Tiểu luận: Công tác cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Nghệ An

Chia sẻ: hoanghong_love

Cải cách thủ tục hành chính là một công việc thuộc nội dung cải cách thể chế hành chính, trong khi đó, cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính. Tuy nhiên, cải cách TTHC lại được đặt ra trước cải cách hành chính, được xem như là khâu đột phá của cải cách hành chính, và trong tiến trình cải cách hành chính, vấn đề TTHC thường xuyên được Chính phủ quan tâm. Đó là vì TTHC hàng ngày liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, cấp chính...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận: Công tác cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Nghệ An

 

  1. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An   ĐỀ TÀI “Công tác cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Nghệ An” Giáo viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện : Hoàng Hồng 1 Hoàng Hồng – QLXH 29
  2. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An A. LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................... 3 B. PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................... 6 CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CẢI CÁCH TTHC ............................ 6 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền HCNN .................................................... 6 1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTHC............................................. 7 1.3 Về nội dung cải cách TTHC ....................................................................10 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở NGHỆ AN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY ..........................................14 2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An. .........................14 2.2 Thực trạng công tác cải cách TTHC ở tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây ...........................................................................................................16 2.3 Những hạn chế, tồn tại trong công tác cải cách TTHC của Tỉnh ..........23 CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CỦA TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG CÔNG TÁC CẢI CÁCH TTHC ..................................25 3.1 Về phía Trung ương .................................................................................25 3.2 Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu trong việc đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới ........27 C.PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................30 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................31 2 Hoàng Hồng – QLXH 29
  3. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An A. LỜI MỞ ĐẦU Cải cách thủ tục hành chính là một công việc thuộc nội dung cải cách thể chế hành chính, trong khi đó, cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính. Tuy nhiên, cải cách TTHC lại được đặt ra trước cải cách hành chính, được xem như là khâu đột phá của cải cách hành chính, và trong tiến trình cải cách hành chính, vấn đề TTHC thường xuyên được Chính phủ quan tâm. Đó là vì TTHC hàng ngày liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, cấp chính quyền, cũng như đến các tổ chức và cá nhân công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Các quyền, nghĩa vụ của mọi công dân đã được quy định ở Hiến pháp hay ở các bộ luật, cũng như các yêu cầu, nguyện vọng của họ có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào đều phải thông qua TTHC do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện trên hầu khắp các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, dân tộc, tôn giáo cho đến an ninh - quốc phòng, đối ngoại... Chức năng quản lý nhà nước không chỉ nhằm bảo vệ pháp luật, chế độ chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, các quyền hợp pháp chính đáng của mọi tổ chức và công dân, mà còn tạo điều kiện, môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi cho các tổ chức và công dân làm ăn, sinh sống. Việc tạo điều kiện, môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức và công dân sinh sống, phát triển kinh tế thường được xác định như là một chính sách; còn trên thực tế, sự thuận lợi hay khó khăn trong làm ăn, sinh sống của người dân cũng như niề m tin của họ đối với Nhà nước như thế nào lại được thẩm định thông qua các quy định TTHC và cách thức giải quyết các thủ tục ấy. Trong điều kiện Nhà nước ta thực hiện chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tham gia sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, thì các nhu cầu của các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng tăng lên về số lượng và đa dạng, 3 Hoàng Hồng – QLXH 29
  4. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An phong phú, phức tạp về hình thức, nội dung. Tình hình đó đặt ra các yêu cầu mà Nhà nước phải thực hiện: 1- Chuyển đổi cơ chế quản lý thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. 2- Mở rộng và nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ, phục vụ xã hội. 3- Khắc phục tình trạng yếu kém, hạn chế, bất cập của bộ máy quản lý, gồm: tổ chức, thể chế, cán bộ - công chức, cơ sở vật chất - tài chính. Cải cách thể chế hành chính, trong đó có TTHC, là một vấn đề không riêng của Nhà nước, mà còn liên quan đến đời sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đó chính là nguyên do đòi hỏi Nhà nước phải dành sự quan tâm nhiều hơn đối với việc cải cách thủ tục hành chính, nhằ m đáp ứng các yêu cầu dịch vụ, phục vụ xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ chế kinh tế. Hiện nay, các TTHC còn tồn tại một số hiện tượng mang tính khá phổ biến như: rườm ra, trùng chéo, cứng nhắc (hợp pháp nhưng chưa hợp lý, chưa phù hợp thực tế); thủ tục cũ, mới lẫn lộn. Bên cạnh đó, việc ban hành TTHC có lúc, có nơi còn tuỳ tiện, kể cả ban hành "giấy phép con"; cách thức giải quyết thủ tục vẫn còn hiện tượng cửa quyền, hạch sách, chậm trễ theo lối "dân cần, quan không vội” và vẫn còn qua nhiều khâu trung gian lòng vòng; thẩm quyền, trách nhiệ m giải quyết thủ tục nhiều khi không rõ và vẫn còn hiện tượng tổ chức, công dân (khách hàng) đi lại nhiều lần, ca thán hoặc lo lót, hối lộ để được việc. Có thể nói, tính bức xúc của việc đẩy mạnh cải cách TTHC không chỉ nhìn từ khía cạnh kinh tế, tức là tiết kiệm tiền của, là xây dựng môi trường pháp lý để các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn, phát triển; không chỉ nhìn từ khía cạnh xã hội, tức là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước. Hơn thế, nó còn xuất phát từ việc sắp xếp, tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, hiện đại; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức về chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hoá; góp phần bài trừ tệ quan liêu, cửa quyền, hối lộ, làm trong 4 Hoàng Hồng – QLXH 29
  5. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An sạch bộ máy nhà nước. Để làm cơ sở lí luận và thực tiễn cho công tác cải cách TTHC, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia, những người tâm huyết. Tuy nhiên, các nghiên cứu ấy chủ yếu ở tầng vĩ mô, còn chung chung, rất ít các công trình nghiên cứu về cải cách TTHC ở những địa phương cụ thể. Nhận thấy đây vẫn là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết, em chọn đề tài: “Công tác cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Nghệ An” làm bài tiểu luận môn “Quản lí hành chính nhà nước”. Bài tiểu luận của em tập trung làm sáng tỏ nhũng vấn đề sau: -Cở sở lí luận của cải cách TTHC. -Thực tế vấn đề cải cách TTHC Nghệ An. -Nhiệm vụ và giải pháp đặt ra. Bài tiểu luận được chia thành 3 chương chính: -Chương I: Cơ sở lí luận của cải cách TTHC. -Chương II: Thực trạng công tác cải cách TTHC ở tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây. -Chương III: Quan điểm, giải pháp để tiếp tục đẩy đẩy mạnh công tác cải cách TTHC của Trung ương và địa phương. Trong phạ m vi kiến thức hạn hẹp, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của các thầy cô để những bài viết sau của em được hoàn chỉnh hơn. 5 Hoàng Hồng – QLXH 29
  6. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CẢI CÁCH TTHC 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền HCNN Các nhà kinh điển theo học thuyết Mác - Lênin đã có những tư tưởng bước đầu về cải cách nền HCNN, đặc biệt những tư tưởng của Lênin. Trong quá trình lãnh đạo nhà nước Xô Viết, Lênin rất chú trọng đối với công tác cải cách nền hành chính. Người coi đây là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Trong cải cách nền hành chính, Lênin nhấn mạnh đến việc sắp xếp, tinh giả m bộ máy hành chính và thực hành tiếp kiệm. Người nhấn mạnh: “Nhiệ m vụ cấp thiết, chủ yếu nhất lúc này và trong những năm sắp tới là không ngừng tinh giả m bộ máy Xô Viết và giảm bớt chi phí của nó…xóa bỏ tác phong lề mề hành chính, bệnh quan liêu và giảm bớt các khoản chi tiêu phi sản xuất”. Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lí mới, Lênin xúc tiến việc cải cách chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt. Lê nin coi trọng việc cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm bớt những khâu xét duyệt giấy tờ không cần thiết.Người đặc biệt lưu ý tới việc soạn lại các quy định thật cơ bản, thiết thực đã tính toán chính xác để thi hành có hiệu quả. Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng đầu tiên và sáng tạo những quan điểm trên của Lênin trong việc xây dựng một nền hành chính quốc gia thực sự hiện đại và hoạt động có hiệu quả. Ngay từ buổi đầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng một nền hành chính phù hợp với yêu cầu mới, mà việc đầu tiên là ban hành các văn bản quy định quy chế hoạt động của các cấp các ngành. Người yêu cầu “phải xây dựng một nền hành chính của dân, do dân và vì dân”. Giả m thiểu những sách nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc hành chính. 6 Hoàng Hồng – QLXH 29
  7. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An Thủ tục hành chính phải phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc theo đúng quy định, song cũng cần phù hợp với trình độ của nhân dân. Người lên án mọi hành vi cửa quyền, lộng quyền của cán bộ khi giải quyết công việc của nhân dân. Người yêu cầu “cán bộ, đảng viên phải là những công bộc trung thành và tận tình của nhân dân”. Những quan điể m của Lê nin và chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta kế thừa và phát triển trong điều kiện hiện nay. Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6- 1991) đã đánh dấu bước đổi mới, phát triển tư duy về cải cách nền HCNN trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Đảng đã đặt trọng tâm vào cải cách hệ thống HCNN trong tổng thể cải cách bộ máy nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII (tháng 1-1995) đã ra nghị quyết chuyên đề về cải cách một bước nền HCNN với một hệ thống chủ trương, nội dung, phương hướng cải cách tương đối đồng bộ, cơ bản, chuyên sâu. Các đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6-1996), IX (tháng 4-2000), X (tháng 4-2006) và các hội nghị Trung ương của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương cải cách, xây dựng nền hành chính nhà nước trong đó trọng tâm là thực hiện cải cách TTHC. Đây là thành tựu nổi bật trong đổi mới, phát triển tư duy lí luận của Đảng về xây dựng nền HCNN nói riêng, về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung; là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạch định đường lối, chủ trương cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay. 1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTHC Hiện nay, có nhiều quan điể m khác nhau về thể chế HCNN. HCNN bao gồ m hai bộ phận lớn. Thứ nhất là bộ phận thể chế hành chính thuần túy, thứ hai là bộ phận thể chế hành chính tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh. “ Thể chế HCNN là một hệ thống gồm luật, các văn bản pháp quy dưới luật, tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chình nhà nước; một mặt thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như 7 Hoàng Hồng – QLXH 29
  8. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An cho mọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật; mặt khác là các quy định về các mối quan hệ trong hoạt động kinh tế cũng như các mối quan hệ giữa các cơ quan HCNN và nội bộ bên trong của các cơ quan này”. TTHC là một trong số những yếu tố cấu thành thể chế HCNN. 1.2.1. Khái niệm TTHC Pháp luật hành chính gồm có những quy phạm quy định tổ chức, quyền hạn, nhiệm vụ các cơ quan nhà nước và quyền, nghĩa vụ của công dân và tổ chức xã hội trong lĩnh vực quản lí HCNN. Những quy phạm ấy hợp thành luật hành chính về nội dung. Bên cạnh những quy phạm đó, còn có nhiều quy phạm quy định những trình tự, hình thức trong việc giải quyết những yêu cầu của công dân đối với cơ quan HCNN hoặc những yêu cầu trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước, hay còn gọi là TTHC. TTHC rất đa dạng, nhưng có thể phân thành 2 loại cơ bản: 1) Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ nội bộ các cơ quan nhà nước. 2) Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ của cơ quan nhà nước đối với công dân và các tổ chức xã hội. Mỗi loại thủ tục bao gồm nhiều thủ tục riêng áp dụng trong từng loại việc, từng lĩnh vực quản lí. TTHC trong quan hệ với công dân gồm có 2 loại quan trọng: a) TTHC trong việc các cơ quan nhà nước xét, giải quyết những quyền chủ quan hợp pháp của công dân, trong việc công dân kiện một cơ quan nhà nước. b) TTHC trong việc các cơ quan có thẩm quyền xét vấn đề trách nhiệm hành chính và xử phạt các vi phạm của công dân. Còn gọi là thủ tục xử lí vi phạm hành chính, hoặc tố tụng hành chính. Hiện nay, khái niệm TTHC vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi. Dưới đây là khái niệ m được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam chấp nhận nhất: TTHC là trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc của cá nhân, tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết các công việc của Nhà nước, các kiến nghị yêu cầu chính đáng của công dân 8 Hoàng Hồng – QLXH 29
  9. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính, đảm bảo công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân. 1.2.2. Các đặc điểm của TTHC  TTHC được Luật Hành chính quy định rất chặt chẽ, các hoạt động không được quy phạ m TTHC quy định thì không phải là TTHC.  Trong TTHC thì nguyên tắc chủ thể có quyền xem xét và ra quyết định theo trình tự mà luật TTHC quy định là cơ quan quản lí hành chính nhà nước (cơ quan quản lí hành chính nhà nước hiểu theo nghĩa rộng).  Các quy phạ m TTHC không chỉ quy định trình tự thực hiện theo quy phạ m vật chất của Luật Hành chính mà còn quy định trình tự nhằm thực hiện quy phạ m vật chất của các ngành luật khác.  TTHC rất đa dạng, phức tạp. Tính đa dạng, phức tạp của nó được quy định bởi hoạt động quản lí HCNN là hoạt động diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và bộ máy hành chính. Hơn nữa nền HCNN ta hiện đang chuyển từ nền hành chính kế hoạch hóa tập trung sang nền hành chính phục vụ; đồng thời với xu hướng hợp tác quốc tế đối tượng quản lí không chỉ là công dân, tổ chức trong nước mà còn có các yếu tố nước ngoài. 1.2.3. Ý nghĩa của TTHC Cải cách TTHC được Chính phủ lựa chọn là khâu đột phá với 03 lý do chính: - Cải cách TTHC là một nội dung của cải cách hành chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế. - Trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách như: cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ máy, … 9 Hoàng Hồng – QLXH 29
  10. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An - Thông qua cải cách TTHC, chúng ta có thể xác định căn bản các công việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng ta có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý, đáp ứng được yêu cầu công việc. Như vậy, có thể coi cải cách TTHC là tiền đề để thực hiện các nội dung cải cách khác như: nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành chính; thực hiện chính phủ điện tử,… TTHC có ý nghĩa quan trọng trong quản lí nhà nước và xã hội.  Trước hết, nếu không thực hiện các TTHC cần thiết thì một quyết định hành chính sẽ không được đưa vào thực hiện hoặc bị hạn chế tác dụng.  TTHC đảm bảo cho việc thi hành quyết định được thống nhất và có thể kiể m tra được tính hợp pháp, hợp lí cũng như các hệ quả do thực hiện các quyết định hành chính tạo ra.  TTHC khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lí sẽ tạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lí, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lí Nhà nước.  TTHC là một bộ phận của pháp luật hành chính, vì vậy việc nắm vững và thực hiện các quy định về TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 1.3 Về nội dung cải cách TTHC Chương trình tổng thể cải cách HCNN giai đoạn 2001 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17- 9- 2001 phê duyệt. Cải cách hành chính đã được triển khai trên các nội dung: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng và nâng cao chất lượng đội 10 Hoàng Hồng – QLXH 29
  11. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công; hiện đại hoá nền hành chính. Qua 10 năm triển khai, có thể khẳng định những kết quả tích cực đã đạt được của cải cách hành chính: Bộ mặt của nền hành chính nhà nước đã bước đầu thay đổi, hướng tới phục vụ dân, xã hội, hệ thống thể chế được xây dựng và hoàn thiện hơn, tổ chức bộ máy tinh gọn hơn và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được nâng lên một bước, cải cách hành chính đã thực sự góp phần vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị và trật tự xã hội ở nước ta trong thời gian qua. Trên cơ sở kết quả đạt được trong công cuộc cải cách hành chính 10 năm qua và thực trạng nền hành chính của đất nước, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua đã nêu rõ 3 giải pháp đột phá nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong đó tiếp tục khẳng định: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 04 tháng 03 năm 2011 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 02 năm 2011 và căn cứ Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại hội nghị trực tuyến tổng kết thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và xây dựng Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, bộ Nội vụ đã xây dựng Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong triển khai thực hiện Chương trình. Mục tiêu chung của Chương trình cải cách hành chính giai đoạn tới là thông qua cải cách để có được một hệ thống thể chế kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện, giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước, coi trọng cải cách thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm 11 Hoàng Hồng – QLXH 29
  12. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Trọng tâm cải cách hành chính trong cả giai đoạn 10 năm là: xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó có yếu tố hết sức quan trọng là cải cách chế độ, chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức làm việc; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công. Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 có 6 nhiệm vụ là: cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, hiện đại hoá hành chính được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 (2011-2015) và giai đoạn 2 (2016-2020), nêu rõ các mục tiêu định lượng cụ thể phải đạt được. Trong giai đoạn 2011 - 2015, thực hiện cải cách TTHC để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững. Một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư, đất đai, xây dựng, sở hữu nhà ở, thuế, hải quan, xuất khẩu, nhập khẩu, y tế, giáo dục, lao động, bảo hiể m, khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo yêu cầu cải cách trong từng giai đoạn. Bên cạnh đó, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các TTHC theo quy định của pháp luật; công khai, minh bạch tất cả các TTHC bằng các hình thức thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổ chức 12 Hoàng Hồng – QLXH 29
  13. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An phải bỏ ra khi giải quyết TTHC tại cơ quan hành chính nhà nước; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC. Về nội dung thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” a. Khái niệm “một cửa”, “một cửa liên thông” Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được ban hành kèm theo quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 04-09-2003 và quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22-06-2007 của Thủ tướng chính phủ. Đây được coi là mũi đột phá quan trọng trong công tác cải cách TTHC. “Một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan HCNN từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối duy nhất là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại cơ quan hành chính nhà nước. Còn cơ chế “một cửa liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan HCNN cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại cơ quan HCNN. Cơ chế này đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệ m phối hợp trong quy trình xử lí hồ sơ, không để cho tổ chức, công dân phải cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác. b. Về lợi ích của cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. - Giả m phiền hà cho tổ chức, công dân. - Chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu, nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước. - Tinh giả m, sắp xếp lại bộ máy cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả và khoa học. - TTHC đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật. - Công khai các TTHC, các loại phí, lệ phí và thời gian giải quyết đối với từng loại TTHC. 13 Hoàng Hồng – QLXH 29
  14. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An - Bảo đảm giải quyết công việc nhanh, chính xác. c. Về phạm vi và các lĩnh vực áp dụng cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”. Ở cấp tỉnh, 4 sở bắt buộc thực hiện cơ chế này là: Sở Kế hoạch - Đầu tư; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Xây dựng. Cụ thể áp dụng trong các lĩnh vực: Phê duyệt các dự án đầu tư trong và ngoài nước; xét duyệt cấp vốn xây dựng cơ bản; cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép xây dựng; giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất; giải quyết chính sách xã hội… Ở cấp huyện áp dụng trong các lĩnh vực: Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh cá thể; giấy phép xây dựng; giấy chứng nhận quyề n sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất; đăng ký hộ khẩu; công chứng; giải quyết chính sách xã hội. Ở cấp xã áp dụng trong các lĩnh vực: Cấp giấy phép xây dựng nhà ở; đất đai; hộ tịch; chứng thực. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở NGHỆ AN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An. Nghệ An có diện tích: 16.487km². Có vị trí đặc biệt quan trọng của khu kinh tế Bắc Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Tây giáp với nước bạn Lào, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông. Dân số Nghệ An (theo điều tra dân số ngày 01/04/2009) có 3.113.055 người, giảm so với thời kỳ điều tra đân số năm 2004 vì một bộ phận dân cư di cư vào các địa phương khác sinh sống mà chủ yếu là các tỉnh phía Nam. Trên toàn tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc cùng sinh sống: Kinh (chiếm chủ yếu), Thái , Thổ, Khơ mú, Đan Lai 14 Hoàng Hồng – QLXH 29
  15. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An Về hành chính Nghệ An bao gồm 1 thành phố trực thuộc là Thành phố Vinh, 2 thị xã: Thị Xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện: Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tân Kỳ, Thanh Chương. Nghệ An có 479 đơn vị hành chính cấp xã gồm 462 xã phường và 17 thị trấn. Về doanh nghiệp, tính đến nay toàn tỉnh có trên 8000 doanh nghiệp. Về công nghiệp, hiện nay ngành công nghiệp của Nghệ An tập trung phát triển ở 3 khu vực là Vinh - Cửa Lò gắn với Khu kinh tế Đông Nam, Khu vực Hoàng Mai và khu vực Phủ Quỳ. Phấn đấu phát triển nhiều ngành công nghiệp có thế mạnh như các ngành chế biến thực phẩ m - đồ uống, chế biến thuỷ hải sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa, giấy... Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An các khu công nghiệp sau: Khu kinh tế Đông Nam, Khu công nghiệp Bắc Vinh, Khu công nghiệp Nam Cấm, Khu công nghiệp Nghi Phú, Khu công nghiệp Hưng Đông, Khu công nghiệp Cửa Lò, Khu công nghiệp Hoàng Mai, Khu công nghiệp Đông Hồi, Khu công nghiệp Phủ Quỳ, Khu công nghiệp Tân Thắng Về du lịch: Nghệ An là tỉnh có rất nhiều địa điểm du lịch như: Cửa Lò, Biển Diễn Thành (Diễn Châu), Bãi Lữ (Nghi Lộc), khu di tích Hồ Chí Minh, khu di tích đền Cuông (Nam Đàn), rừng quốc gia Pù Mát, thác Khe Kèm (Con Cuông), Đền Chín gian, thác Sao Va (Quế Phong), … Trình độ dân trí: Tính đến năm 2002, đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 10 huyện với 215 xã, đạt 90%. Tỷ lệ người biết chữ 80% trong độ tuổi (35 tuổi) ở 10 huyện miền núi. Số lượng học sinh 10 huyện miền núi là 314.420 em. Số học sinh người dân tộc thiểu số chiếm 36%. Số giáo viên toàn tỉnh có 35 nghìn người trong đó giáo viên là người dân tộc thiểu số chiếm hơn 10%. 15 Hoàng Hồng – QLXH 29
  16. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An Số thầy thuốc toàn tỉnh có 2.395 người, bình quân toàn tỉnh mới chỉ đạt 2,8 bác sỹ/ vạn dân. Ở vùng miền núi chỉ mới có 1,8 bác sỹ/vạn dân. Trong tổng số thầy thuốc thì bác sỹ có 871 người, trong đó bác sỹ là người dân tộc thiểu số có 59 người. Mạng lưới giao thông đường bộ: Toàn tỉnh có 7.009 km đường giao thông. Trong đó, đường do trung ương quản lý dài 665 km, chiế m 9,48%, trong đó có 560 km đường nhựa chiế m tỷ lệ 84%; đường do tỉnh quản lý dài 344 km, chiếm 4,90%, trong đó có 152 km đường nhựa chiếm tỷ lệ 44%; đường do huyện và xã quản lý dài 6.000 km, chiếm 85,60%, kết cấu phổ biến là mặt cấp phối tự nhiên và đường đất chiế m 87%, mặt nhựa chiế m 13%, vùng miền núi có 1.398 km (đường nhựa và đá dăm dài 86km). Mạng lưới bưu chính viễn thông: Ở 10 huyện miền núi có số lượng bưu cục là 41 đơn vị, 15.716 cái điện thoại và 42 Fax, 141 bưu điện văn hoá xã. Mạng lưới điện quốc gia: Hiện đã có 9/10 huyện miền núi được hòa mạng lưới điện quốc gia, hơn 70% số xã và 68% số hộ miền núi đã có điện lưới sử dụng. Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Tỉnh có nhà máy nước Hưng Vĩnh (thành phố Vinh) với công suất trên 20.000 m3/ngày. Ngoài ra, tỉnh Nghệ An còn có 11 nhà máy nước ở các huyện thị, trong đó có 6 nhà máy nước ở 7 huyện miền núi: Anh Sơn, Nghĩa Ðàn, Tân Kỳ, Con Cuông, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Thanh Chương. GDP bình quân đầu người năm 2010 trên 700 USD/người/năm, tăng 1,8 lần so với năm 2005 và 2,8 lần so với năm 2000. (Năm 2000 là 281USD và năm 2005 là 430 - 450 USD). Giá trị xuất khẩu năm 2011 đạt 340 - 370 triệu USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2005 và trên 10 lần so với năm 2000. 2.2 Thực trạng công tác cải cách TTHC ở tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây 2.2.1 Cơ sở pháp lý để cải cách TTHC của tỉnh 16 Hoàng Hồng – QLXH 29
  17. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An - Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 của Chính phủ về “Cải cách một bước TTHC” - Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ ban kèm theo quyết định số 136/2001/QĐ-TTg, ngày 17-9-2001 của Thủ tướng chính phủ. - Quy chế thực hiện cơ chế “ một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành kèm theo quyết định số 181/2003/QĐ-TTg, ngày 04-9-2003 của Thủ tướng chính phủ. - Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 quy định về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính. - Chỉ thị Số: 24/2008/CT-UBND Về việc đẩy mạnh thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính - Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 về kiểm soát thủ tục hành chính. - Quyết định 4367/QĐ-UBND Về việc ban hành Kế hoạch tuyên truyền Đề án Đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 - Quyết định Số: 4366 /QĐ-UBND Về việc ban hành Quy chế hoạt động của Tổ Công tác Đề án 30 tỉnh Nghệ An - Quyết định Số: 3382 /QĐ-UBND Về việc thành lập Tổ công tác thực hiện Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2008 - 2010 tỉnh Nghệ An - Quyết định Về việc ban hành Kế hoạch Cải cách hành chính Nhà nước tỉnh Nghệ An năm 2008(23/01/2008) - Quyết định Số:Số: 3527/QĐ-UBND, ngày 27 tháng 7 năm 2009 Về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Giai đoạn rà soát thủ tục hành chính của Đề án Đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý Nhà nước, tỉnh Nghệ An - Kế hoạch thực hiện Giai đoạn rà soát thủ tục hành chính của Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý Nhà nước, tỉnh Nghệ An (Ban 17 Hoàng Hồng – QLXH 29
  18. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An hành kèm theo Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2009 c ủa UBND tỉnh) - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. 2.2.2 Công tác cải cách TTHC trong những năm gần đây ở Nghệ An. Thực hiện Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, kết thúc giai đoạn 1, UBND tỉnh đã công bố 19 Bộ thủ tục hành chính áp dụng tại cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã với số lượng 1.503 thủ tục; công khai rộng rãi để nhân dân được biết và thực hiện. Bước vào giai đoạn 2, các cấp, các ngành đã nỗ lực, cố gắng phấn đấu đạt mục tiêu của Đề án và tiến hành rà soát 1.384 thủ tục hành chính. Trên cơ sở các yếu tố cần thiết, chất lượng, hiệu quả, các cấp, các ngành đã kiến nghị đơn giản hóa 934 thủ tục, đạt tỷ lệ 67,5% (vượt xa so mục tiêu Đề án đề ra đảm bảo đơn giản hóa tối thiểu 30% các thủ tục hành chính). Tuy nhiên, bên cạnh vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm, thiếu quyết liệt nên kết quả còn hạn chế. Phát biểu tại Hội nghị Công bố kết quả rà soát thủ tục hành chính tỉnh Nghệ, diễn ra tại thành phố Vinh, ngày 13/4/2010, đồng chí Hồ Đức Phớc đánh giá cao những cố gắng của các cấp, các ngành thời gian qua, đồng thời yêu cầu các cấp, các ngành cần tiếp tục đẩy mạnh việc tổ chức triển khai toàn diện trên tất cả các nội dung của công tác cải cách hành chính nhà nước, trong đó tập trung vào cải cách thủ tục hànhchính. Tăng cường công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của Đề án 30 đến toàn thể nhân dân, nhằ m huy động tối đa các thành phần tham gia đóng góp ý kiến về thủ tục hành chính. Tổ chức công khai đầy đủ thủ tục hành chính rộng rãi để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng, thuận lợi. Thống kê bổ sung các thủ tục hành chính còn thiếu, mới được ban hành hoặc đã 18 Hoàng Hồng – QLXH 29
  19. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An được sửa đổi, bổ sung một số nội dung để trình Chủ tịch UBND tỉnh công bố và cập nhật lên cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và Trang thông tin điện tử của tỉnh theo yêu cầu của Chính phủ. Nghệ An đã đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cải cách thủ tục hành chính nhà nước. Thời gian qua, các cơ quan, ban ngành, địa phương đã đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cấp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, củng cố hệ thống mạng nội bộ, sử dụng các phần mềm dùng chung (M.Office, E-Office), phần mềm chuyên ngành, sử dụng hệ thống thư điện tử, hộp thư công vụ. Đến nay, toàn tỉnh đã có 11 đơn vị sử dụng phần mềm văn phòng di động M-Office; 5 đơn vị sử dụng phần mềm văn phòng điện tử E-Office; 65 đơn vị đang sử dụng hộp thư điện tử tỉnh với 5.010 tài khoản, dung lượng đạt 281 GB; 100% các cơ quan Đảng, 75% các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện, trên 90% các cơ sở y tế, giáo dục đào tạo sử dụng phần mềm chuyên môn. Hệ thống giao ban điện tử trực tuyến kết nối tại 22 điểm trong toàn tỉnh đã và đang được khai thác, sử dụng có hiệu quả. Các thông tin về chủ trương, chính sách, thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị được cập nhật, công khai kịp thời trên Cổng thông tin điện tử Nghệ An tại địa chỉ www.nghean.vn. Việc cung cấp các dịch vụ công trên mạng ngày một tốt hơn. Hiện đã có 181 dịch vụ hành chính công mức độ 1; 62 dịch vụ hành chính công mức độ 2 và 04 dịch vụ hành chính công mức độ 3 (Đăng ký kinh doanh, Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh trật tự, Cấp giấy phép xây dựng, Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) được thực hiện trên cổng thông tin điện tử của tỉnh. Một số cơ quan như Cục Thuế, Cục Hải quan đã thực hiện việc cung cấp các dịch vụ công qua mạng. Vừa qua, Đoàn công tác liên ngành do Sở Nội vụ Nghệ An chủ trì tổ chức kiể m tra việc thực hiện các nội dung thuộc lĩnh vực cải cách hành chính trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, Thị xã Thái hòa, Thanh tra tỉnh Nghệ An. a. Về tình hình rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và đơn giản hóa TTHC trên địa bàn tỉnh. 19 Hoàng Hồng – QLXH 29
  20. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Nghệ An Ngày 01/4/2011, UBND tỉnh đã có Quyết định 1032 về việc ban hành Kế hoạch hoạt động kiể m soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2011. Theo đó, các cơ quan, đơn vị tiếp tục tiến hành rà soát, thực thi và kiến nghị đơn giản hóa, tăng cường kiể m soát các thủ tục hành chính. Tập trung cao rà soát và ban hành văn bản, trongnhững năm vừa qua, đã rà soát 1.700 văn bản và 150 văn bản do UBND tỉnh ban hành có liên quan đến việc thi hành hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ và gia nhập WTO. Ban hành gần 1.000 văn bản qui phạ m pháp luật, tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Thu hút đầu tư, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, đất đai tài nguyên khoáng sản và môi trường, quản lý tổ chức cán bộ...Cụ thể: + Thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện, trong đó đáng chú ý là việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng. + Đã xác lập trật tự kỉ cương trong quản lý thu phí, lệ phí. Quy định công khai và minh bạch nguyên tắc thu, mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng đối với các loại phí, lệ phí. + Trong lĩnh vực thuế, đã thí điểm triển khai thực hiện cơ chế mới có tính đột phá doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự nộp thếu, cải tiến thủ tục trong cấp mã số thuế, nhờ đó giảm được thời gian doanh nghiệp phải chờ đợi. + Trong lĩnh vực hiện đại hóa hải quan, quy trình thủ tục hành chính được cải tiến, bỏ nhiều khâu trung gian theo hướng tổ chức dây chuyền thủ tục hải quan hoàn chỉnh, một cửa, do đó đã giảm đáng kể thời gian thông quan. + Hàng năm tỉnh đã tiến hành rà soát văn bản Quy phạm pháp luật để phát hiện và kiến nghị loại bỏ những thủ tục phiền hà rườm rà. Các ngành tổ chức việc rà soát, sửa đổi thủ tục hành chính theo nguyên tắc: Đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và rút ngắn thời gian thực hiện. Với tinh thần đó, trong lĩnh vực giao đất đã rút ngắn từ 22 ngày xuống còn 4 ngày; cấp quyền giấy sử dụng đất từ 90 ngày còn 30 ngày; cấp giấy phép xây dựng từ 30 ngày 20 Hoàng Hồng – QLXH 29
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản