Tiểu luận " Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đất đô thị "

Chia sẻ: Mac Hai Loi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

2
667
lượt xem
216
download

Tiểu luận " Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đất đô thị "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà cón là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với các hoạt động sản xuất của con người. . Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận " Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đất đô thị "

  1. TRƯỜNG ………………. KHOA………………….. ----- ----- Tiểu luận Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đất đô thị  
  2. MỤC LỤC PHẦN 1: MỞ ĐẦU ........................................................... 3 PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH ......................................... 4 I, ĐẤT CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ............................. 4 2,Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất KCN .......................................................................................... 10 II, ĐẤT ĐÔ THỊ VIỆT NAM ........................................ 12 4, Phương hướng quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng đất đô thị . .............. 17 a. Định hướng phát triển ................................................ 17    
  3. PHẦN 1: MỞ ĐẦU    Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà cón là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với các hoạt động sản xuất của con người. . Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai. Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất sử dụng cho công nghiệp và đất đô thị có hạn chế về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất và sử dụng. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất công nghiệp và đất đô thị từ đó quy hoạch các khu công nghiệp, các đô thị đang trở thành vấn đề mang tính chất nóng bỏng được các nhà nghiên cứu quan tâm. . Đối với một nước có nền công nghiệp đang trên đà phát triển như Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất công nghiệp nghiệp và đô thị càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất em tiến hành làm bài tiểu luận: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất công nghiệp và đất đô thị.
  4. PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH I, ĐẤT CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) vừa có đánh giá, việc bố trí sử dụng đất tại các khu công nghiệp hiện nay chưa hợp lý và còn hiện tượng lãng phí. Việt Nam hiện có khoảng 223 khu công nghiệp, trong đó, 171 khu đã hoạt động với tổng diện tích 57.300ha. Như vậy, trung bình mỗi khu công nghiệp có diện tích khoảng 250ha với tỷ lệ lấp đầy 46% và vẫn còn nhiều diện tích để trống. Cũng theo Cục Phát triển đô thị, việc sử dụng đất xây khu công nghiệp chưa được kiểm soát về quy mô sử dụng cũng như tiêu chuẩn đất đai. Trong khi đó, hiện tượng sử dụng lãng phí đất ở các khu công nghiệp sẽ làm giảm quỹ đất phát triển đô thị trong tương lai bởi các khu công nghiệp này thực chất là những điểm dân cư công nghiệp và cuối cùng sẽ trở thành đô thị. Tính đến cuối năm 2005, cả nước đã có 130 KCN và KCX được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập với tổng diện tích đất trong hàng rào KCN là 26.519,7ha, trong đó diện tích đất làm mặt bằng sản xuất để giao, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại là 17.730 ha, chiếm 67%, diện tích đất đã có người sử dụng là 8.853,7 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 50%. Ngoài các KCN, KCX do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, còn có trên 200 cụm công nghiệp do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập với tổng diện tích là 13.991 ha, chiếm 27,27% tổng diện tích đất KCN của cả nước. Việc phân bố các KCN, KCX tập trung chủ yếu tại 20 tỉnh, thành phố thuộc ba vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ (các KCN thuộc ba vùng kinh tế này chiếm trên 70% số lượng và trên 80% diện tích các KCN của cả nước). Trong 3 cùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tp.Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Long An, tiền Giang) có 63 KCN với tổng diện tích đất
  5. trong hàng rào là 15.680 ha (chiếm gần 50% số lượng và gần 60% diện tích KCN của cả nước). 1,Tình hình sử dụng đất KCN Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phát triển các KCN, có liên quan chặt chẽ đến hệ thống hạ tầng quốc gia (sân bay, bến cảng, đường bộ...), dự báo dòng vốn đầu tư (đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam), định dướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp và kết quả sản xuất, kinh doanh của các KCN hiện có. Về cơ bản một số địa phương đã có quy hoạch sử dụng đất hợp lý để phát riển KCN theo hướng đưa đất chưa sử dụng hoặc đất sử dụng không có hiệu qủa vào phát triển các KCN. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều địa phương sử dụng đất chuyên trồng lúa, đất trồng cao su, đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, đất đang có khu dân cư tại những vị trí có hạ tâng kỹ thuật tốt để xây dựng các KCN (như ở Hưng Yên, Hải Dương, Đồng Nai, Long An, v.v.), trong khi đó có thể lựa chọn giải pháp đầu tư thêm hạ tầng kỹ thuật để đưa các loại đất khác vào xây dựng các KCN. Thông thường thời gian xây dựng các KCN có quy mô diện tích từ 50 Ha tới 100 ha kéo dài từ 2 đến 3 năm, có quy mô diện tích lớn hơn 100 ha kéo dài từ 4 đến 5 năm. Nói chung, các dự án đầu tư xây dựng các KCN đạt được tiến độ theo dự án đã được phê duyệt. Bên cạnh đó, một số địa phương vẫn đang còn tình trạng “quy hoạch chạy theo doanh nghiệp”. Một số nhà đầu tư tự khảo sát thực địa để lựa chọn địa điểm; sau đó hoặc đề nghị chính quyền địa phương cho phép lập dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, UBND cấp tỉnh bổ sung dự án vào danh mục quy hoạch sử dụng đất để xây dựng KCN. Cơ chế này được triển khai tại KCN Việt hương II (Bình Dương), Đức Hòa III (Long An) và một số khu khác nữa. Điều này thể hiện sự lúng túng của chính quyền địa phương trong việc chủ động quy hoạch phát riển KCN, quy hoạch sử dụng đất chưa trở thành công cụ để quản lý đất đai. Cách làm tìm thấy nhà đầu tư rồi mới tìm đất xây dựng phù hợp với ý nhà đầu tư chính là một trong những nguyên nhân gây nên sự thiếu đồng bộ trong việc bố trí các KCN đồng bộ với quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN cũng như giải quyết vấn đề để bảo vệ môi trường. Đến nay, trong tổng số 130 KCN (tính đến cuối năm 2005) đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập có hiện trạng như sau: 72 KCN và KCX đã hoàn thiện xong việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật (đang vận hành) với diện tích đất trong hàng rào 16.383 ha, trong đó diện tích đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh là 11.115 ha (chiếm 67,8% diện
  6. tích đất trong hàng rào KCN) và diện tích đất đã có người sử dụng là 7.934 ha (đạt tỷ lệ lấp đầy 70,1%), 55 KCN còn lại đang trong giai đoạn bồi thường, giải phóng mặt bằng và xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật với diện tích đất trong hàng rào là 10.136 ha, trong đó diện tích đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh là 6.614,6 ha (chiếm 65,3% diện tích đất trong hàng rào KCN) và diện tích đất đã có người sử dụng là 919,6 ha (đạt tỷ lệ lấp đầy 14%); trong các KCN này có một số khu vừa xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, vừa cho các doanh nghiệp thuê lại đất hoặc khi thành lập KCN đã có các doanh nghiệp đang thuê đất của nhà nước trong hàng rào. Hiện có 12 KCN với tổng diện tích đất gần 2.000 ha được thành lập từ năm 1998 trở về trước nhưng tỷ lệ lấp đầy tính đến nay vẫn chưa đạt mức 50%. Điển hình như KCX Hải Phòng 96 (nay gọi là KCN Đồ Sơn) có quy mô 150 ha, thành lập từ năm 1997 nhưng đến nay mới chỉ cho thuê được trên 10 ha (tỷ lệ lấp đầy là 7%); KCN Đài Tư Hà Nội và KCN Daewoo Hanel của Hà Nội với tổng diện tích đất cả hai khu 200 ha, được thành lập từ những năm 1995 – 1996 nhưng đến nay cũng mới chỉ cho thuê được 5 ha (tỷ lệ lập đầy chưa đến 3%); KCN Mỹ Xuân B1, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có quy mô 226 ha, được thành lập từ năm 1998 nhưng đến nay mới cho thuê được 20 ha (tỷ lệ lấp đầy 13%). Các dự án đầu tư vào KCN hiện nay chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất điện; dệt, sợi, may mặc, giầy; chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi; nước giải khát, rượu, bia; lắp ráp các sản phẩm, thiết bị điện tử, bảng mạch điện tử; đồ gia dụng, thiết bị vệ sinh, vật liệu xây dựng; máy in, kết cấu thếp, cơ khí (xe máy, xe đạp, phụ tùng); dược phẩm, phân bón, hóa chất, in ấn, bao bì và dịch vụ sản xuất công nghiệp. Một số địa phương đã có chính sách phù hợp để điều tiết hợp lý giá cho thuê đất để xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN và giá cho thuê lại đất trong KCN. Tại đây, các KCN đã thu hút được các nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh vào thuê mặt bằng. Tại một số địa phương, các nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh còn chưa muốn vào thuê đất trong KCN vì giá thuê đất gắn với hạ tầng quá cao. Theo kết quả điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách giao đất, cho thuê đất dối với KCN do Bộ Tài nguyên và Môi trườgn thực hiện trên phạm vi 23 KCN thuộc địa bàn các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương cho thấy: Tại Hà Nội, giá đất Nhà nước cho công ty xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN thuê (giá cho thuê đất thô) dao động từ 1.000đồng/m2/năm đến 1.500đồng/m2/năm; giá cho thuê mặt bằng sản xuất trong KCN dao
  7. động từ 15.000đồng/m2/năm đến 35.000đồng/m2/năm (bao gồm cả phí sử dụng hạ tầng); Tại Đồng Nai, giá cho thuê đất thô dao động từ 942 đồng/m2/năm đến 1.600đồng/m2/năm; giá cho thuê mặt bằng sản xuất trong KCN dao động từ 13.000đồng/m2/năm đến 51.000 đồng/m2/năm (bao gồm cả phí sử dụng hạ tầng); Tại Bình Dương, giá cho thuê đất thô dao động từ 377đồng/m2/năm đến 1.600đồng/m2/năm; giá cho thuê mặt bằng sản xuất trong KCN dao động từ 9.000đồng/m2/năm đến 23 đồng/m2/năm (bao gồm cả phí sử dụng hạ tầng). Bình quân giá cho thuê đất thô là 1.047đồng/m2/năm và giá cho thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh trong KCN là 23.285đồng/m2/năm. Nếu khấu trừ khoản chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng do nhà đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN bỏ ra thì Nhà nước hầu như không thu được khoản nào từ tiền giao đất, cho thuê đất. Trong khi đó, giá cho thuê mặt bằng sản xuất trong KCN lại khá cao, khiến cho một số doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh các ngành, nghề có tỷ suất lợi nhuận thấp khó có thể thuê được mặt bằng sản xuất tại các KCN. Để giải quyết tình trạng này, một số tỉnh mới phát triển như Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, v.v. đã đưa ra phương án giao đất cho một số đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xây dựng kinh doanh hạ tầng KCCN, sau đó đơn vị này cho thuê mặt bằng gắn với hạ tầng theo giá do UBND quy định. Sự phát triển các KCN trong thời gian qua đã tạo ra những bước đột phá trong phát triển công nghiệp nói riêng và trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là đối với các tỉnh thuần nông. Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN đã đóng góp khoảng 1/4 giá trị sản xuất công nghiệp của toàn quốc, góp phần tạo thêm năng lực sản xuất mới trong nhiều ngành kinh tế then chốt. Sự hình thành, phát triển các KCN đã góp phần thúc đẩy phát triển đô thị, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp. Sau trên mười năm kể từ khi bắt đầu hình thành các KCN, tỷ trọng ngành côngg nhiệp và xây dựng đã tăng từ 22,7% năm 1990 lên 39,9%. Năm 2005, các doanh nghiệp KCN, KCX đã đóng góp cho ngân sách Nhà nước khoảng 2,0 tỷ USD. Việc hình thành các KCN đã kéo theo việc phát triển kinh tế dịch vụ tại địa phương để đáp ứng nhu cầu hoạt động của KCN. Với những chính sách đặc biệt ưu đãi đầu tư, ưu thế về tổ chức sản xuất và xơ chế hành chính “một cửa, tại chỗ”, các BQLKCN đã góp phần
  8. quan trọng trong việc tăng thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói chung, việc triển khai thực hiện các dự án trong khu công nghiệp diễn ra nhanh và thuận lợi, xu hướng mở rộng sản xuất và tăng vốn của các doanh nghiệp trong KCN, KCX đang diễn ra sôi động. Tuy nhiên, việc ưu tiên thu hút đầu tư để phát triển các KCN đã tạo nên sự mất cân đối nhất định trong việc tạo điều kiện phát triển đồng bộ giữa 3 khu vực kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Một số diện tích đất có lợi thế cho nông nghiệp, dịch vụ đã phải chuyển sang sử dụng làm mặt bằng sản xuất công nghiệp trong khi có thể sử dụng diện tích đất ở vị trí khác hợp lý hơn cho mục đích công nghiệp. Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với việc thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để xây dựng hạ tầng KCN, trong khi các doanh nghiệp đầu tư vào KCN vẫn phải thuê mạt bằng với giá cao, đó là một trong những rào cản đối với việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm cho tỷ lệ lấp đầy mặt bằng sản xuất trong KCN còn thấp. Vì vậy, có thể đánh giá là hiệu qủa sử dụng đất trong KCN chưa cao. Trong quá trình lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất để xây dựng các KCN, KCX vẫn còn những bất cập, thể hiện trên các mặt sau: Bên cạnh những địa phương có quy hoạch sử dụng đất hợp lý để phát triển KCN vẫn còn những địa phương sử dụng nhiều đất chuyên trồng lúa, đất trồng cao su, đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, đất đang có khu dân cư tại những vị trí đang có hạ tầng kỹ thuệt tốt để xây dựng các KCN. Giải pháp này cho phép giảm chi phí hạ tầng kỹ thuật ngoài KCN nhưng tạo nên sự hủy hoại đáng kể đối với hạ tầng của sản xuất nông nghiệp đã được hình thành từ nhiều năm nay và tạo nên những hậu qủa xã hội không dễ giải quyết trong khu vực nông thôn. Ngược lại, cần xem xét để áp dụng giải pháp đầu ư hạ tầng giao thông để đưa KCN vào vùng có nhiều đất chưa sử dụng hoặc ít khả năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Trong khi nông dân tại một số địa phương đang còn thiếu đất hoặc không có đất để sản xuất nông nghiệp thì một diện tích đất nông nghiệp không nhỏ được chuyển sang xây dựng các KCN nhưng hiệu quả sử dụng đất thấp, nhiều nơi đã để đất trống không triển khai dự án trong nhiều năm. Việc quy hoạch các KCN thường chưa được xem xét đồng bộ gắn với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội nên dẫn tới tình trạng chưa xác định được tính bền vững trong phát triển; nhiều KCN đã đi vào hoạt động nhưng thiếu nhà ở, công trình công cộng bên ngoài hàng rào KCN để phục vụ đời sống người lao động làm việc trong
  9. KCN: Phần lớn những người lao động phải thuê nhà ở cấp 4 tạm bợ ở xa nơi làm việc, thiếu những điều kiện sinh hoạt tối thiểu, thiếu cơ sở văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao tối thiểu; từ đấy đã nẩy sinh nhiều tệ nạn xã hội. Quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng xây dựng KCN đã để lại nhiều tiêu cực trong việc giải quyết đời sống, việc làm, chỗ ở cho các hộ dân có đất bị thu hồi tại một số địa phương; rất ít lao động nông nghiệp ở địa phương được đào tạo nghề để thu hút vào làm việc trong các KCN. Hiện nay chỉ mới có từ 5% đến 10% lao động trong KCN được đào tạo, tuyển dụng từ nguồn lao động nông nghiệp của các hộ gia đình có đất bị thu hồi. Người nông dân bị thu hồi đất chưa được giúp đỡ trong việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ vào việc đầu tư phát triển sản xuất; nhiều gia đình sử dụng tiền này vào những mục đích không sinh lợi nên đời sống trước mắt được cải thiện nhiều nhưng đầy khó khăn, bấp bênh trong thời gian tiếp theo. Các KCN, KCX được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã được vận hành theo đúng quy hoạch, sử dụng đất đúng mục đích. Ngược lại, việc quy hoạch, xây dựng một số cụm công nghiệp theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thường không triển khai xây dựng hạ tầng một cách đồng bộ theo đúng quy hoạch chung mà mỗi doanh nghiệp đầu tư vào cụm công nghiệp (điển hình là các cụm công nghiệp tại Hà Tây cũ). Tình trạng “quy hoạch chạy theo doanh nghiệp” như đã nói trên thể hiện sự yếu kém trong lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch chi tiết xây dựng KCN. Nói chung các KCN chưa có phương án giải quyết vấn đề môi trường ngay từ khi quy hoạch xây dựng. Trên thực tế có nhiều nơi có biểu hiện vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các hành vi vi phạm tại các KCN chủ yếu là vi phạm tiêu chuẩn môi trường khi tiến hành hoạt động sản xuất, vi phạm các cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động của các KCN. KCN đã là nguyên nhân gây ô nhiễm nặng tại khu vực sông Thị Vải, ô nhiễm khu dân cư tại Hưng Yên, Hải Dương, ô nhiễm bụi do hoạt động sản xuất, xây dựng và giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phụ cận. Trong tổng số trên một năm KCN đang hoạt động trên phạm vi cả nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mới chỉ có khoảng 20 KCN đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung và chưa có hệ thống riêng thu gom, vận chuyển và lưu giữ tạm thời đối với chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại. Hầu hết các loại nước thải đều được đưa thẳng ra môi trường và haụa quả là nước thải tại cống xả chung của nhiều KCN hiện nay bị ô nhiễm nặng, vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
  10. 2,Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất KCN Từ tình hình thực tế nêu trên, có thể đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng và sử dụng đất trong các KCN: 1. Cần nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất KCN, phối hợp một cách khoa học giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng của cả nước, các vùng, các địa phương, các ngành nhằm bảo đảm sự phù hợp, tính thống nhất, tính khả thi trong quy hoạch nhằm mang lại hiệu qủa toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường. Khi thẩm định các dự án đầu tư cần xem xét toàn diện hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của từng dự án. Nếu dự án nào có mức đóng góp cho ngân sách mà không bù đắp được các khoản mà Nhà nước phải bỏ ra để xử lý vấn đề ổn định đời sống, việc làm cho người có đất bị thu hồi, cũng như để xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường do dự án đó sẽ gây nên thì kiên quyết không cho phép triển khai thực hiện. Cần tập trung rà soát chi tiết quy hoạch sử dụng đất để xây dựng các KCN, KCX, cụm công nghiệp nhằm điều chỉnh cho phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của từng vùng kinh tế. Đối với các KCN, KCX đã thành lập nhưng không có khả năng triển khai thực hiện thì phải công bố điều chỉnh hoặc hủy bỏ, khắc phục tình trạng “quy hoạch treo” cũng như dự án treo. Từ nay, không chuyển đất chuyên trồng lúa nước, đất sản xuất nông nghiệp đã được đầu tư nhiều năm sang xây dựng các KCN, cần ưu tiên giải pháp đầu tư hạ tầng đường giao thông điện, nước để đưa đất chưa sử dụng hoặc đất ít khả năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp vào sử dụng để xây dựng các KCN (trừ trường hợp không còn đất loại này). Không được bố trí các KCN nằm sát các trục quốc lộ, sát các khu dân cư tập trung. Quy hoạch phát triển các KCN nằm sát các trục quốc lộ, sát các khu dân cư tập trung. Quy hoạch phát triển các KCN phải đồng bộ với quy hoạch xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN, giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân làm việc trong các KCN phù hợp với thu nhập theo cách quy hoạch xây dựng các khu nhà ở công nhân ngay trong quá trình xây dựng các KCN. 2. Ngoài việc làm thường xuyên trong công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, các địa phương phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng được xét duyệt để điều tra, lập kế hoạch đào tạo, chuyển đổi ngành nghề cho số lao động tại các khu vực sẽ bị thu hồi đất. Kế hoạch này phải được trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và triển khai trước khi ra quyết định thu hồi đất, hoặc chậm nhất cũgn phải trình đồng thời với việc trình phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư nhằm giúp cho người bị thu hồi đất có thể nhanh chóng tìm được việc làm
  11. mới và ổn định cuộc sống. Tăng cường đầu tư phát triển các làng nghề, khu dịch vụ tại địa phương gắn với các KCN nhằm thu hút lao động từ những gia đình có đất bị thu hồi. Nghiên cứu thành lập Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân có đất bị thu hồi; quỹ được hình thành từ một phần của các khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp sử dụng đất KCN. Thực hiện nghiêm chính sách tái định cư theo quy định của Luật Đất đai, những dự án chưa chuẩn bị được khu tái định cư thì kiên quyết chưa thực hiện việc thu hồi đất. 3. Ban hành chính sách ưu đãi đối với trường hợp người đang sử dụng đất thuộc quy hoạch xây dựng KCN thực hiện cơ chế cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đối với nàh đầu tư hạ tầng KCN hoặc nhà đầu tư sản xuất trong KCN. 4. Nhà nước có chính sách điều tiết giá thuê đất gắn với hạ tầng trong các KCN nhằm thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào đầu tư sản xuất trong KCN; tăng thêm những KCN đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước với cơ chế Nhà nước định giá giao đất, cho thuê đất hợp lý nhằm điều tiết giá thuê đất trong KCN. 5. Tăng cường kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các KCN, KCX, cụm công nghiệp; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, đặc biệt tập trung vào các dự án sử dụng đất sai mục đích, đang gây ô nhiễm môi trường. Xây dựng các KCN là một nhiệm vụ tất yếu phải làm trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình phát triển các KCN phải gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và tình hình phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, các vùng và các địa phương; quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, lấy hiệu qủa kinh tế, xã hội, môi trường làm thước đo để quyết định phương án quy hoạch theo định hướng phát triển bền vững, gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế kết hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Phải đa dạng hóa các hình thức hoạt động và đầu tư, tăng cường sự tham gia của các thành phần kinh tế và tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế. Phải chú trọng phát triển khu vực nông thôn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông nghiệp và đời sống người nông dân. Trước hết phấn đấu đến năm 2015 về cơ bản lấp đầy các khu đã được hình thành, mở rộng và thành lập các khu mới tập trung, ưu tiên phát triển các KCN ở những vùng kém phát triển.
  12. II, ĐẤT ĐÔ THỊ VIỆT NAM 1,Quá trình đô thị hoá từ 1990 đến nay Trong giai đoạn 1975 - 1990 đô thị ở nước ta hầu như không có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ. Sau năm 1990 cùng với những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế - xã hội, mạng lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng và phát triển. Về số lượng đô thị, năm 1990 cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị, và đến năm 2003 đã có 656 đô thị, trong đó có 4 thành phố loại I, 10 đô thị loại II, 13 đô thị loại III, 59 đô thị loại IV, và 570 đô thị loại V. Theo phân cấp quản lý, cả nước có 4 thành phố trực thuộc Trung ương, 83 thành phố, thị xã thuộc tỉnh, còn lại là các thị trấn. Trên địa bàn cả nước đã và đang hình thành khoảng 82 khu công nghiệp tập trung, 22 đô thị mới và 18 khu kinh tế cửa khẩu. Đô thị hóa, công nghiệp hóa ở nước ta diễn ra mạnh nhất ở 3 vùng trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội Bắc, Trung, Nam, ở vùng duyên hải, kể cả ở các đảo lớn như Phú Quốc, Côn Đảo, Vân Đồn, Cát Bà,... Ví dụ như huyện đảo Phú Quốc đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định là 1 trong 14 khu vực trọng điểm phát triển du lịch trong toàn quốc, tỷ lệ dân số đô thị hiện nay dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 tỷ lệ dân số đô thị sẽ đạt 56 - 60%, đến năm 2020 sẽ là 80%, từ nay đến 2010 sẽ hình thành 2 khu công nghiệp. Vì vậy tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa gây ô nhiễm môi trường không những đối với môi trường trong đất liền mà còn có tác động mạnh đối với môi trường vùng biển ven bờ. Tăng trưởng dân số đô thị từ 11,87 triệu người năm 1986 lên 18 triệu người năm 1999 và khoảng 20 triệu người năm 2002, nâng tỷ lệ đô thị hóa từ 19,3% năm 1986 lên 25,3% năm 2002. Tuy vậy, đô thị hoá ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới. Ví dụ, tỷ lệ dân đô thị ở châu Á trung bình là 28%, châu Phi là 32%, Mỹ La Tinh là 68%. Tăng trưởng kinh tế hàng năm của các đô thị ở Việt Nam trung bình từ 12 - 15%. Thu nhập đầu người tăng nhanh, tại các đô thị lớn đạt khoảng 1.000USD/năm và tại các đô thị trung bình đạt trên 500USD/năm. Tăng trưởng không gian đô thị cũng đạt tỷ lệ đáng kể. Năm 1999, đất đô thị chỉ chiếm 0,2% diện tích đất tự nhiên cả nước, đến năm 2000 đã tăng lên 0,35% và hiện nay (2003) con số này đạt xấp xỉ 1%. 2. Thực trạng công tác quy hoạch sử dụng đất đô thị. Đô thị nước ta được hình thành và phát triển gắn liền với các giai đoạn lịch sử của đất nước. Các đô thị phát triển cả về qui mô và số lương nhưng do hậu quả nặng nề của chiến tranh, của chính sách thiếu đồng bộ về kinh tế xã hội, các đô thị đang trong tình trạng kém phát triển.
  13. Hiện nay, cả nước có 646 đô thị trong đó có 4 thành phố trực thuộc trung ương, 82 thành phố thị xã thuộc tỉnh , 560 thị trấn. Về phân loại đô thị có 2 thành phố loại I, có 11 thành phố loại II, 13 thành phố loại III, 60 thị xã loại IV và 560 thị trấn loại V. Nội dung và phương pháp lập qui hoạch xây dựng đô thị bước đầu được đổi mới, phù hợp với nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Trình tự, thủ tục lập qui hoạch xây dựng đô thị trước đây rất phiền hà gồm 5 dự án: Luận chứng kinh tế kĩ thuật, tổng mặt bằng, qui hoạch xây dựng dợt đầu, qui hoạch chi tiết tỉ lệ 1/1000 – 1/2000 và dự án qui hoạch xây dựng tỉ lệ 1/500. Nay đã được cải tiến rút lại chỉ còn 2 loại dự án là qui hoạch chung và qui hoạch chi tiết Các phương pháp thiết kế qui hoạch đã được dần đổi mới, đặc biệt là những qui hoạch chi tiết bước đầu đã thu được kết quả đáng khích lệ.Trong đó qui định nội dung phân khu rõ ràng bao gồm các khu cấm xây dựng, khu cho phép tồn tại cải tạo và khu phát triển. Trên cơ sở đó xác định các chỉ tiêu quản lí cụ thể đoói với từng khu đất (hệ số sử dụng đất, giới hạn đất xây dựng, cảnh quan, sự phù hợp giữa các mạng lưới hạ tầng kỹ thuật chung. * Tồn tại bất cập cơ chế cũ của phương pháp qui hoạch đô thị trong điều kiện chỉ có kinh tế nhà nước: Những đặc trưng cơ chế cũ: (không có mâu thuẫn về quyền lợi) đơn giản trong điều hành, trong việc kết hợp giữa các khâu, các cấp các nghành, các lĩnh vực.... Do chỉ có một thành phần kinh tế, một quyền sở hữu và một kế hoạch chung của nhà nước mà có thể tách rời qui hoạch bố trí không gian ra khỏi các mối liên hệ về kinh tế xã hội (như cấp vốn, đầu tư, quản lí vận hành ...) để nghiên cứu độc lập, sau đó ráp nối lại mà không mấy khó khăn. Từ phương pháp qui hoạch đô thị đó dẫn đến những điểm sau : Qui hoạch theo nghành chuyên môn là chính (kiến trúc) Qui hoạch vật thể là chính( thiết kế, bố trí các công trình không gian) Qui hoạch nhằm đạt mục tiêu kế hoạch nhà nước là chính, ít quan tâm nghiên cứu tác động tổng hợp của các nội dung phi vật thể, các xu thế phát triển bên ngoài và cơ chế vận động bên trong của đô thị. Các đồ án qui hoạch mang nặng tính lí thuyết ít tính khả thi phản ánh ý muốn chủ quan của nhà nước và kiến trúc sư nhiều hơn là qui luật phát triển khách quan. * Đổi mới phương pháp qui hoạch đô thị cho phù hợp với cơ chế thị trường là yêu cầu cấp bách: Qui hoạch đô thị được tiến hành rộng rãi ở miền bắc nước ta từ cuối những năm 50. Tính đến nay đã gần nửa thế kỉ trôi qua, khoảng thời gian này dài gấp đôi thời gian thiết kế qui hoạch chung 20-25 năm, quá đủ để kiệm tính khả thi của hầu hết các bản đồ qui hoạch đô thị đã làm.
  14. Các bản đồ này (tức qui hoạch chung) vạch ra một cách cụ thể những mục tiêu phát triển trong 20-25 năm về qui mô dân số, sử dụng đất, các khu chức năng, cơ sở hạ tầng, cây xanh, môi trường... và qui định cả những công trình và tuyến kĩ thuật sẽ được xây dựng trong đô thị. Tuy nhiên trên thực tế, các đô thị không phát triển theo những mục tiêu và sự sắp sếp được vạch ra sẵn trong bản đồ qui hoạch, mà lại phát triển tuỳ theo các chính sách kinh tế- xã hội, các nguồn đầu tư, các xu hướng tác động đặc biệt là các xu hướng chuyển đổi sang cơ chế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế. Sự yếu kém của việc sử dụng đất đô thị được biểu hiện khá rõ nét ở kết cấu sử dụng và bố cục không gian sử dụng đất đô thị còn nhiều bất hợp lý. Trong tổng diện tích đất đô thị, đất đành cho các hoạt động công thương chiếm tỉ lệ hơi cao thường 25%, diện tích đất ở, đất giao thông, đất cây xanh thấp. Tại phần lớn các đô thị nước ta hiện nay, diện tích ở khoảng 18- 20m2/người diện tích đất giao thông khoảng 2-3 m2/người, cây xanh là 1,5m2/người. Đã đến lúc không thể cứ điều chỉnh mãi các qui hoạch được duyệt mà phải đổi mới quan niệm, cách tiếp cận và qui trình làm qui hoạch đô thị cho phù hợp với cơ chế thị trường và tiến trình hội nhập. Tức là không chỉ thay đổi mẫu mã của sản phẩm mà là thay đổi chính công nghệ làm ra sản phẩm đó. Việc phát triển đô thị ở nước ta đã thiếu thống nhất mà thêm vào đó nên tình trạng sử dụng đất đô thị hiện nay không theo qui hoạch đang là vấn đề nổi cộm phổ biến tại các đô thị, do thiếu qui hoạch và sử dụng không theo qui hoạch nên việc sử dụng đất hiện nay đang thể hiện nhiều bất hợp lý cả về bố trí không gian, địa điểm và lợi ích mang lại trong việc phân bố nguồn lực. Tình trạng tuỳ tiện trong việc chuyển đất khác sang đất đô thị đang diễn ra. Do áp lực đô thị hoá nhiều diện tích đất đặc biệt là đất trồng lúa ven đô thị, ven đường giao thông lớn chuyển thành đất xây dựng nhà cửa, quá trình đô thị hoá tràn lan không theo hướng dẫn không theo qui hoạch, trái pháp luật làm giảm hàng vạn ha lúa gây nguy cơ mất an toàn lương thực. Các hiện tượng tuỳ tiện trong việc cấp đất, chọn địa điển xây dựng, cũng như xác định mốc giới quan trọng như chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng và hình thức kiến trúc mà qui hoạch đã nghiên cức do công tác thẩm định các đồ án qui hoạch thường kéo dài và thiếu kế hoạch. Hiệu quả sử dụng đất còn thấp: tình trạng lấn chiếm đất công ở đô thị dang diễn ra phổ biến (lấn chiếm vỉa hè, đất trong hành lang an toàn, bảo vệ các công trình công cộng,... Trong thực tế một số đơn vị còn xem nhẹ công tác qui hoạch, năng lực cán bộ qui hoạch còn thấp kém chưa được đoà tạo một cách đầy đủ để có thể
  15. đáp ứng một cách tốt nhất cho công tác qui hoạch sử dụng đất hiện nay. Công tác qui hoạch diễn ra chậm gây khó khăn cho việc giao quyền sử dụng đất, đăng ký đất đai. 3. Thực tiễn trong công tác quy hoạch sử dụng đất đô thị ở nước ta a. Thực tiễn tại các đô thị nước ta Sau hơn 10 năm đổi mới, đô thị nước ta đã phát triển nhanh cả về số lượng là chất lượng,đảm nhận được vai trò trung tâm phát triển kinh tế- xã hội của các vùng miền và toàn quốc. cả nước đã có gần 650 đô thị lớn nhỏ (dân số đô thị từ 13 triệu người năm 1998 lên tới gần 18 triệu năm 1999 chiếm 23,5% dân số toàn quốc) con số này mấy năm gần đây còn tăng lên một cách nhanh chóng, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh mạnh làm qui mô đô thị ngày càng mở rộng. đến nay, hầu hết các thị xã, thành phố đều có qui hoạch xây dựng được nghiên cứu và phê duyệt. Trong đó các thành phố lớn được nghiên cứu điều chỉnh như qui hoạch chung Hà Nội, thành phố HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đà Lạt, ...cùng nhiều thành phố thị xã khác trên cả nước. Đã mạnh nha hình thành những vùng đô thị có những thành phố vệ tinh xung quanh mà thành phố trung tâm là Hà Nội và TP HCM là hạt nhân. Tổng diện tích đất sử dụng vào mục đích đô thị hiện nay có trên 63.000 ha. Diện tích ở đô thị chỉ bằng 17% diện tích đát nông thôn, xong số dân sống trong đô thị lại bằng 25% số dân sống ở nông thôn. Diện tích chiếm đất tại các đô thị là 1.102.335 ha bằng 3,35 diện tích tự nhiên cả nước: Các vùng Diện tích chiếm Mật độ đô thị Tỉ lệ/diện tích tự /1000 km2 đất các vùng nhiên cả vùng Đồng bằng S.Hồng 4575 4,64 3,6% Đồng bằng S.CL 142649 1,26 3,6% Đông nam bộ 167875 2,37 7.0% M.núi T.du phía bắc 337432 1,17 3,2% Tây nguyên 197561 0,66 3,5% Khu bốn cũ 90846 1,42 1,7% Duyên hải M.trung 119897 1,17 2,6% Dân số Việt Nam hiện nay khoảng gần 80 triệu người, dân số đô thị chiếm khoảng 23% (đây là tỉ lệ đô thị hoá vào loại thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới). Dự kiến dân số đô thị ở Việt Nam đến 2020
  16. chiếm 45% (dân số cả nước là 103 triệu). Có được tỉ lệ đô thị hoá như hiện nay và phát triển trong tương lai là do tác động của nền kinh tế thị trường và các chính sách mở cửa, chính sách mới về nhà đất, sự quan tâm của nhà nước đối với qui hoạch, đầu tư cải tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng... Hiện nay, mỗi đô thị nước ta có hai bản qui hoạch: qui hoạch phát triển kinh tế xã hội 10 năm hoạc 20 năm và qui hoạch chung phát triển không gian, nói đúng hơn là phát triển mặt bằng đô thị. Trên cơ sở đó, việc sử dụng đất đai trong đô thị ngày càng đi vào nề nếp, đúng theo qui định của pháp luật, nhiều dự án cơ sở hạ tầng như các khu nhà ở, khu vui chơi giải trí, các dự án giao thông, cấp thoát nước, bưu điện truyền thông trong đô thị,... đã được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng. Công tác quản lý xây dựng đô thị đã có những tiến bộ rõ rệt. Bộ mặt đô thị nói chung đã thay đổi theo chiều hướng tích sực hơn. Hệ thống các văn bản pháp luật quản lý qui hoạch đất đai và xây dựng đô thị đã được soạn thảo khá hoàn chỉnh, góp phần tăng cường công tác quản lý đô thị. Đổi mới việc cải tạo, xây dựng đô thị tè hình thức chia lô, riêng lẻ manh mún sang hình thức xây dựng tập chung theo các dự án đầu tư bước đầu đã thu được một số kết quả: Đảm bảo việc xây dựng, cải tạo đô thị theo đúng qui hoạch được duyệt, nhanh chóng hình thành mặt kiến trúc đô thị, làm giảm áp lực xây dựng tại các khu phố cổ, phố cũ. b. Hạn chế: Rất nhiều đô thị đã không xây dựng như các đồ án qui hoạch đã thiết kế. Bên cạnh đó, tình trạng xây dựng tự phát, tự do cấp đất, giới thiệu địa điểm, lấn chiếm đất xây dựng không theo qui hoạch đã phát triển bừa bãi trong các đô thị và đang diễn ra hằng ngày không kiểm soát được. đây là một hiện tượng phổ biến và đang là mối đe doạ lớn cho sự phát triển lành mạnh của đô thị. Phải thừa nhận rằng, nhiều đồ án qui hoạch mà chúng ta đã thiết kế vẫn theo một kiểu tư duy cũ, một phương pháp luận có vẻ lôgich nhưng lại dựa vào những cơ sở chưa vững chắc, thiếu lôgich của điều tra cơ bản về cơ sở hạ tầng xã hội và xu hướng của thời đại. Việc lấn chiếm các khu vực đất đai dành cho mở đường để xây dựng các khu vực đất đai dành cho mở đường để xây dựng nhà ở, khu vực sản xuất, khu vui chơi, nghỉ ngơi giải trí của dân, ... trở nên phổ biến, phần lớn đều do chúng ta không có thái độ dứt khoát và thiếu kiên quyết trong việc thực thi các đồ án qui hoạch theo qui chế, theo điều lệ quản lí và theo pháp luật qui định. Qui hoạch chuyên nghành đặc biệt là qui hoạch giao thông, cơ sở hạ tầng kĩ thuật thiếu đồng bộ và trình tự nghiên cứu thiếu thống nhất, chồng
  17. chéo lên nhau, gây ảnh hưởng không ít dến quá trình thực thi đồ án qui hoạch. Hơn thề nữa, nó không bảo đảm được các mối liên hệ giữa đô thị với đô thị, giữa đô thị với nông thôn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn phát triển đô thị trong điều kiện CNH-HĐH. Khung pháp luật để quản lý qui hoạch xây dựng còn thiếu, khung pháp luật chưa đồng bộ, chính quyền đô thị lúng túng trước những hiện tượng quả lý mới, việc phân cấp quản lý hành chính đô thị còn phân tán, chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lí nhà nước, thiếu sự phối hợp liên nghành. 4, Phương hướng quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng đất đô thị . a. Định hướng phát triển Dự tính đến năm 2010, đất đô thị sẽ là 243200 ha, chiếm 0,47% diện tích đất tự nhiên cả nước, bình quân 80m2/người. Diện tích đất đô thị tăng thêm so với hiện trạng là khoảng 179900 ha, trong đó dự kiến có khoảng 90400 ha được chuyển mục đích từ đất nông nghiệp. đến 2020, đất đô thị sẽ là 460000 ha chiếm 1,40% diện tích đất tự nhiên cả nước, bình quân 100m2/người. Nhu cầu sử dụng đất đô thị sẽ được xác định trên tiêu chuẩn, qui chuẩn thiết kế qui hoạch xây dựng đô thị và điều kiện thực tế của từng địa phương. Qui hoạch xây dựng đô thị là cơ sở pháp lý để quản lý đô thị, tiến hành công tác đầu tư, xây dựng và lập kế hoạch cải tạo, xây dựng đô thị hàng năm trong ngắn hạn và dài hạn thuộc các nghành, địa phương. Cần có mục tiêu rõ ràng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế-chính trị-xã hội và thực tế. Do vậy trước khi tiến hành qui hoạch phải giải quyết tốt nhữnh vấn đề sau : Một là: Đánh giá nhu cầu hiện nay và tương lai, đánh giá một cách hệ thống khả năng cung cấp đất đai cho các nhu cầu khác nhau. Hai là: Giải quyết mâu thuẫn về sử dụng đất giữa các nghành, các cấp giữa nhu cầu cá nhân và toàn xã hội Ba là: Rút ra kinh nghiệm, trong những năm qua đã thực hiện được đến đâu, những mặt được và chưa được để có kế hoạch tiếp theo. Bước đầu tiên cần tập chung gải quyết vấn đề cơ bản của tồn tại lịch sử và những vấn đề mới phát sinh trong quản lý và sử dụng đất đô thị. Do tồn tại lịch sử phát triển đô thị để lại nhiều vấn đề cần được giải quyết như: một phần không nhỏ các tổ chức, cá nhân sử dụng đất đô thị chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó là trở ngại lới nhất trong việc cấp phép xây dựng, tình trạng xây dựng lộn xộn vô phép, sử dụng đất đô thị bừa bãi kiến trúc không thống nhất làm mất mĩ quan đang là vấn đề nhức nhối.
  18. Sau đó cần lập qui hoạch chi tiết cho từng khu vực, nghành, từng cấp phù hợp với đặc thù của đô thị. Công khai thông tin qui hoạch cho người dân được biết để họ cùng tham gia, nhà nước phải tuyên truyền, tập huấn về qui hoạch để cán bộ, nhân dân biết kiểm tra thực hiện. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp, nâng cao chất lượng các đồ án qui hoạch đô thị, đảm bảo cung cấp đủ qui hoạch chi tiết và qui hoạch xây dựng chuyên nghành phục vụ cho công tác xây dựng và quản lý đô thị. Qui hoạch phải đảm bảo tính xây dựng đồng bộ, xây dựng nhà ở đồng thời xây dựng phát triển hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng đô thị, cả về hạ tầng kĩ thuật lẫn hạ tầng xã hội. Các khu đô thị mới phải được thực hiện với một cơ cấu sử dụng đất đai cho các mục đích sử dụng phải hợp lý trong từng giai đoạn phát triển, và cả định hướng lâu dài. Các đô thị không nên có phạm vi ngoại thành ngoại thị quá rộng, nên mở rộng thành các vùng đô thị mà có những đô thị lớn làm hạt nhân và các đô thị nhỏ vệ tinh xung quanh. Qui hoạch phải đáp ứng đòi hỏi phát triển ngày càng cao của xã hội về mọi mặt, đảm bảo các điều kiện ở, làm việc,, mua bán, học tập, vui chơi giải trí, thích hợp với nối sống truyền thống, nếp sống văn minh của dân tộc và từng vùng, miền đồng thời phải tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Qui hoạch đô thị phải đảm bảo phát triển bền vững của đô thị, khác phục được sự đe doạ của thiên tai, bảo đảm môi trường trong sạch vững mạnh. b. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật, nâng cao hiệu lực thi hành luật Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn bản quản lý nhà nước về qui hoạch và xây dựng đô thị. Trong những năm tới cần rà soát toàn bộ các văn bản qui phạm pháp luật để bổ xung sửa đổi điều chỉnh các văn bản pháp luật hiện hành, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phù hợp với thực tiễn xây dựng và phát triển đô thị nước ta, khắc phục tình trạng văn bản pháp luật chồng chéo về nội dung quản lý, giảm đến mức thấp nhất việc ban hành nhiều văn bản trong một lĩnh vực quản lý và đảm bảo đưa hệ thống thể chế về quản lý qui hoạch xây dựng đô thị vào cuộc sống. Nâng cao hiệu lực thi hành luật, cương quyết tổ chức thực hiện kiểm soát sự phát triển đô thị theo qui hoạch và pháp luật tuỳ theo điều kiện để áp dụng những biện pháp: xử lý tồn tại về nhà đất, xoá bỏ tình trạng xây dựng tự phát, cắm mốc chỉ giới đỏ, xếp hạng công trình kiến trucscos giá trị, công khai qui hoạch ... c. Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước Đô thị là một thực thể sống động và luôn phát triển, điều khiển được sự phát triển đó không đơn giản cho nên cần có qui hoạch để chỉ đạo. Nó đòi hỏi sự sáng suốt của các nhà lãnh đạo từ đô thị đến nhà nước. Bộ máy quản
  19. lý phải gọn nhẹ trong sạch, có trình độ cao, phải hết sức linh động trên nguyên tắc tạo sự đồng bộ thống nhất cho toàn bộ cơ cấu đô thị. Sự phân cấp cụ thể, rõ ràng từ Trung Ương đến địa phương tạo thành một hệ thống có sự liên hệ mật thiết với nhau đảm bảo thông tin nhanh chóng, chính xác từ trên xuống và từ dưới lên. Phối kết hợp giữa các nghành, cơ quan chức năng trong công tác qui hoạch đất đai đô thị: Viện qui hoạch, văn phòng kiến trúc sư trưởng, cơ quan địa chính, xây dựng và quản lý nhà ở. Thường xuyên tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra và có biện pháp xử lý vi phạm pháp luật và qui hoạch xây dựng đô thị, trên cơ sở tổ chức thực hiện các nghị định về sử phạt hành chính trong quản lý đất đai xây dựng. Giải quyết nhanh chóng đúng pháp luật các khiếu kiện của dân. Vấn đề sử phạt hành chính khi có những hành vi vi phạm pháp luật là một việc làm không thể thiếu bởi vì trong thực tế trình đọ dân trí cũng như ý thức pháp luật rất khác nhau. Vậy áp dụng các biện pháp sử phạt hành chính để đấu tranh chống các vi phạm, giữ vững trật tự xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước. Làm rõ trách nhiệm của chính quyền đô thị sở tại có các công trình và dự án hấp dẫn thu hút các nguồn vốn để đảm bảo việc cải tạo và xây dựng đô thị theo dự án, theo chương trình có mục tiêu rõ ràng. Tránh tình trạng đầu tư trong khu vực đô thị vừa chồng chéo, vùa phân tán không đúng mục tiêu dẫn đến tình trạng lãng phí, tốn kém, không có hiệu quả. d. Đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ lập qui hoạch Muốn đổi mới một cách cụ thể và có chất lượng thì phải đổi mới phương pháp tư duy khoa học, đổi mới quan điểm trong kinh tế và quản lý, hình thức tổ chức thiết kế, tổ chức thẩm định và dây truyền công nghệ cho từng đối tượng qui hoạch, từng đối tượng đô thị. Cần đổi mới lực lượng tham gia thiết kế, đó là những cán bộ có đủ trình độ và tư cách đạo đức. Việc phát triển nguồn nhân lực cho nghành bằng việc mở các khoá học tập huấn về kiến thức qui hoạch xây dựng và quản lý đô thị đến cán bộ cấp phường. đây là cơ hội để đưa kiến thức cơ bản về qui hoạch và quản lý xây dựng đô thị tới cộng đồng dân cư. Và từ đó người dân đô thị thị có cơ hội hiểu và tham gia tích cực vào việc phát triển và gìn giữ không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị nơi họ sinh sống. đào tạo mới lực lượng cán bộ trong các trường đại học và đào tạo lại cán bộ địa phương, cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng cường lý luận, tăng giờ thực hành, bám sát thực tế sử dụng kiến thức tổng hợp để áp dụng vào việc qui hoạch đô thị. Cán bộ phải có kiến thức toàn diện về luật học, kinh tế học, tin học ứng dụng... Nâng cao chất lượng cán bộ lấy mục đích hiệu quả công việc là chính tránh hình thức phiến diện nghành nghề không thực tế xa dời nhu cầu
  20. đòi hỏi cấp bách của xã hội. Với xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực đặc biệt là kinh tế, khoa học kĩ thuật thì vấn đề giao lưu hội nhập công tác qui hoạch là rất cần thiết theo các góc độ trao đổi chuyên gia, tổ chức toạ đàm, học hỏi kinh nghiệm... e. Nâng cao chất lượng xử lý thông tin: Thu thập và sử lý thông tin là một tiền đề quan trọng để hình thành bản qui hoạch và điều chỉnh khi có những thay đổi về mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hay các văn bản pháp luật, văn bản hành chính... các loại thông tin như: thực trạng kinh tế-xã hội, đặc điểm về tự nhiên của khoảnh đất, các văn bản pháp lý. Công tác qui hoạch sử dụng đất đai muốn làm một cách nhanh chóng cần hoàn thiện chính sách đền bù giải phóng mặt bằng: Khi thu hồi nhà nước thực hiện đền bù bằng đất hoặc bằng tiền với chi phí đền bù phải thoả đáng bao gồm các chi phí về thiệt hại tài sản gắn liền với đất, quyền sử dụng đất đang sử dụng, chi phí định cư cho người có đất bị thu hồi. Phải tạo điều kiện để họ tái định cư và phát triển cuộc sống. Trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước, đòi hỏi sự phát triển và đổi mới ngày càng lớn trong khu vực đô thị. Việc đổi mới và cải thiện tình hình để đáp ứng nhu cầu phát triển là cần thiết và khách quan. được như vậy, từng khu vực đô thị sẽ đóng góp tốt hơn trong giai đoạn phát triển tới của đất nước.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản