thể phản ánh khách thể như một quá trình sáng tạo, trong đó chủ thể ngày càng nắm bắt được
bản chất, quy luật của khách thể.
Cả chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức đều mang tính lịch sử - xã hội.

2.2 Thực tiễn và nhận thức

2.2.1 Phạm trù thực tiễn
Phạm trù thức tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận
nhận thức macxít mà còn của toàn bộ triết học Mác - Lênin nói chung.
Các nhà duy vật trước C.Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và
đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết. Tuy nhiên, lý luận của họ
còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động
thực tiễn đối với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan. Mác đã chỉ
rõ rằng, khuyết điểm chủ yếu, từ trước đến nay, của mọi chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa
duy vật của Phoiơbắc) là không thấy được vai trò của thực tiễn.
Có một số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt
động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tính thần, chứ không hiểu nó
như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người.
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm về thực tiễn
của
các nhà triết học trước C.Mác, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa
học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của


xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, hai ông đã thực hiện một bước
chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng. Lênin nhận
xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về
nhận thức”

2.2.1.1 Thực tiễn là gì?
Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt động theo
bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực
tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thoả mãn nhu
cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới. Con
người không thể thoả mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn. Con
người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình. Để lao động và lao
động có hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Bằng hoạt động thực
tiễn,
trước hết là lao động sản xuất, con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự
nhiên. Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển
được. Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là

phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Thực tiễn là cái xác
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 14

định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điểu cần thiết đối với con người.
Tuy trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác

nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài
người. Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành trong các quan hệ xã hội. Thực tiễn cũng có quá
trình vận động và phát triển của nó; trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục
giới tự nhiên và làm chủ xã hội của con người. Do đó, về mặt nội dung cũng như về phương thức
thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội.
Thực tiễn bao gồm nhiều yêu tố và nhiều dạng hoạt động. Bất kỳ quá trình hoạt động thực
tiễn nào cũng gồm những yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện và kết quả. Các yếu
tố đó có liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể
diễn ra được.

2.2.1.2 Các loại hình cơ bản của thực tiễn
Hoạt động sản xuất vật chất. Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ
bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng
khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động
sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật.
Hoạt động chính trị - xã hội là loại hình thực tiễn nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế
độ xã hội.
Hoạt động thực nghiệm khoa học (bao gồm cả thực nghiệm khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội), đây là dạng hoạt động thực tiễn diễn ra trong những điều kiện " nhân tạo" mà những kết
quả của nó dù là thành công hay thất bại đều có ý nghĩa quan trọng vì nó rút ngắn được quá trình
nhận thức nhằm làm cho hoạt động thực tiễn ngày càng hiệu quả.

2.2.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

2.2.2.1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực chủ yếu và trực tuyến của nhận thức
Ph. Ăngghen khẳng định: “… chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ
một
mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy
con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự
nhiên

Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn. Chính

từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức ở con người được hình thành
và phát triển. Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc
lộ
những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng. Ban đầu con người thu
nhận những tài liệu cảm tính, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu
tượng hoá… để phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới,
từ
đó xây dựng thành các khoa học, lý luận. Như vậy, thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận
thức, cho lý luận. Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối vơi người này hay người kia, thế hệ
này hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản

thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình. Nhờ đó, con người ngày càng đi
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 15
sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức
của mình về thế giới. Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của
nhận thức. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý
luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học. Khoa học ra đời chính vì chúng
cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người.

2.2.2.2 Thực tiễn là mục đĩnh của nhận thức
Nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn. Kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo
thực tiễn. Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo
thực tiễn.
Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang đặt
ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng những yêu
cầu đó. Chẳng hạn, đó là những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta; về công nghiệp hoá, hiện đại hóa; về kinh tế thị trường; về đổi mới hệ thống chính trị,
về thời đại ngày nay… Qua việc làm sáng tỏ những vấn đề do thực tiễn đặt ra trên đây, lý luận sẽ
có được vai trò quan trọng, góp phần đắc lực vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta.

2.2.2.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
“Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn
toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con
người phải chứng minh chân lý…”1 . Tất nhiên, nhận thức khoa học còn có tiêu chuẩn riêng, đó là
tiêu chuẩn lôgíc. Nhưng tiêu chuẩn lôgíc không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến
cùng, nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn.
Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng; tiêu chuẩn này vừa
có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối.
Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm
nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý.
Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứng nguyên một chỗ

biến đổi và phát triển; thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người không tránh khỏi

có cả yếu tố chủ quan. Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con người
thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng. Trong quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức,
những tri thức đạt được trước kia và hiện nay vẫn phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực
tiễn tiếp theo, tiếp tục được thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn.
Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta tránh khỏi những
cực đoan sai lầm như chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ hoặc chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tương đối.
Sự phân tích trên đây về vai trò thực tiễn đối với nhận thức, đối với lý luận đòi hỏi chúng ta
phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực
tiễn,


dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải “coi trọng tổng kết thực tiễn Việt Nam”.
Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới
các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu.

2.3 Biện chứng của quá trình nhận thức
Nhận thức của con người là một quá trình trong đó có nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu
và hình thức khác nhau; chúng có nội dung cũng như vai trò khác nhau đối với việc nhận thức sự
vật.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 16

2.3.1 Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những giai đoạn khác nhau của cùng một quá
trình nhận thức thống nhất.

2.3.1.1 Nhận thức cảm tính ( Trực quan sinh động )
Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Nó được thể hiện dưới 3 hình thức là cảm
giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc của mọi hiểu biết
của con người. Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật vào các
giác quan của con người. Sự vật hoặc hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan con người
thì gây nên cảm giác (chẳng hạn như cảm giác về màu sắc, mùi vị, âm thanh, nhiệt độ…). Cảm
giác là kết quả của sự tác động vật chất của sự vật vào các giác quan con người, là sự chuyển hoá
năng lượng kích thích bên ngoài thành yếu tố của ý thức. Cảm giác, theo Lênin, là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan.
Tri giác là sự tổng hợp nhiều cảm giác; nó đem lại hình ảnh hoàn chỉnh hơn về sự vật. Tri
giác nảy sinh trên cơ sở các cảm giác, là sự kết hợp của các cảm giác. So với cảm giác, tri giác là
hình thức cao hơn của nhận thức cảm tính, nó đem lại cho chúng ta tri thức về sự vật đầy đủ hơn,
phong phú hơn.
Biểu tượng là hình ảnh của sự vật được giữ lại trong trí nhớ. Sự tiếp xúc trực tiếp nhiều
lần với sự vật sẽ để lại trong chúng ta những ấn tượng, những hình ảnh về sự vật đó. Những ấn
tượng, hình ảnh này đậm nét và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong ký ức của chúng ta ngay cả
khi sự vật không ở trước mắt. Đó chính là những biểu tượng. Trong biểu tượng chỉ giữ lại những
nét chủ yếu, nổi bật nhất của sự vật do cảm giác, tri giác đem lại trước đó. Biểu tượng thường
hiện ra khi có những tác nhân tác động, kích thích đến trí nhớ con người. Hình thức cao nhất của
biểu tượng là sự tưởng tượng; sự tưởng tượng đã mang tính chủ động, sáng tạo. Tưởng tượng có
vai trò rất to lớn trong hoạt động sáng tạo khoa học và sáng tạo nghệ thuật.
Biểu tượng tuy vẫn còn mang tính chất cụ thể, sinh động của nhận thức cảm tính, song đã
bắt đầu mang tính chất khái quát và gián tiếp. Có thể xem biểu tượng như là hình thức trung gian
quá độ cần thiết để chuyển từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính. Trên cơ sở những tài liệu
do nhận thức cảm tính cung cấp, nhận thức sẽ phát triển lên một giai đoạn cao hơn, đó là nhận
thức lý tính.

2.3.1.2 Nhận thức lý tính ( Tư duy trừu tượng )
Là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở
nhận thức cảm tính. Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người sẽ rất hạn chế,
bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu được những cái như tốc độ ánh sáng, giá trị
của hàng hoá, quan hệ giai cấp, hình thái kinh tế - xã hội, v.v.. Muốn hiểu được những cái đó phải
nhờ đến sức mạnh của tư duy trừu tượng.
Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan. Tư duy phải
gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Tư duy có tính năng động sáng tạo,
nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong của sự vật, do đó phản


ánh sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn. Muốn tư duy, con người phải sử dụng các phương pháp
như so sánh, phân tích và tổng hợp, khái niệm hoá và trừu tượng hoá, v.v.. Nhận thức lý tính, hay
tư duy trừu tượng, được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán và suy lý.
Khái niệm là một hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mối liên hệ và thuộc
tính bản chất, phổ biến của một tập hợp các sự vật, các hiện tượng nào đó, chẳng hạn, các khái
niệm “cái nhà”, “con người”, “giai cấp”, v.v…
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 17
Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học. Khái niệm là những vật liệu tạo
thành ý thức, tư tưởng. Khái niệm là những phương tiện để con người tích luỹ thông tin, suy nghĩ
và trao đổi tri thức với nhau.
Khái niệm có tính chất khách quan bởi chúng phản ánh những mối liên hệ, những thuộc
tính khách quan của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Vì vậy, khi vận dụng khái niệm phải
chú ý đến tính khách quan của nó. Nếu áp dụng khái niệm một cách chủ quan, tuỳ tiện sẽ rơi vào
chiết trung và ngụy biện. V.I.Lênin chỉ rõ: “Những khái niệm của con người là chủ quan trong tính
trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá
trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồn gốc”1 .
Nội hàm của khái niệm không phải là bất biến, bởi vì hiện thực khách quan luôn vận đông
và phát triển cho nên khái niệm phản ánh hiện thực đó không thể bất biến mà cũng phải vận động,
phát triển theo, liên hệ chuyển hoá lẫn nhau, mềm dẻo, linh hoạt, năng động. Vì vậy, cần phải chú
ý đến tính biện chứng, sự mềm dẻo của các khái niệm khi vận dụng chúng. Phải mài sắc, gọt giũa
các khái niệm đã có, thay thế khái niệm cũ bằng khái niệm mới để phản ánh hiện thực mới, phù
hợp với thực tiễn mới.
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng vận dụng các khái niệm để khẳng định hoặc
phủ định một thuộc tính, một mối liên hệ nào đó của hiện thực khách quan. Phán đoán là hình
thức liên hệ giữa các khái niệm, phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong ý thức của

con người. Tuy nhiên, phán đoán không phải là tổng số giản đơn của những khái niệm tạo thành
mà là quá trình biện chứng trong đó các khái niệm có sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
Phán đoán được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ là các mệnh đề theo những quy tắc văn
phạm nhất định.
Suy lý là một hình thức của tư duy trừu tượng trong đó xuất phát từ một hoặc nhiều phán
đoán làm tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận. Nói cách khác, suy lý là quá trình đi đến
một phán đoán mới từ những phán đoán tiền đề.
Thí dụ: từ 2 phán đoán tiền đề:
“Mọi kim loại đều dẫn điện”. “Sắt là kim loại”.
Kết luận: “sắt dẫn điện”.
Nếu như phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm thì suy lý là sự liên hệ giữa các phán
đoán. Suy lý là công cụ hùng mạnh của tư duy trừu tượng thể hiện quá trình vận động của tư duy
đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. Có thể nói, toàn bộ
các khoa học được xây dựng trên hệ thống suy lý và nhờ có suy lý mà con người ngày càng nhận
thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan.
Tuy nhiên, để phản ánh đúng hiện thực khách quan, trong quá trình suy lý phải xuất phát từ
những tiền đề đúng và phải tuân theo những quy tắc lôgíc. Do đó: nếu những tiền đề của chúng ta
là đúng và nếu chúng ta vận dụng một cách chính xác những quy luật của tư duy đối với những
tiền đề ấy thì kết quả phải phù hợp với hiện thực.

2.3.1.3 Sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ với nhau như thế nào? Vai trò của từng
giai đoạn nhận thức ra sao?



* Trong lịch sử triết học, khi giải quyết những vấn đề đó thường có hai khuynh hướng cực
đoan là chủ nghĩa duy cảm và chủ nghĩa duy lý.
Những người theo chủ nghĩa duy cảm cường điệu vai trò của nhận thức cảm tính, của cảm
giác, hạ thấp vai trò của nhận thức lý tính, của tư duy.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 18
Trái lại, những người theo chủ nghĩa duy lý khuyếch đại vai trò của nhận thức lý tính, lý trí;
hạ thấp vai trò của nhận thức cảm tính, cảm giác; coi cảm tính là không đáng tin cậy.
Tuy có những yếu tố hợp lý nhất định, song cả hai khuynh hướng trên đây đều phiến diện,
đều không thấy được sự thống nhất biện chứng giữa hai giai đoạn của quá trình nhận thức.
* Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
+ Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn khác nhau về chất, có đặc điểm
và vai trò khác nhau trong việc nhận thức sự vật khách quan. Nhận thức cảm tính là sự phản ánh
trực tiếp, cụ thể, sinh động sự vật, còn nhận thức lý tính là phản ánh gián tiếp, mang tính trừu
tượng khái quát. Nhận thức cảm tính đem lại những hình ảnh bên ngoài, chưa sâu sắc về sự vật,
còn nhận thức lý tính phản ánh được những mối liên hệ bên trong, bản chất, phổ biến, tất yếu của
sự vật. Do đó, nhận thức lý tính phản ánh sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn.
+ Tuy nhiên, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính lại thống nhất biện chứng với nhau,
liên hệ, tác động lẫn nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, không tách rời nhau. Chúng đều cùng phản
ánh thế giới vật chất, có cùng một cơ sở sinh lý duy nhất là hệ thần kinh của con người và đều
cùng chịu sự chi phối của thực tiễn lịch sử - xã hội.
Nhận thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lý tính; không có nhận thức cảm tính thì không
có nhận thức lý tính. Trái lại, nhận thức cảm tính mà không có nhận thức lý tính thì không thể nắm
bắt được bản chất và quy luật của sự vật. Vì vậy cần phải phát triển nhận thức lý tính sẽ giúp cho
nhận cảm tính trở nên chính xác hơn. Trên thực tế, chúng thường diễn ra đan xen vào nhau trong
mỗi quá trình nhận thức.
Một hình thức đặc biệt của hoạt động nhận thức là trực giác. Trực giác là năng lực nắm
bắt
trực tiếp chân lý không cần lập luận lôgíc trước. Khác với những người theo chủ nghĩa trực giác
(như Bécxông, Lốtxki…) đã coi trực giác như khả năng nhận thức thần bí, siêu lý tính, không dung
hợp với lôgíc và lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giải thích một cách khoa học bản chất
của trực giác.
Trực giác có những tính chất như bỗng nhiên (bất ngờ), tính trực tiếp và tính không ý thức
được. Tuy nhiên, tính bỗng nhiên, bất ngờ của trực giác không có nghĩa nó không dựa gì trên tri
thức trước đó mà nó dựa trên những kinh nghiệm, những hiểu biết được tích luỹ từ trước. Trực
giác là tri thức trực tiếp song có liên hệ với tri thức gián tiếp. Trực giác được môi giới bởi toàn bộ
thực tiễn và nhận thức có trước của con người, bởi kinh nghiệm của quá khứ.
Tính không ý thức được của trực giác không có nghĩa nó đối lập với ý thức, với những quy
luật hoạt động của lôgíc. mà trực giác là kết quả của hoạt động trước đó của ý thức; có thể coi
trực
giác như một hành vi lôgíc (trực giác trí tuệ) mà ở đó nhiều khâu lập luận, nhiều tiền đề đã được
giản lược.
Trực giác là kết quả của sự dồn nén trí tuệ và tri thức dẫn đến sự “bùng nổ” bằng nhiều
thao tác tư duy phát triển ở trình độ khác nhau. Trực giác là sản phẩm của tài năng và sự say mê, sự
kiên trì lao động khoa học một cách nghiêm túc. Vì vậy, trong nhận thức khoa học, trực giác có vai
trò hết sức to lớn, thể hiện tính sáng tạo cao. Trong lịch sử khoa học, nhiều phát minh khoa học đã
ra đời bằng con đường nhận thức trực giác.
Tóm lại, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của quá trình nhận thức
thống nhất của con người. Từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính là sự chuyển hoá biện
chứng, là bước nhảy vọt trong nhận thức. Đây là hai giai đoạn, hai yếu tố không thể tách rời nhau
của một quá trình nhận thức thống nhất: từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính là sự chuyển

hoá biện chứng, là sự nhảy vọt từ sự hiểu biết cụ thể cảm tính đến sự hiểu biết khái quát về bản
chất của sự vật.


GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 19
Quán triệt sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có ý nghĩa phương
pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, trong việc khắc phục chủ nghĩa
kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều.

2.3.2 Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận
Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ khác nhau của nhận thức, đồng thời lại thống nhất
với nhau, bổ sung cho nhau, giả định lẫn nhau, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau. Nhận thức
kinh nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính,
tuy chúng có quan hệ với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính; bởi vì trong nhận thức kinh
nghiệm đã bao hàm yếu tố lý tính. Do đó, có thể coi kinh nghiệm và lý luận là những bậc thang
của lý tính, nhưng khác nhau về trình độ, tính chất phản ánh hiện thực, về chức năng cũng như về
trật tự lịch sử.

2.3.2.1 Nhận thức kinh nghiệm
Chủ yếu thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm, nó tạo thành tri thức kinh nghiệm. Trí
thức kinh nghiệm nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn - từ lao động sản xuất, đấu tranh xã hội
hoặc thí nghiệm khoa học. Có hai loại tri thức kinh nghiệm:
+Tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) thu được từ những quan sát hàng ngày
trong cuộc sống và lao động sản xuất.
+Tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những thí nghiệm khoa học. Trong sự
phát triển của xã hội, hai loại tri thức kinh nghiệm này ngày càng xâm nhập lẫn nhau. Tri thức kinh
nghiệm giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện, miêu tả, phân loại các dữ kiện thu nhận được từ quan sát
và thí nghiệm. Tri thức kinh nghiệm đã mang tính trừu tượng và khái quát, song mới là bước đầu và
còn hạn chế.
Tri thức kinh nghiệm có vai trò không thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của con người
và nhất là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội - một sự nghiệp rất mới mẻ và vô cùng khó
khăn phức tạp. Ở đây, không thể tìm câu giải đáp cho mọi vấn đề của thực tiễn cách mạng đặt ra
từ trong sách vở hay bằng suy diễn thuần tuý từ lý luận có sẵn. Chính kinh nghiệm của đông đảo
quần chúng nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ đem lại cho chúng ta những bài học quan
trọng. Kinh nghiệm là cơ sở để chúng ta kiểm tra lý luận, sửa đổi, bổ sung lý luận đã có, tổng kết
khái quát thành lý luận mới.

2.3.2.2 Nhận thức lý luận
Là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng, khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật
hiện
tượng khách quan. Nhận thức lý luận có chức năng gián tiếp vì nó được hình thành từ kinh nghiệm,

trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm. Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó chỉ tập
trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng. Do đó, lý luận thể hiện
tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn, hệ thống hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn và do
đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm.

2.3.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận
* Nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận. Nó cung cấp cho nhận thức lý
luận những tư liệu phong phú, cụ thể, nó là cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý
luận đã có và tổng kết, khái quát thành lý luận mới. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm lại có hạn chế
bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các mối liên hệ bên ngoài của sự vật
và còn rời rạc. Ở trình độ tri thức kinh nghiệm chưa thể nắm được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối
quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng. Do đó, “sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó
không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 20


* Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến
đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người. Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi
đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không
thể có phong trào cách mạng”.
Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất. Lý luận có thể
dự kiến được sự vận động của sự vật chất trong tương lai, chỉ ra những phương hướng mới cho
sự phát triển của thực tiễn. Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động,
tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Vì vậy, Hồ Chí Minh ví “không có lý luận thì lúng
túng như nhắm mắt mà đi”.
Tuy nhiên, cũng phải thấy, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện
thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưỏng. Khả năng ấy càng tăng lên
nếu lý luận đó lại bị chi phối bởi những tư tưởng không khoa học hoặc phản động. Vì vậy, phải
quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động
cách mạng. “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên
hệ với thực tiễn là lý luận suông”.
Chính chủ nghĩa Mác - Lênin là tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn
trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Lý luận Mác - Lênin là sự khái quát thực tiễn cách
mạng và lịch sử xã hội, là sự đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh
vực khác nhau. Sức mạnh của nó là ở chỗ nó gắn bó hữu cơ với thực tiễn xã hội, được kiểm
nghiệm, được bổ sung và phát triển trong thực tiễn. Vì vậy, Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định phải “Kiên định và vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”.
Việc quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận có ý nghĩa phương
pháp luận quan trọng trong việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo
điều.
Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là chỉ biết dựa vào kinh nghiệm, thoả mãn với vốn liếng kinh
nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hoá kinh nghiệm mà coi nhẹ lý luận,
ngại học tập lý luận, ít am hiểu lý luận, không chịu vươn lên để nắm lý luận, không quan tâm tổng
kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận. Hồ Chí Minh đã nói: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận,
cũng như một mắt sáng một mắt mờ”.
Bệnh giáo điều: là tuyệt đối hoá lý luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận là
bất di bất dịch, nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung trừu tượng không xuất phát từ
hoàn cảnh lịch sử - cụ thể để vận dụng lý luận.
Thực chất sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là vi phạm sự thống nhất giữa
thực tiễn và lý luận, giữa kinh ngiệm và lý luận.

2.3.3 Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học
Khi căn cứ vào tính chất tự phát hay tính chất tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự

vật thì nhận thức lại có thể được phân chia thành nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.

2.3.3.1 Nhận thức thông thường
Nhận thức thông thường được hình thành một cách tự phát và trực tiếp từ trong cuộc sống
hàng ngày và trong lao động sản xuất. Do đó, nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học
và tạo ra thành những chất liệu cho nhận thức khoa học.
Nhận thức thông thường phản ánh môi trường xã hội và tự nhiên gần gũi với cuộc sống
của
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 21
con người, phản ánh quan hệ giữa người với người và giữa người với giới tự nhiên. Vì vậy, có thể

nói nhận thức thông thường gần hơn với hiện thực trực tiếp của đời sống. Nó phản ánh đặc điểm
của hoàn cảnh với tất cả những chi tiết cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật. Vì vậy,


nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn liền với những quan niệm sống
thực tế hàng ngày. Vì thế nó có vai trò thường xuyên và phổ biến, chi phối hoạt động của mọi
người trong đời sống xã hội.

2.3.3.2 Nhận thức khoa học
Khác với nhận thức thông thường, nhận thức khoa học được hình thành một cách tự giác và

mang tính trừu tượng, khái quát ngày càng cao. Nó thể hiện sức mạnh , tính năng động sáng tạo
của tư duy trừu tượng. Nó phản ánh dưới dạng lôgíc trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những
mối liên hệ bản chất, những quy luật của thế giới khách quan. Nhận thức khoa học hướng tới
nắm
bắt cái quy luật, cái bản chất của hiện thực; nó không dừng lại ở cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên, cái
đơn nhất. Nhận thức khoa học được thể hiện trong các phạm trù, quy luật của khoa học.
Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng khái quát, lại vừa có tính hệ thống
và tính có căn cứ và tính chân thực. Nó vận dụng một hệ thống các phương tiện và phương pháp
nghiên cứu chuyên môn để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu. Vì thế,
nhận thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại
khoa học công nghệ hiện đại.
Ngày nay đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, việc phát triển khoa học và công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Vì vậy, Đại hội
đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định, phải “vận dụng sáng tạo và phát triển học
thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển và kết hợp chặt chẽ các nghành khoa học
xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ… làm chỗ dựa khoa học cho vệc triển khai
thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định phương hướng, bước đi của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng pháp luật, các chính sách, kế hoạch và chương trình kinh tế - xã hội”.

2.4 Vấn đề chân lý
Vấn đề chân lý là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận nhận thức. Từ thời cổ đại
cho đến ngày nay, các nhà triết học đã đưa ra những quan niệm khác nhau về chân lý, về con
đường đạt đến chân lý và tiêu chuẩn của chân lý.

2.4.1 Khái niệm chân lý
Chân lý là tri thức phù hợp với khách thể mà nó phản ánh và đã được thực tiễn kiểm
nghiệm.
Chân lý là sản phẩm của quá trình con người nhận thức thế giới. Vì vậy chân lý cũng được
hình thành và phát triển từng bước phụ thuộc vào sự phát triển của sự vật khách quan, vào điều
kiện lịch sử - cụ thể của nhận thức, vào hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con
người. V.I.Lênin nhận xét: “Sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình. Tư tưởng
(=con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết cứng, một bức tranh
(hình ảnh) đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), không khuynh hướng, không vận động…”

2.4.2 Các tính chất của chân lý

2.4.2.1 Tính khách quan của chân lý ( Chân lý khách quan )
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 22
Tính khách quan của chân lý thể hiện ở chỗ nội dung phản ánh của chân lý là khách quan -
tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của con người.
Ví dụ: luận điểm khoa học “quả đất quay xung quanh mặt trời” là chân lý khách quan, vì
nội dung luận điểm trên phản ánh sự kiện có thực, khách quan, hoàn toàn không lệ thuộc vào chủ
thể nhận thức, vào loài người..
Khẳng định chân lý có tính khách quan là một trong những đặc điểm nổi bật dùng để phân
biệt quan niệm về chân lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng so với chủ nghĩa duy tâm và thuyết
không thể


biết. Đồng thời, đó cũng là sự thừa nhận nguyên tắc tồn tại khách quan của thế giới vật chất. Vì
vậy,
trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ hiện thực khách quan, hoạt động
theo quy luật khách quan.

2.4.2.2 Tính cụ thể của chân lý
Chân lý là cụ thể bởi vì đối tượng mà chân lý phản ánh bao giờ cũng tồn tại một cách cụ
thể, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể với những quan hệ cụ thể. Vì vậy, bất kỳ chân lý
nào cũng phải gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể. Nếu thoát ly khỏi điều kiện lịch sử - cụ thể thì
cái vốn là chân lý, sẽ không còn là chân lý nữa.
Nguyên lý tính cụ thể của chân lý có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức
và thức tiễn. Nguyên lý này đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét, đánh giá sự vật,
sự việc, con người. V.I.Lênin khẳng định: “Bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích
cụ thể mỗi tình huống cụ thể”. Quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải chú ý điều kiện lịch sử - cụ
thể trong nhận thức, phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng dân tộc, từng địa
phương khi vận dụng lý luận chung, sơ đồ chung, phải biết cụ thể hoá, cá biệt hoá vào cho cái
riêng, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc.
Việc vận dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam đòi hỏi phải xuất phát từ điều kiện lịch sử - cụ thể của đất nước để vận dụng
sáng tạo. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và
khoa học của nó và biết vận dụng đúng đắn, phù hợp với điều kiện nước ta. Cả chủ nghĩa giáo
điều, chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đều xa lạ với chủ nghĩa Mác - Lênin.

2.4.2.3 Tính tuyệt đối và tương đối của chân lý
Chân lý tương đối là tri thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nhưng chưa đầy đủ,
chưa hoàn thiện, cần phải được bổ sung, điều chỉnh trong quá trình phát triển tiếp theo của nhận
thức. Điều đó có nghĩa là giữa nội dung của chân lý với khách thể được phản ánh chỉ mới phù hợp
từng phần, từng bộ phận, ở một số mặt, một số khía cạnh nào đó trong những điều kiện nhất
định..
Chân lý tuyệt đối là tri thức hoàn toàn đầy đủ, hoàn chỉnh về thế giới khách quan.
Quan hệ giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối là quan hệ biện chứng giữa các trình
độ nhận thức. Một mặt, tính tuyệt đối của chân lý là tổng số các tính tương đối. Mặt khác, trong
mỗi tính tương đối bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố của tính tuyệt đối V.I.Lênin viết:
“Chân lý tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những chân lý tương đối đang phát triển;
chân lý tương đối là những phản ánh tương đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập đối với
nhân loại; những phản ánh ấy ngày càng trở nên chính xác hơn; mỗi chân lý khoa học, dù là có tính
tương đối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lý tuyệt đối”
Quan niệm đúng đắn về sự thống nhất biện chứng giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương
đối có ý nghĩa quan trọng trong việc phê phán và khắc phục những cực đoan sai lầm trong nhận
thức và hành động. Nếu cường điệu chân lý tuyệt đối, hạ thấp chân lý tương đối sẽ rơi vào quan
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 23
điểm siêu hình, chủ nghĩa giáo điều, bệnh bảo thủ trì trệ; ngược lại, nếu cường điệu chân lý
tương đối, hạ thấp chân lý tuyệt đối sẽ rơi vào chủ nghĩa tương đối, và từ đó đi đến chủ nghĩa chủ
quan, chủ nghĩa xét lại, thuật nguỵ biện, thuyết hoài nghi và thuyết không thể biết.
Như vậy, mỗi chân lý đều có tính khách quan, tính cụ thể, tính tương đối và tính tuyệt đối.
Các tính chất đó của chân lý có quan hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời nhau, thiếu một trong
các tính chất đó thì những tri thức đạt được trong quá trình nhận thức không thể có giá trị đối với
đời sống của con người.




2.5 Các phương pháp nhận thức khoa học

2.5.1 Khái niệm và phân loại “phương pháp”
Thuật ngữ Phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “methodos” có ý nghĩa là con đường,
công cụ nhận thức. Theo nghĩa thông thường, phương pháp là những cách thức, thủ đoạn được chủ
thể sử dụng để thực hiện mục đích nhất định. Còn theo nghĩa khoa học, phương pháp là hệ thống
những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất định.
Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những quy tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để
tiện
cho nhận thức và hành động. Do đó, đối với họ phương pháp là một phạm trù thuần tuý chủ quan.
Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng coi phương pháp có tính khách quan, mặc dù
phương pháp là của con người sử dụng như những công cụ để thực hiện mục đích nhất định.
Phương pháp gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, không có phương pháp tồn tại sẵn
trong hiện thực và ở ngoài con người. Nhưng như vậy không có nghĩa rằng phương pháp là một cái
gì tuỳ ý, tuỳ tiện.
Phương pháp là kết quả của việc con người nhận thức hiện thực khách quan và từ đó rút ra
những nguyên tắc, những yêu cầu để định hướng cho mình trong nhận thức và những hành động
thực tiễn tiếp theo. Những quy luật khách quan đã được nhận thức là cơ sở để con người định ra
phương pháp đúng đắn. Sức mạnh của phương pháp là ở chỗ trong khi phản ánh đúng đắn những
quy luật của thế giới khách quan, nó đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ có hiệu quả
để nghiên cứu thế giới và để cải tạo thế giới đó.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin rất coi trọng vai trò phương pháp, nhất là
trong hoạt động cách mạng. Các ông nhấn mạnh rằng, vấn đề không phải chỉ là chân lý mà con
đường đi đến chân lý là rất quan trọng, con đường đó (tức phương pháp) cũng phải có tính chân
lý. Kinh nghiệm thực tiễn và lịch sử khoa học cho thấy rằng, sau khi đã xác định được mục tiêu
thì phương pháp trở thành nhân tố góp phần quyết định thành công hay thất bại của việc thực hiện
mục tiêu.
Đối tượng nghiên cứu rất đa dạng nên các phương pháp nghiên cứu và cải biến hiện thực
khách quan cũng hết sức phong phú. Tuỳ theo tiêu chí khác nhau mà phương pháp được chia ra
thành nhiều loại khác nhau: phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn, phương
pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến.
Các phương pháp trên đây khác nhau về nội dung, về mức độ phổ biến và phạm vi ứng
dụng, song lại có quan hệ biện chứng với nhau. Trong hệ thống các phương pháp khoa học mỗi
phương pháp đều có vị trí nhất định, do đó không nên coi phương pháp là ngang bằng nhau hoặc
thay thế nhau, không nên cường điệu phương pháp này và hạ thấp phương pháp kia mà phải biết
sử dụng tổng hợp các phương pháp.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 24
2.5.2 Một số phương pháp nhận thức khoa học
Có thể chia một cách tương đối các phương pháp nhận thức khoa học thành hai nhóm:
nhóm các phương pháp nhận thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát
triển lý thuyết khoa học.

2.5.2.1 Các phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm
Quan sát là sự tri giác các sự vật, hiện tượng được nghiên cứu nhằm một mục đích nhất
định. Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính và quan hệ của sự vật, hiện
tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh xét trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó.
Bất kỳ quan sát nào cũng có một khách thể được quan sát và chủ thể tiến hành hoạt động
quan sát. Sự tác động của khách thể lên các giác quan của chủ thể đem lại những thông tin về
khách thể.
Khác với quan sát thông thường, trong quan sát khoa học chủ thể có chủ định trước, có
chương


trình nghiêm ngặt để thu thập các sự kiện khoa học chính xác. Đồng thời, để hỗ trợ các giác quan
của người quan sát, nâng cao độ chính xác và tính khách quan của kết quả thu nhận được, trong
quan sát khoa học người ta thường sử dụng các công cụ, phương tiện kỹ thuật như máy chụp ảnh,
kính hiển vi, kính thiên văn vô tuyến,v.v…
Thí nghiệm là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các
phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng nhằm tạo ra cho chúng những
điều kiện nhân tạo, tách chúng thành các bộ phận và kết hợp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng
“thuần khiết”.
Nếu như trong quan sát, chủ thể không can thiệp vào trạng thái tự nhiên của khách thể, thì
trong thí nghiệm chủ thể chủ động tác động lên khách thể, thay đổi những điều kiện tồn tại tự
nhiên của khách thể, buộc khách thể phải bộc lộ bản tính của mình cho chủ thể nhận thức. Nhờ có
thí nghiệm, người ta khám phá ra những thuộc tính của hiện tượng mà trong những điều kiện tự
nhiên không thể khám phá được. Trong thí nghiệm, chủ thể vẫn tiến hành quan sát, nhưng ở mức
độ cao hơn. Thí nghiệm bao giờ cũng được tổ chức thực hiện dưới sự chỉ đạo của một ý tưởng
khoa học và trên cơ sở một lý thuyết khoa học nhất định - từ khâu lựa chọn thí nghiệm, lập kế
hoạch, tiến hành thí nghiệm cho đến giải thích kết quả thí nghiệm.
Thí nghiệm không chỉ nhằm thu thập các dữ kiện khoa học để tạo cơ sở cho sự khái quát lý

luận mà còn nhằm bác bỏ hoặc chứng minh (kiểm chứng) một giả thuyết khoa học nào đó. Trong
nhận thức khoa học, giả thuyết giữ vai trò quan trọng. Có thể nói giả thuyết là một hình thức phát
triển của khoa học. Nhờ thí nghiệm người ta chính xác hoá, chỉnh lý các giả thuyết và lý thuyết
khoa học. Ngày nay thí nghiệm đã được sử dụng rộng rãi trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ
thuật và cả trong khoa học xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của thực tiễn, giữ vai trò là

sở của nhận thức khoa học và là tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

2.5.2.2 Các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học
Để xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học, có rất nhiều phương pháp khác nhau. Dưới
đây chỉ trình bày một số phương pháp phổ biến mà triết học nghiên cứu.
Một là: Phân tích và tổng hợp
Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức
các bộ phận đó.
Tổng hợp là phương pháp liên kết, thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm
nhận thức cái toàn bộ.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 25
Phân tích và tổng hợp có cơ sở khách quan trong cấu tạo và trong tính quy luật của bản thân
sự vật cũng như trong hoạt động thực tiễn của con người. Trong hiện thực khách quan tồn tại cái
toàn bộ và cái bộ phận, yếu tố và hệ thống, phân tán và kết hợp. Trong hoạt động thực tiễn của
con người cũng có hai quá trình: quá trình chia tách các đối tượng và quá trình hợp nhất các đối
tượng đã tách ra thành một thể thống nhất mới. Những quá trình đó được di chuyển vào tư duy
thành thao tác tư duy, phương pháp tư duy.
Các phương pháp phân tích và tổng hợp của tư duy chỉ là sự phản ánh những quá trình hoạt
động thực tiễn của con người - quá trình phân chia các yếu tố ra và quá trình hợp nhất các yếu tố
lại để nhận thức cái chỉnh thể. Tách ra trong ý thức những mặt này, mặt kia của chỉnh thể cần
nghiên cứu và hợp nhất chúng lại nhằm thu được tri thức mới là một khâu cơ bản để chiếm lĩnh
bằng lý luận các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan.
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp nhận thức khác nhau song lại thống nhất biện
chứng với nhau. Sự thống nhất của phân tích và tổng hợp là một yếu tố quan trọng của phương
pháp biện chứng. Do đó, không nên tách rời phân tích và tổng hợp hoặc cường điệu phương pháp
này, coi nhẹ phương pháp kia và ngược lại. Ph. Ăngghen viết: “Tư duy bao hàm ở chỗ đem những
đối tượng của nhận thức ra phân thành các yếu tố cũng như đem những yếu tố có quan hệ với
nhau hợp thành một thể thống nhất nào đó. Không có phân tích thì không có tổng hợp”1 .


Triết học Mácxít xem sự thống nhất hữu cơ của hai phương pháp trên đây là điều kiện tất
yếu của sự trừu tượng hoá và khái quát hoá, cụ thể:
+ Không phân tích thì không hiểu được các bộ phận, và ngược lại, không tổng hợp thì
không hiểu được cái toàn bộ như một chỉnh thể.
+ Không hiểu được cái bộ phận nếu không hiểu cái toàn bộ được cấu thành từ những bộ
phận đó và ngược lại.
Vì vậy, chỉ có phân tích hoặc chỉ có tổng hợp thì không đủ; phân tích phải đi liền với tổng
hợp và được bổ sung bằng tổng hợp. Phân tích chuẩn bị cho tổng hợp, tổng hợp giúp cho phân
tích đi sâu hơn vào bản chất của sự vật. Phân tích và tổng hợp giả định lẫn nhau, tạo tiền đề và
khả năng cho nhau. Nhờ đó con người mới nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật.
Tuy nhiên, sự thống nhất biện chứng của hai phương pháp phân tích và tổng hợp không xóa
nhoà ranh giới giữa chúng, cũng như không ngăn cản người nghiên cứu có thể nhấn mạnh ưu thế
của phương pháp này hay phương pháp kia trong mỗi trường hợp nghiên cứu cụ thể.
Hai là: Quy nạp và diễn dịch
Quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức ít
chung đến tri thức chung hơn.
Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến trì thức về cái riêng, từ tri thức
chung đến tri thức ít chung hơn.
Quy nạp và diễn dịch đều dẫn tới tri thức mới, từ cái biết rồi để tìm ra cái chưa biết, tức là
khám phá ra tri thức mới.
Quy nạp là quá trình rút ra nguyên lý chung từ sự quan sát một loạt những sự vật riêng lẻ.
Điều kiện khách quan của quy nạp là tính lặp lại của một loại hiện tuợng nào đó. Phương pháp
quy nạp giúp cho việc khái quát kinh nghiệm thực tiễn về những cái riêng để có được tri thức kết
luận chung. Quy nạp đóng vai trò lớn lao trong việc khám phá ra quy luật, đề ra các giả thuyết.
Tuy nhiên, quy nạp cũng có những hạn chế của nó, nhất là đối với loại quy nạp phổ thông
theo lối liệt kê giản đơn như: thuộc tính chung được rút ra bằng quy nạp từ một số hiện tượng lại
có thể không liên quan đến bản chất của hiện tượng và do các điều kiện bên ngoài quy định; quy
nạp chưa thể xác định được thuộc tính đó là tất nhiên hay ngẫu nhiên.
Để khắc phục hạn chế của quy nạp cần phải có diễn dịch và bổ sung bằng diễn dịch.
Diễn dịch là quá trình vận dụng nguyên lý chung để xem xét cái riêng, rút ra kết luận riêng từ
nguyên lý chung đã biết. Tuy nhiên, muốn rút ra kết luận đúng bằng con đường diễn dịch thì tiền
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 26
đề phải đúng và phải tuân theo các quy tắc lôgíc, phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi vận dụng
cái chung vào cái riêng.
Nếu quy nạp là phương pháp dùng để khái quát các sự kiện và tài liệu kinh nghiệm thì diễn

dịch là phương pháp thức xây dựng lý thuyết mở rộng. Phương pháp diễn dịch có ý nghĩa quan
trọng đối với các khoa học lý thuyết, chẳng hạn như toán học. Ngày nay trên cơ sở diễn dịch,
người ta xây dựng trong khoa học các phương pháp tiên đề, phương pháp giả thuyết - diễn dịch.
Mặc dù quy nạp và diễn dịch là hai phương pháp nhận thức có chiều hướng đối lập nhau,
nhưng có liên hệ hữu cơ với nhau, làm tiền đề cho nhau, cái này đòi hỏi cái kia và bổ sung cho cái
kia. Do đó, không nên tách rời quy nạp với diễn dịch, cường điệu phương pháp này mà hạ thấp
phương pháp kia và ngược lại. Do đó, “quy nạp và diễn dịch phải đi đôi với nhau một cách tất
nhiên như tổng hợp và phân tích. Không được đề cao cái này lên tận mây xanh và hy sinh cái kia,
mà phải tìm cách sử dụng mỗi cái cho đúng chỗ và chỉ có thể làm như vậy nếu người ta không
quên rằng chúng liên hệ với nhau và bổ sung lẫn nhau”1 .
Nhờ khái quát các tài liệu kinh nghiệm đã được tích luỹ, quy nạp chuẩn bị căn cứ để dự
kiến về nguyên nhân các hiện tượng nghiên cứu, về sự tồn tại một mối liên hệ tất yếu nhất định.
Còn diễn dịch thì luận chứng về mặt lý thuyết cho những kết luận thu được bằng con đường quy
nạp, loại trừ tính không chắc chắn của các kết luận ấy và biến chúng thành tri thức đáng tin cậy.
Quy nạp giúp ta hiểu được cái chung, còn diễn dịch giúp ta đi từ cái chung để hiểu cái riêng. Quá


trình nhận thức là quá trình đi từ cái riêng đến cái chung và từ cái chung đến cái riêng. Vì vậy
phải vận dụng tổng hợp cả hai phương pháp quy nạp và diễn dịch trong nhận thức và nghiên cứu
khoa học.
Ba là: phương pháp Lịch sử và lôgíc
* Định nghĩa:
Phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu sự vật trong quá trình hình thành và phát
triển theo trật tự thời gian của các sự kiện để rút ra được cái bản chất và quy luật phát triển của
sự vật.
Ví dụ: Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua nhiều giai đoạn phát
triển từ thấp đến cao. Các Mác đã phát hiện ra quy luật vận động khách quan của xã hội và C. Mác
đã đi đến kết luận: “tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử, tự
nhiên”
Đặc điểm của phương pháp lịch sử là nghiên cứu sự vật hiện tượng trong sự vận động và
biến đổi của nó theo một trật tự thời gian với những biểu hiện cụ thể, nhiều hình nhiều vẻ, trong
đó không chỉ có cái bản chất, cái tất nhiên mà còn có cái không bản chất, cái ngẫu nhiên, cả những
bước quanh co của sự phát triển.
Ý thức, tư tưởng cũng có lịch sử của mình với tính cách là lịch sử của quá trình phản ánh,
nhận thức cũng là một quá trình.
Phương pháp lô gích là phương pháp dùng trừu tượng khoa học nghiên cứu sự vật ở giai
đoạn phát triển cao nhất của nó nhằm phát hiện ra bản chất của sự vật và quy luật phát triển của
nó.
Ví dụ: khi nghiên cứu bản chất của chủ nghĩa tư bản, C. Mác đã đi từ phạm trù hàng hoá.
Ông giải phẫu nó, tìm ra tính hai mặt của nó là giá trị và giá trị sử dụng, lao động cụ thể và lao
động trừu tượng, từ đó ông truy tìm bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư được
thực hiện trong nền sản xuất hàng hoá - thị trường.
Phạm trù lôgíc có hai nghĩa:
Thứ nhất, nó chỉ tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật, đó là “lôgíc khách quan” của sự
vật;
Thứ hai, nó chỉ mối liên hệ tất yếu nhất định giữa các tư tưởng phản ánh thế giới khách
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 27
quan vào ý thức con người. Đó là lôgíc của tư duy, của lý luận. Với nghĩa này, phương pháp lôgíc
là sự tái tạo dưới dạng hình ảnh tinh thần khách thể đang vận động và phát triển với những mối
liên hệ tất yếu nhất định. Lôgíc còn nói lên trật tự giữa các bộ phận của tư tưởng (các khái niệm,
phạm trù, lý thuyết…).
* Sự thống nhất giữa lô gích và lịch sử:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng đây là sự thống nhất biện chứng cụ thể:
+ Thống nhất về mục đích: cả hai phương pháp đều nhằm phát hiện ra cái bản chất của
đối tượng.
+ Phương pháp lịch sử đi theo cái lịch sử của đối tượng để tìm ra cái lô gích tất nhiên, còn
phương pháp lô gích là “uốn nắn” cái lịch sử để tìm ra cái quy luật của lịch sử, cái lô gích tất nhiên.
+ Phương pháp lịch sử bổ sung cho phương pháp lô gích tính phong phú của đối tượng. Còn
phương pháp lôgíc bổ sung cho phương pháp lịch sử tính sâu sắc của đối tượng.
Tóm lại: lịch sử là tính thứ nhất, còn lôgíc của tư duy là tính thứ hai, lôgíc là phản ánh của
lịch sử, lôgíc phải phục tùng lịch sử chứ không phải ngược lại. Do đó, lôgíc phải gắn bó hữu cơ
lịch sử, phải phù hợp với lịch sử. Trong xã hội, lịch sử đồng nghĩa với phức tạp, lịch sử là bản
thân cuộc sống, cho nên ta phải tìm bên trong cái bề bộn của bản thân cuộc sống cái xu
hướng, cái tất yếu, cái lô gích, cái quy luật của nó.
Thống nhất giữa lôgíc và lịch sử là một nguyên tắc phương pháp luận quan trọng của nhận
thức khoa học và của việc xây dựng các lý thuyết khoa học. Sức mạnh của lôgíc tư duy là phát
hiện ra bản chất của lịch sử, vạch ra quy luật phát triển của lịch sử, tước bỏ những cái gì là bề
ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của lịch sử, tái hiện “lôgíc khách quan” của lịch sử trong lôgíc
vận động của các khái niệm.


* Ý nghĩa của phương pháp lịch sử và phương pháp lô gích trong nghiên cứu khoa học:
Trong nghiên cứu khoa học cần phải áp dụng cả phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgíc. Cụ thể:
Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử - cụ thể của sự
vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của
nó, phải bám sát lấy sự vật trong “máu thịt” của nó, phải theo dõi mọi bước đi của lịch sử theo
trình tự thời gian. Do đó, phương pháp lịch sử có giá trị to lớn và quan trọng trong các khoa học lịch
sử như lịch sử xã hội, lịch sử dân tộc. lịch sử đảng, lịch sử kinh tế, lịch sử văn hoá,.v.v.., không có
phương pháp lịch sử sẽ không có khoa học lịch sử.
Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật dưới hình thức
lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại cái lôgic khách quan
trong sự phát triển sự vật. Quá trình tư duy theo phương pháp lôgic phải bắt đầu từ khởi điểm của
lịch sử và phải tập trung nghiên cứu sự vật dưới hình thức phát triển tương đối hoàn thịên và chín
muồi nhất của nó.
Kết luận: phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương pháp nghiên cứu khác
nhau, nhưng lại thống nhất biện chứng với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì, muốn hiểu
biết
bản chất và quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử phát sinh, phát triển của nó; đồng thời có nắm

được bản chất và quy luật của sự vật thì mới nhận thức được lịch sử của nó một cách đúng đắn và

sâu sắc. Phương pháp lịch sử cũng phải nắm lấy cái lôgic, phải rút ra sợi dây lôgic chủ yếu của
lịch sử thông qua việc phân tích những sự kịên và hiện tượng cụ thể. Còn phương pháp lôgic phải
dựa trên các tài liệu lịch sử để khái quát và chứng minh, và rốt cuộc phải đem lại lịch sử trong
tính bản chất của nó. Tuỳ theo đối tượng nghiên cứu và yêu cầu cụ thể khác nhau mà người
nghiên cứu có thể sử dụng phương pháp lịch sử hay phương pháp lôgic là chủ yếu, song dù các
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 28
trường hợp nào cũng đều phải quán triệt nguyên tắc thống nhất lôgic và lịch sử. Lịch sử mà thiếu
lôgic là mù quáng, còn lôgic mà thiếu lịch sử thì không có đối tượng, dễ rơi vào chủ quan, tư biện.
Bốn là: Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể
* Các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại dưới dạng cái cụ
thể. Cái cụ thể khách quan được phản ánh vào nhận thức dưới hai hình thức:
Cái cụ thể cảm tính là điểm bắt đầu của nhận thức, là “biểu tượng hỗn độn về cái toàn
bộ” (Các Mác).
Cái cụ thể trong tư duy là kết quả của tư duy lý luận, của sự nghiên cứu khoa học phản
ánh
cái cụ thể khách quan bằng hệ thống những khái nịêm, phạm trù, quy luật. Cái cụ thể trong tư duy
là một tổng thể phong phú với rất nhiều tính quy định và quan hệ nó là cái phong phú và sâu sắc.
* Cái trừu tượng là một trong những yếu tố vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu
tượng là kết quả sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú của
sự vật. Vì vậy, cái trừu tượng là một bộ phận của cái cụ thể, biểu hiện một mặt nào đó của cái cụ
thể, là bậc thang của sự xem xét cái cụ thể.
Ranh giới giữa cái trừu tượng và cái cụ thể cũng chỉ là tương đối, tuỳ thuộc vào mối quan
hệ xác định.
* Nhận thức là sự thống nhất của hai quá trình đối lập: từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu
tượng đến cụ thể.
+ Theo quá trình thứ nhất là quá trình đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng: nhận thức xuất
phát từ những tài liệu cảm tính, qua phân tích rút ra những khái niệm đơn giản, những định nghĩa
trừu tượng, phản ánh từng mặt, từng thuộc tính của sự vật. Quá trình này tạo tiền đề cho quá trình
thứ hai - quá trình từ trừu tượng đến cụ thể.
+ Quá trình thứ hai đi từ trừu tượng đến cụ thể: nhận thức phải từ những định nghĩa trừu
tượng thông qua tổng hợp biện chứng đi đến cái cụ thể với tư cách là kết quả của tư duy chứ
không phải với tư cách là điểm xuất phát trong hiện thực. Trong quá trình này, những sự quy định
trừu tượng


lại dẫn tới sự mô tả lại cái cụ thể bằng con đường của tư duy. Các Mác coi đi từ trừu tượng đến
cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng. Nói cách khác thì “Phương pháp đi từ trừu
tượng đến cụ thể chỉ là cái phương pháp nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể và tái tạo ra
nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy”1 .
Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể có vai trò đặc biệt trong xây dựng lý thuyết khoa
học, nó cho phép thâm nhập vào bản chất của đối tượng nghiên cứu, hình dung được tất cả các
mặt và quan hệ tất yếu của đối tượng trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của chúng.
Theo phương pháp này, việc nghiên cứu phải bắt đầu từ cái trừu tượng, từ các khái niệm
phản ánh những mối liên hệ phổ biến, đơn giản của khách thể nhận thức. Tuy nhiên không phải
lấy bất kỳ cái trừu tượng nào làm khâu xuất phát, mà cái trừu tượng xuất phát phải là cái phản ánh
những mối liên hệ phổ biến nhất, đơn giản nhất nhưng có vai trò quyết định trong cái cụ thể cần
nghiên cứu. Từ cái trừu tượng xuất phát đó, tư duy theo dõi những vòng khâu, những trạng thái
quá độ trong sự phát triển của sự vật được thể hiện bằng các khái niệm ngày càng cụ thể hơn.
Bằng cách đó, tư duy tái hiện quá trình hình thành và phát triển của khách thể nghiên cứu với toàn
bộ các mặt và các quan hệ tất yếu, bản chất, những quy luật vận động, phát triển của nó.
Ví dụ: Trong bộ tư bản, Mác đã đưa ra một kiểu mẫu về việc sử dụng phương pháp đi từ
trừu tượng đến cụ thể để nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa:
C.Mác đã bắt đầu từ sự phân tích phạm trù “hàng hóa”, một phạm trù cơ bản và giản đơn
nhất của quá trình sản xuất tư bản như là cái trừu tượng xuất phát, cái “tế bào kinh tế” của xã hội
tư bản. Từ đó, Mác tiến đến phân tích các phạm trù cụ thể hơn như tiền tệ, tư bản, giá trị thặng
dư, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, ..Từ sự phân tích các phạm trù cơ bản cùng với các quá trình tổng
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 29
hợp, ông đã tái hiện xã hội tư bản chủ nghĩa như một chỉnh thể cụ thể trong sự thống nhất giữa
bản chất và hiện tượng trên cơ sở vạch ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.
Ngoài những phương pháp đã trình bày trên đây, trong nhận thức khoa học còn nhiều
phương pháp cụ thể khác.

KẾT LUẬN
Lí luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã trả lời đầy đủ mặt thứ hai vấn đề
cơ bản của triết học với câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới khách quan và quy
luật của nó hay không ? Việc đưa phạm trù thực tiễn vào lí luận nhận thức đã là cơ sở khoa học
để làm sáng tỏ những vấn đề về bản chất của nhận thức. Đây là một bước phát triển của nhận
thức luận trong triết học. Với sự phân tích sâu sắc về biện chứng của quá trình nhận thức, lí luận
nhận thức đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận của nguyên lí sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, và
nguyên lý này được coi là cơ sở phương pháp luận cho việc nhận thức để hoạt động thực tiễn
cải tạo thế giới.

3. Tri thức và tư duy

3.1 Tri thức

3.1.1 Khái niệm về tri thức
Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu có tư duy thì lúc đó
có tri thức.Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến những thập kỷ gần đây tri thức
và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội mới được đề cặp nhiều.Vậy tri thức là gì?
Có rất nhiều cách định nghĩa về tri thức nhưng có thể hiểu “Tri thức là sự hiểu biết, sáng
tạo và những khả năng, kỹ năng để ứng dụng nó(hiểu biết sáng tạo) vào việc tạo ra cái mới nhằm
mục đích phát triển kinh tế -xã hội.



Tri thức bao gồm tất cả những thông tin,số liệu,bản vẽ,tưởng tượng(sáng tạo),khả
năng,kỹ năng quan niệm về giá trị và những sản phẩm mang tính tượng trưng xã hội khác.Tri thức
có vai trò rất lớn đối với đời sống –xã hội.
Kinh tế thế giới đang bước vào một thời đại mới,một trình độ mới.Đó là trình độ
mà”nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân phối nguồn trí lực và việc sáng tạo,phân phối
và sử dụng tri thức trong các ngành kĩ thuật cao”.Tiêu chí chủ yếu của nó là lấy tri thức,trí óc làm
yếu tố then chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giống như các yếu tố sức lao động và tài
nguyên.Đó là thời đại mà “Tri thức đã trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội”, ”Tri
thức là tài nguyên là tư bản”, “Tri thức là tâm điểm của cạnh tranh và là nguồn lực dẫn dắt cho sự
tăng trưởng dài hạn..dẫn tới những thay đổi lớn trong cách tổ chức sản xuất, cấu trúc thị trường,
lựa chọn nghề nghiệp.

3.1.2 Vai trò của tri thức trong đời sống xã hội
Tri thức đã và đang ngày càng trở lên quan trọng đối với đời sống xã hội. Nó tác động trực
tiếp đến các lĩnh vực cả xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…

3.1.2.1 Vai trò của tri thức đối với kinh tế - kinh tế tri thức
Nền kỉnh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử dụng, khai
thác,sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải.
Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó:

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 30
-Tri thức khoa học-công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ sỏ chủ yếu và phát
triển rất mạnh
-Nguồn vốn quan trọng nhất,quý nhất là tri thức,nguồn vốn trí tuệ.
-Sáng tạo và đổi mới thướng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đảy sụ phát triển.
-Nền kinh tế mang tính học tập.
-Nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu là môi trường hoạt động chính.
-Nền kinh tế phát triển bền vững do được nuôi dưỡng bằng nguồn năng lượng vô tận và
năng động là tri thức.
Thực tiễn hai thập niên qua đã khẳng định,dưới tác động của cách mạng khoa học –công
nghệ và toàn cầu hoá,kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nước phát triển và sẽ trở thành một
xu thế quốc tế lớn trong một,hai thập niên tới.
Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy sản xuất và kinh doanh tri thức làm nội dung chủ
yếu.Tương lai của bất cứ doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng tiền bạc,
nguyên vật liệu,nguồn nhân lực và máy móc thiết bị…mà còn phụ thuộc vào việc xử lý và sử dụng
những thông tin nội bộ và thông tin từ môi trường kinh doanh.Cách tốt nhất để tăng năng suất là
tìm hiểu kiến thức chuyên môn mà hãng có được,sử dụng vì mục đích thương mại và những kiến
thức này cần được phát triển không ngừng.
Giá trị của những công ty công nghệ cao như các công ty sản xuất phần mềm và các công
ty công nghệ sinh học không chỉ nằm trong những tài sản vật chất hữu hình, mà còn nằm trong
những tài sản vô hình,như tri thức và các bằng sáng chế.Để trở thành một công ty được dẫn dắt
bởi tri thức, các công ty phải biết nhận ra những thay đổi của tỉ trọng vốn trí tuệ trong tổng giá trị
kinh doanh.Vốn trí tuệ của công ty, tri thức, bí quyết và phương pháp đội ngũ nhân viên và công
nhân cũng như khả năng của công ty để liên tục hoàn thiện phương pháp sản xuất là một nguồn
lợi thế cạnh tranh.Hiện có các bằng chứng đáng lưu ý chỉ ra phần giá trị vô hình của các công ty
công nghệ cao và dịch vụ đã vượt xa phần giá trị hữu hình của các tài sản vật thể của các công ty
đó,như các toà nhà hay thiết bị.Ví dụ như các tài sản vật thể của công ty Microsoft chỉ chiếm một
phần rất nhỏ trong tổng giá trị được vốn hoá trên thị truờng của công ty này.Phần lớn là vốn trí
tuệ.Sau hai mươi năm thành lập, số nhân viên công ty tăng 6 nghìn lần, thu nhập tăng 370 nghìn
lần,1/10 số nhân viên trở thành triệu phú.Nguồn vốn


con người là một thành tố giá trị cơ bản trong một công ty dựa vào tri thức.
Nền kinh tế tri thức sẽ ngày càng làm xuất hiện nhiều sản phẩm thông minh.Đó là những
sản phẩm có khả năng gạn lọc và giải thích các thông tin để người sử dụng có thể hành động một
cách hiệu quả hơn.Ngay cả một chiếc bánh kẹp thịt cũng có thể trở thành một sản phẩm mới dựa
trên tri thức bằng cách làm cho khách hàng biết cách sử dụng những thông tin về dinh dưỡng.Số
lượng ka-lo và chất béo được in lên hoá đơn hoặc thậm chí trình bày thông tin đó trước khi khách
đặt hàng.Thậm chí có những sản phẩm thông minh vừa có thể truyền đạt thông tin về sản phẩm
vừa khuyên khách hàng nên làm gì từ tình hình vừa được thông tin.
Vốn tri thức –vai trò của nó trong kinh tế tri thức
Vốn tri thức là tri thức được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích sinh
lợi(tăng thêm giá trị).
Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sản xuất.Trong văn minh nông nghiệp thì
sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công nghiệp,vốn,đất đai và nhất là sức
lao động trở thành hàng hoá với tư cách là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã
hội,góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch sử.Còn trong kinh tế tri
thức,yếu tố của sự phát triển nền kinh tế-xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ,đất đai và dựa trên
lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức.Như vốn tri thức trở thành
yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất thay vì yếu tố sức lao động vốn tiền tệ và đất đai.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 31
Vốn tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội.Nước
Mỹ nói riêng và các nước thuộc tổ chức OECD nói chung nhiều năm qua tăng trưởng ổn định với
tốc độ cao là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên tri thức như các ngành công nghệ
thông tin,viễn thông, vũ trụ,đầu tư,ngân hàng,tài chính,chứng khoán,bảo hiểm…Đồng thời chuyển
đầu tư vốn tri thức từ các ngành truyền thống sang các ngành có hàm lượng tri thức cao.ở các nước
có nền kinh tế đang phát triển,đầu tư càng nhiều vốn tri thức thì mang lại giá trị gia tăng cang
lớn,tỷ xuất lợi nhuận càng cao.
Vốn tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp.Vốn tri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức,các nhà quản lý có trình độ cao,các
công nghệ mới.
Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước
đang phát triển và các nước phát triển.Sự xuất hiện kinh tế tri thức vừa là cơ hội vừa là thách thức
đối với các nước kém và đang phát triển,trong đó có Việt Nam.Các quốc gia kém và đang phát triển
phải nhanh chóng tiếp cận với kinh tế tri thức,thông qua tri thức hoá các ngành công nghiệp,nông
nghiệp,dịch vụ,đặc biệt sớm hình thành các công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế đất
nước đuổi kịp các nước phát triển.

3.1.2.2 Vai trò của tri thức đối với chính trị
Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức.Người có tri thức là có khả
năng tư duy lý luận,khả năng phân tích tiếp cận vấn đề một cách sát thực,đúng đắn.Điều này rất
quan trọng,một đất nước rất cần những con người như vây để điều hành công việc chính trị.Nó
quyết định đến vận mệnh của một quốc gia.Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu một sự chuyển
hướng mạnh mẽ trong nhận thức về nguồn lực con ngươì.Đại hội nhấn mạnh:”Phát huy yếu tố
con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt đông”chiến lược
phát triển con người đang là chiến lược cấp bách.Chúng ta cần có những giải pháp trong việc đào
tạo cán bộ và hệ thống tổ chức :
Tuyển chọn những người học rộng tài cao,đức độ trung thành với mục tiêu xã hội chủ
nghĩa,thuộc các lĩnh vực,tập trung đào tạo,bồi dưỡng cho họ những tri thức còn thiếu và yếu để bố
trí vào các cơ quan tham mưu hoạch định đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà
nước với những qui định cụ thể về chế độ trách nhiệm quyền hạn và lợi ích.
Sắp xếp các cơ quan nghiên cứu khoa học –công nghệ và giáo dục-đào tạo thành một hệ
thống


có mối liên hệ gắn kết với nhau theo liên ngành,tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hợp tác nghiên
cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tĩên. Hợp nhất các viện nghiên cứu chuyên ngành
vào trường đại học và gắn kết trường đại học và các công ty,xí nghiệp.Các cơ quan nghiên cứu và
đào tao được nhận đề tài, chỉ tiêu đào tạo theo chương trình,kế hoạch và kinh phí dựa trên luận
chứng khả thi được trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan.
Hàng năm theo định kỳ có những cuộc gặp chung giữa những người có trọng trách và các
nhà khoa học đầu nganh của các cơ quan giáo dục-đào tạo và trung tâm khoa học lớn của quốc
gia,liên hiệp các hội khoa học Việt Nam…với sự chủ tri của đồng trí chủ tịch,sự tham gia của các
thành viên Hội đồng giáo dục -đào tạo và khoa học-công nghệ quốc gia về những ý kiến tư
vấn,khuyến nghị của tập thể các nhà khoa học với Đảng và nhà nước về định hướng phát triển
giáo dục-đào tạo.Phát triển khoa học –công nghệ,cách tuyển chon và giao chương trình đề tài,giới
thiệu những nhà khoa học tài năng để viết giáo khoa,giáo trình,làm chủ nhiệm chương trình,đề tài
và tham gia các hội đồng xét duyệt,thẩm định nghiệm thu các chương trình,đề tài khoa học cấp
Nhà nước.
Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam cần thường xuyên và phát huy trí tuệ của các nhà
khoa học,dân chủ thảo luận để đưa ra được những ý kiến tư vấn,những khuyến nghị xác thực có
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 32
giá trị với Đảng,Nhà nước và động viên tập hợp lực lượng các hội viên tiến quân mạnh mẽ vào
các lĩnh vực khoa học và công nghệ mà đất nước đang mong chờ để sớm thoát khỏi tình trạng
nghèo và kém phát triển.

3.1.2.3 Vai trò của tri thức đối với văn hóa – giáo dục
Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hoá -giáo dục của một quốc gia. Nó giúp con người
có được khả năng tiếp cận,lĩnh hội những kiến thức ,ý thức của con người được nâng cao.Và do
đó nền văn hoá ngày càng lành mạnh.Có những hiểu biết về tầm quan trọng của giáo dục.Từ đó
xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh,phồn vinh.

3.2 Tư duy

3.2.1 Khái niệm tư duy
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm
giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có
nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa. Hà Nội.
2005); Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt -Bộ não người-.
Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận
.v.v...
Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của "ý niệm tuyệt đối" với tư cách
là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất. Theo George Wilhemer Fridrick
Heghen: "Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy,
trong nhân thức tư biện mà thôi". Karl Marx nhận xét: "Đối với Heghen, vận động của tư duy được
ông nhân cách hóa duới tên gọi "ý niệm" là chúa sáng tạo ra hiện thực; hiện thực chỉ là hình thức
bề ngoài của ý niệm".
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển
đến trình độ tổ chức cao. Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng: "Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận
động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được cải tạo/tái tạo trong đầu óc con người
duới dạng một sự phản ánh".Những luận cứ này còn dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm của
Ivan Petrovich Pavlov, nhà sinh lý học, nhà tư tưởng người Nga. Bằng các thí nghiệm tâm-sinh lý
áp dụng trên động vật và con người, ông đi đến kết luận: "Hoạt động tâm lý là kết quả của hoạt
động sinh lý của một bộ phận nhất định của bộ óc"




3.2.2 Lịch sử hình thành và vai trò đối với triết học
Theo triết học duy tâm khách quan của G.W.F.Heghen, tư duy gắn liền với sự phát triển biện
chứng của "ý niệm tuyệt đối" qua ba giai đoạn:
• Giai đoạn logic: Tư duy nguyên thủy ở trạng thái thuần túy là nơi chứa đựng ý niệm
tuyệt đối.
• Giai đoạn hiện thực hoá: Do ý niệm tuyển đối chuyển hóa thành hiện thân của nó là tự
nhiên, tư duy cũng chuyển hóa theo.
• Giai đoạn cao cấp: Ý niệm tuỵệt đối phủ nhận tự nhiên và trở về với sự tư biện
của tư duy và tiếp diễn trong tư duy và trở thành "tinh thần tuyệt đối". Ở giai đoạn
này, tư duy phát triển đến mức cao nhất, bao gồm cả ý thức cá nhân, ý thức xã hội
dưới các hình thức như tôn giáo, nghệ thuật và triết học.


GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 33
Theo triết học duy vậy biện chứng, tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội
của con người. Trong quá trình đó, con người so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận
thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau. Trải qua các quá trình khái quát hóa và trừu tượng hóa,
phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lý luận .v.v... Kết quả của
quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản,
phổ biến, các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật nhất định.
Vì vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từ
trước.
Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý. Hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý là
hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp. Hoạt động đó diễn ra ở các động vật cấp cao,
đặc biệt biểu hiện rõ ở thú linh trưởng và ở người. Nhưng tư duy với tư cách là hoạt động tâm
lý bậc cao nhất thì chỉ có ở con người và là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con
nguời. Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, lao động là một trong các yếu tố
quyết định để chuyển hóa vượn có dạng người thành con người. Từ chỗ là một loài động vật
thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con người đã phát triển sự thích ứng đó bằng
bản năng thứ hai là tư duy với năng lực trừu tượng hóa ngày càng sâu sắc đến mức nhận thức
đuợc bản chất của hiện tượng, quy luật của tự nhiên và nhận thức đựoc chính bản thân mình.
Đối với triết học, tư duy là một khái niệm - phạm trù quan trọng. Khái niệm - phạm trù
này giúp lý giải các hoạt động được coi là có tính phi vật chất của cá thể người như giải trí, tín
ngưỡng, nghiên cứu, học tập và các hình thức lao động trí lực khác đồng thời, có ảnh hưởng
tích cực đối với lao động thể lực. Đối với xã hội, tư duy của cộng đồng người là cơ sở để tạo
nên hệ thống tư duy xã hội trong các hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, tôn giáo, nghệ
thuật .v.v... Người ta dựa vào tư duy để nhận thức những quy luật khách quan của tự nhiên, xã
hội, con người và điều chỉnh hành động của mình phù hợp với các quy luật đó.

3.2.3 Cơ chế hoạt động và tính độc lập tương đối của tư duy
Cơ chế hoạt động cơ sở của tư duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là
hoạt động thần kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não nhưng tư duy không hoàn toàn
gắn liền với một bộ não nhất định. Trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó,
tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác
động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông hoạt động có tính vật chất. Do đó, tư duy không
chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một
sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định.
Mặc dù được tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư duy có tính độc lập
tương đối. Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịu ảnh hưởng của toàn bộ tri thức
mà nhân loại đã tích lũy được trước đó (lao động quá khứ, kể cả lao động chân tay và lao động
trí óc được tích lũy. Tư duy cũng chịu ảnh hưởng, tác động của các lý thuyết, quan điểm cùng
tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, tư duy cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự
phản ánh đặc

thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con người. Tính độc lập của tư duy vừa
làm cho nó có được tính tích cực, sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức mới, vừa là điều
kiện nguồn gốc làm cho tư duy dần dần xa rời hiện thực khách quan. Để khắc phục mặt trái
này của tư duy, người ta thường sử dụng thực tiễn để kiểm tra, kiểm nghiệm tính đúng đắn
của tư duy

3.2.3 Tư duy và ngôn ngữ
Nhu cầu giao tiếp của con người là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngữ. Kết quả tư
duy được ghi lại bởi ngôn ngữ. Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với ngôn ngữ và
được thực hiện thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tư duy.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 34
Ở thời kỳ sơ khai, tư duy đuợc hình thành thông qua hoạt động vật chất của con người
và từng bước đuợc ghi lại bằng các ký hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp,
từ cụ thể đến trừu tượng. Hệ thống các ký hiệu đó thông qua quá trình xã hội hóa và trở thành
ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của tư duy và tư duy
cũng bắt đầu phụ thuộc và ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở
thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng với như cầu
của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động.

3.2.4 Tư duy và nhận thức
Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức.
Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tượng ... được phản ánh từ
thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài được phản ánh
một cách riêng lẻ. Giai đoạn này được gọi là tư duy cụ thể. Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của
ngôn ngữ, hoạt động tư duy tién hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khu
biệt, quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái
ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tượng,
quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật... Giai đoạn này được gọi là giai đoạn
tư duy trừu tượng.




GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 35

CHƯƠNG II

NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ
1. Bộ não con người

1.1 Cấu trúc não của người thay đổi trong xã hội thông tin
Khi số lượng từ và hình ảnh mà bộ óc con người thu nhận và xử lý hàng ngày tăng lên
gấp nhiều lần có thể dẫn đến những thay đổi trong cấu trúc bộ não người.
Đó là khuyến cáo của các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực thần kinh học,
được công bố trên tuần báo "Thời báo Chủ nhật" của Anh ngày 14-12.
Theo những tính toán mới nhất của các nhà khoa học, mỗi người sống trong xã hội
phương Tây hiện đại nhận 2,3 từ/giây, do vậy, trong vòng một ngày, bộ não của người đó buộc
phải xử lý khối lượng thông tin bằng 34 GB, cao gấp hai lần so với 25 năm trước.
Các nhà khoa học cảnh báo chẳng bao lâu nữa, bộ não người có nguy cơ "quá nóng" do
lượng thông tin quá nhiều, mà hậu quả là nó sẽ không thể phản ánh thế giới một cách tương
ứng. Giáo sư Roger Bon thuộc trường Đại học California nhấn mạnh hậu quả của việc gia
tăng luồng thông tin là sự thay đổi căn bản quá trình tư duy, khi quá trình này trở nên nhanh hơn,
hời hợt hơn và và rời rạc hơn.
Chính vì vậy, theo giáo sư Bon, khả năng tư duy sâu của con người đang suy yếu dần và
điều này đang gây ra những hệ lụy ngày càng trầm trọng đối với sự phát triển nền văn minh
nhân loại trong tương lai.
Trong khi đó, giáo sư trường Đại học Oxford Coleen Blackmore lại cho rằng luồng
thông tin giúp não người phát triển nhanh và làm tăng khối lượng não nhờ việc sản sinh nhiều
hơn các tế bào thần kinh. Điều này giúp nâng cao khả năng xử lý thông tin của não.
Điểm đặc biệt của não người là ở chỗ không chỉ có một, mà cùng một lúc có một số
trung tâm trong não bộ chịu trách nhiệm xử lý và lưu trữ thông tin. Các nhà khoa học cho rằng
trong những năm tới, chính những bộ phận này của não sẽ chịu những thay đổi lớn nhất.
Tuy nhiên, không một nhà khoa học nào có thể dự đoán được quá trình này sẽ gây ra
những hậu quả như thế nào và liệu nó có dẫn đến sự xuất hiện một biến chủng mới của loài
người là Homo informaticus thay thế cho con người Homo sapience hiện nay.

1.2 Máy tính sẽ thay thế bộ não con người?
Trong tương lai, trí thông minh của con người và máy tính sẽ hòa lẫn vào nhau và người
ta sẽ không thể nào phân biệt giữa chúng.
Mô phóng bộ não con người
Trong quyển sách với tựa đề : "The Singulanty is near: When humans transcend biology"
được ấn hành gần đây, tác giả Ray Kurzweil, 57 tuổi, nhấn mạnh vai trò quan trọng của công
nghệ thông tin (CNTT) vì tất cả những gì quan trọng đối với con người đều có sự hiện diện
của CNTT.
Là nhà phát minh, tác giả và là người theo thuyết vị lai, Kurzweil đã đi tiên phong trong
việc tạo ra công nghệ đọc và nhận biết chữ viết, giọng nói, thực tế ảo và trí thông minh nhân
tạo. Ông đã giành nhiều giải thưởng lớn, như Huân chương công nghệ quốc gia (Mỹ).
Trong bài trả lời phỏng vấn Tạp chí Computerworld, ông cho biết ý tưởng của ông trong
việc nghiên cứu bộ não con người để tạo ra trí thông minh nhân tạo. "Chúng tôi vẫn chưa có
thiết bị để chụp cắt lớp bộ não với độ phân giải cao nhưng hiện có năm hoặc sáu công nghệ
chụp cắt lớp. Lần đầu tiên, chúng tôi có thể nhìn thấy bộ não tạo ra những suy nghĩ."
Lượng dữ liệu về bộ não mà ông đang thu thập tăng gấp đôi mỗi năm. Khi có dữ liệu từ
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 36


những vùng cụ thể trên não bộ, ông có thể tạo ra những mô hình toán học chi tiết.
Kurzweil tin rằng vào cuối những năm 2020, ông sẽ có bản mô phỏng chi tiết và chính
xác của tất cả những vừng trên não bộ.
Mười ngàn triệu triệu phép tính trong một giây đủ để mô phỏng tất cả các vùng của não
bộ. Nhật Bản vừa công bố hai siêu máy tính có thể biến điều nói trên thành hiện thực vào năm
2010.
Tuy nhiên, có người sẽ đặt câu hỏi tại sao phải tái tạo ra bộ não từ phần mềm máy tính
trong khi con người đã có bộ não. Kurzweil nói bộ não nhân tạo sẽ rất mạnh vì chúng ta có thể
kết hợp những lợi thế hiện tại của trí thông minh con người với những phương pháp mà ở đó
máy tính đã tỏ ra vượt trội.
"[Vào cuối những năm 2040] , một inch khối mạch nanotube sẽ mạnh hơn bộ não con
người gấp 100 triệu lần” ông Kurzweil nói: Về mặt phần mềm, máy tính [vào những năm
2030] sẽ có thể truy cập mã nguồn của chính nó và cái thiện nó thông qua chu kỳ thiết kế lặp đi
lặp lại và liên tục tăng tốc. Cuối cùng thì những hệ thống máy tính như thế này sẽ thông minh
hơn con người và sẽ kết hợp tất cả những lợi thế của trí thông minh sinh học (con người) và
phi sinh học (máy tính). Trước đó, thế giới sẽ có một mạng lưới máy tính và bất cứ khi nào
bạn muốn, bạn có thể truy cập một triệu máy tính chỉ trong 40% của một giây.
Máy tính: Không thể nhìn thấy bằng mắt thường
Đầu thập niên tới, hình ảnh sẽ được ghi trực tiếp trên võng mạc của con người.
Kurzweil giải thích màn hình siêu nhỏ sẽ được lắp vào mắt kính và hình ảnh sẽ được chiếu
trực tiếp lên võng mạc.
Trong tương lai, các máy tính sẽ được thiết kế nhỏ đền mức người ta tưởng chừng
chúng không còn tồn tại. Chúng được lắp đặt vào quần áo và hòa lẫn trong môi trường sống.
"Hiện nay, máy tính mà chúng ta đang sử dụng được xem là những chiếc nan hoa được lập vào
hệ thống mạng, chứ không phải là một phần của mạng, nhưng trong tương lai chúng tôi sẽ từ
bỏ ý tưởng này để chuyển sang một ý niệm khác mà ở đấy mỗi thiết bị sẽ là một giao điểm
của mạng. Điều này có nghĩa là bạn không chỉ gửi và nhận thư tín của chính mình mà còn có
thể làm nơi chuyển tiếp những thư tín của người khác. Nó sẽ liên tục tự sắp xếp để tất cả các
mối liên kết giao tiếp không ngừng tìm kiếm đường đi có hiệu quả nhất". Kurzweil nói.
Hơn thế nữa, con người sẽ hòa vào công nghệ do họ chế tạo ra. "Chúng tôi có thể đưa
nhũng máy tính thông minh (còn gọi là nanobot) vào trong dòng máu trong cơ thể người. Vào
cuối những năm 2020, những thiết bị này sẽ có đầy đủ tính năng của người máy, có khả năng
giao tiếp và tính toán. Các bạch cầu nanobot có thể tải phần mềm xuống để diệt một mầm
bệnh nào đó chỉ trong tích tắc, trong khi đó, các bạch cau sinh học của chúng ta phái mất hàng
giờ để làm việc này. Và bạn có thể có hàng tỷ nanobot được đưa vào não thông qua mao mạch.
[Chúng] sẽ tăng cường các chức năng nhận thức và trí thông minh của chúng ta". Kurzweii nói:
Thậm chí chúng tôi có thể vượt qua khỏi giới hạn của sinh học và thay thế cơ thể con người
hiện tại của bạn (hay còn gọi là phiên bản 1.0 bằng một phiên bản 2.0 được nâng cấp đáng kể
nhằm kéo dài sự sống). Ông nói: Một kịch bản mà ông đề cập sẽ là thực tế ảo ngay trong hệ
thần kinh. "Các nanobot có thể tắt những tín hiệu đen từ các giác quan và thay thế những tín
hiệu mà bạn tiếp nhận nếu bạn ở trong môi trường ảo. Bạn có thể di chuyển cơ thể ảo trong
môi trường ảo và điều này sẽ kết hợp chặt chẽ tất cả năm giác quan cũng như những tương
quan thần kinh cảm xúc", ông nói:
Nguy cơ tiềm tàng
Mặc dù CNTT hứa hẹn làm một cuộc cách mạng trong việc tạo ra trí thông minh nhân
tạo, nhưng Kurzweil tỏ ra lo lắng khi đề cập đến mặt trái của "trí" thông minh của máy tính.
Ông nói: "Tôi rất lo ngại về những mặt bất lợi. Chúng ta đã đối mặt với những nguy cơ liên
quan đến sự tồn vong của con người - tiềm năng hủy diệt toàn bộ loài người bằng vũ khí hạt
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 37
nhân. Nhưng nay chúng ta lại gặp phải những nguy cơ mới, đó là khả năng tạo ra những virus
sinh học. Những công cụ và kiến thức cần để làm điều này phổ biến nhiều hơn những công cụ
và kiến thức cần để chế


tạo bom nguyên tử và hậu quả của chúng có thể sẽ kinh khủng hơn. Trong quyển sách của tôi,
tôi
nói rằng cái điều chúng ta không thể làm là đưa bộ gen của những virus nguy hiểm lên Internet
nhưng đấy chính là điều mà Bộ Y tế và Dịch vụ con người (Mỹ) vừa làm với virus cúm năm
1918".

2. Nhận thức của con người

2.1 Nhận thức về thời đại ngày nay
Việc nhận thức rõ và xác định đúng thời đại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì nó giúp ta
biết được những nấc thang phát triển của xã hội, nắm được yếu tố có tính ổn định trong một
thế giới đầy biến động
Lịch sử phát triển của xã hội loài người thường được đo bằng những thiên niên kỷ, thế
kỷ, thập kỷ, năm tháng, ngày giờ. Nhưng còn một cách đo khác sâu sắc hơn và có ý nghĩa hơn
nhiều là xác định sự phát triển xã hội bằng những chuyển biến, những thay đổi có tính bước
ngoặt được bắt đầu từ những sự kiện đặc biệt báo hiệu sự chuyển hóa về chất của đời sống
xã hội. Đó là cách phân định xã hội bằng thời đại, là việc dựa vào những tiêu chí nhất định để
phân kỳ lịch sử và đặt tên cho nó.
Việc nhận thức rõ và xác định đúng thời đại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vì nó giúp ta
biết được những nấc thang phát triển của xã hội, nắm được yếu tố có tính ổn định trong một
thế giới đầy biến động, tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp
mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội.
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đặc biệt là mỗi Đảng Cộng sản Mác-xít Lê-nin-nít rất cần
phải biết mình đang sống ở thời đại lịch sử nào với những đặc điểm, tính chất, nội dung, xu
thế phát triển của nó ra sao. Biết được như vậy cũng là hiểu rõ ta đang sống ở đâu và sẽ đi tới
đâu, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng phát triển và quy luật xoay vần của
nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; vừa dự
báo, và đoán định tới mức lường trước được những thách đố phức tạp, tránh được những vấp
váp sai lệch trên đường đi, từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp
của đời sống chính trị quốc tế. Có như vậy, đất nước sẽ phát triển mạnh mẽ, thoát được khó
khăn nghèo đói; bình yên cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân.

2.1.1 Quan niệm về thời đại
Sự phân chia các thời đại trong lịch sử nhân loại là một công việc không đơn giản, xuất
phát từ những cơ sở, tiêu chí khác nhau. Có nhiều cách phân chia và cách hiểu về thời đại.
· Cách phân chia thời đại dựa trên những tiêu chí kỹ thuật như thời đại đồ đá, thời đại
đồ đồng, thời đại cối xay gió, thời đại máy móc hơi nước, thời đại tên lửa, vũ trụ và thời đại
tin học…
· Phân chia dựa vào những yếu tố đặc thù của xã hội như thời kỳ (thời đại) mông muội,
dã man, gia trưởng, văn minh.
· Phân chia thời đại theo nền văn minh. Như văn minh phương Tây, văn minh Khổng
giáo (nho giáo), văn minh Nhật Bản, văn minh Mỹ la-tinh, văn minh Châu Phi. Cũng có quan
điểm chia lịch sử loài người thành 3 nền văn minh kế tiếp nhau tương ứng cới các thời đại:
Văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 38
Nhìn chung, những cách phân chia nêu trên đều có sự khái quát cao, đều có những căn cứ
và có những yếu tố hợp lý nhất định, nhưng tất cả đều là cách nhình phiến diện, mới chỉ nhấn
mạnh được một vài khía cạnh của sức sản xuất, không chỉ ra được tính chất tổng hòa của đời
sống xã hội và đặc biệt là không nêu được động lực chính của sự phát triển lịch sử xã hội.
· Dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân
tích xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê-nin đã xem xét vấn đề thời đại một cách
khoa học,


phù hợp với sự vận động phát triển của lịch sử loài người. Các ông đã coi hình thái tồn tại của
thực tế xã hội là hình thái kinh tế - xã hội và quá trình phát triển của xã hội là sự thay thế hình
thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Theo Mác và Ăng-ghen, lịch sử phát triển xã hội loài
người cho đến thế kỷ XIX là các hình thái: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến và tư bản chủ nghĩa. Từ đó, các ông đã rút ra kết luận là hình thái kinh tế -xã hội cộng sản
chủ nghĩa tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.
Như vậy, có thể hiểu thời đại theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thời đại
là một khái niệm chính trị - kinh tế - xã hội khái quát tiến trình phát triển của lịch sử loài
người, là thời gian rất dài để chỉ sự phân kỳ lịch sử xã hội và để phân biệt những nấc thang
phát triển của hình thái kinh tế xã hội mà theo đó nấc thang cao hơn, tiến bộ hơn sẽ phủ định
nấc thang cũ, lạc hậu để mở đường cho sự phát triển một thời đại mới. Sau Cách mạng Tháng
Mười Nga, nhân loại bắt đầu một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Thời đại theo nghĩa hẹp là khái niệm về thời gian để chỉ xu thế và nội dung phát triển
trên các phương diện kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ…

2.1.2 Nội dung về thời đại ngày nay
Theo quan điểm của Lê-nin, nội dung thời đại mới - thời đại ngày nay, là xóa bỏ chủ
nghĩa tư bản đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội là hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa. Đây là một quá trình lịch sử lâu dài, được bắt đầu từ nước Nga sau Cách mạng Tháng
Mười năm 1917, và sau đó là nhiều nước khác trên thế giới.
Vào những năm 1957 và 1960, Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân họp
ở Mátxcơva, trên cơ sở tiếp thu ánh sáng tại di huấn của Lê-nin, đúc rút kinh nghiệm từ thực
tiễn sinh động của cách mạng thế giới, đã xác định: Nội dung căn bản của thời đại chúng ta là
sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga.
Nội dung thời đại có hai vấn đề mấu chốt. Một là, thời đại hiện nay là thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Hai là, thời đại được mở
ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát
mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục, đã được sự nhất trí cao trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Tuy nhiên, sau khi thể chế xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các
thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để dấy lên một chiến dịch công kích, xuyên tạc chủ nghĩa
Mác - Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại hòng làm tiêu tan lý tưởng cộng
sản trong tâm trí nhân loại.
Luận điểm của họ về nội dung không có gì mới mẻ, nhưng cách diễn đạt có khác đi.
*Về vấn đề thứ nhất của nội dung thời đại. họ lập luận rằng, nếu nói thời đại hiện
nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, thì nay chủ nghĩa xã hội sụp
đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩ tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
công sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 39
Cách nhìn nhận của họ rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và là cách nhìn thiển cận. Quá
trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh
chóng được, mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội
loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh
mẽ và cũng có cả những bước tụt lùi. Sự đổ vỡ của xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô
đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Đồng thời ai cũng biết rằng, sự
sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư
bản chủ nghĩa thay thế thời


đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải
qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện
nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn
đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.
* Về vấn đề thứ hai của nội dung thời đại. Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai
tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười
cũng chấm hết.
Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười
đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý
tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười. Vả chăng, lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc
cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công
việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong
kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư
sản: Cách mạng Anh (1640-1688), các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848,
1871…
Sự phát triển của xã hội loài người từ sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý
tưởng Tháng Mười đã không chỉ là ngọn đèn pha dẫn đường tỏa sáng, mà còn có những đóng
góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một
trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an
phận, là thời đại của chủ nghĩa tư bản. Sự đột phá Tháng Mười làm cho chủ nghĩa tư bản bị
đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát
triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội , giải
phóng con người. Thành quả của cách mạng Tháng Mười đã tạo cho loài người có khả năng
kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ
nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự tồn tại
của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong
các chính sách phúc lợi xã hội, đảm bảo xã hội… ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều do
kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng của
Cách mạng Tháng Mười..
Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình
hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn
lường nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế
giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người
vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ
bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện
có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức.

2.1.3 Những vấn đề hiện nay

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 40
Nhịp độ chuyển biến của thế giới nhanh chóng đến mức khó hình dung. Quá trình đó
làm cho tính chất của thời đại càng phức tạp thêm bởi những biểu hiện mới của nó.
Sau khi Liên Xô tan rã, chủ nghĩa tư bản thay đổi chiến lược ra sức lợi dụng quá trình
quốc tế hóa và toàn cầu hóa để tư bản hóa toàn thế giới. Đó là sự áp đặt giá trị, đồng hóa thế
giới theo màu sắc tư bản chủ nghĩa; là sự đe dọa, chà đạp, phá vỡ các giá trị truyền thống của
các dân tộc và các quốc gia có chủ quyền. Vì thế, vấn đề nổi bật trên đời sống chính trị quốc
tế hiện nay là các tầng lớp, giai cấp bị áp bức, bóc lột và các dân tộc, các quốc gia độc lập
quyết tâm chống lại sự áp đặt và can thiệp, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ giá trị truyền thống và
định hướng phát triển xã hội của mình. Trong bối cảnh ấy, định hướng xã hội chủ nghĩa là xu
hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người.
Quá trình toàn cầu hóa, một mặt, tạo điều kiện cho sự hội nhập và vươn lên của tất cả
các nước, nhưng mặt khác, nó cũng là sự phân chia thành hai thái cực giàu ngèo, tạo thế độc
quyền


chưa từng thấy của các trung tâm công nghiệp phát triển trong các lĩnh vực tài chính, kỹ thuật
công nghệ. Do đó, một số nước "sinh sau đẻ muộn" khi bước vào quá trình công nghiệp hóa
gặp rất nhiều khó khăn.
Bản thân các nước tư bản phát triển cũng gặp nhiều thách thức lớn. Do tư bản tập
trung cao độ, do sự phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình "toàn cầu hóa" ngày càng đi vào chiều
sâu, trong khi đó các thể chế thuộc kiến trúc thượng tầng vẫn chưa vượt khỏi phạm vi các
quốc gia, dân tộc tư sản, nên mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong xã hội tư bản không hề giảm, mà ngày càng tăng. Các công ty xuyên quốc gia sáp nhập,
liên kết chặt chẽ với nhau về tổ chức, vốn đầu tư, kỹ thuật, quản lý để chi phối thị trường
quốc tế, làm cho các đạo luật, quy tắc, trật tự của các quốc gia tư bản chủ nghĩa bị phá vỡ,
không kiểm soát được. Trong khi đó, ngay trong lòng các nước tư bản giàu có nhất vẫn chứa
đựng sự nghèo đói và đặc biệt là sự bất công. Tất cả những điều đó thực sự là những quả bom
nổ chậm, đe dọa xã hội của các nước tư bản phát triển. Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế
toàn cầu diễn ra từ 2008 đến nay bắt đầu từ Mỹ và lan ra toàn thế giới đã chứng tỏ những mâu
thuẫn nội tại của nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa không hề dịu đi mà có phần sâu sắc
hơn, khủng hoảng kinh tế là căn bệnh trầm kha không thể thoát được của các thể chế kinh tế
tư bản chủ nghĩa.
Quá trình toàn cầu hóa khi được gắn với việc tập trung tư bản thì đồng thời cũng làm
cho quy mô bóc lột của chủ nghĩa tư bản mở rộng, làm cho mâu thuẫn thời đại thêm sâu sắc.
Vì thế việc giải quyết những mâu thuẫn thời đại đòi hỏi phải có sự tự giác cao, đồng thời cần
có sự phối hợp khu vực và quốc tế, cần có nội dung, phương pháp thích hợp.
Chính trong bối cảnh thế giới phức tạp như vậy, các dân tộc càng phải độc lập, tự chủ
và không ngừng sáng tạo, càng hội nhập thì càng cần phải phát huy bản sắc dân tộc, giá trị
chuẩn mực của dân tộc "hội nhập mà không hoà tan". Đúng là thế giới phát triển theo quy luật
của nó, nhưng cách thức phát triển và bước đi là vô cùng phong phú, đa dạng. Mỗi nước phải
tìm ra định hướng phát triển cho mình trên cơ sở những xu hướng vận động của thời đại.
Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam đang ra sức phát huy những thành tựu
đã đạt được, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới có bước phát triển mới, sáng tạo mô hình phát
triển kinh tế- xã hội đậm nét Việt Nam, đưa nước ta tiến bước vững chắc trên con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế thời đại./.

2.2 Không đổi mới nhận thức coi như “mù chữ”
Ngày nay, không đổi mới nhận thức cũng coi như mù chữ
Trình độ nhận thức thực tế khách quan của con người cũng bị giới hạn bởi điều kiện
lịch sử. Có những điều mà ngày hôm nay cho là chân lý nhưng ngày mai lại bị nghi ngờ, thậm
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 41
chí bị phủ định do có những phát minh, phát kiến mới, làm thay đổi hiểu biết của con người.
Do đó nhận thức của con người phải luôn luôn đổi mới theo sự phát triển của xã hội, phát triển
khoa học kỹ thuật, phát triển tri thức của loài người.
Nếu học xong mấy năm ở nhà trường ra mà đã thỏa mãn không tự học thêm, không đọc
sách báo thường xuyên, không giao tiếp, giao lưu văn hóa với bạn bè thì hiểu biết không những
không tăng mà còn mòn mỏi đi rất nhanh. Và chính những điều còn lại trong đầu cũng chưa
chắc còn ý nghĩa gì. Một tỷ lệ nhất định trong đó đã trở nên cũ kỹ, lỗi thời.
Chân lý cũng là một phạm trù tương đối. Con người không thích nghi với thời cuộc,
không thích nghi với tính biến động của thời đại trí tuệ thì sẽ không làm chủ được bản thân,
không hòa hợp được với trào lưu tiến hóa của lịch sử. Vì vậy, không phải không có cơ sở khi
nhà văn hóa Alvin Tofler đã nói như khẳng định tại một cuộc hội thảo lớn: Trong thời đại ngày
nay, không đổi mới nhận thức coi như mù chữ.
Chân lý vốn giản đơn, nhận ra chân lý lại không đơn giản
Chân lý không gì khác là sự thật, là hiện thực khách quan. Chân lý vốn đơn giản như
vậy


thôi; chỉ có điều là nó tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người. Nó chỉ bước vào nhận
thức con người thông qua một quá trình tư duy nghiêm túc, đúng đắn.
Chân lý vốn giản đơn nhưng có phải ai cũng nhận ta được chân lý dễ dàng, đó là chưa
kể không ít người hết lần này đến lần khác đã nắm trật chân lý, quay lưng với chân lý, thận chí
đi ngược lại chân lý. Muốn nhận thức đúng chân lý, con người phải có tâm lành và chí vững,
phải có phương pháp tư duy đúng và một tinh thần kiên trì, nhẫn nại. Ai không có những yếu
tố đó, chân lý mãi mãi đứng ngoài nhận thức của họ.
Nhà đại văn hào Pháp Victo Huygo đã viết: "Chân lý chỉ xuất hiện trong chiều sâu của
tư duy". Đúng như vậy, tư duy hời hợt sẽ không bao giờ bắt gặp chân lý.
Đừng mới thấy cây đã tưởng rừng
Trong cuộc sống, con người cần luôn luôn tỉnh táo, cẩn trọng; kết luận một điều gì,
một vấn đề gì đều phải trên cơ sở có đầy đủ những cứ liệu và suy nghĩ kỹ càng. Đừng vội tư
duy, phân tích, khẳng định khi chỉ mới quan sát sơ bộ, chỉ mới nghe qua đôi điều chung chung
hoặc chỉ mới tấy hiện tượng bên ngoài.
Một cây chẳng làm nên rừng; một con chim én chẳng tạo được mùa xuân; gió nhẹ đâu
phải là bão. Số lượng khi còn nhởn nhơ đếm được thì vẫn là số lượng; chỉ khi nào số lượng
phát triển mạnh mẽ, ào ạt đến độ đến đáo, số lượng ấy mới có khả năng biến thành chất. Do
vậy chớ nên mới thấy cây đã tưởng rừng, chỉ mới hắt hơi đã cho mình là ốm nặng. Một sự lầm
tưởng, một sự ngộn nhận một sự cường điều bất cứ ở mức nào đều có khả năng dẫn đến
những tư duy lệch lạc tiếp theo.
Câu thành ngữ người Anh "chớ mới thấy cây đã tưởng rừng" còn gợi ra một ý nhắc nhở
là chớ nên làm những việc quá sức mình, chớ nên tính toán những công việc quá lớn khi lực còn
yếu. Nhìn đúng sự thực, nhìn đúng bản chất... bao giờ cũng là tiền đề tốt cho mọi tư duy đúng
đắn.
Trên đường trau dồi năng lực, không tiến là lùi
Học tập, trau dồi tiềm năng hiểu biết là công việc cần thiết, thường xuyên, suốt đời
của tất cả mọi người. Trong thời đại mà mọi quốc gia đều nỗ lực phấn đấu xây dựng nền
kinh tế tri thức - một nền kinh tế có năng suốt lao động vượt bậc, sản phẩm có hàm lượng
chất xám cao thì việc học tập, học hỏi, rút kinh nghiệm để nâng cao trí tuệ là nghĩa vụ đối với
cộng đồng, là trách nhiệm tự giác của mỗi người.
Trên đường trau dồi năng lực của thời đại mà khoa học kỹ thuật tiến nhanh như vũ bão
thì việc ngưng học đồng nghĩa với việc tạo đà cho năng lực sút kém. Điều này rất dễ hiểu nếu
ta nhìn thấy rõ khoảng cách giữa người ngừng học với người học liên tục, khoảng cách tụt hậu
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 42
giữ mức hiểu biết của người dừng chân tại chỗ với kiến thức của nhân loại đang ngày càng
chồng chất, đày ắp. Dừng lại sự học không chỉ có nghĩa là ngừng tiến mà chính là thụt lùi vì
yêu cầu của công việc, của cuộc đời đối với mỗi con người ngày càng cao.
Việc học trong thời đại ngày nay tự như chạy theo thời gian. Dừng lại, để cho kim
đồng hồ vượt lên có nghĩa là ta đã trở thành quá khứ. Cứ nhìn đồng hồ, ta có cảm giác như chỉ
có tương lai và quá khứ mà không có hiện tại. Hãy hành động, hành động; đừng để cho thời
gian trôi qua vô vị. Hãy học tập, học tập để trở thành những người có ích của đất nước.

2.3 Giới hạn của nhận thức
“Tự nhiên như người đàn bà ưu làm đỏm, khi thì phơi bày phần này, khi thì phơi bày
phần khác trên cơ thể của mình. Và người chiêm ngưỡng kiên nhẫn đến một lúc nào đó sẽ nhìn
thấy tất cả”. Đầu thế kỷ XIX, nhằm ca ngợi khả năng vô hạn của nhận thức, nhà khoa học
Pháp lừng danh, hầu tước Laplace (1749-1827), được người đương thời xem là có đóng góp
khoa học chi sau Newton, đã thốt lên nhận định bất hủ như vậy. Hỏi còn gì ve vuốt trí tuệ loài
người hơn?
Không chỉ nổi tiếng với khẳng định “tôi không cần giả thuyết đó” khi hoàng đế
Napoléon thắc mắc về vai trò của Thượng đế trong việc điều hành các thiên thể, Laplace còn
lưu danh muôn


đời với quyết định luận nổi tiếng, khi cho rằng con người có khả năng tiên đoán tương lai vũ
trụ một cách xác định chỉ bằng lý trí. Trái với phê phán của giới học giả hiện đại, sự lạc quan
của ông là một trong những tiên đề để phát triển khoa học và kỹ thuật, ít nhất cho tới đầu thế
kỷ XX. Và dù quyết định luận nay không còn được thừa nhận với mức độ như ban đầu nữa,
ông vẫn được chia sẻ ở niềm lạc quan về sự tưởng thưởng xứng đáng nếu chúng ta biết kiên
nhẫn chiêm ngưỡng những bí ẩn của tự nhiên.
Tiến bộ khoa học tính đến đầu thiên niên kỷ thứ ba cho thấy niềm tin của Laplace
dường như có cơ sở. Vật lý học đang tìm kiếm “lý thuyết của mọi thứ”, nhằm thống nhất các
qui luật vật lý quản lý toàn vũ trụ. Sinh học đã xây dựng được bản đồ gien người. Y học có
khả năng thay thế tạo hoá bằng cách nhân bản chính bản thân con người. Công nghệ nano
(Công nghệ mà độ chính xác đạt tới mức một phần tỷ mét) có lẽ sẽ tạo được những robot
nguyên tử tự phân chia và làm được mọi thứ, từ khai thông mạch máu tới diệt tế bào ung thư,
từ đảo ngược quá trình trái đất nóng lên tới chữa lành mọi bệnh tật. Máy tính từng vượt
Kasparov, được xem là kỳ thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, trong trò chơi trí tuệ. Với tốc độ ngày
càng tăng, cái ngày robot có khả năng trừu tượng hoá và khái quát hoá có lẽ cũng không còn xa.
Với những thành tựu mà một thế kỷ trước con người nằm mơ cũng không thấy đó, phải chăng
chúng ta có khả năng khám phá mọi bí ẩn của tự nhiên, như Laplace từng tin tưởng từ 200 năm
trước. Nói cách khác, khả năng, khả năng nhận thức của con người là vô hạn hay hữu hạn? Và
quan trọng hơn là nếu có thì những giới hạn đó chỉ là vấn đề kỹ thuật hay mang tính nguyên lý?
Có lẽ thành tựu quan trọng nhất của khoa học thế kỷ XX là khám phá những giới hạn
mang tính nguyên lý của nhận thức. Nói cách khác, cho dù khoa học phát triển nhanh chóng và
mạnh mẽ đến đâu, cho dù trí tuệ loài người siêu việt như thế nào, giống như cô gái đẹp đoan
chính, tự nhiên biết cách che giấu những bí ẩn cơ bản trên cơ thể diễm lệ và huyền bí của
mình. Và cho dù kiên nhẫn cách mấy, loài người cũng phải khuất phục trước sự e lệ thánh
thiện đó. Vậy những giới hạn mang tính nguyên lý đó là gì?
Thuyết tương đối Einstein
Đầu tiên là thuyết tương đối Einstein, với những quan niệm hoàn toàn mới về không
gian, thời gian và hấp dẫn. Trước Newton, không và thời gian được xem là một cái nền tuyệt
đối, cố định và bất biến, nơi xẩy ra mọi biến dịch vũ trụ. Giả sử vật chất biến mất thì không
thời gian vẫn còn tồn tại, giống như tờ giấy vẽ trước khi có bức tranh. Với các định luật
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 43
chuyển động, Newton đã bác bỏ không gian tuyệt đối. Nay với thuyết tương đối, Einstein bác
bỏ tình tuyệt đối của thời gian. Dưới con mắt Einstein, không – thời gian trở thành các đại
lượng động lực, có thể thay đổi tuỳ thuộc hệ qui chiếu. Hơn thế nữa, Einstein còn cho rằng sự
phân bố vật chất và năng lượng làm cong và biến dạng không – thời gian, nên không – thời gian
không phẳng nữa. Mọi vật trong vũ trụ vẫn gắng đi theo các đường tối đoản, nhưng vì không –
thời gian cong, nên quĩ đạo của chúng cũng bị cong. Ta thấy chúng chuyển động như thể bị
trường hấp dẫn tác động. Bằng cách bẻ cong không – thời gian như vậy, Einstein đã biến
chúng từ một cái nên thụ động thành các yếu tố tham gia tích cực vào các sự biến vũ trụ. Theo
lời nhà vật lý John Wheeler, “vật chất nói không thời gian cong như thế nào, không - thời gian
nói vật chất chuyển động như thế nào”.
Thuyết tương đối đặt ra những giới hạn trong khả năng nhận thức. Vì không – thời gian
phụ thuộc và tác động tới các sự biến vũ trụ, vì vũ trụ là tương đối, nên không thể có các chân
lý tuyệt đối như đã từng được tin tưởng.
Nguyên lý bất định Heisenberg
Theo Heisenberg, một người sáng lập thuyết lượng tử, lý thuyết về thế giới vi mô, do
lưỡng tính sóng – hạt mà ta không thể xác định chính xác đồng thời các cặp đại lượng vật lý
liên hợp đặc trưng cho một hệ vật lý như vị trí và tốc độ, năng lượng và thời gian, giá trị tuyệt
đối và độ biến thiên của một trường vật lý...Vì thế không thể xác định chính xác hành trạng
của tự nhiên. Nói cách khác, nguyên lý bất định đặt ra giới hạn không thể vượt qua trong việc
khảo sát vũ trụ


bằng quan sát, tức thực chứng luận, một trong hai nền tảng triết lý quan trọng nhất của khoa
học hiện đại (là thực chứng luận và nguyên lý tiết kiệm hay lưỡi dao Ockham).
Theo Stephen Hawking, đang được xem là người tạo huyền thoại trong kỷ nguyên khoa
học, nguyên lý bất định có những ngụ ý sâu sắc đối với cái cách mà chúng ta nhìn nhận thế
giới. Nó là phát súng ân huệ đối quyết định luận Laplace. Đó là lý do nhà vật lý Robert March
viết trong cuốn Vật lý cho các nhà thơ, 1996: “Vật lý hiện đại dạy chúng ta rằng, bất luận các
lý thuyết của chúng ta khôn ngoan thế nào, các đo đạc cẩn thận ra sao và bất luận máy tính của
chúng ta mạnh mẽ đến mức nào, tương lai luôn không thể dự đoán được”.
Định lý bất toàn Godel
Năm 1931 nhà toán học Áo Kurt Godel đã chỉ ra giới hạn của nhận thức toán học khi
đưa ra định lý bất toàn. Định lý phát biểu rằng, trong một hệ tiên đề hình thức bất kỳ, như toán
học hiện hành, luôn tồn tại những bài toán mà ta không thể thừa nhận hay bác bỏ chỉ dựa trên
hệ tiên đề đã cho. Nói cách khác, một hệ thống logic bất kỳ không thể tự hiểu bản thân, kiểu
dao sắc không gọt được chuôi. Muốn hiểu hệ thống đó, cần một hệ tiên đề bao quát hơn; đến
lượt mình, hệ tiên đề đó lại cần một hệ bao quát hơn nữa. Và quá trình cứ lặp lại mãi như thế.
Định lý Godel đặt ra những giới hạn nguyên lý đối với toán học và là cú sốc lớn đối với
cộng đồng khoa học, vì nó vất bỏ không thương tiếc niềm tin tưởng rằng, toán học là một hệ
thống chặt chẽ và hoàn thiện chỉ dựa trên logic. Nói cách khác, không chỉ trong nghệ thuật, mà
ngay cả trong toán học, trực giác cũng có vai trò không thể thay thế. Định lý bất toàn cũng chỉ ra
rằng, bộ não không thể tự hiểu bản thân. Và trí tuệ nhân tạo không thể vượt trí tuệ tự nhiên
của con người, vì theo thuyết tiến hoá, bộ não là hệ thống phức tạp nhất vũ trụ.
Lý thuyết hỗn độn và sự phức tạp
Khoảng 30 năm nay, xuất hiện một lĩnh vực mới nằm giữa toán học và vật lý. Đó là lý
thuyết hỗn độn, cho rằng các hệ thống tất định, chẳng hạn định luật hai Newton, cũng có thể
cho kết quả không tất định. Một thăng giáng rất nhỏ lối vào có thể dẫn tới những thay đổi rất
lớn ở đâu ra. Đó là lý do dự báo thời tiết không thể chính xác, cho dù đã biết mọi qui luật của
cơ học chất lưu.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 44
Một lý do của hành vi phi tất định nói trên là sự phức tạp. Các hệ thống tự nhiên phức
tạp đến mức, số các khả năng thể của hệ vượt xa khả năng tính toán của một hệ logic bất kỳ.
Có bao nhiêu bản nhạc 50 nốt trên 88 phím đàn piano? Câu trả lời là 8850, lơn hơn cả số
nguyên tử trong vũ trụ nhìn thấy (chỉ có 8841)! Các nhạc sĩ chẳng việc gì phải sợ máy tính. Và
Mozart thì mãi mãi bất tử với thời gian. Sẽ luôn luôn có bản nhạc chưa từng chơi, bức tranh
chưa từng vẽ, ván cờ chưa từng đánh hay bài thơ chưa từng viết.
Lý thuyết đa vũ trụ
Lý thuyết đa vũ trụ ra đời nhằm đối trọng với những luận giải mang màu sắc tôn giáo
về bản chất vũ trụ. Giới vật lý từng ngạc nhiên là nếu chỉ một trong hàng chục hằng số vật lý,
như tốc độ ánh sáng hay điện tích điện tử, thay đổi giá trị vài phần trăm, vũ trụ đã diễn biến
khác hẳn và con người không thể xuất hiện để mà nghiên cứu vũ trụ. Nên một số nhà vật lý
cho rằng vũ trụ đã được thiết kế để tạo ra con người. Nhằm tránh những quan niệm như thế,
xuất hiện giả thuyết về những vũ trụ song song hay đa vũ trụ (multiverse), đối ngược với đơn
vũ trụ thông thường (universe). Ta hãy hình dung trò thổi bong bóng xã phòng, mỗi bong bóng là
một vũ trụ với hệ qui luật riêng. Phần lớn các vũ trụ đó không thuận lợi để sự sống phát sinh
và phát triển. Nhưng tình cờ trong vô vàn các bong bóng đó, có một bong bóng phù hợp với sự
sống. Và chỉ trong 15 tỷ năm, con người đã xuất hiện để băn khoăn tự hỏi tại sao vũ trụ lại
như vậy.
Nếu biết rằng các bong bóng vũ trụ không thể liên lạc với nhau, sẽ hiểu cái giới hạn về
nguyên lý mà lý thuyết đa vũ trụ đặt ra đối với khả năng nhận thức. Chúng ta chỉ là những sinh
linh nhỏ bé trong một bong bóng đang cố tìm hiểu luật chơi. Một cố gắng thật đáng ngưỡng
mộ, nhưng cũng thật đáng thất vọng!


Ý nghĩa của khoa học
Trên con đường vạn dặm khám phá tự nhiên, khoa học lại tìm ra những giới hạn của
chính mình. Thuyết tương đối cho rằng, vật chất, năng lượng, không gian và thới gian – nhưng
yếu tố cơ bản nhất của vũ trụ - không phải là tuyệt đối. Nguyên lý bất định cảnh báo rằng, dù
cố gắng va khéo tay cách mấy thì ta cũng không thể quan sát chính xác hành tung thế giới. Định
lý bất toàn nói nhận thức logic là không hoàn thiện. Lý thuyết hỗn độn chỉ ra tính phi tất định
của hệ có độ phức tạp cao, đặc trưng cơ bản của các hệ thống trong vũ trụ. Và lý thuyết đa vũ
trụ thì xem vũ trụ của chúng ta chỉ là một bong bóng nhỏ nhoi, mất hút giữa ngút ngàn các bong
bóng khác. Tất cả những khám phá đó khiến chúng ta phải đối mặt với hai vấn đề triết học căn
bản nhất. Đó là bản thể luận và nhận thức luận. Bản chất của hiện thực là gì và chúng ta nhận
thức nó như thế nào?
Khoa học hiện đại cho rằng, dường như không thể chỉ ra được cái bản chất tối hậu của
thế giới. Hiện thực chỉ là những khả năng thể (Lê Đạt). Và chúng ta không thể nhận thức được
chúng hoặc bằng suy luận (Godel) hoặc bằng quan sát (Heisenberg). Trực giác cũng không khá
hơn, vì đối tượng khảo sát (toàn vũ trụ) phức tạp hơn chủ thể trực giác (con người). Đó là lý
do các học giả đang xem xét lại ý nghĩa của khoa học. Thay vì tìm hiểu bản chất của hiện thực,
nay mục đích của khoa học chỉ khiêm tốn là đưa ra những dự báo phù hợp với quan sát và mang
ý nghĩa thực hành, một quan niệm đậm màu sắc thực chứng. Đó là lý do Hawking tự xem mình
là nhà thực chứng luận, còn bạn đồng nghiệp, nhà vật lý mang tước hiệp sĩ Roger Penrose –
người luôn cố gắng tìm hiểu xem khoa học có chỉ ra đúng bản chất của hiện thực hay không –
là người Platon chủ nghĩa. Và đó là hành động đưa khoa học từ mây xanh tự mãn trở về mặt
đất hiện thực, để sánh vai với các bạn đồng hành khác của nền văn hoá như nghệ thuật, tôn
giáo, đạo đức...trên con đường tìm hiểu tự nhiên và phục vụ con người.
Điều đó không có nghĩa chúng ta tìm cách chối bỏ khoa học, vì suy cho cùng, biết cái
không biết chính là biết vậy (Khổng Tử). Chỉ có điều các nhà khoa học nên lưu tâm rằng, họ
cũng chỉ là thày bói xem voi. Khoa học cần tự tin ở khả năng của mình, nhưng cũng nên tin vào
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 45
khả năng của nghệ thuật hay tôn giáo, vì cái thới xung đột giữa các thành tố văn hoá đã qua từ
khá lâu rồi. Cuối thế kỷ trước, dưới ánh sáng lý thuyết tiến hoá hiện đại hoá, ta đã hiểu cái gì
hợp lý thì tồn tại và cái gì tồn tại thì hợp lý. Nay ta hiểu thêm rằng, không thể có chân lý tuyệt
đối, mà chỉ có những chân lý tương đối tồn tại bình đẳng trước sự huyền diệu khôn cùng của
hiện thực.
Trên đôi hài ngàn dặm của khoa học, chỉ trong một thế kỷ, nhân loại đã tiến bước thật
dài trên con đường nhận thức, đến mức tự cho phép đặt ra những câu hỏi về ngồn gốc tối hậu
của vũ trụ và con người. Nhưng không nên quên rằng, sự e lệ thánh thiện của cô gái tự nhiên
luôn chiến thắng cặp mắt đa tình của chàng trai nhận thức. Có thể chúng ta sẽ không bao giờ
biết tại sao vũ trụ lại sinh thành, tại sao mặt trời lại toả sáng. Và cũng như thế, tại sao tiến hót
chú hoạ mi lảnh lót nhường kia, tại sao làm thân con gái chớ nghe đàn bầu? Tại sao Truyện
Kiều xoa dịu hồn ta, tại sao bản thánh kinh khiến lòng ta yên tĩnh? Và tại sao con tim trong lồng
ngực kia, bỗng đập lên những nhịp đập thật êm, thật yêu thương thật khẽ khàng và đau đớn?...

2.4 Nhật Bản khác ta như thế nào?
Nước ta có 85 triệu người, đứng thứ 13 trong 200 nước trên thế giới, nếu kể cả Việt
kiều là 88 triệu người. Theo tài liệu thì vào tháng 07-2007 dự kiến nước ta có 85.403.000
người! Như vậy chắc chắn không phải là nước nhỏ. Chúng ta có một lịch sử hàng nghìn năm
dựng nước và giữ nước, đã đánh bại chiến tranh xâm lược của hầu hết các cường quốc trên
thế giới. Chắc chắn không phải là nước yếu. Thế hệ trẻ Việt Nam vứt vào môi trường Đại
học nào ở nước ngoài đều học giỏi và rất nhiều người gốc Việt đang giữ các trọng trách tại
các Trung tâm khoa học và công nghệ tiên tiến ở các nước phát triển . Chắc chắn trí tuệ dân
mình chẳng chịu thua ai khi có điều kiện phát huy.



Nhưng chúng ta là nước nghèo và kém phát triển so với rất nhiều nước trên thế giới.
GDP bình quân đầu người chỉ được có khoảng 640 USD (!). Mỗi năm hiện nay bình quân còn
phải trả nợ 2 tỷ USD và càng ngày càng nhiều hơn nữa (!)
Do điều kiện công tác tôi có nhiều dịp sang Nhật Bản và lần nào tôi cũng không thể
không tự hỏi: Vì sao nước Nhật có thể phát triển nhanh đến như vậy ?
Nước Nhật rộng gần 378 nghìn km2 , không hơn ta bao nhiêu (Việt Nam gần 330 nghìn
km2) nhưng Nhật Bản gồm tới khoảng 6800 hòn đảo, trong đó chỉ có 5 đảo lớn, hơn nữa có tới
67% lãnh thổ là...núi! Đất trồng trọt thường xuyên chỉ chiếm 0,9% diện tích (!). Tỷ lệ này ở
nước ta là 6,93% .Chúng ta không nghèo vì đất.
Nước Nhật có tới khoảng 80 núi lửa hoạt động (10% tổng số núi lửa hoạt động trên thế
giới ). Nhật lại là nước có cấu tạo địa tầng không ổn định nên rất hay động đất. Các trận động
đất lớn là: năm 1923 làm khoảng 90 nghìn người chết và 100 nghìn người bị thương, năm 1995
làm chết 6 nghìn người và 40 nghìn người bị thương... Trung bình mỗi năm Nhật có 4 cơn bão
đổ vào và có lần sóng thần đổ vào Okushiri đã làm cho 230 người chết và bị thương. Ta không
có những hoàn cảnh khó khăn như vậy .
Chữ Nhật khó đọc và khó học vì bên cạnh chữ phiên âm lại còn có tới 5 vạn chữ Hán
(Kanji) viết nguyên dạng, mỗi người dân tối thiểu cũng phải thuộc 1945 chữ Hán (!). Lại còn
chữ mềm (Hiragana) dùng để ghép âm tiếng Nhật , chữ cứng (Katakana) dùng để phiên âm
tiếng nước ngoài. Chữ Quốc ngữ của ta đâu có khó như thế, người dân học 3 tháng đã đủ thoát
nạn mù chữ !
Nước Nhật là một quốc gia đất chật, người đông và hầu như có rất ít tài nguyên thiên
nhiên. Dân số Nhật Bản là 127,46 triệu người (2006), đứng hàng thứ 7 trên thế giới , vậy mà vì
diện tích nhỏ bé, lại nhiều núi non cho nên tuy theo lý thuyết thì bình quân mật độ dân cư là
335 người/km2 nhưng thực tế các khu dân cư có mật độ dân số rất cao. Người Nhật phải dành
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 46
một nguồn ngoại tệ rất lớn (năm 2005 là 451,1 tỷ USD f.o.b.) để nhập khẩu nhiên liệu, kim
loại, lương thực, thực phẩm... Nước ta có mật độ dân cư thấp hơn nhiều, là nước đứng thứ hai
về xuất khẩu gạo, đứng thứ bậc cao trong xuất khẩu hải sản và nhiều sản phẩm cây công
nghiệp (cà phê, điều, tiêu, cao su...), có nguồn dầu thô , khí thiên nhiên cùng nhiều khoáng sản
quý giá khác đang được khai thác và còn có lượng dự trữ không nhỏ.
Nước Nhật phải đối đầu với tình trạng ô nhiễm hết sức nghiêm trọng . Mặc dầu Bộ
luật Môi trường công bố năm 1967 đã làm giảm thiểu đi rõ rệt các bệnh có nguồn gốc từ các
nhà máy (như bệnh hen suyễn do khí thải của công nghiệp lọc dầu, bệnh Mizumata do ô nhiễm
thủy ngân, bệnh Itai-Itai do ô nhiễm cadmium...) nhưng đến nay vẫn chưa thể khắc phục được
ô nhiễm từ các đám mây quang hóa, từ thủy triều đỏ (do sinh vật phù du phát triển quá mạnh
khi tiếp nhận nhiều N và P trong nước thải) dẫn đến làm hạn chế sản lượng hải sản, các ô
nhiễm do mưa acid gây thiệt hại cho mùa màng...
Vậy yếu tố nào làm cho nước Nhật nhanh chóng vươn lên từ đống tro tàn sau thế chiến
II và hiện đã trở thành một quốc gia có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới?
Nhiều người Nhật nói với tôi: nguyên nhân chính là do đạt tới trình độ kỹ thuật cao nhờ
trí thông minh và tinh thần lao động cần cù, nghiêm túc. Tôi cũng tin là như vậy.
Trong khi nhiều cường quốc lao vào công cuộc chạy đua vũ trang thì nước Nhật tập
trung vào phát triển kinh tế. Độ độc lập ngoại thương (căn cứ vào tỷ lệ giữa tổng lượng mậu
dịch (xuất nhập khẩu) trên tổng thu nhập quốc gia. Chỉ số này năm 1955 đã đạt tới 10%, nhưng
từ năm 1955 đã tăng lên đến 20% và từ năm 1958 đến nay luôn giữ được ở mức 22-23%. Không
có nước thứ hai nào trên thế giới đạt đến mức tăng trưởng như vậy. Năm 1960 GNP của Nhật
chiếm 2,8% tổng sản lượng của thế giới, nhưng đến năm 1980 tỷ lệ này đã tăng lên đến 10,1%
.GDP (tính theo PPP) của Nhật năm 2005 là 3 914 nghìn tỷ USD, trong khi GDP (tính theo PPP)
của nước ta năm 2005 là 253,2 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu của Nhật (f.o.b.)năm 2005 là
550,5 tỷ USD, trong khi của Việt Nam (f.o.b.)năm 2005 là 32,23 tỷ USD . Con đường công
nghiệp hóa của Nhật phản ảnh rõ


nét trong việc thu hẹp lại tỷ lệ nông dân. Nếu như năm 1960 còn có 26,8% dân số thuộc khu
vực sản xuất nông nghiệp thì đến năm 1992 tỷ lệ này chỉ còn 5,5%. Diện tích canh tác thu hẹp
lại rất nhiều nhưng nhờ có cải tiến kỹ thuật mà năng suất nông nghiệp lại tăng rất nhanh. Dù
sao thì nước Nhật đã chọn con đường không cần tự túc lương thực , thực phẩm mà đầu tư vào
các ngành công nghiệp, trong đó có Công nghệ sinh học. Tôi không chỉ được đến làm việc tại
những trung tâm Công nghệ sinh học cấp quốc gia hết sức hiện đại như NITE, RIKEN...mà
còn vô cùng ngạc nhiên khi tiếp cận với các trung tâm Công nghệ sinh học dược phẩm của tư
nhân với quy mô đầu tư và hiệu quả lớn hơn rất nhiều. Sản phẩm nông nghiệp dùng làm
nguyên liệu để lên men các chủng vi sinh vật mang gen tái tổ hợp nhằm chế tạo ra dược phẩm
thì giá trị tăng lên không hiểu là hàng nghìn hay hàng vạn lần? Chắc là còn cao hơn nữa rất
nhiều (!)
Có thể nói dân chúng Nhật có cuộc sống rất sung túc khi GDP bình quân tính theo đầu
người đã đạt đến 30 700 USD (2005) đứng thứ nhì thế giới. Tuổi thọ bình quân của người
Nhật đứng vào hàng cao nhất thế giới (sau 60 năm mà tuổi thọ bình quân cả nam lẫn nữ đều
tăng thêm ...30 tuổi (!).Tuổi thọ bình quân hiện nay với nam là 77,96, với nữ là 84,7 (2006) .
Sự tiến triển vượt bậc về trình độ khoa học và công nghệ không thể tách rời với các
thành tựu về giáo dục. Giáo dục bắt buộc với bậc Tiểu học (6 năm) và Cấp II- gọi là Trung
học (3 năm). Có thể học tiếp lên cấp III- gọi là Cao học (3 năm) hoặc vào thẳng các Trường
chuyên nghiệp (5 năm). Gần 100% học sinh Nhật học tiếp cấp III sau đó nếu muốn chuyển
sang Trường chuyên nghiệp chỉ cần học thêm 2 năm. Bậc học sau cấp III là Đại học (thường là
4 năm nhưng có trường chỉ 2 năm), bậc học mà ta gọi là Cao học thì Nhật gọi là Tu học. Sau
bậc Thạc sĩ là bậc Tiến sĩ với trình độ tương đương với đẳng cấp quốc tế. Còn có các Trường
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 47
dạy nghề (chỉ học 1 năm) và các Trường đặc biệt dành cho người khuyết tật. Ai cũng được
học hành nhưng không phải ai cũng đổ xô vào việc có bằng được mảnh bằng Đại học. Có
khoảng 48-50% học sinh cấp III vào học các Trường Đại học. Số còn lại chuyển sang học
nghề và có tiền đồ cũng rất sáng sủa. Đã thi đỗ vào Đại học thi hầu như không có sinh viên nào
không tốt nghiệp. Điều kiện nghiên cứu khoa học của thầy và trò ở các Trường Đại học là rất
tốt.
Sự phát triển của giáo dục và khoa học- công nghệ ở Nhật được phản ánh một phần
trên các giải Nobel. Có thể kể đến các giải Nobel dành cho các nhà khoa học Nhật Bản như
Yukawa Hideki (Vật lý, 1949), Tomonaga Shin’ichiro (Vật lý, 1965), Esaki Reona (Vật lý,1973),
Fukui Ken’Ichi (Hóa học, 1981), Tonegawa Susumu (Y học, 1987), Shirakawa Hideki (Hóa học,
2000), Noyori Ryoji (Hóa học, 2001), Masatoshi Koshiba (Vật lý, 2002), Koichi Tanaka (Hóa
học, 2002). Trong Văn học có Kawabata Yasunari (1968), Oe Kenzaburo (1994). Ngoài ra còn có
Nobel Hòa bình dành cho Thủ tướng Sato Eisaku (1974)...
Người Nhật chủ yếu làm việc trong các Công ty tư nhân. các Công ty này có truyền
thống là tuyển dụng suốt đời và tạo được tâm lý Công ty là nhà của mình. Người Nhật nổi
tiếng là làm việc nhiều . Tuy theo Luật lao động quy định mỗi tuần chỉ làm 5 ngày, mỗi ngày
làm 8 tiếng nhưng giờ lao động ở Nhật thật sự là những giờ lao động nghiêm túc với kỷ luật
rất tự giác.
Quan sát xã hội Nhật Bản, dù không được sâu sắc, nhưng theo tôi điều đáng học là việc
tạo được điều kiện cho mọi người phát huy được hết năng lực của mình. Không có chuyện
tiền lương không đủ sống nên đầu óc không tập trung hết mình vào trách nhiệm được giao như
chuyện rất phổ biến ở nước ta. Tiền lương và tiền thưởng vừa theo thâm niên vừa theo năng
lực và hiệu quả. Điều ấy làm cho ai nấy đều thấy cần gắn mình vào với Công ty hay đơn vị
công tác và luôn tìm cách để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc được giao. Quản lý tài
chính không quá phức tạp .Hầu như mọi thứ cần mua đều có ở các siêu thị (và các cửa hàng
nhỏ phục vụ suốt ngày đêm). Tiêu pha chủ yếu bằng thẻ tín dụng, mua gì cũng được tính tiền
(và thuế) qua máy tính nên khó có thể gian lận thương mại . Các cửa hàng khác hầu như chỉ là
cửa hàng ăn và may mặc (vì ý thích của mọi người quá đa dạng).
Điều dễ thấy là lương công chức rất cao vì bộ máy hành chính rất gọn nhẹ. Một nước
phát


triển và đông dân như nước Nhật Bản mà chỉ có 9 bộ (!): bộ Tư pháp, bộ Ngoại giao, bộ Tài
chính, bộ Giáo dục-Văn hóa-Khoa học (!), bộ Y tế- Phúc lợi, bộ Nông- lâm- ngư nghiệp, bộ
Công nghiệp - Thương mại, bộ Quốc thổ-Giao thông, bộ Môi trường. Ngoài ra Thủ tướng chỉ
còn bổ nhiệm thêm Bộ trưởng Tổng vụ, Bộ trưởng Ngân hàng, Trưởng ban Tổ chức Chính
phủ, Chủ tịch Ủy ban Công an quốc gia ,Tổng tư lệnh Cục phòng vệ, Cục trưởng cục Khoa
học -Kỹ thuật, Cục trưởng cục Kinh tế -Tài chính, Cục trưởng cục Cải cách hành chính.
Tôi đã có dịp giao thiệp với người phụ trách lĩnh vực Công nghệ sinh học trong Bộ
Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản. Tôi không ngờ được ở vị trí quan trọng như vậy mà
lại là một người còn rất trẻ, và tất nhiên là rất thạo chuyên môn. Làm việc với chuyên gia Nhật
Bản phải theo một lịch trình chính xác hết sức về giờ giấc và thường với cường độ khá căng
thẳng. Hiệu quả cao của công việc tất yếu phải lĩnh lương cao. Nhiều người cho rằng nước ta
hiện nay có tình trạng không làm việc thật sự nên không có lương thật sự. Tôi nghĩ rằng muốn
có lương thật sự thì phải rà soát lại từng cương vị và trách nhiệm công tác của mỗi người để
không phải gánh mãi một biên chế quá khổng lồ và rất kém hiệu quả như hiện nay. Nghe nói
ngày xưa ở nước ta bình quân 3000 người mới có một người ăn cơm Vua (!). Nếu theo tỷ lệ
này thì nhẽ ra hiện nay số người ăn lương của Chính phủ không được quá 28 000 người (!).
Không hiểu số người thuộc biên chế ăn lương của ngân sách trong cả nước hiện nay là gấp
bao nhiêu lần so với con số này? Số người hưởng lương và phụ cấp ngay ở một xã hiện nay
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 48
cũng thường không dưới vài chục người (!), hiện nay cấp Thôn cũng đang đòi hỏi phải có
lương hay phụ cấp cho cán bộ. Số tiền cho từng người thực tế chả đáng là bao, nhưng cộng lại
tất cả xã, phường, thôn buôn thì số tiền lại là hết sức lớn.
Người ta đã tổng kết: Muốn làm giàu trước hết phải làm đường. Giao thông ở Nhật
phát triển ở mức độ rất cao nên đã góp phần rất lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội.
Nhật Bản hiện có 173 sân bay, 23 577 km đường sắt (trong đó có 16 519km đường dành cho xe
chạy bằng điện), 1 177 278 km đường bộ, đường thủy với 683 tầu biển (1000 GRT hay lớn
hơn nữa) và rất nhiều tầu nhỏ hơn. Việt Nam có 23 sân bay nhưng chỉ có 2 sân bay quốc tế, chỉ
mới có 2 600 km đường sắt (chưa có đường sắt cao tốc và chưa có đường tàu điện ngầm), 215
628 km đường bộ (chưa có đường cao tốc theo đúng nghĩa).
Chúng ta đã xem phim Oshin và thấy rõ sau chiến thanh thế giới (1945) nền kinh tế
Nhật Bản bị tàn phá kiệt quệ đến mức nào. Vậy mà chỉ đến năm 1954 kinh tế Nhật Bản đã
nhanh chóng phục hồi và sau đó là thời kỳ phát triển cao độ (1955-1973). Từ 1974 đến nay tuy
tốc độ phát triển có chậm hơn nhưng mọi mặt kinh tế- công nghiệp- tài chính- thương mại-
dịch vụ- khoa học- kỹ thuật đều được đánh giá là ở mức đứng thứ nhì trên thế giới (chỉ sau
Hoa Kỳ) và với dự trữ ngoại tệ đứng vào hàng đầu thế giới. Ngày xưa Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh đã chủ trương phong trào Đông Du- hướng tới Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm.
Ngày nay với xu thế hội nhập thế giới nhẽ nào chúng ta không bình tĩnh và khiêm tốn nhìn lại
những bài học kinh nghiệm mà Nhật Bản đã thu được trong 60 năm qua. Với nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú hơn, với điều kiện địa lý ít thiên tai bất khả kháng (núi lửa, động đất),
với bản chất của một dân tộc không thua kém gì về trí tuệ, về tính cần cù lao động và chịu
thương , chịu khó...chúng ta nhẽ nào không thể không có được những bước tiến nhảy vọt nếu
như chúng ta biết đi ngay vào các mũi nhọn của khoa học và công nghệ , biết thực hiện cải
cách hành chính để phát huy cao nhất tiềm lực của thiên nhiên và năng lực của toàn dân tộc ?
Mong sao có một cuộc thảo luận hết sức dân chủ và thẳng thắn: Chúng ta thua kém
Nhật Bản ở những mặt nào và vì lý do gì?

3. Trí tuệ và tri thức

3.1 Giá trị của tri thức
“Tri thức, bao gồm cả tri thức về phát triển là hàng hoa công cộng toan câu” (J.Stiglitz),
́ ̀ ̀


nhưng cac quốc gia giau có đang sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để ngăn cản sự truyền bá tri
́ ̀
thức
cho sự phát triển chung cứu thế giới. Nêu tri thức sớm được công nhận là hang hoá công cộng
́ ̀
toàn chữ sẽ đáp ứng yêu cầu cua một nên kinh tế tri thức toàn câu hoá.
̉ ̀ ̀
Chung ta từ lâu đã quen với châm ngôn "Tri thức là sức mạnh, nhưng vân chưa thế quen
́ ̃
với "Giá của tri thức" mặc dù đều hiểu rằng tri thức nói chung có giá trị rất lớn. Nói giá của tri
thức là ý muốn nói đến giá trị trao đổi của tri thức để tiện việc mua, bán tri thức trên thị
trường. Bởi vì ngày nay tri thức đã trở thành nguồn lực chủ yếu, hàng đầu của sản xuất, nếu
không tính được giá của tri thức một cách khoa học, rõ ràng thì thị trường không thoát được rối
ren to. Năm nào cũng có một, hai nhà kinh tế đoạt giải Nobel về kinh tế, nhưng cho đến đâu ̀
thế kỷ 21 này vẫn chưa có thiên tài kinh tế nào tinh được rành mạch giá của tri thức. Giới kinh
́
tế học, kể cả các bậc hàng đầu thế giới về lĩnh vực này, ngẩn ngơ cả ra, và "Hội thảo bao
phen đều tắc tị, mô hình đủ kiểu vân mơ hồ”.
̃
Trước khi trở lại bế tắc trên đây xin có vài nhận xét về loại hàng hoá tri thức kỳ lạ này.
Thông thường người ta đều hiểu tri thức là hiểu biết của con người về sự vật, hiện tượng của
tự nhiên hoặc xã hội. Nhờ có tri thức nên con người biết lao động, khác hẳn với tất cả các
động vật khác. Mỗi sản phẩm của lao động sản xuất đều là kết quả vật hoá của tri thức.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 49
Có ba nguồn để tiếp nhận tri thức. Một là tiếp thu các tri thức của tổ tiên truyền lại, từ
sách vở, từ các nguồn truyền bá tri thức các nơi khác v.v... Hai là từ các thực nghiệm khoa học
có được các dữ liệu, thông tin rồi đùng tư duy nhận thức xử lý chúng để đạt được các tri thức
mới. Ba là suy luận lý thuyết từ các tri thức đã có để đạt được các tri thức sáng tạo. Ngày nay
nhờ mạng Intemet, mạng viễn thông toàn cầu, những tri thức mới được tiếp nhận vô cùng
phong phú và nhanh chóng với khối lượng cực lớn so với trước đây và ngày càng tăng.
Có hai loại tri thức là tri thức hiện đai và tri thức ẩn. Tri thức hiện là loại tri thức có thể
̣
mô tả bằng văn bản, bằng hình vẽ, âm thanh, nghĩa là có thể truyền bá nhanh chóng trong điều
kiên ngày nay. Tri thức ẩn thường phong phú và đa dạng nhưng nó không mô tả được bằng văn
̣
bản, hình vẽ, âm thanh mà chỉ có thể diễn tả trực tiếp bằng hành động và thao tác của chính
người sở hữu nó, ví dụ như các nghệ nhân, các thợ có tay nghề cao v.v. . . Như vậy tri thức ẩn
tồn tại ở trong bộ não của chủ nhân, không thể truyền đi xa được, chỉ có thể truyền cho người
đến học bằng kiểu bắt chước hoặc "cầm tay chỉ việc”.
Từ ngày máy tính điện tử (con gọi là máy điện toán, ở Pháp gọi là bộ não điện tử) ra đời
̀
khoảng giữa thế kỷ 20, nhân loại giao ngay cho nó một số chức năng trí tuệ như: biết nhớ lâu,
biết tính toán, biết thực hiện theo lệnh….
Nhờ đó, nhất là từ sau khi có mạng Intemet, tri thức được sản sinh ra rất nhanh, rất
nhiều và ngày càng siêu việt, đồng thời các tri thức mới sáng tạo ra được lan truyền rất nhanh
chóng. Cũng từ đó nhân loại có bước tiến nhảy vọt trong sản xuất: Hiệu quả tăng hàng chục
thậm chí hàng trăm lần so với trước, chất lượng cao không thể chê được mà lại rất rẻ. Nhân
loại đã tiến vào loại hình kinh tế mới, gọi là kinh tế tri thức, một loại hình kinh tế chưa từng
có vì nó là loại hình kinh tế không khan hiếm. Chỉ một nước Trung Quốc có thể sản xuất quần
áo, giầy dép, đồ chơi trẻ em đủ để cung cấp cho toàn cầu.
Thông thường nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế học thường xem xét
các nhân tố quan trọng nhất quyết định cho phát triển kinh tế, thể hiện trong tăng trưởng của
tổng sản phẩm quốc dân (GNP).
Trong thời kỳ kinh tế công nghiệp, tức là làn sóng thứ hai theo nhà tương lai học nổi
tiếng người Mỹ Alvin Tofler, sự phát triển kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản chỉ quyết định bởi
hai nhân tố là vốn hay tư bản và lao động, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và luôn luôn là
kinh tế khan hiếm.
Từ nửa cuối thế kỷ 20, loài người đã bắt đầu từ bỏ làn sóng thứ hai với kinh tế công
nghiệp cổ điển và chủ nhân của nó, cũng theo ông Alvin Toner, để tiến vào làn sóng thứ ba với
nền kinh


tế mới, kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế mới này, những nhân tố quyết định phát triển lại
gồm:
nhân tố tri thức; nhân tố vốn (tư bản), nhân tố lao động; và nhân tố vốn con người. Trong bốn
nhân tố này thì tri thức có vai trò hàng đầu bao gồm cả thông tin, tri thức khoa học và công
nghệ, nhất là tri thức về công nghệ cao, tri thức về quá trình sản xuất, tri thức về xã hội và
vốn xã hội, về tổ chức và vốn tổ chức. Nhân tố vốn hay tư bản trước đây đứng hàng thứ nhất,
bây giờ chỉ đứng thứ hai, bao gồm tiền và tài sản dùng để mua trang thiết bị, vật tư, công nghệ,
lao động và các nhu cầu khác cho sản xuất. Trong nhân tố này cũng cần các tri thức về quản lý
tư bản sao cho việc sử dụng có hiệu quả.
Nhân tố thứ ba là lao động bao gồm chất lượng và số lượng lao động, số lượng thường
giảm mạnh để chuyển sang dịch vụ nhưng chất lượng lao động thì đòi hỏi ngày càng cao, cụ
thể là tay nghề và trình độ nghề nghiệp phải được rèn luyện ngày càng siêu. Muốn vậy thì lao
động phải thường xuyên được tiếp nhận tri thức tay nghề và nghề nghiệp. Nhân tố thứ tư là
vốn con người. Vốn con người thường được tính bằng số người có tuổi từ 15 tuổi đến 65 tuổi
đem nhân với số năm mà mỗi người được học ở nhà trường. Vốn con người có ý nghĩa quan
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 50
trọng cho việc bổ sung lao động mới đạt trình độ ngày càng cao, tay nghề ngày càng thuần
thục, tiếp thu được nhanh các tri thức mới đem sử dụng trong sản xuất.
Như vậy mức độ tăng trưởng của kinh tế một quốc gia trong một năm sẽ là tổng đóng
góp của tăng trưởng bốn nhân tố nói trên cũng trong năm đó. Thế nhưng mức gia tăng trong một
năm tính được thành tiền chỉ là 2 nhân tố tư bản và lao động, còn mức gia tăng của tri thức và
vốn con người trong năm thì chỉ mô tả được mà không tính được thành tiền một cách khoa học,
rõ ràng, nếu có tính ra thì chỉ là áp đặt, không logic.
Vì khó khăn trên đây, người ta cho rằng muốn tính được giá của tri thức một cách khoa
học thì phải nghiên cứu sâu sắc những tính chất đặc thù của loại sản phẩm này. Trước hết
người ta phải làm rõ những tính chất điển hình về mặt kinh tế xã hội của hàng hoá bình
thường. Trong thị trường, hàng hoá bình thường bao giờ cũng có ba đặc tính. Đó là: Tính đối
kháng, tính loại trừ, tính chất giá biên tế cao hơn giá bình thường. Ví dụ xét một ngôi nhà, nếu
có hai người cùng muốn mua ngôi nhà đó thì cuối cùng chỉ một người mua được mà thôi, nghĩa
là giữa hai khách hàng luôn có sự đối kháng nhau tranh mua. Khi một người đã mua được thì
người đó có quyền sở hữu bao gồm quyền sử dụng ngôi nhà đó. Một người khác sẽ bị loại trừ
việc sử dụng ngôi nhà đó. Để làm thêm vài chiếc ô tô sau khi dây chuyền đã hoàn thành trọn
vẹn số ô tô phải lắp ráp trong một ca thì tất nhiên mấy chiếc ô tô làm thêm này đòi hỏi chi phí
cao hơn, do đó giá cũng cao hơn. Giá của những sản phẩm làm thêm này gọi là giá biên tế. Và
chúng ta thấy ngay rằng đối với hàng hoá thông thường giá biên tế cao hơn là hợp lý.
Ngược hẳn 180 độ so với sản phẩm thông thường, các sản phẩm tri thức hoàn toàn
không có ba tinh chất đặc thù nói trên, nghĩa là hàng hoá tri thức không có tính đối kháng, tính
́
loại trừ và giá biên tế rất thấp. Có thể coi như bằng không. Để làm sáng tỏ ta hãy xét một phần
mềm máy tính, đó là một sản phẩm tri thức điển hình. Giả dụ công ty phần mềm tổ chức
nghiên cứu và sản xuất một phần mềm máy tính đang có nhu cầu lớn. Tập hợp nhiều chuyên
gia giỏi được trả lương cao, một thời gian sau thì hoàn thành, đem thử nghiệm nhiều lần để
hoàn chỉnh và đưa vào sản xuất đợt đầu hơn 1 triệu bộ phần mềm nay và đưa vào thị trường.
̀
Tất cả mọi chi phí mà công ty bỏ ra khoang 10 triệu USD, giá bán một bộ phần mềm này dự
̉
kiến là 200 USD. Chỉ vài tháng sau các bộ phần mềm được tiêu thụ hết, công ty thu về khoảng
200 triệu USD với vốn bỏ ra là 10 triệu USD, nghĩa là lãi khoảng 20 lần vốn. Ở đây không có
đối kháng vì ai cũng mua được một bộ phần mềm như nhau, cũng không có loại trừ vì ai cũng
được sử đụng một bộ phần mềm như nhau, giá biên tế thì coi như bằng không vì đem bộ phần
mềm này đi nhân bản thì có ngay bộ mới với chi phí rất nhỏ hầu như không đáng gì. Bên cạnh
sự khác biệt hăn với hàng hoá thông thường trên đây còn nổi bật lên câu hỏi vì sao công ty lãi to
̉
như thế Câu trả lời vẫn là vì chưa tính được chính xác giá của tri thức, ở đây có thể là tiền trả
công cho các chuyên gia giỏi này tuy cao nhưng chưa đủ và


cũng có thể là giá bán bộ phần mềm này là giá đặc quyền.
Vì những đặc điểm trên đây nên nhà kinh tế học nổi tiếng đã nhận giải Nobel J.Stiglitz
đưa ra quan điểm cho rằng: "Tri thức, bao gồm cả tri thức về phát triển là hàng hoá công cộng
toàn cầu (global public goods)" (Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ 21, NXB chính trị Quốc
gia, H.2000, tr.83). Hàng hoá công cộng toàn cầu có nghĩa là Liên Hiệp Quốc (hoặc Ngân hàng
thế giới WB) phải được chuyển nhượng các tri thức sáng tạo hoặc đầu tư để sản xuất ra
chúng, sau đó cung cấp miễn phí cho toàn cầu sử dụng. Như vậy vừa đảm bảo được quyền lợi
của người sáng tạo vừa truyền bá được nhanh. Tất nhiên các thành viên LHQ mà trước hết là
các nước giàu phải góp vốn để các tổ chức này có thể thực hiện được. Hiện nay, rất đáng tiếc,
những nước giàu vẫn chưa chịu xét sản phẩm tri thức là hàng hoá công cộng toàn cầu mà vẫn
dùng gọng kìm của quyền sở hữu trí tuệ để xiết các nước nghèo. Chính J.Stiglitz, vốn là
Trưởng kinh tế gia của Ngân hàng thế giới, cũng rất lo ngại rằng áp lực quá đáng của quyền
sở hữu sở hữu trí tuệ sẽ ngăn cản sự truyền bá tri thức cho sự phát triển chung của thế giới.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 51
Cơ chế và quan hệ sản xuất cũ rõ ràng là không phù hợp với trình độ và tính chất của
lực lượng sản xuất mới dựa chủ yếu trên tri thức. Mâu thuẫn này chỉ có thể giải được băng cơ
̀
chế và quan hệ sản xuất hoàn toàn mới. Hy vọng rằng tri thức sẽ sớm được công nhận là hàng
hoá công cộng toàn cầu đáp ứng những yêu cầu của một nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá.

3.2 Nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri thức
Vào lúc sắp vượt qua thời đại kinh tế công nghiệp, người ta ngày càng cảm thấy mình
dường như sống trong đủ loại khủng hoảng: khủng hoảng sinh thái, khủng hoảng dân số,
khủng hoảng tinh thần...Trong tầm nhìn triết học, những khủng hoảng này chỉ thể hiện cùng
một loại khủng hoảng, đó là "khủng hoảng sinh tồn" của con người và những thứ khủng
hoảng dẫn phát từ đó, trong đó con người cảm thấy mất đi giá trị và ý nghĩa tồn tại của tình
trạng sinh tồn của mình, cũng tức là "khủng hoảng nhân cách". Làm thế nào thoát khỏi khủng
hoảng? Loài người hướng cái nhìn của mình về thời đại kinh tế tri thức sắp tới. Trong thời đại
kinh tế tri thức, loài người có thể thoát khỏi sự khốn nhiễu của "khủng hoảng nhân cách"
không, và người ta cần có những tố chất nhân cách nào? Đây là vấn đề trọng đại đặt ra trước
chúng ta.

3.2.1 Xác định triết học về nhân cách
Từ "nhân cách" bắt nguồn từ tiếng Latinh "Persona", nguyên ý là chỉ "mặt nạ", bắt đầu
từ sự sùng bái totem và sùng bái tổ tiên của người nguyên thuỷ. Người sau mở rộng từ "nhân
cách", liền xuất hiện rất nhiều định nghĩa và lý luận về nhân cách. Khái quát từ giác độ triết
học, nhân cách là biểu hiện tập trung của tính chủ thể của con người ở chủ thể. Con người chỉ
với tính cách là chủ thể hoạt động mới có nhân cách, con người chỉ có nhân cách độc lập mới
có thể trở thành chủ thể đích thực. Xét theo ý nghĩa này, con người muốn có nhân cách độc lập
thực sự, cần giữ tính tự chủ, tính năng động và tính sáng tạo của mình trong quan hệ với đối
tượng.
Nhân cách cụ thể đều là hiện thực và biểu hiện ra thông qua cá thể. Marx nhấn mạnh:
"tiền đề thứ nhất của bất kỳ lịch sử loài người nào rõ ràng cũng là sự tồn tại của cá thể có sinh
mệnh". Cá nhân không chỉ là "tiền đề" của lịch sử loài người, thậm chí còn là mục đích của sự
phát triển lịch sử, "lịch sử xã hội của người ta trước sau chỉ là lịch sử sự phát triển cá thể của
họ". Do vậy, nếu không xét đến cá thể, nhân cách chẳng qua sẽ chỉ là "cái chung hư ảo". Nhìn
từ quan hệ giữa con người và hoạt động giá trị, nhân cách biểu hiện tính chủ thể của con
người. Chủ thể vừa có thể là cá nhân (chủ thể cá thể), quần thể (chủ thể tập thể), xã hội (chủ
thể xã hội), cũng có thể là loài người (chủ thể loài). Nhưng hình thức của chủ thể tuy có thể đa
dạng, nhưng cơ sở hoạt động của chủ thể lại chỉ có thể là con người cá thể, bởi tính năng cần
thiết của hoạt động của loài người, xã hội, quần thể với tính cách là chủ thể chỉ có tính trực
tiếp khi thể hiện ở cá thể có sinh mệnh, và
chỉ có thông qua hành động của cá thể người có sinh mệnh mới có thể có được tính hiện thực.


Khẳng định nhân cách chỉ có thể là cá thể, tuyệt nhiên không phủ nhận tính chất xã hội
có ở nhân cách cá thể. Bản chất của nhân cách chỉ có thể đạt được tính quy định hợp lý của nó
từ trong xã hội, bởi cá thể chỉ có sinh mệnh thôi thì chỉ là cá thể sinh vật, dù là người cũng chỉ
là một thực thể không có tính quy định - mọi tính quy định người của nó chỉ có thể lấy từ xã
hội. Nhân cách cụ thể vừa do các nhân tố cụ thể như điều kiện sản xuất, môi trường xã hội và
giáo dục văn hoá hun đúc nên, vừa phản ánh trầm tích của văn hoá truyền thống và đặc trưng
bên trong, định hướng giá trị của chủ thể, đồng thời còn thông qua các hiện tượng như mô hình
hành vi bên ngoài, cụ thể cảm tính để biểu hiện ra. Do vậy, nói chung, một khi hình thành, một
nhân cách nhất định trước hết có tính ổn định tương đối, trong những điều kiện khác nhau vẫn
thể hiện ra đặc trưng nhân cách tương đối ổn định. Thí dụ người có ý chí kiên cường, đứng
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 52
trước mọi thứ khó khăn đều không dễ dao động; người tự tư tự lợi thì trong các tình cảnh sống
luôn tính toán được mất. Nhưng tính ổn định tương đối của nhân cách tuyệt nhiên không gạt bỏ
tính khả biến của nó. Giống như mọi sự vật đều không phải là tuyệt đối bất biến, trong hoạt
động có tính đối tượng đang phát triển, sự vật mới, môi trường mới, quan niệm mới luôn cảm
nhiễm, hun đúc, tác động tới chủ thể hoạt động và dần dà hoà vào, nội hoá thành trạng thái tâm
lý của chủ thể, dần dà lọc thải nhân cách cũ, xây dựng nhân cách mới.

3.2.2 Diễn biến lịch sử của nhân cách và “khủng hoảng nhân cách” trong
thời đại kinh tế công nghiệp
Khảo sát từ trong quá trình phát triển lịch sử, trạng thái nhân cách trong các thời đại
khác nhau không giống nhau. Trong thời đại kinh tế nông nghiệp, do trình độ lực lượng sản
xuất thấp, sự sinh tồn của loài người ở mức độ rất lớn được quyết định bởi sự ban tặng của
giới tự nhiên. Loài người chỉ có trực tiếp dung hoà lực lượng sinh mệnh của cá thể làm một,
xác lập mục tiêu của một cộng đồng, phục tùng một mệnh lệnh, nỗ lực theo phương hướng
yêu cầu của một quần thể, mới có thể thể hiện được bản chất và lực lượng của con người,
mới có thể phát huy được lực lượng của "loài", chiến thắng tai hoạ tự nhiên và khó khăn sinh
tồn trong trạng thái năng lực vô cùng yếu đuối. Điều đó làm cho nhân cách trong thời đại kinh
tế nông nghiệp là một thứ "nhân cách phụ thuộc" lấy quần thể làm bản vị. "Nhân cách phụ
thuộc" này một mặt làm cho tiềm năng sinh mệnh của cá nhân trong việc chống chọi với tự
nhiên có thể phát huy và tăng cường, đẩy văn minh loài người tiến lên; mặt khác lại làm cho
quần thể tiến hoá dần thành thực thể siêu cá thể, nhân cách hoá, quay trở lại trói buộc và áp
chế cá thể, cuối cùng hạn chế, thậm chí trói buộc sự sáng tạo của cá nhân. Cùng với sự phát
triển của lịch sử, "nhân cách phụ thuộc" của thời đại kinh tế nông nghiệp tất yếu bị hình thái
nhân cách mới hoàn thiện hơn thay thế.
Loài người giương cao ngọn cờ lý tính đi tới thời đại kinh tế công nghiệp. Con người
thời đại kinh tế công nghiệp ở mức độ rất lớn đã thoát khỏi sự nô dịch của giới tự nhiên, từ đó
thoát khỏi thứ quan hệ phụ thuộc nhân thân trong thời đại kinh tế nông nghiệp, đạt được sự
độc lập nhân cách. So với thời đại kinh tế nông nghiệp, nhân cách thời đại kinh tế công nghiệp
có các đặc trưng tinh thần khoa học như tôn trọng thực tế, theo đuổi chân lý, dám hoài nghi,
không ngừng tiến thủ, khoan dung mở ngỏ, chân thành vô tư, nghiêm túc, phê phán, sáng tạo cái
mới. Loại nhân cách này không những thúc đẩy mạnh mẽ sự sáng tạo, phổ cập và truyền bá tri
thức khoa học, nâng cao trí tuệ và lý trí của con người, tăng cường năng lực chống lại sự dã
man và ngu muội, hơn nữa còn có thể thông qua việc du nhập tinh thần khoa học vào xã hội,
thúc đẩy văn minh hoá phương thức hành vi xã hội, thúc đẩy việc đạo đức hoá tư tưởng và
hành vi của con người. Nhân cách vĩ đại của Copernics, Bruno, Galilei, Newton, Einstein...
không những trở thành động lực và nguồn tinh thần không bao giờ cạn kiệt thúc đẩy khoa học
phát triển, mà còn trở thành nguồn của cải quý giá của văn minh đạo đức loài người.
Nhưng nhân cách thời đại công nghiệp cũng có khiếm khuyết nghiêm trọng, đó là sự
vắng bóng tinh thần nhân văn. Người ta suy tôn quá mức lý tính mà bỏ qua sự quan tâm đến ý
nghĩa và


giá trị sinh tồn của loài người; nắm được tri thức hữu hiệu về tự nhiên nhưng đánh mất mất
cái tôi, đánh mất mất linh tính nội tại. Đúng như Schille đã nhìn thấy, cùng với sự phát triển
của kỹ thuật cơ khí, sự xác lập chế độ công xưởng, văn minh công nghiệp trói buộc con người
vào những mảnh vụn của hệ thống cơ khí, bàn xoay của máy móc làm cho con người mất đi
nhịp sống hài hoà và xúc động thanh xuân, loài người trong khi vùi đầu tìm kiếm căn cứ tri thức
và nỗ lực vơ vét từ thế giới bên ngoài, lại không quan tâm đến căn cứ của ý nghĩa cuộc sống;
đồng thời với việc giành được thắng lợi vẻ vang trước giới tự nhiên, lại trở thành tù nhân của
sức sáng tạo của mình. Có thể thấy, nhân cách thời đại kinh tế công nghiệp là một nhân cách
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 53
"đơn diện" bị vật hoá. Là biểu hiện tập trung của các tính chủ thể, như phẩm chất tâm lý, quy
phạm hành vi và mô hình vai trò ở chủ thể, thứ nhân cách này biểu hiện cụ thể ở:
+ Khi xử lý mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, kiên trì định hướng lấy
nguyên tắc "tất cả những gì kỹ thuật có thể làm thì đều cần làm", "hiệu suất và sản lượng tối
đa" làm hạt nhân, vơ vét điên cuồng từ giới tự nhiên, dẫn đến khủng hoảng sinh thái nghiêm
trọng, như mất cân bằng sinh thái, môi trường tồi tệ đi, tài nguyên cạn kiệt, hàng loạt giống
loài tuyệt diệt.
+ Đặt cá nhân lên trên hết, tự tư cực đoan, từ đó dẫn đến khủng hoảng xã hội ngày càng
nghiêm trọng như sự lạnh nhạt giữa con người, chiến tranh liên miên.
+ Đặt vật chất lên trên hết, chỉ chạy theo lợi nhuận. Con người chìm đắm vào ham
muốn vật chất, mất niềm tin, tinh thần sa sút, đạo đức suy đồi, thế giới tinh thần của loài
người xuất hiện khủng hoảng nghiêm trọng.
Sự xuất hiện khủng hoảng buộc loài người phải suy xét lại hành vi của mình, tìm kiếm
trở lại giá trị và ý nghĩa tồn tại của môi trường sinh tồn của mình. Con người ngày càng nhận
thức rõ thực chất của đủ loại khủng hoảng mà con người phải đối mặt là khủng hoảng con
người, khủng hoảng nhân cách, là khủng hoảng mà mô hình nhân cách "đơn diện" thời đại kinh
tế công nghiệp tạo ra. Chỉ có vứt bỏ thứ mô hình nhân cách "đơn diện" vật hoá này, xây dựng
một nhân cách lý tưởng, mới, có thể thúc đẩy sự phát triển hài hoà của con người, tự nhiên và
xã hội, thì loài người mới có thể cuối cùng thoát khỏi sự vây khốn của khủng hoảng sinh tồn,
thực hiện sự phát triển bền vững của văn minh.

3.2.3 Nhân cách lý tưởng trong thời đại kinh tế tri thức
Thời đại kinh tế tri thức tôn sùng vai trò và giá trị của tri thức, báo trước sự xuất hiện
của một thời đại thực sự lấy con người làm gốc. Trong thời đại kinh tế nông nghiệp và kinh tế
công nghiệp, vật chất và kim tiền cấu thành nhân tố then chốt của nó, trở thành mục tiêu giá trị
mà con người theo đuổi, đặc trưng của nó là con người sống trong đó mất đi cái tôi, trở thành
vật phụ thuộc, giá trị chủ thể bị giá trị khách thể che lấp, nhấn chìm. Trong thời đại kinh tế tri
thức, tri thức, thông tin, năng lực và nhân tài thực sự trở thành nhân tố then chốt nhất của sự
phát triển xã hội, trở thành mục tiêu giá trị mà con người theo đuổi. Tri thức là vật sáng tạo của
não người, kinh tế tri thức do theo đuổi tri thức nên thực sự hồi quy về bản thân con người.
Khi Bacon tuyên bố "tri thức là sức mạnh", dù lúc bấy giờ tri thức thực sự đã thể hiện vai trò to
lớn của nó trong phát triển xã hội, nhưng việc kinh tế tri thức trở thành nhân tố quyết định sự
phát triển kinh tế lại là việc của nửa sau thế kỷ XX về sau. Sự xuất hiện của kinh tế tri thức
có nghĩa là đoá hoa tinh thần rực rỡ cuối cùng trong tiến trình lâu dài của sự phát triển của thế
giới đã kết quả đầy đặn cho loài người, có nghĩa là tính chủ thể của con người cuối cùng đã
bước lên một giai đoạn huy hoàng, giá trị của con người trong thời đại kinh tế tri thức sẽ được
thể hiện thêm một bước, do đó kinh tế tri thức tất yếu sẽ là thời đại phát triển mạnh của chủ
thể, cũng là thời đại nhân cách với tính cách là biểu hiện tập trung của tính chủ thể ngày càng
hoàn thiện. Chúng ta có lý do để tin rằng, trong thời đại kinh tế tri thức, loài người có năng lực
bước ra khỏi sự phiền khốn của "khủng hoảng nhân cách" trong thời đại công nghiệp, từ đó
cuối cùng thoát khỏi mối đe doạ của khủng hoảng sinh tồn, thực hiện sự phát triển bền vững
của nền văn minh loài người.


Nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri thức do nguyên tắc sản xuất xã hội của thời
đại kinh tế tri thức quyết định, nó phải thể hiện yêu cầu của nguyên tắc sản xuất xã hội kinh
tế tri thức. Đồng thời, thứ nhân cách lý tưởng này cũng sẽ xúc tiến sự phát triển của xã hội
kinh tế tri thức, hai bên điều hoà lẫn nhau, thực hiện sự cộng sinh và phồn vinh chung của con
người và giới tự nhiên.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 54
Xét từ tình hình phát triển xã hội, có thể cho rằng nguyên tắc sản xuất xã hội của thời
đại kinh tế tri thức là nguyên tắc phát triển bền vững và nguyên tắc đổi mới, ứng biến linh
hoạt.
+ Nguyên tắc phát triển bền vững của xã hội. Kinh tế tri thức là nền kinh tế xúc tiến sự
phát triển hài hoà giữa con người và giới tự nhiên, kinh tế công nghiệp, dưới sự chỉ đạo của
nguyên tắc "tất cả những gì kỹ thuật có thể làm đều cần làm", đã lợi dụng một cách đơn nhất,
tối đa các nguồn tự nhiên nhằm đạt lợi nhuận tối đa mà không cân nhắc hay rất ít cân nhắc đến
hiệu ứng môi trường, hiệu ứng sinh thái. Kinh tế tri thức ra đời trong thời đại nhiều nguồn tự
nhiên hao kiệt, khủng hoảng môi trường ngày càng trầm trọng, cần dung hoà khoa học và kỹ
thuật làm một, làm cho loài người lại nhận thức được rằng giữa con người và giữa tự nhiên
tuyệt nhiên không phải là quan hệ chinh phục và bị chinh phục, cải tạo và bị cải tạo, con người
trước sau là một bộ phận của giới tự nhiên, tuyệt nhiên không độc lập với hay cao hơn các bộ
phận khác, mỗi cơ thể đều có giá trị nội tại của mình.
+ Nguyên tắc đổi mới và ứng biến linh hoạt. Trong thời đại kinh tế công nghiệp, người
ta lợi dụng kinh tế quy mô, chạy theo nguyên tắc hiệu suất tối đa đầu ra. Do sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, trong thời đại kinh tế tri thức, phương thức tư duy của người ta là đi từ
tuyệt đối tới tương đối, từ tính đơn nghĩa tới tính đa nghĩa, từ tuyến tính tới phi tuyến tính, từ
chính xác tới mơ hồ, từ tính xác lập tới tính không xác lập, từ tính khả nghịch tới tính bất khả
nghịch, từ phương pháp phân tích tới phương pháp hệ thống, từ tính định luật tới lý thuyết
trường, từ sự tách biệt thời gian không gian tới sự thống nhất thời gian không gian. Cũng có
nghĩa là, loài người cuối cùng đã đi từ sự theo đuổi sự xác định về lượng tới sự theo đuổi cải
thiện về chất. Do vậy, kinh tế tri thức dùng nguyên tắc đổi mới, ứng biến linh hoạt để chỉ đạo
phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội. Rõ ràng, tính sáng tạo của con người lại được thừa nhận trở
lại, loài người bắt đầu ứng dụng một cách tích cực, có tính sáng tạo năng lực của bản thân
mình.
Hai nguyên tắc sản xuất lớn của xã hội kinh tế tri thức đã buộc thời đại kinh tế tri thức
phải hun đúc một mô hình nhân cách lý tưởng vừa tôn sùng lý tính chí thượng, vừa tràn đầy sự
quan tâm nhân văn, tinh thần khoa học và tinh thần nhân văn giao hoà lẫn nhau. Mô hình nhân
cách lý tưởng này phải có mấy đặc trưng dưới đây:
+ Khám phá, tiến thủ, coi trọng thực tế, đổi mới. Kinh tế tri thức là kinh tế lấy tri thức
làm cơ sở. Tiến vào xã hội kinh tế tri thức, thì trình độ, chất lượng phát triển kinh tế loài người
về cơ bản được quyết định bởi năng lực sản xuất, năng lực tích tụ tri thức, năng lực đạt được
tri thức mới và năng lực vận dụng tổng hợp các loại tri thức. Do vậy, cần bồi dưỡng một thứ
tố chất nhân cách có tinh thần khoa học, như tôn trọng thực tế, theo đuổi chân lý, dám hoài
nghi, không ngừng tiến thủ, phê phán, đổi mới..., không ngừng khám phá cái chưa biết, nhận
thức chân lý, cung cấp động lực tri thức cho sự phát triển xã hội.
+ Tôn trọng giới tự nhiên, yêu quý môi trường. Kinh tế tri thức là kinh tế phát triển bền
vững, nó đòi hỏi loài người từ bỏ phương thức tư duy đối lập giữa con người và giới tự nhiên
của thời đại công nghiệp, thay đổi chuẩn mực giá trị và mô hình hành vi chỉ coi giới tự nhiên là
đối tượng chinh phục và cải tạo của loài người. Nhận thức đầy đủ tính toàn diện của mối
quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, học biết cách tôn trọng giới tự nhiên. Con người sống
trong giới tự nhiên nhưng lại sáng tạo ra giới tự nhiên, giới tự nhiên nuôi sống con người, lại bị
chế ước bởi con người. Quan hệ giữa con người và giới tự nhiên là mối quan hệ quy định lẫn
nhau, chế ước lẫn nhau. Bất kỳ hành vi nào thoát khỏi giới tự nhiên, phá hoại nghiêm trọng sự
cân bằng vĩ đại của giới tự nhiên tất yếu đều bị giới tự nhiên chống lại và trừng phạt. Do vậy,
loài người cần tôn trọng


quy luật sinh thái, căn cứ theo nguyên tắc phát triển hài hoà giữa con người và giới tự nhiên mà

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 55
cân nhắc, lựa chọn hành vi can thiệp vào giới tự nhiên, bồi dưỡng một loại hình nhân cách lý
tưởng thể hiện quan niệm giá trị phát triển hài hoà giữa con người và giới tự nhiên.
+ Đoàn kết hợp tác, quan tâm yêu mến người khác. Đứng trước khủng hoảng xã hội
ngày càng nghiêm trọng của thời đại công nghiệp, thời đại kinh tế tri thức cần loại bỏ quan
niệm đạo đức lấy cá nhân làm trung tâm, tự tư tự lợi cực đoan trong mô hình nhân cách của
thời đại công nghiệp, bồi dưỡng một quan niệm đạo đức lấy quan tâm yêu mến người khác,
đoàn kết hợp tác làm cơ sở, thực hiện sự phát triển hài hoà giữa con người và xã hội, thúc đẩy
sự vận chuyển lành mạnh của cơ thể xã hội.
+ Không ngừng vượt lên, hoàn thiện mình. Loài người cần thẩm định lại quan niệm giá
trị và mô hình hành vi của mình, xây dựng một mô hình nhân cách lý tưởng theo đuổi sự hưởng
thụ vật chất và sự vượt lên về tinh thần, thống nhất giữa giá trị công cụ và giá trị mục đích;
cần hiểu được rằng con người không chỉ là vật tồn tại tự nhiên mà còn là vật tồn tại tinh thần.
Sự khu biệt căn bản giữa con người và động vật là ở chỗ con người không chỉ có nhu cầu vật
chất mà còn có nhu cầu tinh thần, không chỉ cần lấy mình làm công cụ sáng tạo ra giá trị mà
còn cần lấy mình làm mục đích của việc thực hiện giá trị. Như vậy, loài người mới có thể tìm
thấy trở lại khuôn viên tinh thần đã mất của mình.
Trên đây chỉ từ tầng diện "cần" để phân tích yêu cầu của nguyên tắc sản xuất xã hội
thời đại kinh tế tri thức đối với tố chất con người. Vấn đề là nhân cách lý tưởng như vậy có
khả năng thực hiện trong thời đại kinh tế tri thức hay không? Câu trả lời là khẳng định.
+ Việc đề xuất chiến lược phát triển bền vững đã cung cấp môi trường xã hội đẹp
nhất cho sự trưởng thành của nhân cách lý tưởng trong thời đại kinh tế tri thức. Sau thế chiến
2, đứng trước sự phá hoại có tính huỷ diệt mà việc ứng dụng vào xã hội các thành tựu khoa
học kỹ thuật như bom nguyên tử, vũ khí hoá học, vũ khí vi trùng mang lại cho loài người, các
nhà toán học và triết học Anh như Russell, Einstein... đã liên hợp công bố tuyên ngôn phản
chiến, kêu gọi các nhà khoa học phải quan tâm đến sự nguy hại mà thành tựu nghiên cứu khoa
học có thể đem lại cho loài người. Tháng 6 năm 1972, Liên Hợp Quốc lần đầu tiên đã triệu tập
Hội nghị Môi trường Loài người với quy mô chưa từng có, đưa ra báo cáo Chỉ có một trái đất
nói về ảnh hưởng sâu xa mà hoạt động của loài người đang gây ra cho môi trường tự nhiên.
Trong báo cáo Tương lai chung của chúng ta của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Liên Hợp
Quốc năm 1987 đã nêu ra rõ ràng tư tưởng phát triển bền vững của xã hội. Năm 1992, Đại hội
Môi trường và Phát triển Liên Hợp Quốc đã chế định Chương trình nghị sự thế kỷ XXI, mục
đích là thông qua việc cải tạo mô hình sản xuất và mô hình tiêu dùng của loài người, làm cho
con người, khoa học kỹ thuật, giới tự nhiên và xã hội phát triển hài hoà. Chiến lược phát triển
bền vững đang đi sâu vào lòng người, người ta đều đang hiến kế cho việc thực hiện sự phát
triển hài hoà giữa con người và giới tự nhiên, xã hội, điều này sẽ tạo môi trường xã hội tốt đẹp
cho sự sinh trưởng của nhân cách lý tưởng vừa thể hiện tinh thần khoa học vừa tràn đầy mối
quan tâm nhân văn.
+ Xu thế khách quan tổng hợp hoá, chỉnh thể hoá, chủ thể hoá khoa học hiện đại đã
cung cấp điều kiền cần thiết cho việc bồi đưỡng nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri
thức. Lenin từng khẳng định: "Trào lưu lớn mạnh đi từ khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội
không những chỉ tồn tại trong thời đại Feti mà cũng tồn tại trong thời đại chủ nghĩa Marx.
Trong thế kỷ XX, trào lưu này vẫn lớn mạnh, thậm chí có thể nói càng lớn mạnh hơn" (1).
Trong thời đại hiện nay, sự phát triển các khoa học bên lề, khoa học giáp ranh, khoa học cắt
ngang đã vạch ra mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, phá vỡ các thành luỹ phân giới giữa các
bộ môn khoa học, tạo điều kiện cho sự đối thoại giữa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và
khoa học nhân văn. Người đề ra lý thuyết kết cấu hao tán Prigogine nêu ra rằng cần thay đổi
cách hiểu hẹp về truyền thống khoa học. Ông xác định khoa học là sự đối thoại giữa con người
và giới tự nhiên, tin rằng chỉ có thực hiện sự tổng hợp mới mới có thể xử lý đúng đắn mối
quan hệ giữa con người và con người, giữa con người và

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 56

giới tự nhiên. Nhân vật đại biểu của trường phái lịch sử trong triết học khoa học là Kuhn-
người đã đưa một cách sáng tạo tâm lý học và xã hội học vào triết học khoa học, có đóng góp
quan trọng vào việc đưa triết học khoa học thoát ra khỏi đám mây mù của chủ nghĩa duy khoa
học. Sự nhìn xa trông rộng của các nhà khoa học đã cho thấy, trào lưu đi từ khoa học tự nhiên
tới khoa học xã hội đã xúc tiến sự giao hoà giữa tinh thần khoa học và tinh thần nhân văn, điều
này cung cấp điều kiện cần thiết cho sự hình thành nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri
thức.

3.3 Tâm đàm về sự học và tri thức
Ở xã hội ta, nhiều chục năm nay, mặc định trong nhìn nhận của xã hội, Trí thức là ‘một
tầng lớp học cao của xã hội’ có bằng cấp từ Đại học trở lên. Nhưng kì lạ hơn nữa, khi theo
điều tra của cá nhân tôi, tầng lớp này, dường như, một cách phổ biến trong nhiều năm, được
hầu hết cộng đồng xem rằng họ thường ở trong biên chế các Cơ quan Nhà nước hoặc các tổ
chức lớn ( NGO chẳng hạn ). Đến nay thậm chí đương nhiên còn có sự so sánh – phải nói là có
lý nhưng rất kì quái - Bằng Đại học Tại chức không bằng Chính qui, Trí thức trong biên chế
Nhà nước được đào tạo tốt hơn Trí thức ở các tổ chức ngoài Nhà nước, Phó Tiến sĩ tức là Tiến
sĩ và Tiến sĩ khoa học…
Giuyn Vecnơ viết: Biết quan sát, tận dụng từng điều nhỏ nhặt quanh ta tất có ngày đắc
dụng. Có bà mẹ, nhà khá giả, muốn con hơn người, nhờ tìm Thày giỏi dạy cho con mình. Được
giới thiệu đến Thày, chưa yên tâm, bà ấy hỏi lại: thế Thày của ông là ai, tôi muốn cho con tôi
học người ấy cơ… Cuối cùng được dẫn đến Khổng Tử, bà cũng hỏi vậy. Khổng Tử bảo:
Thày của ta là Hạng Thác, 7 tuổi, bên hàng xóm đó. Ý nghĩa của việc học là vậy ! Nhờ học mà
tích lũy được Tri thức. Học ở mọi chỗ, học ở mọi người, ở mọi nơi, ở mọi lúc. Đi đến tổng
kết thành các Qui luật, hình thành nên Qui tắc, xác định những Quy phạm. Nhưng điều mấu
chốt là tạo trong Não khả năng tư duy, tôi tạm gọi là ‘Opening Source Knowledge’
Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một Nho sĩ, có tư tưởng : học cho có Đạo đức, học cho có hiểu
biết, học để giỏi ứng dụng. Thật là hay. Nhưng tôi muốn thêm vào cái sự học, từ thấp đến cao
là : Biết -> Hiểu -> Hành -> Cải -> Đạo
Tri thức là hiểu biết mà Nhân loại đã tích lũy liên tục trong lịch sử phát triển, cần được
chia sẻ rộng rãi và các nền giáo dục cần có trách nhiệm phổ cập dần để nâng cao dân trí theo
hướng Minh Sáng, Thông Huệ, Trí Hành. Nhưng Trí thức luôn là tầng lớp tinh hoa của nền dân
trí đó,khẳng định mình trên tòa nhà của Tri thức cao.
Triết lý làm việc của Trí thức là : SỰ THẬT + PHẢN BIỆN + CÁCH TÂN
Phương pháp làm việc của Trí thức là : CƠ SỞ KHOA HỌC + KHẢO SÁT NGHIÊN
CỨU + ĐỀ XUẤT HỌC PHÁP
Những phẩm chất giá trị của Trí thức là: CHÍNH HỌC + CHÍNH KHÍ + CHÍNH
NHÂN ( Lưu ý : Chữ Chính – đúng đắn + chuẩn mực + ngay thẳng ! Đó là ngược nghĩa với
chữ Tà )
Nếu một bộ phận lớn Nhân dân bị đẩy, cuốn vào quan niệm Tri thức là cái nơ vang
vàng tim tím, Trí thức là người có mảnh bằng cấp xanh xanh đỏ đỏ, hết thảy có thể đi tắt đón
đầu mà xì tiền mua ngay được ở những góc phố chợ để leo lên những ‘cái ghế quan chức’ …
thì tận cùng của sự suy đồi về Dân trí rồi
Chân lý có Một, Sự thật có Hai, Cuộc sống có Đúng có Sai và có Cái Khác. Sách vở
ghi chép những hữu hạn của Tri thức, nhưng nếu Trí thức là một cái đầu ai đó chứa đầy chữ
nghĩa trong một đống sách vở mà đã có thể dương dương tự đắc là có học vấn hơn người, rồi
trích dẫn, rồi đưa ra những lý luận giáo điều, những công thức sơ cứng mà phán xét, phủ định
những cách khác thì đó là hủ nho vậy. Ghê sợ hơn là cản trở sự tươi mới, những thay đổi và
phát triển bằng những danh bằng học vị hay bằng những ngụy biện ‘uyên thâm’ khiến người

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 57
khác khó cãi cho được, mà thực ra là để giữ cái ghế của mình – đó chính là hủ bại vậy. Trí thức
như thế nếu làm Lãnh đạo thì nguy khốn, mạt vận cho xã hội lắm thay!


Có Tri thức, là Trí thức mà khó sống tốt, khó được trọng dụng, khó phát triển thì lỗi tại
điều gì ? Và tai họa sẽ là gì? Câu trả lời muôn thưở là đã quá rõ ràng. Nhưng nếu Xã hội có Tri
thức và Trí thức thật sự và không chỉ là một vài lớp người mà thành một giai tầng, một đội ngũ
thì tình hình đó nếu có chỉ là số ít, nhất thời, không diễn ra lâu dài được, không thế lực nào vùi
dập được…Chúng ta mới hiểu thế nào là Sức mạnh của Tri thức và Quyền lực của Trí thức
( quyền lực Thứ Tư ), mới biết vì thế bất chấp sai lầm khủng khiếp Cách mạng Văn hóa của
Trung Quốc, những tai họa đày ải biệt xứ đến Siberia băng giá của Nước Nga, họ vẫn có
những Tàu Vũ trụ, Năng lượng Nguyên tử…vẫn là Cường Quốc!
Trí thức một cách chính đáng và chính thống phải có mặt ở mọi tuyến đầu của Cuộc
sống, ở vị trí quan trọng nhất trong xã hội, tham gia tiên phong giải quyết tích cực, trên cơ sở
khoa học và thực tiễn những vấn đề, những bài toán Mới mẻ / Nóng bỏng / Phát triển. Có
được vậy, nhờ vậy Nước Non Việt này mới khỏi tủi nhục. Nhưng có được như thế hay không
lại phụ thuộc vào Thể chế chính trị, Cơ chế dùng người và Nhân sinh quan của Lãnh đạo được
sinh ra từ đó rồi!!!

3.4 Hãy suy nghĩ như một triết gia và làm như một người thợ
Khát vọng sánh vai
Trong tâm thức người Việt, thường có lối suy nghĩ phổ biến “sự học dẫn người ta đến
sự thành công”. Mọi người nghĩ sao?
Ai cũng biết sự học thay đổi một phần con người, và Việt Nam bây giờ có rất nhiều
người có khả năng. Ngày xưa, rất ít người có thể tiếp cận với sự học và không phải bất cứ ai
học cũng thành công. Còn ngày nay gần như ai cũng học hết rồi, vậy làm thế nào để thành
công?
Những người thành công là những người biết học. Học không chỉ là học những cái
chuyên môn, mà còn phải học để mà hấp thu được những bộ óc lớn. Đó mới là cái đỉnh cao.
Thế nên mới có chuyện, có người chỉ điều hành công ty con con với 5-6 nhân viên mà phải học
đến… sói cả trán. Do vậy, giờ đây sự học là cái thứ không phải quan trọng nhất. Không phải
sự học nào cũng quyết định thân phận, mà phải là biết cách học.
Trong sự học, làm thế nào để một người trẻ biết là mình thành công hay chưa? Tiêu chí
nào để định lượng được chỉ số thành công của người trẻ?
Các bạn muốn biết mình có khát vọng lớn hay không thì xin phép tạm chia làm 5 mức
xà, người đặt ra mức xà cao nhất mới có khát vọng lớn. Lớn hay không là tùy theo mức xà, và
khả năng mình vượt qua mức xà đấy. Mức xà thấp nhất là so sánh với các bạn học phổ thông,
mức xà tiếp theo là so sánh với những bạn học đại học. Tham vọng cao hơn thì so sánh với bạn
đồng nghiệp trong lĩnh vực mình làm ở trong nước. Mức xà thứ 4 là so sánh với các bạn đồng
nghiệp quốc tế trong khu vực (Singapore, Hồng Kông, ấn Độ, Trung Quốc). Mức xà thứ 5 là so
sánh với các cường quốc năm châu. Thực ra, mình ngang vai với quốc tế thì chỉ bằng eo của
các cường quốc. So với đồng nghiệp trong nước như sánh với đầu gối, bạn học thì sánh với
mắt cá chân. Muốn khát vọng lớn thì phải sánh vai thì mới gọi là khát vọng lớn.
Bàn về kẻ thù của giáo dục và đạo đức
Hơn sáu mươi năm trước, khi đất nước mới độc lập, chúng ta xác định một trong những
kẻ thù lớn nhất lúc đó là giặc dốt. Vậy theo anh, kẻ thù lớn nhất của thời đại hiện nay là gì?
Không phải riêng Việt Nam mà cả các nước trong khu vực có 3 kẻ thù lớn nhất: Kẻ thù
thứ nhất là thiếu trung thực, thứ 2 là ngộ nhận về sự hiểu biết, kẻ thù thứ 3 là sự lười biếng.
Có nhiều người lười biếng nhưng họ không nghĩ vậy. Trong 3 kẻ thù này kẻ thù lớn nhất là sự
ngộ nhận. Einstein từng nói: Trên đời này chỉ có hai thứ là vô tận, đó là vũ trụ và sự ngu dốt
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 58
của con người. Nhưng vũ trụ thì không chắc lắm còn cái thứ 2 thì chắc chắn nó vô tận. Nghĩa
là bi kịch lớn nhất của con người không phải sự ngu dốt mà là dốt nhưng không biết mình dốt.
Năm 1945, Bác Hồ nói là diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Sự thực là kẻ thù lớn
nhất sau năm 1945 (giặc dốt) cực kỳ dễ thương, vì ở thời điểm đó ai cũng thừa nhận là mình
dốt. Ở cái


xã hội ai cũng thừa nhận mình dốt thì quá tuyệt vời, vì khi người ta nghĩ mình dốt thì người ta
phải nỗ lực hết sức để mình giỏi. Nhưng theo bạn, bây giờ giặc dốt còn hay không? (Cười).
Nhưng còn sự lười biếng? Nó liên quan gì đến câu chuyện chúng ta đang bàn?
Thay vì nói về sự lười biếng, ta bàn đến sự chăm chỉ. Tại vì có nhiều người lười biếng
nhưng người ta tưởng mình chăm chỉ. Cái đó cũng nguy hiểm. Theo tôi, chúng ta không nên nói
nhiều về đạo đức mà nên nói về chăm chỉ vì chăm chỉ là một trong những biểu hiện cao nhất
của đạo đức.
Một người có đạo đức chắc chắn là một người lao động cật lực. Nhưng một người lao
động cật lực thì chưa chắc đã là người có đạo đức. Một người mà không chăm chỉ là một
người không có đạo đức hay nói cách khác là đạo đức giả. Bất cứ ai cũng có thể thành công
nếu có tài năng và lao động cật lực.
Yếu tố cấu thành quan trọng và căn bản nhất của đạo đức là chăm chỉ. Vừa rồi, tôi có
gặp một ông lao công quét sân, lau bàn… ở trường. Bàn dính bẩn ông lấy giẻ lau, tôi có cảm
giác ông không lau bàn mà ông đang lau vàng, lau kim cương. Mình thấy là “do something with
love” tức là làm việc với tình yêu chứ không phải trách nhiệm. Khi mình đào tạo nhân viên lao
công để lau bàn mình chỉ cách để họ lau bàn thế nào cho sạch thì dễ lắm, nhưng để có một
nhân viên làm việc với tình yêu thì đó là công cuộc của cả một nền giáo dục quốc gia.
Nghĩa là nói gì đi nữa thì chúng ta vẫn phải quay về câu chuyện triết lý của giáo dục?
Thực ra thì quốc gia nào cũng có triết lý giáo dục của họ. Mình đã giải thích “thực học”,
đưa ra tôn thờ giá trị thực học chứ không phải tôn vinh. Giống như một nhà văn nổi tiếng
người Mỹ có nói một câu: Trong vũ trụ giả dối, một hành động trung thực sẽ là hành động
cách mạng. Nhiều khi mình vẫn tin xã hội có rất nhiều người tâm huyết và trong bất cứ hoàn
cảnh nào họ cũng sẽ không nhụt chí.
Tôi rất thích câu chuyện “những con sao biển” về triết lý hành động và tổ chức: Có một
anh chàng đi du lịch ra biển, anh thấy trong rất nhiều người tắm biển có một cậu bé cứ lúi húi
nhặt cái gì đó rồi lia ra biển. Tò mò chạy lại gần xem thằng bé làm gì thì hóa ra không phải nó
lia đá, mà nó nhặt con sao biển đang mắc cạn. Ông này nhìn thấy nó làm vậy thì cười: “Ê nhóc!
Cậu có biết trên bãi biển này có bao nhiêu con sao biển không?”! Nó không nhìn lại ông ấy mà
nói liền: “Nhưng mà cháu có thể cứu được con này mà!”. Ông ta giật mình và nghĩ rằng “Tại
sao mọi người không nghĩ thế”.
Sau đó, ông ấy cũng nhặt và rất nhiều người cùng nhặt, hàng vạn con sao biển đã được
cứu. Câu chuyện chỉ có vậy. Hãy có tầm nhìn của người lớn nhưng phải có tâm hồn của đứa
trẻ. Đó là câu chuyện cho ta thấy khi mình làm cái gì thì làm cái cụ thể, nhưng khi nghĩ thì đến
cái cao rộng.
Chẳng thế mà, vừa rồi miền Trung lũ lụt. Lúc đó mình xung phong đóng góp một ít.
Mình giúp được một người thì cứ nghĩ là một người thôi. Cũng như mình có thể đóng góp 2 gói
mỳ thì cứ đóng góp 2 gói. Tại sao cứ nghĩ đến triệu gói mà không nghĩ đến 2 gói? Chứ cứ nghĩ:
Hai gói mì thì giúp được ai, rồi không giúp, thì lấy đâu ra triệu gói mì?!
Quay lại câu chuyện giáo dục, cổ vũ được những người thực học, và tôn trọng họ, cả
xã hội sẽ làm theo.
Triết gia và cái búa
Là một người làm về giáo dục và tâm huyết với các bạn sinh viên, mọi người suy nghĩ
thế nào về cách đào tạo ở các trường ĐH hiện nay?
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 59
Theo tôi, cách giáo dục con người, kể cả đại học của ta hay của Tây thì cũng cần nhấn
mạnh hai điểm, học cách nghĩ và học cách học.
Khi tôi đến Viện Công nghệ Massachusetts, thấy người ta có một cách diễn đạt rất hay:
Biểu tượng (logo) của trường học là một vị triết gia và bên cạnh là cái búa. Suy nghĩ kỹ ta mới
thấy rằng: Những người vĩ đại trong cuộc đời này luôn có một đặc tính rất căn bản: Khi anh
làm


có thể làm những cái rất nhỏ nhặt, tưởng như là tầm thường nhưng khi anh nghĩ thường như là
một triết gia… Nên thường thường nó tạo ra một lớp người chỉ nói những thứ tưởng như là
chuyện “trên trời”, nhưng ngoài đời thực họ làm được những việc rất đáng để đời…
Tôi nghĩ, ở những trường đại học danh tiếng đều có tư tưởng đó, nhưng không có
trường nào có cách diễn đạt dễ hiểu và tuyệt vời như MIT
Vậy theo mọi người, chúng ta nên làm thế nào?
Mỗi quốc gia có bối cảnh khác nhau, nên sẽ có những vấn đề khác nhau. Mà khi vấn đề
khác nhau sẽ có giải pháp khác nhau và do đó sẽ hình thành mô hình khác nhau. Chúng ta có thể
học hỏi từ thế giới, nhưng không nên copy mô hình này, mô hình nọ để áp khung cho nền giáo
dục.
Ngoài ra, một xã hội có nền giáo dục bất bình thường, sẽ đào tạo ra những người mà
khi bước vào một khu rừng rậm rạp thì người ta chỉ "thấy cây mà không thấy rừng". Lối giáo
dục này cũng rất không tốt.
Cách đây không lâu tôi có tham luận ở vài cuộc hội thảo quốc tế về giáo dục tổ chức ở
nước ngoài. Một số đại biểu quốc tế "chất vấn" mình "cải cách giáo dục Việt Nam bắt đầu từ
đâu"? Nhiều người nghĩ rằng tôi sẽ trả lời bắt đầu từ nội dung, từ thi cử, từ tiểu học, từ đại
học, nhưng tôi không nghĩ như thế. Mà phải bắt đầu từ việc "định nghĩa lại con người", thế
nào là "con người", chúng ta muốn có những con người như thế nào và làm sao để tạo ra những
con người như thế. Tiếp đó, cần định nghĩa lại vai trò của tất cả các chủ thể giáo dục. Định
nghĩa lại vai trò của người học, người dạy.
Nhà nước cũng cần nhìn nhận lại cả vai trò và công việc của mình trong hệ thống giáo
dục. Phải bắt đầu từ cái gốc và cái chóp. Vì mọi thứ giải quyết phải bắt đầu từ con người, cụ
thể hơn là từ việc xác lập lại vai trò và công việc của những con người thuộc các chủ thể trong
hệ thống giáo dục.

3.5 Đảng phải là Đảng của trí tuệ

3.5.1 Dùng hiền tài
Đảng "phải là Đảng của dân tộc", muốn vậy, Đảng phải là Đảng của trí tuệ. Đây
không là một áp đặt của suy đoán chủ quan hay là sự biểu đạt một ước vọng. Đây chỉ là sự
diễn dịch cái tất yếu logic của vận động thực tiễn và cũng là của chính nhu cầu tồn tại và phát
triển của Đảng, nếu Đảng muốn làm trọn sứ mệnh cao quý của mình, sứ mệnh "soi đường chỉ
lối cho nhân dân ta vững bước trên con đường thắng lợi" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.
Ánh sáng của ngọn đuốc "soi đường, chỉ lối" đó không thể là gì khác ánh sáng của trí
tuệ. V.I. Lênin cũng từng khuyến cáo "chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn,
thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong". Làm thế nào để có được "lý luận tiền
phong" nếu không đứng ở tầm cao của trí tuệ thời đại?
Đây là một chân lý quá đơn giản, bất kỳ ai cũng có thể hiểu được. Còn nếu cần đề cập
đến chủ đề này trên bình diện lý luận, thì xin nhắc lại sự dẫn giải của V.I Lênin: "Lịch sử tất
cả các nước chứng tỏ rằng chỉ do lực lượng độc của bản thân mà thôi thì giai cấp công nhân
chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ nghĩa...Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phát sinh từ
các lý luận triết học, lịch sử kinh tế, do những người có học thức trong các giai cấp hữu sản,
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 60
những trí thức xây dựng nên. Mác và Ăngghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa
học hiện đại, do địa vị của các ông, nên chính bản thân các ông cũng thuộc lớp trí thức tư sản".
"Những người có học thức" nói đây là ai nếu không phải là những người tích lũy được
vào mình trí tuệ của thời đại họ đang sống? Nếu Đảng Cộng sản là kết quả của sự kết hợp
giữa lý luận cộng sản với phong trào công nhân của thời đại C.Mác, thời đại của tích luỹ công
nghiệp hoá, chiến tranh thuộc địa và khủng hoảng chu kỳ, thì khi được chuyển về phương
Đông, chủ nghĩa


Mác đã trở thành vũ khí tư tưởng cho cuộc đấu tranh giải phóng của những người nghèo khổ,
bị áp bức bóc lột trong chế độ phong kiến hoặc chế độ thực dân, mở đầu bằng cách mạng
XHCN tháng Mười Nga năm 1917.
Khẩu hiệu "giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại" do V.I Lênin đề
xướng thể hiện rõ nội dung đó. Nhưng, như Lênin đã chỉ ra: "lịch sử tất cả các nước chứng tỏ
rằng chỉ do lực lượng độc của bản thân mà thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức
công liên chủ nghĩa", cho nên, theo Hồ Chí Minh "phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng
phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy", mà chủ nghĩa thì lại do chính "những người có học
thức trong các giai cấp hữu sản, những trí thức xây dựng nên" như Lênin đã dẫn giải trong trích
dẫn nói trên!
Hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, nói cho cùng, cũng là hành trình đi
tìm "ngọn đuốc soi đường", đi tìm vũ khí tư tưởng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ra khỏi
đêm đen nô lệ. Và Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở Luận cương của V.I Lênin "ngọn đuốc soi
đường" ấy. Cho nên, "ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần
chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là
con đường giải phóng chúng ta".
Vậy là, "Điều mà tôi muốn biết hơn cả - và cũng chính là điều mà người ta không thảo
luận trong cuộc họp là: vậy thì cái "quốc tế " nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?" {3} ,
điều ấy giải thích vì sao Hồ Chí Minh "vui mừng đến phát khóc lên" khi đọc "Luận cương
Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa".
Với Hồ Chí Minh vào thời điểm đó, "luận cương Lênin" chính là ánh sáng trí tuệ giúp
"người yêu nước" ấy tìm ra con đường cứu nước kể từ khi bôn ba khắp năm châu bốn biển để
kiếm tìm. Sẽ hiểu thêm điều này nếu lưu ý rằng, trước và sau khi đọc "Luận cương Lênin",
Hồ Chí Minh đã từng tìm đến những đỉnh cao trí tuệ loài người để tự trang bị cho mình những
kiến thức cần thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu trước sau như một của mình là giải phóng dân
tộc, đem lại độc lập cho đất nước, tự do hạnh phúc cho nhân dân.




GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 61



H1.5 Bác Hồ cùng đồng bào


Như đã trình bày ở phần trước, Hồ Chí Minh tìm thấy ở Khổng Tử "sự tu dưỡng đạo
đức cá nhân", ở Giêsu "lòng nhân ái cao cả", ở chủ nghĩa Mác "phương pháp biện chứng", ở
chủ nghĩa


Tôn Dật Tiên "chính sách phù hợp với điều kiện nước ta". Theo Hồ Chí Minh, họ gặp nhau ở
điểm chung là "muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, phúc lợi cho xã hội". Chính vì thế mà
Người "cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy".* Làm thế vì Khổng Tử, Giêsu, Các
Mác, Tôn Dật Tiên...chính là những người có học thức nhất của thời đại họ đã sống. Họ vừa là
sản phẩm của nền văn minh mà thời đại của họ đạt được, vừa là những đồng tác giả góp phần
tạo ra nền văn minh đó.
Thật ra thì tôn vinh và tìm mọi cách để quy tụ và phát huy trí tuệ và tài năng của những
người có học thức, nói theo lời người xưa, đó là "nguyên khí quốc gia", thì tự cổ chí kim, bất
cứ thể chế chính trị nào nào muốn tồn tại và phát triển đều phải ra sức vun đắp, gây dựng.
Nhìn vào lẽ thịnh suy của những triều đại tiếp nối nhau trong lịch sử, chỉ ở vào ngày tàn, một
triều đại mới bạc đãi kẻ sĩ và dung dưỡng gian thần theo lối "ngưu tầm ngưu, mà tầm mã".
Mọi người đều biết ông cha ta đã trân trọng và ra sức hun đúc, đào luyện "hiền tài", bồi
đắp "nguyên khí quốc gia", như thế nào. Công luận nhìn vào đó mà luận suy về thời cuộc, về
lẽ hưng phế của một triều đại, một chế độ chính trị. Thậm chí, là căn cứ để phán đoán về một
chính khách tầm cỡ, một nhân vật lãnh đạo dày dạn.
Hãy đọc lại "Đại Việt Sử ký toàn thư", Kỷ Nhà Lê, chép chiếu chỉ của Lê Thái Tổ về
tiến cử hiền tài: "Nay trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề, sớm khuya kính cẩn lo sợ, như đứng
bờ vực thẳm, chỉ vì chưa tìm kiếm được người hiền tài giúp đỡ trị nước...Nhân tài ở đời cố
nhiên là không ít, nên đường lối tìm người cũng không phải chỉ có một phương. Nếu có ai ôm
ấp tài lược kinh bang tế thế nhưng phải chịu khuất ở hàng quan thấp, không có người tiến cử
cho, cùng là những hào kiệt bị vùi dập ở bụi bờ, hay lẫn lộn trong quân ngũ, nếu không tự đề
đạt thì trẫm làm sao biết được?...Khi chiếu này ban ra, các quan hãy đem hết lòng thành, lo việc
tiến cử. Còn như kẻ hàn vi ở chốn hương thôn, cũng chớ cho thế là phải đem ngọc bán rao mà
hổ thẹn, để trẫm phải thở than vì thiếu nhân tài". Trong lịch sử, chiếu chỉ này không là duy
nhất!
Từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công thư
"Tìm người tài đức" đăng báo. Đăng báo, vì sợ rằng "không thiếu người có tài có đức. E vì
Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất
thân" {4}. Như vậy là Bác Hồ làm công tác cán bộ, công tác tổ chức một cách công khai, minh
bạch, dựa vào thành ý và minh tâm của dân để phát hiện, tuyển chọn, tôn vinh và sử dụng
người tài. Chỉ bằng cách đó thì Đảng mới có thể là Đảng của trí tuệ.

3.5.2 Tôn vinh dân chủ
Những bài học thành bại trong sự nghiệp cách mạng từ ngày có Đảng đã cho thấy rõ
điều ấy.
Chính ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương chói sáng trong việc quy tụ
và sử dụng người tài. Chính phủ Kháng chiến do Bác Hồ đứng đầu đã tập họp được nhiều
nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, một nhân tố cực kỳ quan trọng để gọi dậy sức mạnh đại đoàn kết
dân tộc, là một minh chứng đầy sức thuyết phục.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 62
Hơn nữa, chính hình ảnh của "Chính phủ Kháng chiến" ấy đã làm nổi bật lên một nét
độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước: cơ sở xã hội của nhà nước ấy là dân tộc.
Sức hấp dẫn của Chính phủ Kháng chiến là sự quy tụ được trí tuệ của dân tộc không phân biệt
đảng phái, giai cấp, ý thức hệ, tôn giáo tín ngưỡng... Khi đi vào xây dựng lại đất nước "đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn" thì nét đặc sắc và sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh lại là sự nhận
thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa, một tầm cao mới của trí tuệ thời đại.
Nói tổng thể và văn hóa cũng tức là nói con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy
để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường để phát triển. Quan triêt điêm
́ ̣ ̉
đăc săc ây cua tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường
̣ ́ ́ ̉
hoang dã, chôp giựt. Mà la, làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người
̣ ̀
dân và con người.


Nêu làm kinh tế thị trường đơn thuần về chính trị với ham nghia những mưu lược, thì
́ ̀ ̃
mục tiêu dù đạt được cung dễ làm mất văn hóa, dễ "nuốt trôi" mất văn hóa. Ngược lại, xuất
̃
phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung
văn hóa được đưa vào.
Nêu hiêu sâu săc đặc điêm nôi trôi ấy cua tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một
́ ̉ ́ ̉ ̉ ̣ ̉
hệ thống giá trị chân chinh của xã hội mới, ở đấy, trí tuệ của thời đại được thể hiện một cách
́
nhuần nhuyễn và hài hòa nhất.

3.5.3 Trí tuệ huy động và trí tuệ tự mình
Vả chăng, trong ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lực lượng lãnh đạo dân tộc, xét
đến cùng, là lực lượng đã kết tinh hoặc quy tụ được tinh hoa của cả dân tộc. Nếu không phải
chính là bản thân người đứng đầu là kết tinh trí tuệ của dân tộc thì cũng phải là người biết phát
hiện, trân trọng phát huy trí tuệ đó bằng đường lối, chính sách và giải pháp chiêu hiền đãi sĩ.
Là Đảng cầm quyền, Đảng phải biết cách quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ
Chí Minh để phát hiện, quy tụ và phát huy trí tuệ của cả dân tộc, đồng thời tự mình phải phấn
đấu trở thành Đảng của trí tuệ thì mới đảm đương sứ mệnh cao cả mà Đảng đang phải đảm
đương.
Đó cũng là điều kiện để có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới với quá trình hội
nhập quốc tế trong bối cảnh của nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức. Tính chất gay gắt
và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của Đảng, lực
lượng tiền phong, đang gánh trên vai mình gánh nặng của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng,
phải được xây đắp từ tầm cao của trí tuệ thời đại.

3.5.4 Sáng tạo, linh hoạt tư duy và hành động
Câu hỏi đặt ra cần lời giải đáp: lý luận tiền phong trong thời đại của văn minh trí tuệ và
nền kinh tế tri thức sẽ là gì đây và của ai đây? Lời giải đáp ấy là đòi hỏi của cuộc sống, là ý
chí và nguyện vọng của nhân dân.
Thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp với một thế giới phi
tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn,
những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì
thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu
của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI.
Để có thể sáng tạo và linh hoạt thì cùng với nhiệt tình và ý chí kiên cường của người
cách mạng, trí tuệ là nhân tố quyết định.
Rõ ràng là, chủ động nắm lấy quy luật vận động của cuộc sống, giương cao ngọn cờ tư
tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao tầm trí tuệ của Đảng để Đảng xứng đáng là lực lượng tiền
phong lãnh đạo đất nước vững bước trên con đường mới đang là một đòi hỏi của cuộc sống.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 63
Con đường tiếp cận với chân lý của thời đại đòi hỏi một sự quyết đoán và sáng tạo từ một
tầm cao của trí tuệ. Chưa bao giờ nhận thức chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo lại có ý
nghĩa trực tiếp sống còn như hiện nay.
Trí tuệ của Đảng được xây đắp từ sự nhận thức chân lý của thời đại và đòi hỏi sự sáng
tạo của người lãnh đạo. Vì thế, để là Đảng của trí tuệ Việt Nam, Đảng phải vượt qua chính
mình mới có thể giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa dân tộc đi tới trên chặng đường mới của thách
thức và vận hội. Có như vậy thì Đảng mới xứng đáng "là đạo đức văn minh" như đòi hỏi của
Hồ Chí Minh




4. Tư duy sáng tạo

4.1 Triết học và năng lực tư duy của con người trong kỷ nguyên toàn cầu
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về triết học và do vậy, cũng có nhiều cách hiểu khác
nhau về vai trò của triết học. Có thể xem xét vai trò của triết học từ nhiều phương diện khác
nhau, bởi trong thực tế, triết học có tác động trực tiếp đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội và con người. Một trong những tác động lớn của triết học đến con người và xã hội
là tác động lên năng lực tư duy của con người.
Trong thực tiễn, đã có nhiều loại hệ thống triết học khác nhau. Mỗi hệ thống triết học
ấy luôn nhìn nhận, suy tư về thế giới và những vấn đề cụ thể của thế giới theo cách riêng của
mình. Mỗi hệ thống này lại bao gồm những tri thức khác nhau về những vấn đề khác nhau.
Các hệ thống xuất hiện sau, dù có ý thức hoặc không, bao giờ cũng bao hàm những tri thức của
một hoặc một số hệ thống trước đó. Các hệ thống triết học nói chung, các tri thức triết học nói
riêng, luôn có cái đúng, có cái không đúng; có cái là chân lý, có cái sai lầm.
Trong đời sống xã hội cũng như trong cuộc đời của mỗi con người, tri thức triết học
luôn tồn tại. Mỗi con người có thể họ tiếp nhận cả một hệ thống triết học nào đó, có thể họ
sử dụng các kiến thức triết học lấy từ các hệ thống triết học khác nhau. Nhưng, thông thường
thì đó là những kiến thức mà họ tin là đúng, hoặc đã được họ kiểm nghiệm bằng chính hoạt
động và kinh nghiệm sống của mình. Các tri thức triết học cùng các tri thức khác cũng được họ
tiếp nhận như vậy đã tạo thành hệ thống tri thức chỉ đạo tư duy và hành động của mình trong
cuộc sống. Hệ thống tri thức ấy luôn được bồi đắp, tích luỹ, đổi mới và kiểm nghiệm trong
suốt cuộc đời, là nền tảng cho toàn bộ suy nghĩ, hoạt động, ứng xử của họ.
Cũng tương tự như vậy, trên bình diện xã hội, trong mỗi thời kỳ lịch sử xác định, ý thức
xã hội của mỗi cộng đồng cũng là sự tổng hợp các hệ thống tri thức khác nhau, tạo thành ý
thức cộng đồng, chỉ đạo mọi suy nghĩ, hoạt động và ứng xử của cộng đồng đó. Nhưng, khác
với ý thức cá nhân, ý thức cộng đồng, một mặt, được thể hiện thông qua ý thức cá nhân; mặt
khác, lại được hình thành trên cơ sở các ý thức cá nhân của cộng đồng. Trong ý thức cộng đồng
cũng như ý thức cá nhân, hệ thống các tri thức triết học là cốt lõi căn bản, là chất keo dính kết
toàn bộ các loại tri thức khác, có trong cộng đồng hoặc cá nhân cụ thể. Bởi vậy, các tri thức
triết học với tư cách bộ khung cốt trong thế giới quan của mỗi con người và mỗi cộng đồng
luôn đóng vai trò là nền tảng cho tư duy của con người.
Thực tế lịch sử từ thời cổ đại cho đến nay, cả ở phương Đông lẫn phương Tây, đều
cho thấy, khi hệ thống tri thức có những thay đổi thì sớm hoặc muộn, nhanh hoặc chậm, năng
lực tư duy và hoạt động của con người cũng phải thay đổi. Đời sống hiện thực biến đổi luôn
đặt ra những vấn đề mới, buộc con người phải suy nghĩ, tìm kiếm những lời giải đáp và những
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 64
phương tiện để giải quyết vấn đề. Những tri thức mới ra đời bổ sung và bồi đắp cho hệ thống
tri thức đã có, làm thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi từng phần thế giới quan, dẫn đến thay đổi
cả phương thức hoạt động của con người và cộng đồng. Điều đó cũng có nghĩa rằng, những tri
thức mới đã làm thay đổi tư duy của con người.
Những phát minh lớn trong khoa học, những lí thuyết và kiến thức triết học với tư cách
những tri thức khái quát thường xuất hiện như là những đột phá điểm của sự thay đổi tư duy.
Không có được những phát minh hoặc những lí luận triết học như vậy, không thể có sự thay
đổi của tư duy. Khi các tri thức khoa học cụ thể cùng những trải nghiệm thực tiễn được tích
luỹ, rồi được khái quát thành tri thức triết học, hay nói cách khác, các tri thức khoa học và kinh
nghiệm thực tiễn khi đã đạt đến tầm triết học, có khả năng làm thay đổi năng lực tư duy của
con người và xã hội.
Năng lực tư duy của con người chính là khả năng vận dụng tổng thể các tri thức đã có
để tạo ra được những tri thức mới, tạo ra những giải pháp đúng đắn và thích hợp cho việc giải
quyết


những vấn đề đang được đặt ra trong thực tiễn. Để tư duy, con người buộc phải sử dụng bộ
máy các khái niệm, phạm trù, các tri thức nằm trong hệ thống các khái niệm, phạm trù đó.
Năng lực tư duy phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng, quan trọng và quyết định nhất
vẫn là hệ thống các tri thức, trong đó đặc biệt là các tri thức tổng thể và khái quát - những tri
thức triết học. Mang tính khái quát, tổng quát, các tri thức triết học giữ vai trò định hướng chủ
đạo. Kết hợp với các tri thức khác mà con người tích luỹ được, nó định hướng tư duy, cách suy
nghĩ và hành động của họ.
Năng lực tư duy của mỗi cá nhân và cộng đồng được hình thành trong quá trình hoạt
động và phát triển của họ. Nó được thể hiện qua khả năng kịp thời nắm bắt những thay đổi
nhanh chóng của thế giới bên ngoài. Nhưng, thế giới trong điều kiện ngày nay lại thay đổi rất
nhanh chóng và khó lường. Không thể dùng tư duy cũ phản ánh thế giới cũ để nhận thức chính
xác và đầy đủ thế giới hiện thực đã thay đổi. Chính vì vậy, khi cuộc sống thực tiễn đã thay
đổi, tư duy cũ thể hiện sự bất lực qua việc chỉ đạo hoạt động kém hiệu quả, con người buộc
phải đổi mới tư duy. Điều đó cũng có nghĩa là con người buộc phải đổi mới năng lực tư duy.
Đổi mới tư duy, hay đổi mới năng lực tư duy, trước hết con người phải đổi mới các
công cụ tư duy, tức đổi mới tri thức nằm trong hệ thống các khái niệm, phạm trù đã có trước
đó. Nếu không đổi mới được những tri thức cũ, không còn phù hợp với hiện thực mới, chúng
sẽ trở thành xiềng xích trói buộc tư duy, trói buộc suy nghĩ và hành động của con người. Chủ
nghĩa giáo điều, bảo thủ và cả chủ nghĩa cải lương dưới nhiều hình thức khác nhau, đều là sản
phẩm của việc chậm đổi mới tư duy khi hiện thực đã biến đổi. Nhưng, việc đổi mới các tri
thức trong hệ thống khái niệm, phạm trù lại không thể làm ngay lập tức, làm một lần là xong,
mà đó là một quá trình. Trong quá trình đó, các kiến thức mới được bổ sung, kiến thức cũ được
hoàn thiện hoặc bị loại bỏ. Với tư cách những tri thức tổng hợp, khái quát, triết học đóng vai
trò quan trọng trong quá trình đổi mới đó. Không có một định hướng triết học đúng, một thế
giới quan khoa học thực sự, quá trình đổi mới tư duy sẽ là quá trình mò mẫm, thụ động, chậm
chạp, khó tiên đoán. Triết học, trong quá trình này, không chỉ là nguyên liệu và năng lượng cho
đổi mới tư duy, mà đồng thời, còn là ngọn đèn pha định hướng cho sự đổi mới.
Quá trình đổi mới tri thức đến một giới hạn nhất định sẽ tạo nên những thay đổi trong
hệ thống các tri thức triết học. Khi đó bắt đầu một quá trình biến đổi cách mạng trong tư duy
và năng lực tư duy. Bởi thế, có thể nói, đổi mới tư duy, nâng cao năng lực tư duy không thể
không đổi mới các tri thức triết học. Nếu chủ động thực hiện được quá trình đó, con người sẽ
đi nhanh hơn, hiệu quả hơn cả trong đổi mới tư duy lẫn trong hoạt động. Nếu thụ động, quá
trình sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn, kéo dài, hiệu quả không cao, nhưng tất yếu vẫn phải
diễn ra. Hệ thống các từ thức triết học là sự “chưng cất”, “cô đặc”, là nhân lõi, khung cốt của
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 65
những in thức thuộc loại khác mà con người đã có được. Do vậy, khi nó buộc phải thay đổi thì
toàn bộ các phần khác của hệ thống tri thức cũng theo đó mà phải thay đổi. Điều quan trọng là,
trong quá trình đó, mọi sự thay đổi, cả các tri thức triết học, năng lực tư duy đều luôn có sự kế
thừa. Bằng việc kế thừa và nhờ sự kế thừa mà triết học có thể đảm nhận được vai trò vừa là
nguyên liệu, năng lượng, vừa là định hướng cho việc đổi mới và nâng cao năng lực tư duy.
Thế giới đang biến đổi hết sức mạnh mẽ và nhanh chóng. Nó đòi hỏi tư duy cũng phải
nhanh chóng đổi mới, thích ứng và phát triển nhanh hơn, năng lực tư duy phải không ngừng
được nâng cao mới có thể nắm bắt, nhận thức được thế giới. Trên cơ sở đó, con người, cộng
đồng mới có thể hành động đúng, có hiệu quả cao, phát triển theo nhịp độ của thế giới. Bối
cảnh hiện nay, cả bên trong lẫn bên ngoài, đang đòi hỏi con người Việt Nam phải nhanh chóng
đổi mới, nâng cao năng lực tư duy hơn nữa. Nếu không làm được điều đó, việc giải quyết hàng
loạt những vấn đề khác sẽ gặp nhiều khó khăn và không thể vượt qua, tình trạng (không chỉ là
nguy cơ) tụt hậu ngày một thêm khó khắc phục.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra như vũ bão khiến cho vòng đời
các sản phẩm, các công nghệ ngày càng ngắn dần lại. Các lực lượng sản xuất đang gia tốc chu
kỳ thay


thế cái cũ bằng cái mới ở quy mô ngày càng lớn và mạnh. Toàn cầu hoả là xu thế tất yếu và
ngày càng gia tăng sức mạnh với tốc độ ghê gớm, ngày càng lôi kéo các quốc gia vào vòng xoáy
của mình khiến cho họ không thể cưỡng lại được. Những vấn đề toàn cầu, đặc biệt là những
vấn đề sinh thái, đang ngày càng đặt nhân loại trước những thử thách khủng khiếp và khôn
lường, yêu cầu phải giải quyết cấp bách. Tất cả những thay đổi nhanh chóng của mấy thập kỷ
qua đã tích tụ sức mạnh của chúng để sẵn sàng “nổi loạn” với con người và các cộng đồng,
nếu con người và cộng đồng không kịp đổi mới tư duy, nâng cao hơn nữa năng lực tư duy của
mình.

4.2 Tư duy hậu hiện đại và những cách thu nhận kiến thức
Có thể thấy hai kiểu để tìm hiểu, thu nhận kiến thức. Cách thứ nhất: cách học để biết
nhằm gia tăng thêm kiến thức (La savoir) hay nói cách khác kiến thức có được nhờ sự học và
đặc điểm của cái sự học này là phát huy trí óc từ khả năng thuộc, nhớ...
Nhiều người rất thông minh, rất giỏi, thuộc nhớ rất nhiều. Bộ óc của họ có thể gọi là
"Một cuốn từ điển bách khoa" kiến thức rộng lớn, biết mọi điều Đông- Tây- Kim- Cổ và được
người đời rất thán phục, ngợi ca. Đây là điển hình người tài của thời kỳ tiền hiện đại và một
phần của hiện đại.
Cái học của tinh thần hậu hiện đại rất khác. Học không chỉ để biết mà học để sáng tạo.
Do vậy tinh thần khoa học hậu hiện đại không đề cao dạng kiến thức La savoir- có được do
khả năng thuộc, nhớ mà có (những kiến thức này chủ yếu là những kiến thức cố định, có sẵn
do nền học vấn của những người đi trước tạo ra) mà đề cao loại kiến thức La connaissance- có
được chủ yếu nhờ vào năng lực nhận thức (Lacapacité de la connaissance). Những người có
năng lực (Capacité) hay có thể gọi là năng lượng (énergie) nhận thức không cần học nhiều
nhưng biết nhiều.
Những nhà bác học chế tạo ra các con tàu vũ trụ chưa hề bao giờ học lái con tàu vũ trụ
hay học cách ra khỏi con tàu vào khoảng không để sửa chữa khi bị hư hỏng, nhưng họ biết mọi
việc của một phi hành gia, và chỉ dẫn những cách thức thao tác cho phi hành gia ra ngoài
khoảng không để sửa chữa..
Người có năng lực, năng lượng nhận thức ngoài yếu tố bẩm sinh, còn nhờ kinh nghiệm
sống, kỹ năng sống, sự nhạy cảm, óc tưởng tượng phong phú…tất nhiên không thể bỏ qua
việc học tập để thu nhận, hiểu biết những kiến thức nền tảng (La savoir). Và đặc biệt một

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 66
đặc điểm nổi trội nhất là khả năng tạo phong cách tư duy phản biện với những điều mình biết,
mình hiểu trong sách vở, trong đời sống.
Xin lưu ý rằng tư duy phản biện của tinh thần khoa học hậu hiện đại đã khác về chất,
về cường độ so với tư duy phản biện như là một yếu tố cặp đôi với chính thuyết trong tiến
trình nghiên cứu khoa học đã có từ lâu đời ở phương Tây (Argumentation). Sự phản biện trong
truyền thống nghiên cứu khoa học trước đây thường đưa ra những ý kiến phản bác lại, cãi lại
những lý thuyết, những kết luận khoa học đã được đưa ra, nhằm góp ý để chỉnh sửa lại cho tốt
hơn, hoàn hảo hơn những lý thuyết, những kết luận khoa học đó.
Tư duy phản biện với tinh thần của khoa học hậu hiện đại vẫn mang tinh thần truyền
thống đó nhưng riết ráo hơn, mạnh mẽ hơn rất nhiều. Có thể mượn khái niệm
"Transvaluation" (lật ngược giá trị) trong "Thuyết siêu nhân" của F.Nietzshe trước đây để nói
về tinh thần phản biện đó: Tức là trong khoa học, nhiều khi không chỉ có chỉnh sửa những lý
thuyết cũ, chân lý cũ mà cần phải lật ngược hẳn lại để tìm, để khám phá ra những cái khác,
mang được những giá trị mới, chân lý mới.
Chẳng hạn, trong phương pháp tư duy khoa học thời hiện đại, nguyên lý hệ thống là
một trong những phương pháp tư duy nền tảng. Nguyên lý này là thước đo quan trong nhất để
nhận thức, để nghiên cứu mọi sự vật, mọi hiện tượng trong giới tự nhiên và xã hội. Nguyên lý
hệ thống luôn luôn truy tìm ra những yếu tố điển hình nhất, qui luật nhất, mang tính phổ quát
nhất… Một sự vật, hiện tượng nào mang được nnững yếu tố như vậy, đặc tính như vậy sẽ
mang được tính bản


chất nhất và đồng thời cũng mang được tính chân lý. Tinh thần khoa học hậu hiện đại vẫn coi
trọng những điều đó, nhưng sẽ đưa ra những phản biện mạnh mẽ, rốt ráo hơn để phản bác,
xây dựng một lối nhìn khác hẳn, mới hoàn toàn trên con đường đi tìm chân lý.
Với những nguyên lý hệ thống, nó thấy rằng nguyên lý này quá "tôn thờ" cái ổn định
nên đã không biết đến những "biến số", những "khúc quanh", những sự đan chéo, những quá
độ, những biệt lập, những dị biệt nằm ngoài hệ thống mà vai trò của nó cũng không hề kém
quan trọng trong tiến trình hình thành, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng, của mọi vấn đề
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tự nhiên. Lối tư duy phản biện này trong lý luận
nhận thức của triết học hậu hiện đại được thể hiện rõ nhất, đúng nhất ở thuyết "Nghịch luận"
(Paralogie). Thuyết này (Paralogie) chúng ta thấy có tiếp đầu ngữ là para: có nghĩa là song song,
cận kề, chuẩn bị xuất hiện, ẩn bóng, chưa xuất hiện…
Một trong những đặc điểm của nhận thức luận hậu hiện đại hay có thể gọi là logic hậu
hiện đại là truy tìm, khám phá ra những cái (chân lý) nằm cận kề, nằm song song với những cái
đã khẳng định, ổn định, những cái chuẩn bị xuất hiện hay ẩn mình, chưa xuất hiện, những cái
chưa từng có, chưa từng thấy để tìm ra những giá trị mới, chân lý mới. Chính vợ chồng nhà tỷ
phú Bill Gattes hiện nay đã không ngại ngùng bỏ ra rất nhiều tiền của để tài trợ cho một số nhà
khoa học tài ba tìm ra, phát hiện ra, sáng tạo ra những cái mới có giá trị cho nhân loại mà vẫn
còn ở phía trước mà đầu óc của các nhà khoa học bình thường không hình dung ra được, hoặc
cho là ngược đời phi lý- đó chính là những para- những cái chuẩn bị xuất hiện, còn ẩn bóng,
còn chưa xuất hiện…Nói tóm lại đó là những "cú" đột phá, những bước nhảy vọt của sự khám
phá, sáng tạo của tinh thần khoa học hậu hiện đại.
Sự học của thời kỳ hậu hiện đại đã khác xa kiểu học cũ, nhất là lối học giỏi, học để có
một tấm bằng. Trong thời hậu hiện đại, một nhà khoa học, chỉ có một bằng tiến sĩ (dù đó là
loại giỏi chứ chưa nói đến loại tầm tầm hay loại "tiến sĩ giấy") cũng sẽ khó trụ vững trên con
đường sự nghiệp của mình, nếu không nỗ lực để có thêm những bằng của những chuyên
ngành khác phù trợ. Sự phát triển như vũ bão của khoa học trong thời hậu hiện đại đã đẩy
nhanh tốc độ gia tăng tính liên ngành (Interdisciplinarité) trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng
khoa học, cho nên với một tấm bằng của một chuyên ngành, của một bộ môn sẽ làm cho các
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 67
nhà khoa học gặp nhiều khó khăn, cản trở cho công việc, bởi có nhiều ngành khoa học, nhiều
ngành sản xuất cần phải phối hợp nhiều chuyên ngành, nhiều bộ môn khoa học khác nhau mới
tiến hành tốt hơn được.
Các bậc tiến sĩ là vậy, sinh viên của thời hiện đại ở bậc đại học cũng không chỉ đạt
được một tấm bằng là sự nghiệp của cuộc đời đã tạm ổn. Do tính liên ngành càng phát triển
rộng, sâu, có nhiều ngành khoa học mới, ngành nghề mới ra đời, khoa học trong một thế giới
phẳng nhưng phân khoa theo kiểu cũ ngày càng trở nên cứng nhắc, hạn hẹp, không đáp ứng sự
phát triển khoa học cũng như nguồn lực lao động mới sẽ phải điều chỉnh lại.
Sẽ không còn ranh giới trong các khoa, các bộ môn của các trường Đại học được phân
chưa rõ ràng như cũ. Chính tính liên ngành trong khoa học đòi hỏi phải có những cơ cấu mới
trong tổ chức nghiên cứu khoa học cũng như trong đào tạo khoa học. Sự phát triển mạnh mẽ
với tốc độ cao của khoa học kỹ thuật thời hậu hiện đại làm cho người ta không có thể biết
trước chắc chắn được rằng trong 10, 15, 20 năm nữa ngành nào cũ sẽ còn đắc dụng và ngành
nào, bộ môn nào mới sẽ là "hot" nhất, quan trọng nhất…Vì vậy người sinh viên của thời hậu
hiện đại phải biết hơn một chuyên ngành mà mình học.
Công tác đào tạo tri thức cho sinh viên không thể theo kiểu chuyển giao trí thức trọn gói
một lần là xong. Các trường đại học, các trường cao đẳng, các trường nghề luôn luôn phải đặt
ra các chương trình đào tạo lại, đào tạo thêm. Người sinh viên có thể học để lấy thêm một
bằng hoặc hơn (nếu có điều kiện), nếu không có thể học thêm theo cách "chọn từng món" (à la
carte) để tìm việc làm, để làm việc có hiệu quả. Cũng do tính liên ngành trong khoa học phát
triển, nên kiểu học "gạo", học một mình, học theo kiểu "dùi mài kinh sử"…sẽ bị hạn chế kết
quả rất nhiều, thậm chí


sẽ không thực hiện được những đề tài khoa học mới. Do vậy sinh viên muốn thực hiện, phát
triển được những nghiên cứu khoa học đạt được kết quả tốt phải kết hợp, phải xây dựng
thành các nhóm nghiên cứu- tập hợp nhiều cái đầu để cùng bàn, cùng nghĩ, cùng làm sẽ cho
hiệu quả tốt hơn khi chỉ có một cái đầu. (các giải Nobel khoa học trong nhiều năm gần đây
thường trao cho các nhóm nghiên cứu). Tóm lại có thể nói về cách học, phong cách học của
thời hậu hiện đại đã có rất nhiều điều khác xa với lối, kiểu học cũ…
Mục đích học tập cũng vậy. Học chỉ cốt có một tấm bằng, để làm "bùa hộ mệnh", để
có danh, để làm sang, để làm quan…cũng sẽ bị tinh thần khoa học hậu hiện đại loại khỏi cuộc
chơi. Một trong những rào chắn cứng rắn, mạnh mẽ, hữu hiệu để chặn các mục đích trên của
học hành, thi cử cũ là tính hiệu quả của khoa học thời hậu hiện đại.
Ở các xã hội hậu công nghiệp (điển hình là các nước phát triển), hiện nay khoa học này
càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, được tư bản hoá, thương mại hoá vì vậy công tác
đào tạo đại học, sau đại học sẽ bị tính hiệu quả chi phối rất mạnh.
Tất cả mọi biểu hiện của chủ nghĩa hình thức được sinh ra từ những tiêu cực của công
tác đào tạo cũ như tạo ra rất nhiều bằng cấp, học hàm, học vị theo kiểu: "có tiếng nhưng
không có miếng", "hữu danh vô thực"…sẽ khó còn đất tồn tại, bởi lẽ những người cấp kinh
phí, tiền của cho các chương trình nghiên cứu, đào tạo khoa học mạnh mẽ nhất là các tập đoàn
sản xuất, những ngành kinh tế, những ngành sản xuất, các hãng, các công ty lớn xuyên quốc
gia…đầy tiềm lực tiềm năng. Các nhà tài trợ này sẽ không bao giờ bỏ tiền của của họ cho
những công tác nghiên cứu, đào tạo khoa học chỉ để có những "Tiến sĩ giấy", hay cho những
mục đích quảng bá vu vơ, hão huyền. Tính hiệu quả sẽ là thước đo, là chỉ tiêu hàng đầu để họ
sẽ đưa ra quyết định có tài trợ hay không?
Tính hiệu quả không những chi phối công tác đào tạo khoa học mà còn chi phối cả
những công tác hoạt động khoa học, quản lý khoa học, rồi sẽ có nhiều sự điều chỉnh, đổi thay
trong công tác này...

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 68
4.3 Chúng ta thường gặp lỗi tư duy như thế nào

4.3.1 Logic hình thức
Lỗi 1: Mãi mãi là không thay đổi
Khó có thể hạn chế hay khẳng định những ngữ cảnh khác nhau áp dụng chỉ một cách
duy nhất. Lôgíc hình thức trong sâu xa không xem xét đến yếu tố thay đổi theo thời gian. Chúng
ta phải tự xoay xở đối xử với sự thay đổi liên tục của thế giới và cả chính những kết quả, cách
thức tư duy của chúng ta. Và đó làm nảy sinh lỗi suy nghĩ ta thường xuyên rơi vào.
Ví dụ, "Đó là đế quốc thực dân mãi mãi là sen đầm trong khu vực và trên thế giới !"
(như trước kia và lúc này). Chính sách của mỗi nước sẽ thay đổi trong quá khứ, ở thời điểm
xem xét và trong tương lai. Vậy nhận định như thế là không phù hợp.
Lỗi này còn xuất hiện trong nhiều tình huống khác nhau, (đặc biệt là với những sự vật,
hiện tượng vận động đa dạng) dẫn đến những kết luận nhanh chóng có thể là những sai lầm.
Ví dụ, nếu năm 1983 chúng ta nhận định kinh tế Trung Quốc luôn là nền kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp, khó có hy vọng thay đổi thì chỉ sau 4 năm, năm 1987 Trung Quốc đã
chuyển đổi 70% sang thành kinh tế thị trường tự do.
"Mãi mãi không thay đổi" là một lỗi mang đầy tính chất bảo thủ, tự coi mình là tiên tri
trong mọi việc suy xét thực tế.
Lỗi 2: Nhìn nhận một quá trình lâu dài như một sự kiện nhất định
Quá trình được xem như chuỗi các sự kiện diễn ra liên tiếp, mỗi sự kiện lại được xem
xét như một thay đổi. Chúng ta nghĩ về một sự kiện như là một quá trình ngắn hay một thời
điểm. Bởi vậy trong ngôn ngữ chúng ta cũng thường dùng danh từ để chỉ sự kiện bắt nguồn từ
một động từ.


Lỗi này xuất hiện từ việc chúng ta dừng thời gian và coi tư duy với các sự vật, hiện tượng, quá
trình là đồng nhất. Vấn đề là chúng ta cần định nghĩa kỹ những ranh giới xác định cho một sự
kiện vẫn là nó.
Ví dụ: chỉ diễn ra 1 sự kiện là một cuộc hội thảo bàn về phòng chống tội phạm tạo cho
nhiều người cảm nghĩ chúng ta có một quá trình tích cực chống tội phạm lâu dài.
Lỗi 3: Giải quyết vấn đề bằng định nghĩa lại nó
Con người sử dụng và phụ thuộc vào những từ ngữ trừu tượng do mình sinh ra. Một từ
đơn giản chưa chắc đã là dễ hiểu, nhất là nó thay đổi theo tình huống sử dụng, định nghĩa nó.
Chúng ta có thể làm biến mất vấn đề, đảo ngược vấn đề khi phân loại lại nó vào trong một
phạm trù khác, lĩnh vực kiến thức, môi trường văn hoá khác. Lôgíc hình thức hàm ý là không
được thay đổi các khái niệm theo định nghĩa lại, phân loại lại chúng khi đang tiến hành quá
trình tư duy. Điều này không tất yếu làm thay đổi điều kiện. Hiểu sai những thuộc tính cơ bản
của khái niệm hay mức độ hiểu biết thiếu sâu sắc khái niệm cũng thường dẫn đến thay đổi
khái niệm và là nguyên nhân nảy sinh lỗi loại 3 này.
Ví dụ, suy luận “Vật chất luôn vận động. Cái ghế này là vật chất sao chẳng thấy di
chuyển gì ?”. Khái niệm Vật chất, vận động trong triết học đã bị đánh tráo thành khái niệm vật
chất, vận động của đời thường. Khi thay đổi khái niệm như vậy, chúng ta đã vượt khỏi ranh
giới vận dụng đúng đắn nguyên lý của Logíc hình thức.
Một ví dụ khác, trong quan hệ giữa Trung Quốc - Đài Loan, việc Trung Quốc luôn coi
Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của mình. Định nghĩa này xuất phát từ quan điểm
coi Đài Loan, Trung Quốc là 2 đối tượng của khác nhau của tư duy thành một đối tượng, đã từ
lâu không cho phép bàn luận, thay đổi tình hình, quan hệ quốc tế đối với Đài Loan.
Lỗi 4: Tự mình độc lập
Lỗi này do người nghĩ coi mình riêng biệt, phân biệt rõ ràng với những người khác,
quên đi những mối quan hệ, phụ thuộc lẫn nhau. Lôgíc hình thức đã coi rằng chính ta là ta chứ
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 69
không phải là một ai khác. Quy luật cơ bản xác định hoạt động của một người hay một tổ chức
không xem xét đến những ảnh hưởng sâu xa đến những người khác, tổ chức khác.
Trong nhiều mối quan hệ, nhiều lúc một cá nhân hay tổ chức hoạt động mà không quan
tâm đến ảnh hưởng của nó đối với những đối tác khác. Như việc thay đổi chính sách thuế ở
các nước, tăng cường mua sắm thiết bị ở một phân xưởng... Nguồn gốc lỗi là người nghĩa đã
tự mình coi như độc lập, không thấy hết những mối quan hệ tinh tế lẫn nhau.
Lỗi 5: Cô lập vấn đề
Xu hướng của lỗi là lưu tâm tới vấn đề như rời rạc, độc lập trong những hoàn cảnh
rộng lớn hơn. Nó là kết quả của việc dùng sai quy luật cấm mâu thuẫn. Nếu một vấn đề là
duy nhất thì không được cùng lúc nối nó với nhiều ngữ cảnh rộng rãi. Một cách đúng đắn sự
phân tích đúng đắn là khảo sát tương tác hệ thống đang hoạt động với những hệ thống lớn hơn
mà nó chỉ là một thành phần.
Chúng ta cũng thường xuyên tách riêng một vấn đề nào đó và coi những vấn đề khác là
không có liên quan. Đó cũng yêu cầu tâm trí của người do hạn chế của trí não. Lỗi này có thể
ẩn dụ như "lỗi đường hầm". Vấn đề B là lý lẽ chính để hướng đến mục đích A mong ước. B
dẫn dắt tới C. C thì dẫn dắt tới D. Và như vậy ta dễ coi rằng D chính cách chủ yếu để đạt
được C, B và tức là A mong muốn. Thực ra nếu chúng ta hướng tâm trí và vị trí bên ngoài thế
giới của A, B, C, D có thể để lộ ra những mối quan hệ khác quan trong không kém, không
thuộc đường dẫn A-B-C-D mà chúng ta đã chọn lựa ra.
Lỗi 6: Lỗi kết quả duy nhất
Lỗi này cho rằng mỗi vấn đề hay hoạt động chỉ đem lại một và chỉ một kết quả duy
nhất. Bẫy này sử dụng nhầm lẫn quy luật loại trừ lẫn nhau, ước định coi một cái bất kỳ không
thể vừa là thế này lại vừa là thế kia. Chúng ta phải hiểu đúng nguyên lý này là tại một thời
điểm duy nhất xác


định. Nó có thể không đúng nếu ta xem xét các kết quả ở những thời điểm khác nhau. Kết quả
cũng có thể thay đổi khi những người quan sát có những lợi ích khác nhau khi nhìn nhận kết
quả ấy.
Ví dụ, các bộ trưởng các nước OPEC đã tin tưởng rằng việc tăng giá dầu ở những năm
1970 sẽ không gây hậu quả xấu nào với nền kinh tế thế giới. Nó cũng giúp cho mỗi nước thu
thêm được những lợi tức đáng kể. Nhưng kết quả là sau vài tháng nhu cầu dầu lửa giảm, họ
cũng tự cắt giảm sản lượng của mình và các nước chẳng có thêm một chút lợi nhuận nào từ
việc bán dầu mỏ.
Ví dụ tương tự có thể kể ra như diệt chim sẻ ở Trung Quốc, khai thác chặt phá rừng
quá mức ở các nước. Bản chất của lỗi này có thể nói ngắn gọn là: “Bản chất mọi vấn đề
không thể chỉ đơn giản là một thứ. Ý tưởng cần được xem xét đến trong một hệ thống vấn đề
liên quan lẫn nhau”
Lỗi 7: Loại trừ phương án khả thi
Lôgíc hình thức chỉ ra những cảnh quan dẫn dắt chúng ta đến việc công thức hoá chọn
một giải pháp trong nhiều giải pháp bởi chúng phải tự loại trừ lẫn nhau, không chấp nhận giải
pháp trộn lẫn.
Ví dụ kinh điển nhất trong khoa học là từ lâu những nhà vật lý thế kỷ 19 tranh luận về
bản chất hạt và sóng của ánh sáng. Những thực nghiệm khác nhau cho thấy ánh sáng mang bản
chất hạt, một số khác lại làm lộ rõ ra bản chất sóng của nó. Lúc bấy giờ việc chọn một trong 2
dạng bản chất là giải pháp chủ yếu, không ai chấp nhận là ánh sáng mang lưỡng bản chất
sóng-hạt. Một lỗi khác tinh tế hơn là trong lĩnh vực triết học. Khi chúng ta đang cố phân biệt
hai phạm trù “tinh thần” với “vật chất” một cách rạch ròi và xem xét một sự kiện hay hiện
tượng thì thuộc loại phạm trù duy nhất nào, mối quan hệ của nó với phạm trù kia.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 70
Trong thực tế cuộc sống chính trị thế giới, chúng ta gặp không ít lỗi tương tự kiểu của
tổng thống Mỹ W. Bush: thế giới chỉ có 2 lực lượng: một là đứng về chúng tôi đại diện cho
tiến bộ và một là đứng về bọn ủng hộ khủng bố” (quan điểm về trật tự thế giới chia hai:
-Hiện nay, mỗi một quốc gia, bất kể ở nơi đâu, cần phải đưa ra quyết định: hoặc là đứng về
phía với chúng tôi, hoặc với bọn khủng bố!) Chúng ta đã mặc vào loại lỗi Loại trừ nhau nói
trên.
Lỗi 8: Lý do đầy đủ
Con người thường có thói quen tư duy miên man và dễ xa rời, lệch lạc nhiều so với
thực tế.
Hoặc là thiếu những căn cứ thực tiễn được xem xét, thu thập chính xác; thiếu những lý
thuyết tin cậy đến thời điểm hiện tại và xem xét những lý thuyết đó một cách khách quan, suy
luận đúng đắn, có phản biện. Hoặc là kết quả suy luận không được kiểm chứng, đối chiếu lại
với thực tế.

4.3.2 Logic biện chứng
Lỗi 1: Trong bất kỳ tình huống nào, tài nguyên, nguồn lực càng lớn thì càng có lợi.
Ví dụ như ở mức doanh nghiệp, giải thích nguyên nhân chậm, kém phát triển của doanh
nghiệp là do thiếu vốn, ở mức quốc gia các siêu cường chạy đua vũ trang và coi vũ khí càng
nhiều thì càng có lợi, đảm bảo được sự an toàn cho quốc gia.
Lỗi 2: Dùng vũ lực có thể thúc đẩy sự phát triển.
Sử dụng sức mạnh để chiến thắng các trở ngại, thay đổi tình trạng của những người
khác hoặc tự mình. Bằng cách nào đó gây những ảnh hưởng hoặc bắt buộc những người khác,
dùng vũ lực chiến thắng nếu người khác phản ứng lại. Ví dụ, đó là dạng quan hệ đối ngoại
"Cây gậy-củ cà rốt" trên trường quốc tế. Hệ quả cho thấy là những kết quả bất ngờ, tàn khốc,
khó dự báo. Hiệu ứng quân sự, chính trị, kinh tế thê thảm.
Vũ lực không phải không bao giờ được sử dụng nhưng cũng không phải luôn là giải
pháp duy nhất.
Lỗi 3: Mâu thuẫn thay đổi mọi cái theo cách hiệu quả.
Nếu cho rằng nguồn gốc mọi trạng thái, thời điểm đều chứa đựng những mâu thuẫn và


chính mâu thuẫn điều khiển, sản sinh nên những thay đổi thì những gì cần làm là bằng mọi
cách khuấy động lên mâu thuẫn. Đó là cơ sở lý luận của khủng bố: xúi giục nên những mâu
thuẫn để giải quyết những hận thù tinh thần.
Văn học dân gian khuyên chúng ta "Mâu thuẫn làm trong sạch không khí". Chính mâu
thuẫn trở thành trung tâm của sự tranh giành, đấu đá quyền lực. Thái độ, chính sách đối với
kinh tế tư nhân trước kia... không đàn áp để các nguồn lực phát triển cũng là sự bảo trì, duy trì
mâu thuẫn.(??)
Lỗi 4: Mâu thuẫn là tất yếu.
Kể cả có giải quyết được mâu thuẫn hay không thì mâu thuẫn vẫn luôn luôn tồn tại và
tiếp tục vận động. Nhiều học thuyết cho rằng giữa những dân tộc luôn có xung đột vì mối
quan tâm, lợi ích, tư tưởng mỗi nơi mỗi khác. Từ đó làm cơ sở chứng minh sự tương tác giữa
các nền văn minh là sự đương đầu, đối chọi và xung đột. Kết quả của mâu thuẫn là những hình
ảnh xuyên suốt lịch sử: Chúa trời-quỷ xa tăng, tội lỗi-hạnh phúc, chính nghĩa-phi nghĩa...
Lỗi 5: Không có một giới hạn nào.
"Luôn luôn có ngày mai" - sự biến đổi vô hạn định ngụ ý luôn có thời gian để giải quyết
các vấn đề. Giả thuyết về việc không ngừng tăng cường lực lượng và can thiệp là có thể thực
hiện được mọi mưu đồ như trường hợp Mỹ can thiệp vào Nam Việt Nam, các khái niệm như
Dự trữ năng lượng, Quỹ an ninh xã hội....

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 71
Kết hợp với lôgíc hình thức, lỗi này có thể trở thành: phân loại vô hạn, không xác định
và sắp đặt hợp lý trong thời hạn chấp nhận.
Lỗi 6: Kẻ thắng, người thua.
Bắt nguồn từ mỗi quá trình trong cuộc sống là sự xung đột hoặc giải quyết mâu thuẫn.
Những cái người này thu được thì kẻ khác sẽ bị mất đi. Thay cho lập luận tổng =Zero như
vậy, giải pháp khôn ngoan cho vấn đề chung là mọi bên đạt được những chiến thắng và thoả
mãn.

4.4 Người Việt Nam cần có tư duy sáng tạo
Khi nói về con người Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu
các phẩm chất đạo đức như tinh thần yêu nước, đoàn kết, tính lạc quan yêu đời, tình nghĩa
trong ứng xử… nhưng về các phẩm chất trí tuệ, nhất là phẩm chất sáng tạo, năng lực tư duy
sáng tạo và những đòi hỏi gay gắt trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước thì quả là còn ít công trình nghiên cứu. GS.Trần Văn Giàu, trong một công trình về giá trị
truyền thống văn hóa Việt Nam có một chương nói về sự sáng tạo của người Việt Nam trong
lịch sử, dưới góc nhìn lịch sử (Xem: Trần Văn Giàu tuyển tập, Nxb. Giáo dục, tr. 398-414.). Ở
đây, chúng ta cần đặt ra để nghiên cứu vấn đề đó cả ở tầm lý luận cơ bản và tầm ứng dụng.
Trong thời kỳ xây dựng, đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
đòi hỏi rất cao năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hơn bất kỳ thời kỳ nào khác. Nhưng
con người Việt Nam có tiềm năng sáng tạo hay không, mức độ sáng tạo ở mức nào? Làm sao
để phát huy được tiềm năng sáng tạo đó? Đây là một hướng nghiên cứu sâu mà ở đây chỉ xin
nêu ra như sự gợi ý bước đầu.
Khi nói về tiềm năng sáng tạo ta thường thấy các cấp độ hay mức độ như tiềm năng
sáng tạo trong hành động thực tiễn (trong sản xuất và chiến đấu); tiềm năng sáng tạo trong tư
duy (hoặc tiềm năng sáng tạo trong khoa học, nghệ thuật); cải tiến, phát hiện, phát minh trong
công nghệ…
Năng lực sáng tạo là năng lực tạo ra cái mới về chất hợp quy luật. Những tiêu chí của
trí sáng tạo, nhân cách sáng tạo là năng lực thích ứng, linh hoạt cao; tính độc lập hơn trong
đánh giá, chống lại mọi sự áp đặt, gò ép; ý thức tự chủ và quyết đoán cao hơn… Còn trí thông
minh chỉ là nhớ nhiều, tổng hợp giỏi, hệ thống khéo, xử lý linh hoạt. Thông minh là một cơ sở
của trí sáng tạo nhưng thông minh chưa hẳn là sáng tạo. Chỉ có trí sáng tạo và nhờ vào hoạt
động sáng tạo thật sự thì con người và xã hội mới phát triển cao hơn về chất. Bởi vì, thông
minh chỉ là lặp lại một cách


linh hoạt còn sáng tạo là đóng góp mới về chất, cao hơn trong quá trình sản xuất vật chất và
tinh thần. Thông minh chưa hẳn trở thành nhân tài nhưng có năng lực sáng tạo thì đó là hạt nhân
của nhân tài. Trong khi đó người ta lại đề cao sự thông minh nhưng ít đề cao sự sáng tạo. Hoặc
nói về con người với tư cách là chủ thể sáng tạo (nghĩa là làm ra) nhưng ít nghiên cứu sâu năng
lực sáng tạo (đổi mới, sáng chế, phát minh, phát kiến…) của con người nhất là về mặt khoa
học thực nghiệm, khoa học cụ thể.
Một dân tộc hay một con người có nhiều sáng kiến, nhiều phát minh sáng chế, đạt được
nhiều thành tựu to lớn, thúc đẩy cao sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội là biểu hiện của
năng lực, tiềm năng của trí sáng tạo được phát huy.
Vậy người Việt Nam ta quả là người có chỉ số thông minh cao, có trí nhớ và tính tổng
hợp văn hóa khá cao. Đã có khá nhiều nhận định không sai là dân tộc Việt Nam ta có nhiều
nhân tài, “có trí thông minh không hề thua kém” bất kỳ một dân tộc nào khác, hoặc “năng lực tư
duy không kém ai”. Nhưng mức độ sáng tạo thì chưa được đánh giá rõ ràng, tuy vậy không thể
phủ nhận con người Việt Nam không có năng lực sáng tạo.

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 72
Công việc đấu tranh và xây dựng nhiều thiên niên kỷ với những chiến công lẫy lừng và
việc tạo dựng một nền văn minh trống đồng, nền văn hóa Lạc Việt nổi tiếng với việc tiếp
biến các giá trị văn hóa ngoại lai với các giá trị văn hóa bản địa chứng tỏ điều đó. Dân tộc ta
cũng là người có năng lực sáng tạo cao nhưng phát triển không đều. Trong chiến đấu đánh giặc
và trong y học thì trí sáng tạo biểu hiện rất cao cả trong hành động và trong tư tưởng có tính lý
luận. Hoặc trong nghệ thuật dân gian những sáng tạo của nhân dân ta cũng khá độc đáo thể
hiện qua hệ thống các chuyện dân gian, các văn hóa vật thể. Nhưng trong sản xuất, xây dựng
phát triển kinh tế, trong khoa học kỹ thuật, trong lĩnh vực xây dựng lý thuyết riêng thì còn
nhiều hạn chế, ít có công trình lớn nổi bật.

4.5 Vấn đề chảy máu chất xám
Ngày nay, hầu như ai lưu tâm đến phát triển kinh tế đều nói đến vấn đề chảy máu chất
xám. Sự thật là, cho đến gần đây, phần lớn hiểu biết về vấn đề này đều có tính khẩu truyền,
căn cứ trên lượng số liệu tương đối hiếm hoi, và nhất là chưa có một khung phân tích tổng thể
một khoa học và chính xác. Rất may, trong vài năm nay, một số nghiên cứu quy mô đã bắt đầu
xuất hiện. Có nhiều nguyên nhân cho việc đáng mừng này. Một là, với sự đóng góp rõ rệt của
kiều dân vào thành tựu kinh tế của nhiều nước (cụ thể là Trung Quốc và Ấn Độ), nhiều người
cho rằng hiện tượng “chảy mấu chất xám” (brain drain) không còn đơn giản như xưa, và hiện
tượng “tuần hoàn chất xám” (brain circulation), thậm chí hiện tượng “tăng thu chất xám” (brain
gain), cũng cần được chú ý. Hai là, nhờ toàn cầu hoá, các luồng chảy xuyên quốc gia của hàng
hóa, vốn, và bây giờ là người, trở nên thông thoáng hơn. Vậy mà, so với trình độ hiểu biết về
luân lưu hang hóa và vốn, thì hiểu biết về luân lưu con người (nhất là chất xám) còn quá thấp,
cần phải nỗ lực để biết rõ hơn. Đặc biệt sự luân lưu chất xám nên được phân tích trong bối
cảnh cạnh tranh toàn cầu, chú ý đến chính sách của những nước giàu nhằm thu hút một số loại
chất xám, và ảnh hưởng khác nhau trên các quốc gia mất chất xám. Ba là, nhờ vào lượng thông
tin ngày càng phong phú, phương pháp phân tích kinh tế ngày càng tinh tế, chúng ta hiểu biết
nhiều hơn về hiện tượng thay máu chất xám, phân tích và đánh giá hiện tượng này có thể khoa
học hơn, dễ dàng hơn.
Có thể hình dung ảnh hưởng của chảy máu chất xám như truyền qua bốn “kênh”:
(1) Một là, chính “kì vọng” đi ra nước ngoài cũng đã có ảnh hưởng đến nhiều người
trong nước (nhất là giới trẻ), dù rốt cục họ có đi hay không. Người ta không cần phải thật sự
di cư mới có ảnh hưởng đến nước gốc. Kì vọng ra nước ngoài học tập, nghiên cứu, làm ăn, sẽ
thúc đẩy giới trẻ trong nước năng nổ trau giồi thêm giáo dục, tay nghề, và do đó ảnh hưởng tốt
cho xã hội và kinh tế của nước họ. Ảnh hưởng này thường được gọi là hiệu ứng “thu thêm
chất xám” (brain gain). Một ví dụ cụ thể: chính giấc mơ sang Mỹ làm việc ở “thung lũng
Silicon” đã thúc đẩy giới
trẻ Ấn Độ đi vào tin học, đưa đến sự phát triển công nghiệp phần mềm ở quốc gia này.

Hiển nhiên, không phải hi vọng “xuất ngoại” của bất cứ ai bao giờ cũng thành sự thật,
nhưng sự cố gắng của họ sẽ có lợi cho xã hội. Như vậy, cơ hội di cư ra nức ngoài sẽ tăng
thêm động lực đầu tư vào giáo dục. Theo vài nghiên cứu, hiệu ứng này khá lớn cho những quốc
gia (như Trung Quốc và Ấn Độ ) đông dân (trên 30 triệu) và tương đối không quá nghèo. Ngoài
ra, cũng nên thấy rằng các thể chế và chính sách trong một nước cũng có thể bị ảnh hưởng bởi
sự kiện là người dân có thể ra nước ngoài lao động, sinh sống, chẳng hạn như nhà nước phải
nghĩ đến những biện pháp để giữ lại nhũng người có tài.
Song, nhìn kĩ hơn, cường độ của hiệu ứng “thu them chất xám” cũng tùy thuộc vào mức
độ và tiêu chuẩn gạn lọc của các nước phát triển trong chính sách cho nhập cư của họ. Sự gạn
lọc ấy càng tinh vi thì hiệu ứng này càng thấp vì ít người sẽ nuôi hi vọng sang các nước phát
triển sinh sống. Vài nghiên cứu cũng cho thấy lắm khi triển vọng du học lại có ảnh hưởng
ngược lại (thành ra xấu), vì nó có thể làm nhiều người ít trau giồi trí thức của mình hơn.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 73
Chẳng hạn như con cháu các gia đình khá giả, biết chắc rằng cha mẹ sẽ gửi mình đi ngoại
quốc, có thể bỏ bê học tập trong nước. Tương tự, cũng có người sẽ đợi khi sang nước tiên tiến
mới bắt đầu học hành, do đó không gây hiệu ứng “thu thêm chất xám” nào cho quốc gia sinh
quán của họ.
(2) Hai là, sự “vắng mặt” của chất xám sẽ có ảnh hưởng không tốt cho quốc gia gốc
của họ. Đây là hậu quả mà từ lâu ai cũng biết. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây có phát
hiện nhiều chi tiết mới, chẳng hạn như ảnh hưởng khác nhau của các loại chất xám, ngoài
việc gây thiếu hụt trong “thị trường đầu vào”. Sự thất thoát của những người có tay nghề cao,
nhất là những cá nhân nhiều khả năng tổ chức và điều hành, sẽ gây thương tổn đặc biệt nặng
nề cho các nước nghèo, hơn hẳn sự thất thoát của những loại chất xám khác. Sự di cư của
những người có kinh nghiệm quản lí bệnh viện, chủ nhiệm khoa ở các đại học, các bác sĩ, y tá,
và nhà giáo, từ các quốc gia chậm tiến là nguyên do chính khiến các nước này không thoát ra
được cái bẫy nghèo khổ. Nhiều phân tích khác thì cho rằng không phải sự thất thoát của những
chuyên gia đã gây thiệt hại nặng nề như vậy, nhưng là sự thất thoát của giai cấp trưng lưu.
Cũng phải nói đến ảnh hưởng trên chính những người ra đi. Đáng ngạc nhiên là cho đến
nay ảnh hưởng này tương đối ít được biết một cách cặn kẽ (ngoài khẳng định chung chung là,
tất nhiên, đời sống của họ hẳn là khấm khá hơn, nếu không thì họ đã không đi!). Vài nghiên
cứu vừa xuất hiện đã cho nhiều thông tin mới về ảnh hưởng này. Chẳng hạn như một khảo sát
gần đây cho thấy chất xám nhập cư vào Mỹ đã tạo thêm công ăn việc làm cho người Mỹ (và
nâng cao thu nhập trong một số công nghiệp), không phải lấy việc của dân Mỹ như trước đây
nhiều người vẫn nghĩ.
(3) Ba là, ảnh hưởng của cộng đồng kiều dân: Đây là ảnh hưởng từ xa của người đang
sinh sống ở nước ngoài đối với quốc gia gốc của họ. Ngoài những ảnh hưởng về thương mại,
đầu tư, kiều hối, và kiến thức, một người sống xa xứ mà thành đạt cũng giúp hạ thấp những
rào cản kinh doanh quốc tế qua vai trò “trung gian uy tín” tức là cho các đối tác quốc tế hiểu
biết thêm về dân tộc họ, và những cơ hội làm ăn ở quê hương họ, và ngược lại, giúp đồng bào
trong nước họ biết về nước ngoài. Nói cách hoa mỹ, cộng đồng kiều dân là rất quan trọng
trong tiến trình giúp nước họ hội nhập vào mạng lưới sản xuất toàn cầu và thương mại quốc
tế.
Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới thì đúng là kiều hối có trực tiếp giúp đỡ các
nước chậm tiến giảm nghèo, và là một nguồn ngoại tệ quan trọng, song ảnh hưởng rộng hơn
thì khá phức tạp, và tùy tùng nước. Ở Guatemala, chẳng hạn, đa số gia đình nhận kiều hối
dùng tiền đó để giáo dục con em hơn là tiêu dùng. Nhưng ở Mexico thì mức độ giáo dục của
con cái những gia đình có thân nhân ở Mỹ thì lại thấp hơn con cái những gia đình khác, có lẽ vì
các gia đình có người di dân nghĩ rằng rồi con cái họ cũng sẽ sang Mỹ làm lao động chân tay,
mà những việc đó thì đâu cần trình độ giáo dục cao!
(4) Bốn là kênh “hồi hương”. Đó là ảnh hưởng của kiều dân hồi hương sau nhiều năm
sinh cơ lập nghiệp ở nước ngoài, với tay nghề cao hơn, mạng lưới xã hội rộng hơn, và tài sản
nhiều hơn. Bây giờ họ có nhiều khả năng đóng góp hơn cho quê hương họ.


Chính sách
Như đã nói ở trên, các nước đã phát triển (cụ thể là Mỹ, Anh, Canada, Australia) không
chỉ thụ động đón nhận chất xám tìm đến với họ, nhưng đa số còn có những chính sách tích cực
thu hút chất xám để (a) bù lấp thiếu hụt chất xám của chính họ, và (b) tăng thế cạnh tranh của
họ trên thương trường quốc tế. Cụ thể, các nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ chảy máu
chất xám tùy thuộc vào chín sách của các nước tiên tiến (mà chất xám muốn đến) không kém gì
vào điều kiện sinh sống ở quốc gia gốc. Nói cách khác, chính sách của các nước đang thất thoát
chất xám phải trực diện với sự thật là có một nỗ lực cố tình thu hút chất xám (nhất là trong
một số ngành nghề nhất định, cụ thể là y khoa và tin học) của các nước đã phát triển.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 74
Như vậy, có thể xếp các chính sách đối với vấn đề chảy máu chất xám làm bốn loại:
“hạn chế”, “đền bù”, “sáng tạo”, và “móc nối” .
1. Về hạn chế, nhiều tác giả cho rằng một chính sách di cư cân đối (giữa các ngành
nghề, từ các quốc gia khác nhau) sẽ là công bình và tốt cho phát triển chung. (Hiện nay các
nước giàu thu hút chất xám trình độ cao, thậm chí chỉ trong một số ngành nghề nhất định, và
không hồ hởi với các loại hạng lao động khác). Các nước giàu phải cương quyết không “câu”
những chất xám (chẳng hạn như bác sĩ, y tá) mà sự ra di của họ sẽ gây thiệt hại vô cùng cho
các quốc gia mà mức độ phát triển đang là thấp nhất.
2. Nếu không hạn chế được sự thất thoát chất xám thì cũng phải có cách đền bù cho
nhũng người ở lại. Có trách nhiệm đền bù có thể là chính phủ các nước giàu, các công ty những
nước giàu đang dùng chất xám, hoặc do chính người có chất xám sau khi đã ra nước ngoài.
3. Về mặt “sáng tạo” thì các nước giàu phải đầu tư nhiều hơn để gây dựng chất xám
cho công dân họ. (Chính sự thiếu hụt chất xám bản xứ là lí do họ cần chất xám ở các nước
nghèo để lấp vào lỗ hổng!). Về phía các nước nghèo, với tiên đoán rằng người có học lực càng
cao thì càng nhiều khả năng đi khỏi nước, chính phủ nên bắt buộc các người này phải đóng góp
nhiều hơn để trang trải phí tổn đào tạo, giáo dục họ. Các nước đang phát triển cũng phải nâng
cấp nền giáo dục của họ, đơn giản là vì chính hệ thống giáo dục yếu kém của họ đã “xua
đuổi , các nhà giáo dục tài ba của họ ra nước ngoài.
4. Về mặt “mạng lưới xã hội” : các nước gốc phải có những chính sách nhằm bảo tồn
liên lạc giữa người đã ra đi và đất nước quê hương. Tất nhiên, các chính sách này cũng phải
gồm những biện pháp khuyến khích chất xám hồi hương. Cả nước gốc lẫn nước thu nhận
phải làm dễ dàng việc xuất nhập cảnh của kiều dân, gửi kiều hối, và đầu tư Theo đa số người
nghiên cứu vấn đề này, các chính phủ nên tạo động lực cho người muốn trở về hơn là gây
thêm rào cản cho người muốn ra đi.
Chảy máu chất xám “không tốt” hay “tốt”
Ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, hiện tượng “chảy máu chất xám” (từ nước này sang
nước khác) là một hiện tượng được nhiều người, trong chính quyền cũng như ngoài xã hội,
đặc biệt quan tâm. Ngay các quốc gia tiên tiến Tây Âu và Canada thỉnh thoảng cũng bộc lộ
nhiều lo lắng về chất xám của họ di cư sang Mỹ. Và chính ở Mỹ, trong vài năm gần đây, do
hậu quả những luật lệ cấm đoán một số đề tài nghiên cứu sinh y học tại nước này, cũng bị
thất thoát nhiều khoa học gia sang Anh. Tuy nhiên, cho đến nay, sự chảy máu chất xám trầm
trọng nhất vẫn là từ các quốc gia nghèo, kém phát triển Á, Phi, Mỹ La tinh (và mới đây là Đông
Âu) sang các quốc gia giàu đã phát triển, ở Tây âu và Bắc Mỹ.
Để có một chính sách đúng đắn đối với hiện tượng này, và cụ thể hơn là để cá nhân
chất xám có những quyết định sáng suốt cho tương lai bản thân và gia đình, những lý do thường
viện dẫn để giải thích cái “không tốt” , hoặc “tốt” , của sự chảy máu chất xám, cũng như
những phản luận, cần được khám định cặn kẽ và khách quan.
Tại sao nên quan ngại?
Có hai ý kiến thường được nêu ra để giải thích cho sự “không nên có” của chảy máu
chất


xám. Ý kiến thứ nhất cho rằng chất xám chảy ra nước ngoài là một mất mát cho những nước
nghèo, đã tốn nhiều nguồn lực quốc gia trong hàng chục năm đào tạo chất xám đó, để rồi lại bị
các nước giàu lấy mất. Ý kiến thứ hai thì cho rằng sự đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp của
người trí thức, chuyên viên tại quê hương họ là rất cao và cần thiết hơn ở các nước đã phát
triển, sự vắng mặt của họ là một thiệt thòi lớn cho những nước vốn dĩ đã lạc hậu, nghèo nàn.
Song có nhiều nghi vấn cần được đặt cho những ý kiến này:
Thứ nhất, phải thấy sự đóng góp (cho quê hương họ) của cá nhân trong toàn cuộc đời
đương sự chứ không chỉ trong một số năm nhất định nào đó sau khi xuất ngoại và thành tài.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 75
Trong khoảng đời dài đó là những số lượng kiều hối, và những đóng góp sau khi họ có thể trở
về nước sau nhiều năm làm việc ở nước ngoài v.v... Sự phát triển kinh tế thần kỳ của các
nước Đông Á (trước hết là Hàn Quốc, đảo Đài Loan, hiện nay là Ấn Độ và hầu hết các nước
trong vùng) phần đáng kể là do những chuyên viên các nước ấy mang tài năng, vốn liếng về
đóng góp, sau nhiều năm sinh cơ lập nghiệp tại các quốc gia tiền tiến nhất là Mỹ. Và trên hết
phải nhận định rằng năng xuất làm việc của họ ở môi trường quê hương có thể rất khác môi
trường nước ngoài, tùy vào ngành nghề và trình độ phát triển của xứ sở. Nói cách khác, năng
suất có thể là rất cao của họ trong việc làm tại các quốc gia tiền tiến không thể dễ dàng “bứng
rễ” hồi hương, dù họ có trở về.
Thứ hai, chất lượng của chất xám không phải hoàn toàn là sở hữu của cộng đồng, là
kết quả đầu tư của nơi họ sinh trưởng. Một phần đáng kể là do những nỗ lực cá nhân của
chính họ, không chỉ là do tiền của đóng góp cho sự giáo dục của họ thuở thiếu thời. “Có công
nuôi dưỡng là một cụm từ cần phải xác định cho rõ.
Tại sao không nên quan ngại?
Đối với nhiều người khác thì cái gọi là chảy máu chất xám không là một vấn đề cần
quan ngại, chẳng phải chỉ vì lý luận của những người cho nó “xấu” (như nói trên) là sai, mà
còn vì một số lý do tích cực khác.
Một là, trên bình diện kinh tế khách quan, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay,
thì những luồng chảy chất xám chỉ là một cục diện của những giao lưu kinh tế thế giới: các
“đầu vào” (inputs) luôn có khuynh hướng “chảy” từ những công nghiệp, những địa phương có
thu hoạch thấp đến những công nghiệp, những địa phương có thu hoạch cao. Theo kinh tế học
tân cổ điển thuần túy, những dòng chảy này càng thông thoáng thì tài nguyên nhân loại càng
được phân bố hợp lý, đưa vào những sử dụng có hiệu năng tương đối cao nhất. Nói cách khác,
sự di cư chất xám chỉ là hậu quả của quy luật kinh tế không có gì đáng quan ngại, cần ngăn
trở.
Hai là, nhìn từ quan điểm cá nhân có chất xám thì sự di cư từ một quốc gia kém phát
triển, thậm chí có thể đang trong bom đạn chiến tranh, đến một quốc gia tiền tiến, an bình, có
mức sống cao, rõ ràng là tăng phúc lợi cho bản thân và gia đình họ, và qua kiều hối, đóng góp
cho quốc gia gốc. Sự di cư đó là một phần của tự do, dân chủ, quyền căn bản của con người.
Song, cũng chính lý thuyết này, nếu đi sâu hơn, sẽ nêu ra hai dè dặt.
Thứ nhất, khi toàn bộ cơ cấu kinh tế còn nhiều “méo mó” (distortions) - chẳng hạn khi
còn những công nghiệp độc quyền - thì sự hoàn thiện hơn ở một mảnh nhỏ thị trường (ví dụ
như lao động) không phải bao giờ cũng tăng múc độ hoàn mỹ của toàn bộ kinh tế. Đó là định lý
“cái tốt bật nhì” (second-best theorem) nổi tiếng trong kinh tế học hiện đại.
Thứ hai, lao động nhiều chất xám là một thứ lao động đặc biệt, không giống những lao
động tầm tầm khác, bởi vì nó gây những lợi ích ngoại vi, không phản ảnh hết trong thu nhập
của cá thể lao động chất xám ấy. Thế nên sự di chuyển của nó theo những tín hiệu lợi hại nhìn
từ cá thể sẽ không chắc ăn khớp với những lợi hại cộng đồng. Nói lý thuyết hơn thì hiện
tượng này thuộc phạm trù lý thuyết về ngoại ứng (externalities). Theo lý thuyết này (mà người
khai sáng là Ronald Coase, Nobel 1991) thì sự sản xuất hoặc tiêu dùng một sản phẩm hay dịch
vụ có thể ảnh hưởng đến những người chung quanh (tốt hoặc xấu) ngoài tác dụng (lợi hoặc
hại) cho chính người mua hoặc bán những sản phẩm hay dịch vụ đó. Nói cách khác có sự chênh
lệch giữa lợi ích (hoặc


phí tổn) cá thể và lợi ích (hoặc phí tổn) cộng đồng. Và đối với những loại sản phẩm và dịch
vụ có ngoại ứng như thế thì cơ cấu thị trường thuần túy sẽ không đem đến sự phân bố tối ưu.
Thứ ba, nhìn từ quan điểm cá nhân, mỗi người đều cư xử hợp lý khi phản ứng theo
những tín hiệu thị trường: dời đến nơi nào, làm công việc gì, cũng là để tối đa hóa thu nhập vật
chất và tinh thần của người ấy. Tuy nhiên, để giải bài toán “tối ưu hóa” đó cho thật đúng,
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 2: Nhận xét và đánh giá 76
người quyết định cần ý thức rằng hành động của mình có thể (dù rất gián tiếp và vô tình) tăng
thêm những chênh lệch bất công giữa các quốc gia, cũng như giữa các tầng lớp xã hội trong
một quốc gia, nhất là sự phân hóa giàu nghèo tại quốc gia gốc của họ.
Để giải thích điều này, nên thử hỏi tại sao có sự chênh lệch quá lớn về lương bổng
giữa người làm việc cho các công ty nước ngoài và công ty trong nước (đừng nói chi đến cán
bộ, công chức). Theo lý thuyết kinh tế tân cổ điển, lương lao động (nói rộng hơn là tiền bù trả
cho mọi loại đầu vào) là tùy thuộc vào hai yếu tố chính: (1) năng suất biên tế lao động
(marginal labor productivity) và (2) giá trị thu nhập biên tế (marginal revenue). Yếu tố thứ nhất
giải thích một phần sự chênh lệch lương bổng là phản ảnh khả năng cao của những người làm
việc cho các công ty nước ngoài: ngoại ngữ họ thành thạo hơn, khả năng vi tính của họ tốt
hơn, phong cách giao tiếp của họ năng động hơn, v.v... Song yếu tố thứ hai nhắc ta nhớ rằng
một phần sự chênh lệch lương bổng là hậu quả của thế lực thị trường (mà có thể xem như
một hình thức “bóc lột”) của các công ty ngoại quốc. Nói cách khác, mọi mặt bằng nhau
(ceteris paribus) thì công ty độc quyền sẽ trả lương cao hơn công ty cạnh tranh, vì nhân viên
trong công ty ấy chia sẻ phần nào lợi nhuận độc quyền đó. Như vậy, khi nhận lương cao ở các
công ty đa quốc gia ngoại quốc, người có chất xám vô tình đóng góp phần nào vào sự bốc lột
bất công đó.




GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 77

CHƯƠNG III

THÀNH TỰU VÀ TRIỂN VỌNG
1. Thành tựu

1.1 Tổng quan những thành tựu về xây dựng văn hóa – xã hội – con người
ở Việt Nam trong 20 năm đổi mới
Song song với việc phát triển và tăng trưởng kinh tế, 20 năm qua, dưới sự lãnh đạo của
Đảng; việc xây dựng nền văn hoá mới và giải quyết các vấn đề xã hội, con người luôn luôn
đượcquan tâm. Tăng trưởng kinh tế gắn chặt với phát triển văn hoá, xã hội và con người.
Nhiều học giả nước ngoài đã khẳng định rằng: Việt Nam là tấm gương sáng trong việc phát
triển kinh tế thị trường kết hợp và giải quyết thành công nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực văn hoá,
xã hội và con người.
Hôm nay đây, nhìn lại chúng ta có thể khẳng định những nét tổng quan nhất về thành
tựu văn hoá, xã hội và con người ở Việt Nam sau 20 năm qua là:

1.1.1 Những thành công lớn có ý nghĩa lịch sử trong giải quyết việc làm,
xoá đói, giảm nghèo
Trước đổi mới, đời sống của mọi tầng lớp dân cư gặp muôn vàn khó khăn. Việc làm
khan hiếm, số người không có việc làm ngày càng tăng. Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra nhanh
chóng. Đói và nghèo diễn ra ở mọi vùng đất nước và thâm nhập ở mọi tầng lớp dân cư. Lấy
phát triển kinh tế làm hàng đầu, kết hợp với sức mạnh tổng hợp trong nước và quốc tế, bằng
trí tuệ và tinh thần chủ động, đoàn kết, Đảng đã thật sự lãnh đạo thành công trong việc giải
quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, tạo ra sự chuyển biến, cải thiện rõ rệt đời sống của đại
bộ phận nhân dân.
Đến năm 2005 chúng ta đã tạo được việc làm cho 7,5 triệu lao động. Công cuộc xoá đói,
giảm nghèo được đẩy mạnh và đạt kết quả đầy ấn tượng. Theo tiêu chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ
đói giảm từ 30% năm 1992 xuống 7% năm 2005. Còn theo tiêu chuẩn quốc tế (tính theo chuẩn
1 đôla/ngày/người), thì tỷ lệ nghèo chung đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 28,9% năm 2002;
nếu tính theo chuẩn mới (2 đô la/ngày/người) thì hộ nghèo ở Việt Nam năm 2004 là 27,5%.
Ngay từ năm 2002, Việt Nam đã được Liên hợp quốc đánh giá là "hoàn thành sớm hơn so với
kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015".

1.1.2 Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình
trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học
Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu
học; đến giữa năm 2004, 20 tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỷ lệ người
lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 88% cuối năm 1980 lên 95% năm 2004.
Hầu hết xã, phường đã có trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Các huyện và
khu vực đã có trường phổ thông trung học. Các trường đại học được mở thêm nhiều, các
trường dạy nghề được khôi phục và ngày càng phát triển. Phong trào khuyến học, khuyến tài
được phát động rộng khắp, phong trào xã hội hoá giáo dục ngày càng toả rộng và được toàn
dân tích cực hưởng ứng. Nhờ những cố gắng đó mà nguồn nhân lực xã hội được nâng cao về
chất lượng. Tính đến giữa năm 2004, 22,5% số người lao động đã được đào tạo, trong đó số
đào tạo nghề là 13,3%.



GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 78
1.1.3 Khoa học - công nghệ và tiềm lực khoa học - công nghệ có bước phát triển nhất
định
Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ đã được đưa vào áp dụng trong thực tế, mang
lại hiệu quả

kinh tế - xã hội rõ rệt đặc biệt là trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, bưu chính viễn
thông...Kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ được tăng lên. Nước ta đã cóquan hệ hợp
tác về khoa học và công nghệ với trên 70 nước, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ (bao gồm Khoa học Xã hội, Khoa học Tự nhiên và Khoa học Kỹ
thuật) đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương
chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng các chương trình, dự án phát
triển kinh tế-xã hội; tiếp thu, làm chủ và ứng dụng có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước
ngoài.

1.1.4 Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ
Điều đó góp phần hạ thấp đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh
dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, cơ bản thanh toán một số dịch bệnh phổ biến trước đây, khống
chế thành công bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS). Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63
tuổi năm 1990 tăng lên 71,3 tuổi năm 2005. Chỉ số phát triển con người (HDI) từ mức dưới
trung bình (0,498 năm 1991) tăng lên mức trung bình (0,688 năm 2002). Năm 2004, với chỉ số
0,691, nước ta xếp thứ 112 trên tổng số 177 nước được điều tra. Năm 2005, Việt Nam được
lên 4 bậc, xếp thứ 108 trong tổng số 177 nước được điều tra. Điều đáng chú ý là, nếu so với
thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì thứ bậc xếp hạng HDI của Việt Nam luôn cao
hơn. Chẳng hạn, năm 2002 vượt lên 19 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 128 trên tổng
số 173 nước được thống kê, còn HDI xếp thứ 109/173. Điều dó chứng tỏ sự phát triển kinh tế
của Việt Nam có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã
hội tốt hơn so với một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn nước ta.

1.1.5 Sự nghiệp văn hoá có nhiều tiến bộ
Những giá trị và đặc sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em được kế thừa và phát triển, góp
phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Giao lưu, hợp tác
văn hóa với nước ngoài được mở rộng. Một số nét mới trong chuẩn mực văn hóa của con
người Việt Nam từng bước hình thành. Các tài năng văn hóa - nghệ thuật được khuyến khích.
Nhiều di sản văn hóa - cả vật thể và phi vật thể - được giữ gìn, tôn tạo. Việc phân phối các
sản phẩm văn hoá đã nhanh và đều khắp hơn. Hệ thống các sản phẩm văn hoá góp phần trực
tiếp vào sự phát triển, tăng trưởng của ngành du lịch, của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động
giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá thực sự khởi sắc, góp phần làm cho vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế được nâng cao; văn hoá, con người và cuộc sống Việt Nam được bạn bè
hiểu biết rõ hơn. Dân trí được nâng lên, cùng với văn hoá phát triển đã góp phần khơi dậy tính
chủ động sáng tạo của nhân dân và nâng cao tính đồng thuận xã hội, tạo ra bầu không khí dân
chủ, niềm tin của nhân dân được nâng lên không ngừng.

1.1.6 Cơ cấu xã hội nước ta có những biến đổi theo hướng tiến bộ
Giai cấp công nhân có những biến đổi cả về số lượng, chất lượng cũng như về cơ cấu.
Đến năm 2001, công nhân trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh
doanh là 4,53 triệu người. Đầu năm 2004, công nhân trực tiếp làm việc trong các cơ sở sản
xuất - kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là 7,39 triệu người, chiếm 17,49% lao động xã
hội. Trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp, nhìn chung, đã được nâng lên, thể hiện rõ nhất
là ở một số ngành như bưu chính viễn thông, dầu khí, xây dựng cơ bản, cơ khí đóng tầu...

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 79
Nông dân là lực lượng đang có sự biến đổi mạnh mẽ. Nông dân thuần nông ngày càng
giảm. Đã hình thành những chủ trang trại, những hộ sản xuất cá thể, những xã viên kiểu mới
của các hợp tác xã kiểu mới có khả năng thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường, tham gia tích
cực vào công cuộc phát triển đất nước theo đường lối đổi mới. Đã hình thành các quan hệ hộ -
hợp tác xã, hộ - doanh nghiệp tư nhân, hộ - doanh nghiệp nhà nước, hộ - trang trại.


Đội ngũ trí thức nước ta hiện nay có 1,8 triệu người với trình độ từ cao đẳng, đại học
trở lên, trong đó có 16 nghìn thạc sĩ, 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học. Đây là một lực lượng
có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Những thành tựu trên có được là do Đảng ta đã nhận thức đúng mối quan hệ khăng khít
giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Trong quá trình phát triển luôn luôn
coi con người với tư cách vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội, vừa là nền tảng tinh
thần của xã hội vừa là chủ thể của sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến và
đậm đà bản sắc dân tộc.
Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục ổn định và phát triển; tạo
lập được những tiền đề cần thiết để bắt đầu từ năm 2001, đất nước chuyển sang giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa; năng lực nội sinh
của khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực an ninh, quốc phòng được tăng cường;
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Chỉ số phát triển con người
(HDI) được liên tục nâng cao và thành tựu phát triển con người của Việt Nam được UNDP
đánh giá là tốt nhất khu vực Đông Nam Á. Những thành tựu của 20 năm đổi mới làm tăng thêm
thế và lực mới của Việt Nam, tạo điều kiện để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để có được những thành tựu đó, khoa học xã hội đã góp phần quan trọng, trong việc
cung cấp những luận cứ khoa học cho đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, trước hết là đổi mới tư duy lý luận trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của sự
phát triển, nhất là đổi mới tư duy kinh tế.
Nghiên cứu đó có liên quan trực tiếp tới việc hoạch định đường lối, chiến lược, chính
sách phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã
hội, văn hoá - con người, môi trường, quốc phòng, an ninh ở mỗi giai đoạn. Những kết quả
nghiên cứu của các chương trình, đề tài nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý
luận, luận giải những vấn đề thực tiễn mới nẩy sinh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng
khóa VI, VII, VIII và IX. Kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài được in thành sách,
được công bố trên các tạp chí khoa học đã góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân về con
đường mà Việt Nam đã lựa chọn, về sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, tạo sự đồng
thuận cao trong xã hội.
Có thể nói, chất lượng nghiên cứu khoa học xã hội đã được nâng cao thêm một bước.
Những tri thức khoa học hiện đại đã bước đầu được vận dụng vào công tác quản lý kinh tế -
xã hội, khắc phục lối tư duy siêu hình, duy ý chí, mở rộng tầm nhìn, góp phần giáo dục lòng
yêu nước, đạo đức, lối sống của người Việt Nam. Trong 20 năm qua, khoa học xã hội Việt
Nam đã có nhiều đóng góp trong những lĩnh vực chủ yếu sau:
Đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội: Trong 20 năm qua, khoa học xã hội đã góp
phần tạo lập được trên những nét cơ bản một hệ thốngquan điểm lý luận về công cuộc đổi
mới, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho đường lối của
Đảng góp phần bổ sung và phát triểnquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Từ thực tiễn của 20 năm đổi mới, khoa học xã hội đã góp phần cung cấp những cơ sở
lý luận để hiểu đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội từng bước khắc phục một
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 80
sốquan điểm giản đơn, ấu trĩ như đồng nhất chủ nghĩa xã hội với chế độ phân phối bình quân;
muốn có chủ nghĩa xã hội phải nhanh chóng cải tạoquan hệ sản xuất mà không thấy đầy đủ
yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất; cường điệu vai trò của chế độ công hữu, coi sở hữu tư
nhân là đối lập hoàn
toàn với bản chất của chủ nghĩa xã hội; và cần phải loại bỏ nhanh chóng trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội. đối lập chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản theo tinh thần phủ định
hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, từ đó coi nhẹ những giá trị, những thành tựu đã đạt được trong chủ
nghĩa tư bản; đối lập kinh tế xã hội chủ nghĩa với sản xuất hàng hoá, đồng nhất kinh tế thị
trường với chủ nghĩa


tư bản; không thừa nhận tính chất pháp quyền của nhà nước xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nhà
nước pháp quyền với nhà nước tư sản...
Khoa học xã hội đã góp phần khẳng định mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội là
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một xã hội do nhân dân làm
chủ; có nền kinh tế phát triển cao, bền vững với một hệ thốngquan hệ sản xuất tiên tiến, phù
hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, được phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam đoàn kết, bình
đẳng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; cóquan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các
nước trên thế giới.
Về đổi mới và phát triển kinh tế: Một trong những thành tựu quan trọng của khoa học
xã hội trong lĩnh vực kinh tế là đã góp phần đáng kể vào công cuộc đổi mới tư duy kinh tế, tạo
nên bước chuyển từ tư duy hiện vật sang tư duy hàng hoá, tư duy thị trường; từ tư duy bao
cấp, ỷ lại sang tư duy chủ động, sáng tạo; từ tư duy kế hoạch hoá tập trung sang tư duy kinh
tế thị trường; từ tư duy kinh tế khép kín sang tư duy mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế, từ tư
duy đơn sở hữu sang tư duy đa sở hữu, đa thành phần; từ không thừa nhận đến thừa nhận sự đa
dạng hoá các hình thức phân phối, kể cả phân phối theo vốn, tài sản; từ tư duy Nhà nước làm
tất cả, độc quyền sang tư duy đa dạng hoá các chủ thể làm kinh tế, giảm độc quyền nhà nước,
xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp, v.v..
Bên cạnh đóng góp vào việc đổi mới tư duy kinh tế, khoa học xã hội đã góp phần khẳng
định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình tổng quát của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là vấn đề mang tầm chiến lược và có ý nghĩa
quyết định để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất
- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nền
kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có hai chế độ sở hữu cơ bản là công hữu và tư
hữu, có nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế đan xen, hỗn hợp. Các thành phần
kinh tế phải được đối xử công bằng và bình đẳng.
Cùng với công cuộc đổi mới, các nghiên cứu về khoa học xã hội xác định ngày càng rõ
hơn vai trò của kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với tư cách là động lực
của nền kinh tế.

1.2 Nhận thức mới của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Công cuộc đổi mới ở nước ta diễn ra đã 24 năm (1986-2010), đạt được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Trong đó, một thành tựu lớn là Ðảng và nhân dân ta nhận thức về chủ
nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng rõ hơn.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 đã phác họa
mô hình CNXH mà nhân dân ta xây dựng với sáu đặc trưng. Ðại hội lần thứ X bổ sung, phát
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 81
triển, làm cho mô hình CNXH đang được xây dựng ở nước ta toàn diện hơn, hoàn chỉnh hơn.
Ðó là: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi
áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triểntoàn diện; các dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Ðảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới".
Mô hình CNXH nêu trên thể hiện quan điểm Mác - Lê-nin về CNXH. Một mặt, lấy
phục


vụ con người làm mục đích, tức là "tất cả vì con người". Mặt khác, lấy việc phát huy sức
mạnh của con người làm động lực chủ yếu để xây dựng thành công CNXH, tức là "tất cả do
con người". Ðồng thời, mô hình trên cũng thể hiện sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh
về CNXH. Mô hình ấy biểu hiện như một kết cấu tổng thể, ổn định tương đối, nó không phải
là một mô hình khép kín và cứng nhắc. Mô hình CNXH thời kỳ đổi mới ở nước ta chứa đựng
khả năng mở rộng nội hàm, tiếp tục bổ sung những nét mới là kết quả của việc không ngừng
nâng cao trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn phong phú, đa dạng. Nó là kết quả của sự kết
hợp hài hòa cái phổ biến và cái đặc thù, cái chung và cái riêng để tạo nên một mô hình có tên
gọi: mô hình CNXH Việt Nam. Nó thể hiện xu hướng gắn kết hợp lý tiến trình phát triển của
CNXH với sự vận động không ngừng của nhân loại đi lên phía trước, kế thừa những thành tựu
tiến bộ của loài người để xây dựng thành công CNXH.
Thực tế 24 năm qua đã chứng minh, với mô hình này, chúng ta đã thu được những thành
tựu, to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thời điểm hiện nay đã có yêu cầu bức thiết và những điều kiện
cơ bản đã chín muồi cho việc bổ sung phát triển Cương lĩnh trong đó có mô hình CNXH của
nước ta.
Lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhận thức của Ðảng về con đường quá độ lên CNXH của
nước ta có những đổi mới sâu sắc. Nếu trước đây thường nói, nước ta quá độ lên CNXH "bỏ
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa", thì từ Ðại hội lần thứ IX trong các văn kiện chính
thức của Ðảng, Nhà nước diễn đạt là: Nước ta quá độ lên CNXH "bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa".
Việc "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" được giải thích rõ về hai phương diện: Thứ
nhất, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) là "bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan
hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa". Thứ hai, trong khi bỏ qua những mặt
đó, cần "tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa, đặc biệt về khoa học-công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền
kinh tế hiện đại".
Nhận thức trên đây là kết quả của sự đổi mới tư duy về CNXH, về mối quan hệ giữa
CNXH và CNTB. Tư duy "cũ" hiểu sự ra đời của CNXH là kết quả của sự phủ định triệt để
CNTB, từ đó có nơi có lúc cho rằng cái gì càng xa với CNTB thì càng gần với CNXH. Tư duy
mới phân biệt sự khác nhau về chất giữa CNXH và CNTB, nhưng đặt CNXH và CNTB vào lịch
trình chung của sự tiến hóa nhân loại qua năm hình thái kinh tế - xã hội để xác định vị trí của
CNTB như là một giai đoạn phát triển cao của văn minh nhân loại và là nấc thang cận kề để
loài người từ đó bước sang nấc thang cao hơn là CNXH.
Trong thời đại ngày nay, trên phạm vi thế giới, sự nghiệp giải phóng những người lao
động bị áp bức, bóc lột, sự nghiệp giải phóng xã hội khỏi tình trạng bế tắc đòi hỏi thay thế
CNTB bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn. Sự phủ định CNTB là một tất yếu lịch sử và đã

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 82
thành hiện thực từ Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga (1917). Dù hiện nay CNXH thế giới
đang lâm vào khủng hoảng, xu hướng đó không hề thay đổi.
Ở nước ta tiến trình của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân kéo dài 30 năm đã
đem lại những thành tựu to lớn, tạo nên những tiền đề để nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên
CNXH. Những thành tựu và những tiền đề đó (nhất là những thành tựu trong lĩnh vực xây dựng
kiến trúc thượng tầng và những tiền đề về chính trị, xã hội), không dung nạp sự thống trị của
quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN. Thậm chí, những thành tựu đó sẽ bị hủy
hoại, những tiền đề đó sẽ bị phủ định, nếu đất nước đi theo con đường TBCN.
Nước ta cần "tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ
tư bản" bởi vì:
Một là, "bỏ qua" chế độ TBCN nhưng nước ta vẫn phải tôn trọng quá trình lịch sử - tự
nhiên của sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác,
đặc biệt, phải tôn trọng quá trình lịch sử tự nhiên của lực lượng sản xuất, của các nhân tố kinh
tế - kỹ thuật mà xét đến cùng là những nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của
chế độ mới.
Hai là, từ một nước chậm phát triển, bằng "con đường rút ngắn" đi lên CNXH, tất yếu


nước ta phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài trong đó có sự xen kẽ "những mảnh của chủ
nghĩa xã hội" với "những mảnh của CNTB" (Lê-nin). Trạng thái xen kẽ ấy làm cho các yếu tố
của CNXH và các yếu tố của CNTB vừa đấu tranh với nhau, vừa "chung sống hòa bình", vừa
bài trừ, vừa nương tựa, thâm nhập vào nhau.
Ba là, nước ta "bỏ qua" chế độ TBCN nhưng không thể bỏ qua quá trình phát triển có
tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn mà CNTB đã từng trải qua: sản xuất hàng hóa;
tiến hành cách mạng kỹ thuật - theo nhu cầu phát triển biện chứng của kỹ thuật trong hiệp tác
giản đơn, công trường thủ công, đại công nghiệp cơ khí - để chuyển lao động thủ công thành
lao động sử dụng máy móc; mở rộng giao lưu trong nước và giao lưu quốc tế, khắc phục tâm
lý sản xuất nhỏ và tư tưởng phong kiến...
Bốn là, "bỏ qua" chế độ TBCN nhưng phải kế thừa những thành tựu tiến bộ mà loài
người tạo ra trong chế độ CNTB. Sau khi "bỏ qua" phần lạc hậu của CNTB (địa vị thống trị
của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN), chúng ta cần tiếp thu những thành tựu
của CNTB và sử dụng chúng vào mục tiêu xây dựng CNXH. "Bỏ qua" chế độ TBCN, nhưng
đồng thời sử dụng những thành quả văn minh trong CNTB một cách chủ động và tự giác, chọn
lọc kỹ lưỡng trong điều kiện mới - điều kiện có nhà nước XHCN và với chủ thể mới là nhân
dân lao động.
Nhận thức mới của Ðảng ta về mô hình CNXH và con đường đi lên CNXH đã được thể
hiện nhất quán. Sự nhất quán đó sẽ tạo nên một nền tảng vững chắc cho hệ thống quan điểm
lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta đã bắt đầu hình thành và sẽ từng bước
được bổ sung, hoàn thiện.
Thành tựu đó có ý nghĩa lớn nhưng vẫn là bước đầu.Vì, một mặt, nó cần được nâng lên
trình độ cao hơn về lý luận để trở thành một triết lý, hay nói cách khác - một bộ phận chủ đạo
trong chủ thuyết chung của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta; mặt khác, nó phải được mở
rộng sang mọi phương diện và các lĩnh vực quan trọng của công cuộc xây dựng CNXH mà
Nghị quyết của các Ðại hội Ðảng đã nêu thành nhiệm vụ trực tiếp và đang được quan tâm sâu
sắc. Thí dụ: vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất XHCN chủ yếu dựa trên chế độ công hữu từ
một nền kinh tế đa thành phần, đa sở hữu hiện nay; vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong bối cảnh của thời kỳ khoa học-công nghệ bùng nổ và xuất hiện kinh tế tri thức, đặc biệt
là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo con đường xã hội chủ nghĩa;
vấn đề xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, trong đó mấu chốt là xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN, đi liền với tiến bộ và công bằng xã hội, kết hợp những giá trị dân tộc
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 83
truyền thống với những tinh hoa của nền văn minh hiện đại; vấn đề xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ trong bối cảnh hội nhập và phải đối mặt với những thách thức từ nhiều phía...
Ðiều kiện tiên quyết cho sự thành công của việc đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ nói
trên là: Kiên định nền tảng tư tưởng của Ðảng, tiếp tục kế thừa và phát triển những kết quả
nhận thức về mô hình và con đường đi lên CNXH ở nước ta và luôn bám sát thực tiễn, coi
trọng việc tổng kết thực tiễn đổi mới của đất nước trong bối cảnh thế giới luôn có những thay
đổi.

2. Triển vọng

2.1 Não bộ con người sẽ trở thành mặt trận mới bắt đầu từ năm 2030
Các chuyên gia tình báo Mỹ cảnh báo, sau 20 năm nữa, những tiến bộ trong nghiên cứu
thần kinh học sẽ đẩy con người vào một cuộc chiến mới: đấu tranh giành quyền kiểm soát hệ
thần kinh trung ương của đối phương.
Mới đây, trong bản báo cáo gửi Lầu Năm Góc, các chuyên gia tình báo Mỹ nhận định,
với sự phát triển mạnh mẽ của y học, đặc biệt là khoa thần kinh học cùng với các ngành khoa
học liên quan khác, chỉ trong vòng 20 năm tới, quyền kiểm soát não bộ con người sẽ trở thành
mối đe dọa nghiêm trọng và khó lường đối với an ninh quốc gia.


Trong báo cáo này, nhiều nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực thần kinh học đều có
chung một quan điểm cho rằng não người sẽ sớm được giải mã, với những thủ đoạn khác
nhau, trong tương lai gần, việc bào chế thành công các loại dược phẩm cũng như các kỹ thuật
kiểm soát não bộ con người là khó có thể tránh khỏi.
Các nhà khoa học cảnh báo việc này sẽ gây những hậu quả thấy rõ và ngày càng nghiêm
trọng hơn. Theo đó, vào năm 2030, trên thế giới sẽ bắt đầu xuất hiện những kỹ thuật mới có
khả năng phân tích, nhận dạng và giải mã sự hoạt động của não bộ con người từ xa, những hóa
chất gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, thậm chí, còn có khả năng điều khiển hoàn
toàn những giác quan cơ bản của con người như thị giác và thính giác.
Các nghiên cứu được đề cập đến trong bản báo cáo này được gọi là “những quả mìn
dược lý học”.
Nhà khoa học Kit Grin, đồng tác giả của bản báo cáo trên tin rằng, đến năm 2030, các
loại chất như vậy chắc chắn sẽ được đưa vào thử nghiệm trên cơ thể người. Ông dự đoán:
“Có nhiều khả năng sẽ xuất hiện những máy quét điện tử có khả năng phong tỏa các hoạt
động của hệ thần kinh trung ương hay còn gọi là não bộ của con người, từ đó có thể kiểm soát
được trạng thái tâm lý và hành vi ứng xử của họ, chẳng hạn như: cảm giác sợ hãi, mệt mỏi,
nói dối, nói thật...”.
Các chuyên gia quân sự lại tin tưởng rằng, với những ưu điểm vượt trội thấy rõ như
vậy, trong tương lai, việc hỏi cung, tra tấn bí mật dễ gây tai tiếng sẽ không còn được sử dụng
nữa, mà thay vào đó là những biện pháp hữu hiệu hơn và đem đến kết quả chính xác tuyệt đối.
Đồng thời, những nghiên cứu mới về thần kinh học sẽ giúp nâng cao đáng kể khả năng cũng
như hiệu quả tác chiến của chiến sĩ trên chiến trường.
Cũng trong bản báo cáo, các nghiên cứu mới về điều khiển học trong tương lai, đặc biệt
là các thiết bị không người lái, có những dấu hiệu đầy triển vọng. Những công nghệ mới sẽ ra
đời, cho phép con người điều khiển các thiết bị không người lái kể cả trên không, mặt đất và
dưới biển một cách độc lập và hiệu quả hơn nhờ cơ chế chỉ huy, kiểm soát bằng các xung
điện phát ra từ chính não bộ.
Ông Grin cho rằng, hiện nay các cơ quan tình báo ở nhiều quốc gia trên thế giới có
những quan điểm trái ngược nhau. Công nghệ tương lai luôn đòi hỏi có sự tham gia hợp tác
nghiên cứu chặt chẽ. Nhưng trên thực tế, cộng đồng tình báo trên thế giới lại tỏ ra không mấy
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 84
mặn mà với xu hướng mới này, họ rất miễn cưỡng khi cho phép các nhà khoa học nước mình
tham gia hợp tác nghiên cứu.
Những người báo cáo tin rằng, trong việc chạy đua giành quyền kiểm soát não bộ,
chiến thắng sẽ thuộc về những nước thực sự hiểu được rằng, sự phát triển trong tương lai của
lĩnh vực quân sự và tình báo nếu thiếu khoa học là không thể.

2.2 Những biến đổi quan trọng giai đoạn 2011 - 2020 của đội ngũ tri thức
Sự hình thành và phát triển đội ngũ trí thức luôn gắn liền với những điều kiện lịch sử
của dân tộc và thời đại. Đội ngũ đó phải là sản phẩm của giai đoạn phát triển của dân tộc và
thời đại. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức nước ta giai đoạn 2011 - 2020
cần chú ý đến giai đoạn ấy có thể có những biến đổi gì trong sự phát triển khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế và xã hội. Đó là những biến đổi hình thành môi
trường hoạt động và phát triển của trí thức. Do đó, phải xây dựng đội ngũ trí thức phù hợp với
môi trường biến đổi giai đoạn 2011 - 2020. Trên cơ sở những dự báo biến đổi giai đoạn mới
mà nhìn lại thực trạng đội ngũ trí thức hiện nay, từ đó tìm ra phương hướng và giải pháp phát
triển trí thức cho giai đoạn tới.
Dự báo những biến đổi giai đoạn 2011 - 2020 có quan hệ trực tiếp đến vai trò và trách
nhiệm trí thức và định hướng xây dựng đội ngũ trí thức. Bài viết chỉ nêu vắn tắt một số vấn đề
chủ yếu sau đây:



2.2.1 Biến đổi quan trọng nhất là đối với mô hình phát triển
Kinh tế thị trường từ hướng phát triển phiến diện nhằm tăng của cải (cho chủ đầu tư)
chuyển sang hướng phát triển đồng thời về kinh tế, xã hội, môi trường. Đây là sự thay đổi mô
hình phát triển, do những khủng hoảng xã hội và tàn phá môi trường của tất cả các nền kinh tế
thị trường. Cuộc đấu tranh cho tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường ngày càng sâu rộng ở
phạm vi thế giới tạo ra sức ép thay đổi.
Ở nước ta, việc đổi mới mô hình phát triển cũng đã trở thành vấn đề cấp bách do
những hậu quả về xã hội và môi trường trong quá trình công nghiệp hóa những năm qua. Chỉ có
đổi mới mô hình phát triển thì mới chuyển quá trình tăng trưởng số lượng hiện nay sang quá
trình phát triển chất lượng, trên cơ sở ấy mà đạt đến số lượng nhiều hơn. Nếu không, ngay số
lượng đã đạt được cũng sẽ giảm dần, trong khi dân số tăng lên, vấn đề xã hội và môi trường
sẽ trầm trọng hơn.
Đổi mới mô hình phát triển là vấn đề cuộc sống đặt ra và phải thực hiện trong giai
đoạn tới, không thể chậm hơn. Nhìn vào thực tiễn kinh tế thế giới, mô hình phát triển bền
vững phải dựa trên nền tảng kinh tế tri thức. Vì vậy, nhu cầu đổi mới mô hình gắn liền với
nhu cầu xây dựng đội ngũ trí thức, và cả hai đều có tính cấp bách.

2.2.2 Xu hướng mới trong khoa học và công nghệ
Bước vào thế kỷ XXI, xu hướng thâm nhập vào nhau giữa khoa học tự nhiên và khoa
học xã hội (cả về tri thức, phương pháp và sử dụng thành tựu khoa học và công nghệ) ngày
càng tác động mạnh vào hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, vào mỗi người
trí thức, dần dần hình thành thế hệ trí thức mới và người trí thức mới. Trong thế kỷ XX, xu
hướng này đã được một số ít nhà khoa học tự nhiên, trong đó có nhà khoa học vĩ đại Anh-xtanh
thể hiện trong hoạt động khoa học của mình. Ông là người phản đối Chiến tranh thế giới thứ
nhất và việc sử dụng bom nguyên tử trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Anh-xtanh cho rằng "ở
thời đại chúng ta, các đại diện của khoa học tự nhiên và giới kỹ sư phải chịu trách nhiệm đạo
lý đặc biệt lớn"(1). Ông nêu phương hướng: Một nhà vật lý phải đồng thời là một nhà triết
học và nên thành lập "Hiệp hội vì trách nhiệm xã hội trong khoa học". Trước đó, xu hướng này
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 3: Thành tựu và triển vọng 85
được C.Mác phát hiện trong nghiên cứu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. C.Mác dự báo
rằng: sau này, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội sẽ thâm nhập vào nhau, hình thành một
khoa học - khoa học về con người.
Không nhận thức được xu hướng mới trong khoa học, tách rời khoa học tự nhiên với
khoa học xã hội, coi khoa học chỉ là công cụ của chính trị là một nguyên nhân sâu xa dẫn đến
sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.
Hiện nay, xu hướng thâm nhập vào nhau giữa hai lĩnh vực khoa học đang trở thành nền
tảng của nền khoa học và công nghệ mới của thế kỷ XXI, đó là cơ sở vững bền của định
hướng phát triển bền vững về kinh tế, xã hội.
Định hướng phát triển kinh tế thị trường nước ta trong giai đoạn tới phải là phát triển
bền vững - nội hàm của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế. Vì vậy, xây dựng đội ngũ
trí thức theo hướng "khoa học về con người" mới có thể đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế
trong giai đoạn tới. Nếu không, đội ngũ trí thức sẽ chỉ là những người làm công ăn lương, vô
trách nhiệm trước những vấn đề xã hội và môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội.

2.2.3 Xu thế chuyển hướng giáo dục, nhất là giáo dục đại học
Nhiều hội nghị thế giới về giáo dục đại học đã thảo luận vấn đề chuyển hướng giáo
dục từ hơn 10 năm nay cho thấy, chuyển hướng giáo dục là vấn đề sống còn của phát triển
kinh tế và xã hội. Tất cả các hội nghị thế giới đều nhấn mạnh: "Giáo dục đại học là công cụ
cơ bản để đối đầu thành công với các thử thách của thế giới hiện đại và để đào tạo những
công dân có khả năng xây dựng một xã hội công bằng... tôn trọng quyền con người, cùng chia
sẻ sự hiểu biết và thông tin" (tài liệu UNESCO).


Định hướng mới của giáo dục đại học là vừa có chức năng vun trồng tài năng, vừa có
chức năng phát hiện, thức tỉnh tài năng, hướng tới hình thành lực lượng lao động tri thức trên
mọi lĩnh vực. Trong đó, trí thức là những người tích hợp được tiềm năng trí tuệ của dân tộc và
thời đại.
Ba xu thế tất yếu về kinh tế, khoa học, giáo dục nói trên đang tác động ngày càng tăng
đối với mọi nước trong phát triển và hội nhập. Đối với nước ta, đây vừa là cơ hội chưa từng
có, đồng thời là thách thức chưa từng thấy. Biến thách thức thành cơ hội thực hiện ba xu thế
trên là tiền đề cơ bản để xây dựng đội ngũ trí thức và chế độ mới. Trong điều kiện nước ta,
chỉ có Đảng và Nhà nước mới có thể tạo ra những tiền đề cơ bản ấy.




GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 86

CHƯƠNG IV


KIẾN NGHỊ
1. Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức về sự thay đổi để đẩy nhanh tiến độ
và hiệu quả cải cách hành chính

1.1 Cải cách hành chính là sự thay đổi lớn lao và sâu sắc
Cũng như nhiều nước trên thế giới, Chính phủ và nền hành chính nước ta hiện đang
phải đương đầu với những thay đổi rất lớn, cả những thay đổi từ môi trường bên ngoài đến
những thay đổi nội bộ.
Trong những thay đổi đến từ bên ngoài, trước hết phải kể tới những vấn đề mới nảy
sinh của thế giới, của đất nước. Những vấn đề này xuất hiện ngày càng nhiều và dẫn đến
việc đặt ra những nhiệm vụ mới cho nền hành chính. Sự mong đợi của người dân cũng không
còn như cũ: khi người dân được trao thêm quyền, nắm được nhiều thông tin hơn, hiểu biết hơn
và trở nên linh hoạt hơn, họ sẽ có những yêu cầu mới, đòi hỏi mới đối với nền hành chính.
Trong quá trình hoạt động của mình, nhà nước sẽ gặp những đối tác mới lẫn những đối thủ
cạnh trạnh mới, và bên cạnh đó là những đối tác và những đối thủ cũ mà giờ đây cũng đã thay
đổi không ít thì nhiều. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, đó là sự xuất hiện của
những công cụ mới nhờ vào những bước phát triển thần tốc của khoa học và công nghệ.
Đứng trước áp lực của những thay đổi từ bên ngoài, nền hành chính cần phải tự cải
cách để đảm bảo cho mình có đủ khả năng thích nghi với thay đổi và làm chủ tình hình. Cải
cách chính là thay đổi - một sự thay đổi mang tính chủ động. Có quan điểm cho rằng, những
thay đổi từ bên trong tổ chức thường xuất hiện dưới bốn hình thức phổ biến là: thay đổi cơ
cấu, thay đổi quy trình, thay đổi văn hoá - con người và cắt giảm chi phí. Theo Chương trình
Tổng thể cải cách hành chính 2001-2010, bốn lĩnh vực được coi là trọng tâm cải cách của nước
ta hiện nay bao gồm: bộ máy, thể chế, đội ngũ cán bộ, công chức và tài chính công. Đối chiếu
giữa quan điểm về thay đổi vừa nêu với Chương trình cải cách hành chính của nước ta, có thể
thấy những điểm tương đồng. Do vậy, có thể nói, công cuộc cải cách nền hành chính của
chúng ta chính là một sự thay đổi chủ động và từ bên trong.
Sở dĩ cho rằng công cuộc cải cách nền hành chính của nước ta là một sự thay đổi lớn
lao và sâu sắc trước hết là bởi mối quan hệ đặc biệt giữa hành chính với các lĩnh vực khác.
Không một ngành, một lĩnh vực, một cơ quan, tổ chức nào lại không chịu tác động của những
hoạt động của nền hành chính. Bất cứ một thay đổi nào của nền hành chính đều sẽ dẫn tới
những thay đổi tương ứng của các ngành, lĩnh vực khác. Hay nói cách khác, do nền hành chính
có liên quan và liên quan mật thiết với tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nên những
những thay đổi nhờ cải cách hành chính cũng có tác động ở quy mô và phạm vi hết sức lớn.
Một lý do khác đến từ chính những yêu cầu để bảo đảm cho việc cải cách được tiến hành, mà
cụ thể ở đây là các nguồn lực. Muốn tiến hành cải cách nền hành chính, cần huy động ở mức
độ và quy mô rất lớn nguồn nhân lực, vật lực và tài lực. Tức là, cải cách hành chính có liên
quan đến rất nhiều người và nhiều thứ. Cuối cùng, cải cách hành chính không phải là công
việc một sớm một chiều mà là một quá trình, có nghĩa là nó cần nhiều thời gian để thực hiện
và cũng có nghĩa là những tác động của nó thường là lâu dài, thậm chí rất lâu dài.
Tóm lại, do khả năng tác động đặc biệt, do phạm vi, quy mô tác động hết sức lớn, do
liên quan đến nhiều người và nhiều thứ, nên những cải cách, hiểu theo nghĩa là sự thay đổi,
của nền hành chính là những thay đổi lớn và sâu sắc.


GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 87

1.2 Cần thiết nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức về sự thay đổi để đẩy nhanh
tiến độ và hiệu quả của cải cách hành chính
Cải cách nền hành chính là yêu cầu tất yếu đối với những nước muốn phát triển. Yêu
cầu này đối với nước ta lại càng cấp bách, trước hết, trong một thời gian dài chúng ta đã duy trì
một nền hành chính yếu kém, trì trệ trong khi thời cuộc đang biến đổi không ngừng; thứ hai là
hiện nay ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một sự nghiệp
đòi hỏi nhiều đổi mới và chuyển đổi. Qua hơn 20 năm đổi mới toàn diện, trong đó có cải cách,
đổi mới nền hành chính nhà nước, tới nay, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về tính tất
yếu và sự cần thiết phải thay đổi, phải cải cách, đã có sự chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, vẫn là
chưa đầy đủ và chưa triệt để. Có ý kiến cho rằng, sở dĩ tiến trình cải cách hành chính ở nước
ta còn chậm so với cải cách kinh tế và những cố gắng cải cách hành chính trong thời gian qua
chưa đạt kết quả như mong muốn chính là vì nhận thức của một số cán bộ, công chức về cải
cách hành chính còn lạc hậu và chưa đầy đủ.
Tạm không bàn đến việc có một số người cố tình gây cản trở cho cải cách vì lo sợ ảnh
hưởng tới quyền lợi cá nhân của họ, thì vẫn còn những người chưa sẵn sàng cho cải cách vì e
ngại và lo lắng. Tâm lý e ngại đó cũng là điều dễ hiểu và khá phổ biến, vì như nhà nghiên cứu
Maslow từ lâu đã chỉ ra rằng, nhu cầu về sự an toàn, về an ninh là một trong những nhu cầu cơ
bản hàng đầu của con người nói chung, mà sự thay đổi, dù là khách quan hay chủ quan thì cũng
đều là một thử thách đối với sự an toàn. Điều gì có thể đến sau sự thay đổi, nó là tốt hay xấu,
tác động tích cực hay tiêu cực - không ai có thể biết chắc được và chính sự không thể tiên liệu,
không chắc chắn này là nguyên nhân khiến người ta e ngại, thậm chí lo sợ. Khi nghiên cứu về
tác động của tốc độ thay đổi, tác giả Alvin Toffler, dẫn chứng bằng những nghiên cứu khoa
học về chỉ số về thay đổi, đã cho rằng, sự thay đổi (bất kể là thay đổi tích cực lẫn tiêu cực)
chính là một tác nhân gây sốc cho con người, do đó, nếu không muốn có những hệ quả xấu,
con người cần có sự chuẩn bị cẩn thận để thích nghi với sự thay đổi.
Chúng tôi nhận thấy rằng, những năm qua, trong tuyên truyền, giáo dục để nâng cao
nhận thức của cán bộ, công chức về cải cách hành chính, chúng ta mới chỉ chú ý nhiều đến
những vấn đề lý luận và những vấn đề mang tính vĩ mô như quan điểm của Đảng và Nhà nước
về cải cách, nhiệm vụ của cải cách, tư tưởng cải cách.v.v... Phải khẳng định rằng, những nội
dung này là rất quan trọng và rất cần thiết. Tuy nhiên, như vậy vẫn là chưa đủ. Cải cách hành
chính, suy đến cùng, chính là việc thay đổi cách mà cán bộ, công chức nghĩ và làm hàng ngày,
hay nói cách khác, chính là việc thay đổi lối sống của những con người. Vậy mà, chúng ta còn
chưa chú trọng đúng mức tới khía cạnh cán bộ, công chức (với tư cách là những con người,
những cá nhân) nhận thức như thế nào, có thái độ thế nào đối với cải cách, hiểu theo nghĩa là
một sự thay đổi lớn trong công việc hàng ngày của họ và là sự thay đổi có ảnh hưởng trực tiếp
tới cuộc sống, tới nghề nghiệp và tới lợi ích sát sườn của bản thân họ. Khoảng trống này trong
công tác tuyên truyền, giáo dục của chúng ta đã góp phần duy trì tình trạng đáng tiếc là nhận
thức của nhiều cán bộ, công chức ở nước ta về cải cách và về sự thay đổi vẫn chỉ ở mức
chung chung, mơ hồ, nặng về lý thuyết và không sát thực.
Kinh nghiệm cải cách của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy sự cần thiết phải tuyên
truyền, giáo dục một cách thiết thực để nâng cao nhận thức và làm mới cách nhìn của công
chức về sự thay đổi. Slo -ven-ia, một quốc gia non trẻ đang trong giai đoạn của những thay đổi
lớn và sâu sắc về chính trị, kinh tế và xã hội, ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, đã
đưa nội dung về sự thay đổi vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức của nước mình.
Xin -ga-po, đất nước được thế giới đánh giá cao về cải cách hành chính, ngay từ trước thềm
thế kỷ mới đã xây dựng hẳn một chương trình cải cách hành chính chiến lược hướng tới thế
kỷ 21 (PS21) mà một trong những điểm nổi bật của nó là cách tiếp cận mới đối với sự thay
đổi, đó là: thay đổi cần được coi là cơ hội hơn là mối nguy. Theo cách tiếp cận này, công chức

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 88
Xin -ga-po được tuyên truyền, giáo dục để hiểu rõ về sự thay đổi, có khả năng dự báo những
thay đổi có thể xảy ra, sẵn sàng đón


nhận sự thay đổi và thực hiện những thay đổi ấy.

Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi đề xuất, trong thời gian tới nên tăng cường tuyên
truyền, giáo dục cho cán bộ, công chức về cải cách hành chính với tư cách một sự thay đổi và
nên tập trung vào những điểm sau:
- Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục phải là để làm cho cán bộ, công chức thay đổi thái độ
đối với sự thay đổi, tức là để khiến họ thấy được rằng thay đổi là tất yếu. Bất kỳ sự cố gắng
nào để làm tạm ngừng sự thay đổi thì không những không thể đẩy lùi được nó mà còn làm nó
trở thành lớn hơn, dữ dội hơn và khó quản lý hơn. Khi mọi người đã chấp nhận rằng sự thay
đổi là tất yếu, thì họ cũng sẽ hiểu rằng việc cưỡng lại sự thay đổi sẽ là vô ích. Thay cho việc
để cho sự thay đổi như một làn sóng ào đến và cuốn ta đi, thì cần phải chủ động đón nhận làn
sóng đó. Tuy rằng dù thế nào đi nữa thì người ta cũng ở trong làn sóng của sự thay đổi, nhưng
thực sự, có sự khác biệt to lớn giữa việc miễn cưỡng thay đổi vì bị bắt buộc, thay đổi để đối
phó với việc chủ động đón nhận sự thay đổi ấy.
- Thứ hai, tuyên truyền, giáo dục phải là để giúp cán bộ, công chức có cách tiếp cận
mới đối với sự thay đổi, có nghĩa là khiến họ từ bỏ cách nghĩ cho rằng sự thay đổi ẩn chứa
nhiều nguy cơ và bất trắc, thay vào đó là quan điểm cho rằng sự thay đổi có thể mang lại nhiều
cơ hội và rằng nếu không thay đổi thì còn nhiều bất lợi và nguy cơ hơn. Trước hết, bản thân
mỗi lần thay đổi đã là một cơ hội để thử thách, để chứng minh khả năng hoặc để rèn luyện
khả năng đứng vững và thích nghi. Bên cạnh đó, rất biện chứng là mỗi sự thay đổi, cũng như
những sự vật, hiện tượng khác, đều chứa đựng trong nó cả yếu tố tích cực lẫn tiêu cực. Hay
nói một cách hình ảnh, đằng sau mỗi sự thay đổi có cả những cánh cửa mở ra cơ hội lẫn những
cánh cửa mở ra rắc rối và nguy cơ. Một cách tiếp cận tỉnh táo sẽ giúp cán bộ, công chức nhìn
thấy và mở ra được những cánh cửa cơ hội đồng thời giúp họ tránh được hoặc hạn chế bớt
nguy cơ.
- Thứ ba, tuyên truyền giáo dục phải là để giúp cán bộ, công chức xây dựng niềm tin
vào khả năng thích nghi và làm chủ sự thay đổi. Tức là, việc tuyên truyền, giáo dục phải giúp
họ gạt bỏ sự lo lắng bằng cách khẳng định rằng dù sự thay đổi có thể gây sốc nhưng việc
giảm sốc, việc thích nghi với thay đổi và kiểm soát sự thay đổi là điều hoàn toàn có thể làm
được nếu có sự chuẩn bị chu đáo. Tác động của sự thay đổi đối với con người, theo A Toffler,
cần được xem xét ở cả hai chiều là chiều vật lý (sức khoẻ và khả năng thích nghi của thân thể)
và chiều tâm lý (sức khoẻ và khả năng thích nghi của tâm thần). Sự chuẩn bị cho cán bộ, công
chức đối mặt với sự thay đổi cũng cần tính đến cả hai chiều này
- Thứ tư, tuyên truyền, giáo dục phải là để giúp cán bộ, công chức hiểu rằng không nên
và không được chỉ dừng lại ở mức phản ứng lại hoặc tìm cách thích nghi với sự thay đổi mà
người khác hoặc môi trường tạo ra, mà cao hơn, chính bản thân họ cũng phải chủ động tạo ra
sự thay đổi. Peter Drucker, bậc thầy về khoa học quản lý, khi bàn về sự thay đổi đã từng nói:
"Tới khi bạn bắt kịp với sự thay đổi thì cuộc cạnh tranh đã vượt lên trước bạn rồi (...)Cách duy
nhất để quản lý sự thay đổi là sáng tạo ra nóC. Theo Lim Siong Guan, cựu Giám đốc ngành
công vụ Xin -ga-po: "Tổ chức nào chỉ thay đổi khi hoàn cảnh bắt buộc thì trở thành nô lệ của
hoàn cảnh. Tổ chức nào thay đổi sau hoàn cảnh sẽ bị tụt hậu vì đã để hoàn cảnh đuổi kịp".
Tóm lại, có thể nói, cần phải xây dựng văn hoá về sự thay đổi như là một nếp sống
trong nền công vụ mà ở đó mỗi cán bộ, công chức làm việc trong nền hành chính đều nên và
cần phải trở thành một "nhà hoạt động vì cải cách và thay đổi", có thái độ và cách tiếp cận
đúng đắn đối với sự thay đổi, dám nghĩ, dám làm theo cách mới, dám tiếp tục thay đổi, cải tiến
và học hỏi từ sự thay đổi. Chỉ có như vậy, đội ngũ của ta mới thoát được khỏi thế bị động, đối
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 89
phó mà vươn lên làm chủ tình hình. Và chỉ có như vậy, sự nghiệp cải cách hành chính mới có
thể thành công ./.




2. Đổi mới tri thức một cách toàn diện

2.1 Xây dựng nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri thức
Xây dựng nhân cách lý tưởng là một công trình hệ thống phức tạp. Nó là quá trình
người ta thông qua kết cấu tâm lý văn hóa cụ thể, lựa chọn, hấp thu thông tin hiện thực xã hội,
tiếp thụ văn hoá xã hội mới, đào thải mô hình nhân cách cũ để cuối cùng xác định mô hình nhân
cách mới. Việc thực hiện quá trình này không tách rời nỗ lực giáo dục.
Nhìn lại lịch sử phát triển giáo dục của loài ngưòi, thấy đại thể nó kinh qua quá trình từ
chỗ giáo dục văn khoa cổ điển chiếm ưu thế tuyệt đối đến chỗ giáo dục văn khoa cổ điển bị
lung lay, giáo dục khoa học từng bước xuất hiện, cho đến khi giáo dục khoa học chiếm ưu thế,
giáo dục nhân văn bị suy giảm. Mô hình giáo dục truyền thống coi trọng khoa học coi nhẹ nhân
văn này là một nguyên nhân quan trọng làm hình thành nên "nhân cách đơn diện" trong thời đại
kinh tế công nghiệp. Căn cứ theo yêu cầu của thời đại kinh tế tri thức đối với tố chất nhân
cách, cần thay đổi quan niệm giáo dục và mô hình giáo dục phiến diện truyền thống, tìm điểm
cân bằng mới giữa giáo dục khoa học và giáo dục nhân văn, xác lập mục tiêu chiến lược coi
trọng cả giáo dục khoa học và giáo dục nhân văn trong cải cách giáo dục cao đẳng, bồi dưỡng
nhân cách lý tưởng vừa có trình độ khoa học kỹ thuật và tinh thần khoa học, vừa có tố chất văn
hoá và tinh thần nhân văn tương đối cao nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền văn
minh loài người.
Do nguyên nhân lịch sử, lâu nay, ở mức độ khá lớn Trung Quốc đã thực hiện mô hình
giáo dục coi trọng khoa học kỹ thuật, coi nhẹ nhân văn và áp dụng phương pháp giáo dục
chuyên ngành quá hẹp. Chẳng hạn môi trường khoa khoa học kỹ thuật và khoa giáo dục học
quá ư đơn nhất, đào tạo văn hoá quá yếu, yêu cầu tính tổng hợp, tính học thuật, tính nhân văn,
những thứ cơ bản nhất của đại học, không có được sự bảo đảm cần thiết, học sinh được đào
tạo ra thiếu tố chất nhân văn tốt đẹp và nền tảng tư tưởng sâu dày; cơ sở khoa học tự nhiên
của giáo dục khoa học xã hội nhân văn mỏng yếu khiến cho trong nghiên cứu khoa học và phát
triển chuyên môn, học sinh thiếu phương thức tư duy khoa học, trạng thái tinh thần và phương
pháp, phương tiện khoa học. Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường, do định hướng
công lợi quá nặng, việc bố trí các bộ môn chủ yếu được điều chỉnh theo phương hướng có lợi
cho nhu cầu thị trường ngắn hạn, làm cho việc bồi dưỡng tố chất toàn diện và việc đào tạo cơ
bản vững chắc cho học sinh bị ảnh hưởng... Mô hình giáo dục méo mó này rất không thích hợp
với yêu cầu bồi dưỡng nhân cách có sự dung hoà giữa tinh thần khoa học và tinh thần nhân văn
của thời đại kinh tế tri thức. Do vậy, đổi mới quan niệm giáo dục, cải cách mô hình đào tạo
nhân tài, tăng cường giáo dục tố chất là nhiệm vụ cấp bách trong cải cách giáo dục cao đẳng ở
Trung Quốc. Tư tưởng giáo dục của Đặng Tiểu Bình "hướng về hiện đại hoá, hướng ra thế
giới, hướng tới tương lai" và "có lý tưởng, có đạo đức, có văn hoá, có kỷ luật" đã chỉ rõ
phương hướng cho cải cách giáo dục cao đẳng. Chiến lược làm phồn vinh đất nước bằng khoa
học và giáo dục của Trung Quốc và Kế hoạch hành động chấn hưng giáo dục hướng tới thế kỷ
XXI, Nghị quyết của Uỷ ban Trung ương ĐCS Trung Quốc, Quốc vụ Viện Trung Quốc về làm
sâu thêm cải cách giáo dục, thúc đẩy toàn diện giáo dục tố chất đã đề ra yêu cầu đức, trí, thể,
mỹ xâm thấu lẫn nhau, phát triển hài hoà, nâng cao toàn diện tố chất nhân tài. Rõ ràng, đào tạo
nhân cách lý tưởng của thời đại kinh tế tri thức đòi hỏi chúng ta phải tăng cường giáo dục khoa
học kỹ thuât, nhưng không thể bồi dưỡng học sinh thành những "nô lệ của máy móc"; đồng
thời với việc tăng cường giáo dục tinh thần nhân văn, không thể buông lỏng phổ cập tri thức
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 90
khoa học và bồi dưỡng tinh thần khoa học, đặc biệt, trong thời đại khoa học công nghệ cao
cần đề phòng học sinh biến thành những người "mù khoa học" bị mê tín phong kiến cầm tù.
Trước mắt, đặc biệt là đối với giáo dục khoa học học kỹ thuật cao đẳng, cần tăng cường
nghiên cứu và giáo dục khoa học xã hội nhân văn, chú trọng bồi dưỡng tố chất tổng hợp cho
học sinh, nới rộng kênh chuyên môn, tăng cường năng lực thích ứng, cải cách hệ thống giáo
trình, ưu hoá kết cấu chỉnh thể, nhấn mạnh sự kế thừa và tổng hợp giữa khoa học tự nhiên,
khoa học kỹ thuật và khoa học xã


hội, nỗ lực đáp ứng yêu cầu của thời đại kinh tế tri thức đối với tố chất nhân tài, từng bước
xây dựng hệ thống giáo dục nhân văn hữu hiệu, đây cũng là giai điệu chính của cải cách giáo
dục cao đẳng hiện nay. Tóm lại, trong thực tiễn giáo dục chúng ta tất nhiên tự giác thực hiện
sự kết hợp giữa giáo dục khoa học và giáo dục nhân văn, xây dựng nhân cách lý tưởng dung
hoà tinh thần khoa học và tinh thần nhân văn nhằm thúc đẩy sự phát triển tự do toàn diện của
con người, xúc tiến nâng cao tố chất chỉnh thể của toàn xã hội.
Engels khi đánh giá Phong trào Văn nghệ Phục hưng đã chỉ ra rằng "Đây là một cuộc
biến cách vĩ đại nhất, tiến bộ nhất mà trước nay loài người chưa từng trải qua, là một thời đại
cần người khổng lồ và đã sản sinh ra người khổng lồ - người khổng lồ về mặt năng lực tư
duy, tình cảm và tính cách, về mặt đa tài đa nghệ và học thức uyên thâm". Thời đại kinh tế tri
thức tương lai sẽ là một thời đại biến cách vĩ đại hơn, tiến bộ hơn, thời đại này không những
cần người khổng lồ, cần một loạt "người mới" có cả tố chất khoa học lẫn tố chất nhân văn,
mà tất nhiên cũng sẽ sản sinh người khổng lồ và xây dựng nên hàng loạt "người mới" có tố
chất nhân cách này.

2.2 Hướng tới một nền kinh tế và xã hội tri thức
Những tiến độ nhanh chóng dồn dập của công nghệ thông tin và truyền thông đã thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình đưa hoạt động tri thức về gần với cuộc sống hàng ngày. Nều trước
đây, việc tìm kiếm tri thức là đặc quyền của các nhà khoa học, và tri thức phải là những điều
cao xa hướng tới các qui luật tất định và phổ biến, thì bây giờ đây, càng ngày ta càng thấy rõ
rằng, trong sinh hoạt và công việc hàng ngày, từ việc làm ăn, kinh doanh cho đến việc quản lý
đất nước, đâu đâu cũng cần có thêm nhiều tri thức, nhất là khi sống trong một môi trường kinh
tế xã hội thường xuyên biến động, liên tục thay đổi. Tri thức không nhất thiết phải chĩnh xác,
phải chắc chắn, quyết định không nhất thiết phải tối ưu, có sai rồi có sửa, có mất rồi có được,
nhưng hy vọng rằng càng có nhiều tri thức thì sẽ ít sai hơn, được sẽ nhiều hơn mất. Tri thức
từ các qui luật phổ biến có thể cho ta các định hướng vĩ mô, nhưng không phải lúc nào cũng có
thể giúp ta lấy những quyết định cụ thể hàng ngày. Mà cuộc sống “vi mô” cụ thể không còn là
thuận lợi cho cơ quan, doanh nghiệp phải có khả năng thường xuyên tự tổ chức và tổ chức lại.
Và cơ sở quan trọng cho những khả năng đó là một tiềm lực tri thức phong phú, và một năng
lực xử lý tri thức nhạy bén, linh hoạt. Đẩy mạnh việc ứng dụng có hiều quả những thành tựu
to lớn của công nghệ thông tin hiện đại, và phát huy mọi năng lực trí tuệ hướng tới sáng tạo và
đổi mới của con người là hai nhân tố chủ chốt tạo nên năng lực cần thiết cho đất nước đi tới
nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức trong tương lai.
Tuy là một nước nghèo, chậm phát triển, trước mắt còn vô vàn những vấn đề cấp bách
phải giải quyết, những nhận thức được xu thế phát triển chung, nên, từ đầu thập niên 90, ta đã
vạch ra được một chính sách tương đối toàn diện và nhất quán phát triển công nghệ thông tin ở
nước ta, mà trong đó một nhiệm vụ trung tâm là xây dựng những nền móng bước đầu vững
chắc cho một kết cầu hạ tầng thông tin của đất nước, có khả năng cung cấp các thông tin cần
thiết cho quản lý nhà nước và cho các hoạt động kinh tế xã hội. Đẩy mạnh phát triển nhân lực
và xây dựng dần một kết cấu hạ tầng thông tin là hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo của nhóm
tư vấn về xã hội thông tin của Liên Hiệp quốc đưa ra gần đây [1]. Xin nhường cho các cơ quan
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 91
có trách nhiệm và thẩm quyền đánh giá các kết quả đã đạt được trong việc thực hiện chính
sách nói trên. Chỉ mong rằng chính sách đó, chủ trương đó sẽ tiếp tục được đẩy mạnh thực
hiện để trên đất nước ta chóng hình thành được thật sự một kết cấu hạ tầng thông tin vững
chắc, làm cho xã hội ta, trong mọi lĩnh vực hoạt động, mọi cơ quan, doanh nghiệp... đầy ắp
những cớ sở dữ liệu và thông tin giàu có, làm nên cho các hoạt động khai phá và phát hiện tri
thức, tạo cơ sở cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức.
Như đã trình bày ở trên, đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin mới là
một vế trong việc chuẩn bị cho nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức. Về thứ hai, có ý nghĩa
quyết định, là năng lực trí tuệ, khả năng sáng tạo, đổi mới của con người. Khả năng này phải
được bồi


dưỡng và phát huy trong mọi lĩnh vực, từ người lãnh đạo, nhà kinh doanh cho đến mọi công
dân trong xã hội. Công nghệ thông tin là quan trọng, máy tính là quan trọng, nhưng công nghệ
thông tin dù hùng mạnh đến mấy cũng chỉ có thể trợ giúp con người trong một số hoạt động tri
thức, máy tính dù có tính hàng tỷ phép tính một giây, về bản chất cũng mới chỉ có thể thực hiện
các qui trình tất định trên những tri thức chắc chắn, cho dù với năng lực lưu trữ và tốc độ tính
toán khổng lồ, ta cũng có thể dùng nó để mô phỏng và bắt chước thực hiện (xấp xỉ một cách
tất định và chắc chắn!) một số lập luận không tất định trên các tri thức không chắc chắn. Cái
phần không chắc chắn, không tất định, không nhất quán ấy rất là đời thường, và xét đến tận
cùng, chỉ có thể được xử lý bởi những năng lực trí tuệ hết sức linh hoạt và nhậy bén, cho đến
nay vẫn là đặc hữu của con người. Công nghệ thông tin có góp phần thúc đẩy con người trở về
nghiên cứu bản chất hoạt động trí tuệ của chính mình, nhưng cái bản chất ấy ta vẫn chưa hiểu
thấu đáo được bao nhiêu, cho nên nhiều khả năng kỳ diệu trong hoạt động trí tuệ vẫn được
xem là riêng của con người, và vì vậy con người, với năng lực sáng tạo và đổi mới của mình,
vẫn là nhân tố chủ đạo trên con đường đi tới nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức.

2.3 Phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức nước ta giai đoạn 2011 -
2020
Những phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức dưới đây đều căn cứ vào
những biến đổi chủ yếu có thể thấy được ở giai đoạn 2011 - 2020, vào tiềm năng và hạn chế
của trí thức nước ta và cần sát với hai lĩnh vực khác nhau là trí thức trong bộ máy đảng, nhà
nước, và trí thức ở các lĩnh vực ngoài nhà nước.
Không có phương hướng giải pháp riêng cho hai bộ phận trí thức ở hai lĩnh vực khác
nhau, thì không tránh khỏi rơi vào trạng thái chung chung về lý thuyết, cách xa thực tiễn cuộc
sống. Bởi vì những người trí thức trong bộ máy cầm quyền là những công chức, sống và làm
việc theo Luật Công chức và sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng. Còn đông đảo trí thức ngoài
nhà nước (kể cả trí thức về hưu) ngày càng tăng thì làm việc theo nhu cầu của xã hội, Nhà
nước, doanh nghiệp. Họ phải tìm tòi những giải pháp tối ưu cho những vấn đề thực tiễn do
đối tác, hay Nhà nước và tổ chức xã hội đặt ra. Họ tồn tại và phát triển dựa vào năng lực cá
nhân và hợp tác với đồng nghiệp và được đánh giá bằng chất lượng công việc trong quan hệ
cạnh tranh về trí tuệ.
Ở đây, chúng tôi xin phân tích những vấn đề thuộc đội ngũ trí thức hiện đang hoạt động
trong hệ thống khoa học và công nghệ trên cả nước với tên gọi là Liên hiệp các Hội Khoa học
và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã hình thành 26 năm nay. Sự gắn bó trong hoạt động giữa trí
thức trong và ngoài nhà nước là truyền thống lâu năm bắt đầu từ khi thành lập "Hội Phổ biến
khoa học và kỹ thuật Việt Nam" vào năm 1963 được Bác Hồ dự và dặn dò trí thức. Đến nay,
Liên hiệp đã bao gồm 68 Hội khoa học và kỹ thuật trên phạm vi cả nước với 245 Hội thành
viên (trong đó có 4 Tổng hội: Y học, Xây dựng, Địa chất, Cơ khí với 80 Hội thành viên) và 55
Liên hiệp Hội khoa học và kỹ thuật của tỉnh, thành phố.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 92
Từ thực tiễn hoạt động của trí thức ngoài nhà nước, có thể rút ra những phương hướng
và giải pháp sau:

2.3.1 Hợp tác liên ngành khoa học và công nghệ là cách hoạt động có hiệu quả
Sự hợp tác liên ngành của VUSTA ngoài giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ
đặt ra, còn đưa đến sự phát triển các tổ chức khoa học và kỹ thuật. Hiện đã có: 43% số hội có
chi hội trong các doanh nghiệp nhà nước; 15% số hội có chi hội trong các doanh nghiệp khác;
70% - 75% các chi hội ở trong các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu, các cơ sở
nghiên cứu...; ở một số liên hiệp hội địa phương tỉnh, thành còn có sự tham gia của các thành
viên thuộc Hội Văn học - nghệ thuật, Hội Nhà báo, Hội Kế hoạch hóa gia đình, Hội Nạn nhân
chất độc da cam, Hội Sinh vật cảnh.



Ở đâu có nhu cầu về khoa học và công nghệ thì ở đó sớm hay muộn có các tổ chức
khoa học và kỹ thuật. Do đó, gần đây Liên hiệp Hội ở Hà Nội, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Lâm Đồng đã phát triển tổ chức xuống các quận, huyện.
Phương hướng từ nhu cầu khoa học và công nghệ mà phát triển tổ chức của trí thức để
đáp ứng, nên VUSTA đã thu hút được khoảng 1,8 triệu hội viên, trong đó có 80 vạn hội viên là
trí thức, chiếm 1/3 tổng số trí thức cả nước.

2.3.2 Hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xã hội các chủ trương, các dự án đầu tư
Đây là một hướng quan trọng xây dựng đội ngũ trí thức từ thực tiễn được thực hiện
gần 10 năm nay theo quyết định của Đảng và Nhà nước. Hoạt động này, một mặt, giúp các cơ
quan đảng và nhà nước có cơ sở khoa học tin cậy trong thực hiện đường lối, chính sách; mặt
khác, là phương thức bồi dưỡng, xây dựng trí thức trong thực tiễn. Phương hướng và giải pháp
này có hiệu quả tốt thể hiện ở chất lượng tư vấn, phản biện các dự án thủy điện Sơn La;
đường Hồ Chí Minh; thay nước Hồ Tây; bảo tồn khu di tích Hoàng thành Thăng Long và di tích
Cột cờ; phòng, chống dịch cúm gia cầm; quy hoạch thành phố Hà Nội hai bên bờ sông Hồng;
xây dựng nhà máy điện nguyên tử v.v..
Việc giám định xã hội của VUSTA cũng bước đầu có kết quả: Tổng Hội xây dựng Việt
Nam công bố danh sách 43 dự án đầu tư có dấu hiệu thất thoát, lãng phí, 30 dự án có sai phạm
trong sử dụng đất vào năm 2006; Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam phát
hiện xăng pha axeton, sữa nước chế biến từ sữa bột nhưng nhà sản xuất ghi là sữa tươi v.v.. và
nhiều đóng góp của các hội, tổng hội trong lĩnh vực chuyên ngành. Riêng Liên hiệp Hội Thành
phố Hồ Chí Minh đã tư vấn, phản biện cho 79 dự án phát triển Thành phố. Nhiều liên hiệp hội
địa phương đang phát huy tác dụng trong hoạt động tư vấn, phản biện, giám định của địa
phương.

2.3.2 Hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng phát triển bền vững
Hoạt động khoa học và công nghệ nhằm bảo vệ môi trường và ổn định xã hội là
phương hướng quan tâm thường xuyên của VUSTA và đã đạt những kết quả tốt:
+ Xây dựng thành công mô hình làng sinh thái ở nơi điều kiện sinh thái khắc nghiệt (đồi
trọc, vùng cát trắng, vùng ngập nước) dựa trên sự hợp tác giữa trí thức với nông dân.
+ Thực hiện Chương trình mở phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở 20 tỉnh, trong đó có giải pháp liên kết "bốn nhà" (nhà nông, nhà khoa
học, nhà doanh nghiệp, Nhà nước) trong đổi mới nông nghiệp, nông thôn.
+ Coi trọng việc thực hiện các dự án bảo vệ môi trường như: dự án thoát nước đô thị,
hệ thống xử lý bãi rác thải Nam Sơn (Hà Nội), các khu công nghiệp ở Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương.
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 93
+ Hoạt động phát triển cộng đồng, xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở vùng khó khăn, vùng
sâu vùng xa. Đông đảo các tổ chức khoa học và công nghệ đã tham gia thường xuyên và có kết
quả. Nhờ đó nguồn tài chính huy động trong nước và tài trợ quốc tế ngày càng tăng (năm 2008
đã huy động được 4 triệu USD).

2.3.3 Hoạt động giáo dục, đào tạo và phổ biến kiến thức
Đây là phương hướng mà đội ngũ trí thức có vai trò, trách nhiệm lâu dài. Nhiều hội khoa
học và công nghệ đã thành lập hoặc bảo trợ thành lập gần chục trường đại học, cao đẳng,
trung học dạy nghề, tham gia tích cực vào quá trình xã hội hóa giáo dục và đào tạo, tổ chức
hàng vạn khóa đào tạo chuyên ngành.
Phổ biến kiến thức là giải pháp có hiệu quả, kiểu "mưa dầm thấm lâu". 197 tờ báo, tạp
chí, tập san, bản tin, trang tin điện tử của VUSTA làm nhiệm vụ ấy. Đặc biệt Nhà Xuất bản
Tri thức của VUSTA trở thành khâu chuyển tải những giá trị, tinh hoa của thế giới vào nước ta
theo xu hướng gắn bó khoa học tự nhiên với khoa học xã hội.

2.3.4 Hoạt động hợp tác quốc tế và hướng hợp tác rút ngắn dần trình độ của tri thức
Việt Nam với thế giới
Đây là nhu cầu bức thiết trong xây dựng đội ngũ trí thức nước ta. VUSTA đã thực hiện
bằng nhiều hình thức như: Thiết lập quan hệ hoặc trở thành thành viên của các tổ chức như:
Liên đoàn các Tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO), Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga, Nhật Bản, Ô-
xtrây-li-a; tổ chức một số hội nghị khoa học quốc tế; xây dựng mối quan hệ với một số tổ
chức phi chính phủ của thế giới như: Quỹ Ford, Quỹ Rockerfeller, UNDP, Oxfam Anh, Hồng
Kông, Care Đan Mạch, ICCO Hà Lan v.v.. nhằm thu hút tài trợ và nâng cao năng lực cán bộ
hoạt động của Hội. Ngoài ra, VUSTA đã thực hiện một số hoạt động hỗ trợ cho sự phát triển
của Liên hiệp Hội khoa học và công nghệ Lào.
Việc thực hiện các phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức ngoài nhà
nước vẫn còn ở mức độ thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chiến lược xây dựng nền khoa học
và công nghệ quốc gia - một điều kiện quyết định để phát triển bền vững và thắng lợi trong
hội nhập quốc tế.
Từ góc nhìn xây dựng đội ngũ trí thức giai đoạn 2011 - 2020, những thành công và
những hạn chế vừa qua có nguồn gốc từ nhận thức vai trò, trách nhiệm của trí thức trước yêu
cầu phát triển của dân tộc, từ việc thực hiện các chỉ thị, nghị định của Đảng và Chính phủ của
cơ quan quản lý nhà nước.

Kinh nghiệm rút ra là: Xây dựng và không ngừng nâng cao mối quan hệ giữa vai trò, trách
nhiệm của Đảng và Nhà nước với vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức. Nâng cao mối quan
hệ này phải từ tầm nhìn giai đoạn 2011 - 2020, từ những xu hướng của thời đại và sự đòi hỏi
cấp bách phải phát huy tối đa tiềm năng dân tộc, trước hết là tiềm năng trí tuệ của đất nước,
nhất là ở đội ngũ trí thức, trong đó các chuyên gia đầu ngành có vai trò rất lớn trong xây dựng
đội ngũ trí thức Việt Nam.

3. Để chất xám thực sự được phát huy
Mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới còn trầm trọng, các nước giàu mạnh đang đầu tư
ưu tiên vào việc đổi mới và nghiên cứu để có thể cạnh tranh trên thị trường. Hiện nay, những
lĩnh vực then chốt, thuộc kinh tế xanh, được các nước giàu mạnh tập trung sức lực đầu tư là:
– Năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, thuỷ điện nhỏ, địa nhiệt, sóng biển...)
– Hiệu quả năng lượng
– Tiết kiệm năng lượng
– Giam giữ CO2 (séquestration du CO2)
– Nhiên liệu sinh học thế hệ 2 (có vấn đề nếu không có chiến lược đúng đắn)
GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 94
Những ngành có triển vọng cao được các đại học hay trường lớn triển khai mạnh nhất
là:
– Năng lượng (đặc biệt tái tạo)
– Viễn thông
– Công nghệ nano (cần phải thận trọng, vì có sự lạm dụng danh từ)
– Vật liệu
– Công nghệ sinh học
– Tin học và công nghệ số
Trong bối cảnh đó, tôi xin đề nghị bộ Giáo dục và đào tạo cùng bộ Khoa học và công
nghệ nên triệt để khai thác tài năng của tất cả những sinh viên ở trong nước hay ở nước ngoài
đang làm luận án tiến sĩ hoặc đang thực tập sau tiến sĩ.
Muốn có hiệu quả, cần phải thành lập một uỷ ban khoa học kỹ thuật gồm các giáo sư
có bổn phận liên lạc, theo dõi các nghiên cứu sinh, để phổ biến, triển khai và áp dụng những
thành tựu nghiên cứu của họ.


Các trường đại học hay trung học trong nước có thể mời một số sinh viên tiến sĩ ưu tú,
trực tiếp hay gián tiếp, góp phần giảng dạy hay hướng dẫn.
Đại học và các trường lớn của nước ta thiếu giáo sư cũng như phòng thí nghiệm tân
tiến với nghiên cứu viên ưu tú. Vì vậy trước tiên cần có kinh phí hết sức quan trọng dành cho
việc tuyển chọn đội ngũ giảng dạy có trình độ quốc tế và thiết lập cấp tốc các viện và cơ sở
nghiên cứu có chất lượng cao. Việc kết hợp chặt chẽ đào tạo nghiên cứu và doanh nghiệp cần
được khuyến khích và phải có mục tiêu và kế hoạch rõ ràng.
Tổ chức các trung tâm ươm tạo và triển khai trong các doanh nghiệp ở nước ta đang còn
lu mờ, chưa có chiến lược. Các con số sau đây cho ta thấy tỷ lệ kinh phí dành cho đại học và
nghiên cứu – triển khai (R-D) so với GDP (thống kê OCDE 2006):




Ngày nay, các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu – triển khai ở ngoại quốc nhiều hơn
là ở trong nước của họ (theo Global innovation 1000). 1.000 doanh nghiệp có ngân sách nghiên
cứu – triển khai cao nhất thế giới đầu tư 55% kinh phí ở ngoại quốc.
Mỹ xuất khẩu R-D mạnh nhất, sau đó là Nhật và Thuỵ Sĩ. Đức cũng xuất khẩu R-D trái
với Anh. Riêng Pháp thì giữ cân bằng. Trái lại Trung Quốc nhập cảng R-D nhiều nhất (25 tỉ
đôla năm 2007) rồi đến Ấn Độ (13 tỉ đô la).

GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Chương 4: Kiến nghị 95
Vì điều kiện tài chính và chất lượng chưa cho phép, chúng ta nên tập trung sức lực vào
việc tổ chức những cơ cấu, những cơ sở căn bản để đào tạo sinh viên tốt nghiệp với những
kiến thức vững chắc trước khi ra phục vụ xã hội.
Chúng ta không nên mơ ước sớm đưa một hai đại học vào bản xếp hạng của đại học
Giao thông Thượng Hải (Jiao Tong Shanghai). Những tiêu chuẩn của họ không thích hợp đối
với nhiều nước, đặc biệt là đối với Âu châu. Vì vậy EU cũng có dự án đưa ra một bản sắp
hạng vào năm 2010 để thu hút sinh viên ngoại quốc. Cũng như ở Pháp và nhiều nước khác trên
thế giới, hệ thống giáo dục nói chung và đại học nói riêng của Việt Nam, cần được cải tổ cấp
bách và sâu rộng với một chiến lược dài hạn. Nhà nước phải xem đó là ưu tiên số 1 thì may ra
mới theo kịp đà tiến triển khoa học kỹ thuật hiện đại.
Thay vì bỏ ra hàng chục tỉ đô la để xây cất tám lò điện hạt nhân, tôi thiết tha đề nghị
Chính phủ nên để dành số tiền ấy đầu tư vào các lĩnh vực then chốt có nhiều triển vọng như
giáo dục, đào tạo, nghiên cứu...và những lĩnh vực có lợi thiết thực cho dân chúng như y tế, xã
hội.
Từ nhiều năm nay, Nhà nước đã có tham vọng thu hút chuyên gia trí thức Việt kiều trở
về xây dựng đất nước. Vì sao ta chưa đạt được kết quả như ý muốn?


Ngoài số chuyên gia đang hành nghề, số trí thức giàu kinh nghiệm đã nghỉ hưu hết sức
đông.
Nước ta cần phải mạnh dạn đầu tư kinh phí lớn vào các cơ quan có trọng trách kêu gọi
và thu hút nhân tài mà đừng bao giờ bận tâm đến lợi tức trước mắt.
Chúng ta đã nghiên cứu về các chính sách có hiệu quả của Trung Quốc và Ấn Độ, được
hàng ngàn trí thức đáp lời kêu gọi mỗi năm. Chúng ta có thật sự quyết tâm vượt qua những trở
ngại để thành công hay không? Chất xám tri thức hưu trí vô cùng quý báu đâu có thể ngồi đợi
mãi tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc?




GVHD: Nguyễn Mạnh Cường
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản