TIỂU LUẬN: Đánh giá thực trạng việc cải cách hành chính giai đoạn 2003 – 2005. Một số giải pháp trong giai đoạn 2006 – 2010 tại huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La

Chia sẻ: Paradise_12 Paradise_12 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
91
lượt xem
33
download

TIỂU LUẬN: Đánh giá thực trạng việc cải cách hành chính giai đoạn 2003 – 2005. Một số giải pháp trong giai đoạn 2006 – 2010 tại huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất nước sau 15 năm đổi mới. Nền kinh tế nước ta để thoát ra khỏi khủng hoảng và đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế, chính trị và trên các lĩnh vực khác. Nó đánh giá đúng đắn đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp đổi mới kinh tế xã hội của đất nước. Ngày 17/9/2001. Thủ tướng Chính phủ đề ra Quyết định cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 nhằm huyện với yêu cầu quản lý nền kinh tế...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Đánh giá thực trạng việc cải cách hành chính giai đoạn 2003 – 2005. Một số giải pháp trong giai đoạn 2006 – 2010 tại huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG …………………… TIỂU LUẬN Đánh giá thực trạng việc cải cách hành chính giai đoạn 2003 – 2005. Một số giải pháp trong giai đoạn 2006 – 2010 tại huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La lời nói đầu 1
  2. Đ ất nước sau 15 năm đổi mới. Nền kinh tế nước ta để thoát ra khỏi khủng hoảng và đã đạt đ ược nhiều thành tựu kinh tế, chính trị và trên các lĩnh vực khác. Nó đánh giá đúng đắn đ ường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp đổi mới kinh tế xã hội của đất nước. Ngày 17/9/2001. Thủ tướng Chính phủ đề ra Quyết định cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 nhằm huyện với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với xu hướng phát triển của đất nước nhiệm vụ cải cách hành chính đòi hỏi phải có thời gian, có chiều sâu việc cải cách hành chính phải sao cho đơn giản, dễ hiểu, đúng pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, công dân khi liên hệ thực hiện giải quyết công việc. Mộc Châu – Sơn La là một huyện Miền núi thuộc tỉnh Sơn La. Có diện tích tự nhiên là 202.573 ha. Có 27 xã thị trấn trong đó có 06 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn. Dân số có 134.308 người và có 07 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn. Trong những năm qua đời sống nhân dân các dân tộc huyện Mộc Châu từng bước được cải thiện và nâng cao. Cơ sở vật chất như điện đường, trường, trạm đ ược củng cố, đầu tư, xây dựng và hoàn thiện. Điều đó đã khẳng định sự quan tâm và chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đ ến địa phương. Nhằm đảm bảo việc phát triển nền kinh tế xã hội một cách toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập với thế giới trong thời gian qua. Huyện Mộc Châu đã tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa” tại các ngành, phòng ban, xã thị trấn qua việc thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định của Chính phủ, Tỉnh… và đã ban hành nhiều quyết định, chỉ thị và các chính trị hành động cụ thể. Sau 13 năm thực hiện đ ã phần nào làm thay đổi và chuyển biến tích cực. Trên phương diện cải cách hành chính trên địa bàn Mộc Châu nhằm đánh giá rút kinh nghiệm những thiếu sót tjj và phát huy những điểm tích cực cũng như đề xuất một số giải pháp trong giai đoạn 2006 – 2010. Việc nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng việc cải cách hành chính giai đoạn 2003 – 2
  3. 2005. Một số giải pháp trong giai đoạn 2006 – 2010 tại huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La” đã nói nên phần nào đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. 3
  4. Phần thứ nhất đánh giá kết quả cải cách hành chính giai đoạn 2003 – 2005 I. Đặc điểm tình hình. 1. Thuận lợi. Cải cách hành chính những năm qua đã được chỉ đạo và triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, vì vậy đã tạo ra sự thống nhất trong các nội dung cơ bản của cải cách hành chính, nhất là ở các lĩnh vực quan trọng như: Cải cách về thể chế, cải cách về thủ tục hành chính, về phân cấp quản lý ngành và lĩnh vực. Cải cách hành chính tuy mới đạt được kết quả bước đầu nhưng với những tính ưu việt và hiệu quả của nó đem lại đã tạo nên sự tin tưởng, phấn khởi, ủng hộ cao của toàn xã hội, của các tổ chức và cá nhân khi tham gia vào các hoạt động công vụ. Tổ chức bộ máy từ huyện đến xã ngày càng được kiện toàn, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước được nâng lên một bước, đó là những nhân tố quyết định sự tiến bộ của công tác cải cách hành chính trong thời gian qua. Công tác cải cách hành chính tại huyện được UBND tỉnh, các Sở, N gành của tỉnh và huyện uỷ quan tâm chỉ đạo thường xuyên, có hiệu quả. Mộc Châu là một trong 3 huyện của tỉnh được chỉ đạo thí điểm triển khai cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, được ưu tiên đ ầu tư trang thiết bị từ nguồn dự án của Trung ương, được tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ, vì vậy đã tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính. 2. Khó khăn. Cải cách hành chính là việc lớn, phức tạp; bản thân nền hành chính Nhà nước với những mối quan hệ ngang, dọc, trên, dưới chồng chéo còn tồn tại nhiều vấn đề, trong khi đó tốc độ triển khai thực hiện cải cách hành chính ở một số lĩnh vực từ Trung ương đ ến địa phương đều chậm, có lúc có nơi chưa 4
  5. đồng bộ, vì vậy gây khó khăn cho công tác triển khai cải cách hành chính ở cấp huyện và cấp xã. N hận thức về cải cách hành chính nói chung, về nội dung và biện pháp thực hiện cải cách hành chính nói riêng của nhiều cán bộ, công chức cấp huyện và hầu hết cán bộ công chức cấp xã còn nhiều hạn chế; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức phải tiếp tục được nâng lên mới đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính. Cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện để thực hiện cải cách hành chính vừa thiếu, vừa yếu, không đồng bộ làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai thực hiện và nâng cao chất lượng của cải cách hành chính. II. đánh giá kết quả công tác cải cách hành chính. 1. Công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện. U BND huyện đã thành lập Ban chỉ đạo cải cách hành chính cấp huyện, kịp thời kiện to àn Ban chỉ đạo khi có thay đổi về nhân sự. Triển khai thực hiện Quyết định 181/2003/QĐ-TTg của Chính phủ, năm 2003 UBND huyện tiếp tục thành lập Ban chỉ đạo cải cách thủ tục hành chính của huyện, đồng thời mở rộng thành phần ở những ngành thực hiện cơ chế “một cửa”. Trên cơ sở tiếp tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ huyện (nhiệm kỳ 2000 - 2005), các văn bản chỉ đạo về cải cách hành chính của Trung ương và tỉnh như: Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính N hà nước giai đoạn 2001 – 2010; Quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 17/12/2003 của UBND tỉnh Sơn La về phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước tỉnh Sơn La giai đoạn 2003 – 2010. Ban chỉ đạo đã xây dựng Đề án trình UBND tỉnh phê duyệt, xây dựng quy chế tổ chức và ho ạt động của “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả”; xây dựng chương trình, kế ho ạch đã đề ra và đánh giá, rút kinh nghiệm cho công tác cải cách hành chính giai đo ạn tiếp theo. 5
  6. U BND huyện đã đẩy mạnh tuyên truyền về cải cách hành chính. Cải cách hành chính là một vấn đề khó, phức tạp, liên quan đến tất cả các cơ quan trong bộ máy hành chính Nhà nước nhưng nhận thức về công tác này của đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện, cấp xã và của nhân dân chưa cao, vì vậy U BND huyện xác định công tác tuyên truyền phải đi trước một bước và thực hiện nhiều hình thức, biện pháp để tuyên truyền, nâng cao nhận thức về cải cách hành chính cho đ ội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân. Qua đó đã b ước đầu phát huy được tính tích cực, chủ động của các tổ chức, cá nhân vào quá trình cải cách hành chính. 2. Về cải cách thể chế. 2.1. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật và rà soát văn bản. Trên cơ sở Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy đ ịnh, hướng dẫn của cấp trên, Thường trực HĐND và UBND huyện đã đưa công tác soạn thảo, ban hành văn b ản quy phạm pháp luật vào nề nếp. Đ ã xây dựng quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo tính thống nhất và nguyên tắc pháp chế của hệ thống pháp luật trong quản lý N hà nước ở địa phương. Các văn bản quy phạm pháp luật của huyện đều hướng vào việc cụ thể hoá Luật và Pháp lệnh, Nghị quyết của HĐND, UBND tỉnh vào thực tiễn của địa phương nhằm phát huy lợi thế, tiêm năng, khai thác nguồn lực địa phương vào phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính Nhà nước, đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở,… các Nghị quyết, Chỉ thị và Quyết định của HĐND, UBND huyện ban hành có chất lượng ngày càng cao; đ ảm bảo về nội dung, thể thức, hình thức và thẩm quyền ban hành. Trong 3 năm qua, HĐND và UBND huyện đ ã ban hành 94 văn bản quy phạm pháp luật và 23 văn bản có chứa quy phạm pháp luật, trong đó chỉ có 1 văn bản bị bãi bỏ. U BND huyện cũng đã chỉ đạo, hướng dẫn HĐND, UBND các xã nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật Mặc dù việc ban hành 6
  7. văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã còn nhiều hạn chế nhưng có thể nói trong 3 năm qua, chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã được nâng lên rất nhiều. Công tác kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản được UBND huyện thường xuyên chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện. Trong 3 năm qua đã rà soát 6.405 văn b ản của UBND huyện, trong đó có 4.820 văn bản do UBND huyện ban hành. 1 .585 văn bản do Chủ tịch UBND huyện ban hành. Qua rà soát đã loại bỏ 361 văn bản hết hiệu lực, đề nghị bãi bỏ 1 văn bản quy phạm pháp luật, đề nghị chỉnh sửa một số văn bản còn sai sót về nội dung, thể thức. U BND huyện đã chỉ đạo cơ quan chức năng kiểm tra được 23 văn bản quy phạm pháp luật của cấp x ã. Qua công tác kiểm tra phát hiện những văn bản chưa đúng về trình tự, thủ tục, nội dung và đã thông báo cho cơ quan so ạn thảo chỉnh sửa, xử lý, qua đó góp phần từng bước nâng cao chất lượng công tác soạn thảo văn bản và ban hành văn bản quy phạm pháp luật cấp xã. 2.2. Về cải cách thủ tục hành chính. U BND huyện đã thường xuyên rà soát, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chuyên môn rà soát quy trình, thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục hành chính liên quan đến giải quyết công việc của các tổ chức, công dân theo hướng gọn đầu mối, đơn giản hoá thủ tục, đúng pháp luật. Ngoài các lĩnh vực thực hiện cơ chế “một cửa” tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, nhiều thủ tục hành chính quan trọng đã được xây dựng thành quy trình cụ thể, đ ược công khai hoá thủ tục, hồ sơ giải quyết và vận dụng mô hình “một cửa” ngay tại cơ quan như: Công chứng, hộ tịch, hộ khẩu, thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác hợp đồng và tuyển dụng, thuyên chuyển công chức, thủ tục giải quyết vốn vay diện đối tượng chính sách xã hội, cấp giấy chứng nhận đối tượng chính sách và đ ối tượng xã hội, quy trình và thủ tục ban hành văn bản hành chính, văn bản quy phạm pháp luật… Mộc Châu là một trong những huyện được tính chọn để triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” theo dự án 7
  8. V IE/01/024/B, được Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh giúp đỡ cả về nội dung và cơ sở vật chất. Ngày 24/11/2003, UBND tỉnh đã có Quyết định số 167/2003/QĐ -UB phê chuẩn Đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND huyện Mộc Châu. Đề án gồm 2 nội dung cơ b ản là “Quy định về quy trình, hồ sơ, thủ tục giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND huyện Mộc Châu” và “Quy chế tổ chức và hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả”. UBND huyện đã lựa chọn, bố trí cán bộ, công chức vào làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, đảm bảo yêu cầu về cơ cấu, chất lượng; theo dõi hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong mối q uan hệ phối hợp giải quyết công việc giữa các cơ quan, giữa các cơ quan với Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” ngày càng có hiệu quả hơn. Q ua hơn 2 năm thực hiện ccải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” ở 3 lĩnh vực: Đất đai, xây dựng nhà ở, cấp giấy phép kinh doanh, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã tiếp nhận 1.591 hồ sơ, gồm 1.084 hồ sơ địa chính, 126 hồ sơ xây dựng nhà ở, 381 hồ sơ đăng ký kinh doanh. Đ ã trả kết quả 1.630 hồ sơ (trong đó có cả số hồ sơ của năm trước chuyển sang) gồm: 1.151 hồ sơ đ ịa chính, 123 hồ sơ xây dựng nhà ở và 356 hồ sơ cấp giấy phép kinh doanh . Còn tồn 222 hồ sơ, trong đó có 197 hồ sơ đ ịa chính và 25 hồ sơ đăng ký kinh doanh. Có 3 hồ sơ về xây dựng nhà ở không đủ điều kiện đã trả lại cho cá nhân. V iệc triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” ở UBND huyện bước đầu đ ã đảm bảo 3 mục tiêu cơ bản: Đúng pháp luật, nhanh gọn, giảm phiền hà. Các quy trình, thủ tục, thời gian giải quyết, lệ phí được niêm yết, thông báo công khai và rõ ràng, đ ầy đủ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã giúp cho tổ chức, công dân nắm rõ hơn về cơ chế, chính sách, thể lệ, thủ tục cần thiết phải làm, giải toả được những thắc mắc về sự thiếu công khai, minh bạch đối với cơ quan Nhà nước; đồng thời qua đó 8
  9. các tổ chức, công dân có điều kiện giám sát hoạt động của cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính Nhà nước một cách cụ thể hơn. Đ ã huỷ bỏ, sửa đổi được nhiều thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu không phù hợp hoặc không cần thiết, làm mất nhiều thời gian và công sức của nhân dân mà công việc lại chậm được giải quyết. K ết quả rõ nhất của việc áp dụng cơ chế “một cửa” là chất lượng xử lý công việc tại các cơ quan hành chính Nhà nước được nâng lên, quy trình công tác được đổi mới theo hướng khoa học, hợp lý, giảm phiền hà cho tổ chức và công dân, thời gian giải quyết công việc được rút ngắn, đảm bảo được sự công khai, minh bạch, nhất là về thủ tục, hồ sơ, giấy tờ, phí và lệ phí. Đ ược các tổ chức và đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ, củng cố đ ược niềm tin của tổ chức, công dân vào bộ máy hành chính Nhà nước ở địa phương. 3. Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế. Đ ược sự quan tâm chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện uỷ, UBND huyện đã thường xuyên rà soát, sắp x ếp tổ chức bộ máy cho phù hợp với thực tế của huyện, góp phần nâng cao chất lượng công tác tham mưu, giúp việc của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện và các đơn vị trực thuộc. Ngoài việc kiện toàn các cơ quan chuyên môn theo Nghị định 172 của Chính phủ và Q uyết định 189 của UBND tỉnh, UBND huyện đ ã kiện toàn, sắp xếp các cơ quan, đơn vị khác và các trường học như: Tiếp nhận và kiện toàn Ban Quản lý D i dân tái đ ịnh cư, sắp xếp lại Trung tâm Văn hoá - TT – TT theo Quyết định 484 của UBND tỉnh, giải thể Ban Định canh- Đ ịnh cư - K TM để chuyển nhiệm vụ cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, sắp xếp lại Tổ Thuỷ nông, thành lập Ban Bồi thường – GPMB huyện, giải thể 4 trường học, thành lập 34 trường học. Qua sắp xếp, hệ thống tổ chức ngày càng hoàn thiện hơn, hợp lý hơn. U BND huyện đã xây d ựng Quy chế làm việc, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng Quy chế làm việc, kịp thời sửa đổi bổ sung Quy chế làm việc. Do xây dựng được quy chế làm việc nên đã xác định rõ chức 9
  10. năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và của thủ trưởng, cán bộ công chức trong cơ quan; xác định đúng đắn mối quan hệ phối hợp trong giải quyết công việc giữa các cơ quan, giữa cơ quan với cấp trên, cấp d ưới. Đặc biệt, do xây dựng được uy chế làm việc nên đã hạn chế tối đa hiện tượng chồng chéo, trùng lặp trong giải quyết công việc, hoặc ngược lại bỏ sót công việc mà không có cơ quan hoặc cá nhân nào chịu trách nhiệm. Q ua sự việc rà soát chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan cũng làm rõ hơn, phân định cụ thể hơn chức năng quản lý Nhà nước và hoạt động sự nghiệp. Từng b ước khắc phục được tình trạng lẫn lộn giữa chức năng quản lý N hà nước và hoạt động sự nghiệp. Góp phần làm cho nền hành chính ngày càng minh bạch hơn. Đ ể tiếp tục củng cố tổ chức và bộ máy, ngoài việc sắp xếp lại đội ngũ cán b ộ công chức thông qua thuyên chuyển, điều động, UBND huyện đã giải quyết tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết 16, Nghị quyết 09 của Chính phủ, cho thôi việc 38 cán bộ, công chức; xét kỷ luật 27 trường hợp. 4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII), K ế hoạch số 41/LKH- TU ngày 04/3/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh uy4 Sơn La, huyện Mộc Châu đã tiến hành đánh giá, quy hoạch cán bộ lãnh đạo cấp huyện, cán bộ lãnh đ ạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, các đơn vị trường học. Thường xuyên rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch, kiên quyết đưa ra khỏi quy ho ạch những đồng chí không còn đủ tiêu chuẩn, đồng thời bổ sung vào quy ho ạch những đồng chí có đủ phẩm chất, năng lực, nhiều triển vọng phát triển. Do làm tốt công tác quy hoạch nên việc bổ nhiệm bầu cử các chức danh lãnh đạo luôn chủ động đ ược nguồn, góp phần tích cực vào công tác nhân sự cho Đ ại hội các chi, đảng bộ cơ sở, cho bầu cử các chức danh chủ chốt của HĐND – U BND cấp huyện và cấp xã, cho công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan chuyên môn và các đơn vị trường học. Trong 3 năm qua, huyện đã đánh giá để bổ nhiệm lại, bổ nhiệm có thời hạn, luân chuyển 56 lượt 10
  11. Trưởng, Phó phòng và tương đương; 197 lượt cán bộ quản lý trường học, đồng thời miễn nhiệm 14 cán bộ lãnh đạo các phòng ban chuyên môn và cán bộ quản lý trường học. Công tác tuyển dụng, hợp đồng đ ược thực hiện đúng quy trình, đ ảm bảo yêu cầu về trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo, xuất phát từ yêu cầu công việc mà tuyển dụng người, vì vậy chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức mới tuyển dụng và hợp đồng trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt. U BND huyện đã hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế, hợp đồng công chức được bị 47 đồng chí, tuyển dụng 18 đồng chí, tiếp nhận 53 đồng chí, phân công 472 đồng chí, cho chuyển đi 65 đồng chí. Riêng đội ngũ cán bộ, công chức và cán bộ không chuyên trách cấp xã, do m ới thực hiện chế độ cán bộ, công chức theo Nghị định 114 của Chính phủ nên UBND huyện chủ trương tuyển dụng số thực tế đang công tác, đồng thời có kế hoạch từng bước thay thế những cán bộ, công chức x ã không đ ủ tiêu chuẩn trình độ và năng lực. Đến nay đ ã tuyển dụng 838 đồng chí, góp phần kiện toàn, ổn định bộ máy cán bộ, công chức xã. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm nâng cao trình độ, từng bước chuẩn hoá đội ngũ đã được UBND huyện quan tâm đúng mức. Việc đào tạo cán bộ đã bám sát quy hoạch, nhu cầu sử dụng, quan tâm đào tạo cán bộ nữ, cán bộ dân tộc và cán bộ trẻ, cả cán bộ đương chức và cán bộ dự nguồn. Từ năm 2003 đến nay, huyện đ ã cử đi bồi dưỡng và thi nâng ngạch công chức 32 đồng chí, thi tuyển công chức 26 đồng chí; bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên chính 3 đ ồng chí, chuyên viên 14 đồng chí. Đi đào tạo bác sĩ chuyên khoa I và thạc sĩ 10 đồng chí, đào tạo chuẩn và trên chuẩn hơn 1.000 cán bộ, giáo viên; đào tạo trung cấp nông – lâm cho 20 cán bộ xã, cán bộ tư pháp xã cho 21 đồng chí, xã hội trưởng cho 10 đồng chí, kỹ thuật viên tin học cho 56 đồng chí cán bộ, công chức x ã, học bổ túc cấp II và cấp III trong diện có học bổng 332 đồng chí cán bộ x ã, tạo điều kiện cho hơn 100 cán bộ công chức cấp huyện và cấp xã đ i học lý luận chính trị từ 11
  12. trung cấp đến cao cấp, 40 đồng chí cán bộ xã đi học đại học nông – lâm và lý luận chính trị theo kế hoạch của Huyện uỷ. Cử hàng trăm lượt cán bộ xã đi bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành (công an, tài chính, tư pháp,…) hàng năm. 5. Về cải cách tài chính công. Thực hiện Luật Ngân sách, UBND huyện đã thực hiện công khai dự toán thu, chi ngân sách huyện và công khai giao dự toán thu, chi ngân sách hàng năm cho các đơn vị dự toán. Tổ chức khoán kinh phí chi thường xuyên đến các đơn vị hành chính trên cơ sở mức khoán của UBND tỉnh giao hàng năm. Thực hiện tốt chế độ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu. hướng dẫn và công khai hoá các th ủ tục liên quan đến lĩnh vực tài chính như: Thủ tục lập dự toán ngân sách cho các đơn vị từ huyện đến xã, thủ tục giao dự toán ngân sách, công khai dự toán ngân sách, thủ tục bổ sung dự toán ngân sách, thủ tục cấp phát kinh phí, thủ tục thẩm định và xét duyệt quyết toán, thủ tục thẩm tra và phê duyệt quyết toán các công trình hoàn thành, thủ tục khiếu nại của công dân,… V ì vậy kết quả thu, chi ngân sách hàng năm đ ều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch, năm sau cao hơn năm trước. Các cơ chế về quản lý điều hành ngân sách đã phát huy hiệu quả, đảm bảo theo đúng quy định của Luật Ngân sách. 6. Hiện đại nền hành chính Nhà nước. U BND huyện đã quan tâm chỉ đạo xây dựng kỷ luật, kỷ cương hành chính của các cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ được giao. V iệc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của các cơ quan có nhiều tiến bộ. Đ ã phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền của từng cán bộ, công chức và thủ trưởng cơ quan, mối quan hệ với các cơ quan khác. Các chế độ công tác của cơ quan và đội ngũ cán bộ công chức được thực hiện ngày càng có nề nếp, chuyển biến ngày càng tích cực. Đã hạn chế được tình trạng trông chờ, ỷ lại, trốn tránh trách nhiệm hoặc bao biện làm 12
  13. thay trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ công chức, đã làm giảm thiểu tình trạng giải quyết công việc một cách chồng chéo bỏ sót công việc. Trong quá trình quản lý điều hành, các cơ quan hành chính Nhà nước đã đạt được sự tiến bộ nét trong việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế ho ạch. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch ngày càng khoa học hơn, sát thực tiễn hơn, đảm bảo tính khả thi ngày càng cao hơn. Công tác tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch, công tác đôn đốc, kiểm tra, truy kích công việc ngày càng triệt để hơn. V ì vậy các mặt công tác của các cơ quan hành chính N hà nước được thực hiện ngày càng đảm bảo yêu cầu về thời gian, với chất lượng và hiệu quả ngày càng cao hơn. Trong điều kiện kinh phí còn hạn chế, UBND huyện và các cơ quan chuyên môn đã có nhiều cố gắng trong tiết kiệm chi ngân sách để đầu tư trang thiết bị làm việc, từng b ước thực hiện hiện đại hoá công sở. Nhìn chung đến nay các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện được trang bị các phương tiện thiết yếu phục vụ công tác chuyên môn như: Máy vi tính, ghế, thủ đựng tài liệu, máy điện thoại,… Đ ã cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn. Đ ể từng bước triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của UBND huyện, từ năm 2005 UBND huyện đã triển khai xây dựng mạng LAN theo Đề án 112 của Chính phủ với số máy vi tính tham gia nối mạng LAN là 17 máy của 3 cơ quan hành chính. Đồng thời đã triển khai sử dụng 3 phần mềm dùng chung là: Trang thông tin điện tử phục vụ điều hành, hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc, hệ thống thông tin tổng hợp kinh tế – xã hội, qua đó đã b ước đầu góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý, điều hành của các cơ quan hành chính cấp huyện. Trong thời gian vừa qua, UBND huyện đ ã tập trung chỉ đạo các xã, thị trấn xây dựng trụ sở làm việc, nhà văn hoá, trang thiết bị phương tiện phạm vi tại UBND cấp xã. Đến nay có 24/27 xã, thị trấn có trụ sở xây kiên cố, còn lại 3 xã có trụ sở xây cấp 4. Các x ã, thị trấn đ ã từng bước được trang bị phương 13
  14. tiện làm việc như: Bàn ghế, tủ tài liệu, điện thoại và đến nay có 25/27 xã đ ược trang bị máy vi tính. III. đánh giá những thiếu sót, khuyết điểm. Công tác tuyên truyền về cải cách thủ tục hành chính đã được thực hiện nhưng còn nhiều hạn chế, chưa sâu rộng trong cán bộ, công chức và nhân dân, nhất là ở cấp xã. Nhiều cá nhân chưa nắm được những vấn đề cơ bản của cải cách hành chính, hiểu cải cách hành chính còn mơ hồ và phiến diện. H ình thức tuyên truyền còn nghèo nàn, hiệu quả tuyên truyền còn thấp. Vì vậy chưa tạo ra sự chuyển biến thật sự rõ nét về nhận thức đối với cải cách hành chính. Ban Chỉ đạo cải cách hành chính hoạt động chưa thường xuyên, chưa tạo thành nề nếp ổn định, chưa kịp thời xử lý những vấn đề còn tồn đọng, vướng mắc hoặc những vấn đề mới phát sinh trong công tác cải cách hành chính. Do trình đ ộ đội ngũ cán bộ, công chức chưa thật đồng đều nên còn một số cơ quan d ự thảo một số văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND huyện chất lượng chưa cao, phải chỉnh sửa nhiều lần làm ảnh hưởng tới thời gian ban hành văn bản. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, U BND cấp xã nhìn chung còn thấp, có lúc có nơi sai về thể thức và thẩm quyền, tính khả thi một số văn bản không cao. Quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở một số nơi chưa đảm bảo. Công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật cấp x ã tiến hành chưa thường xuyên, số lượng văn bản đ ược kiểm tra ít vì vậy chưa kịp thời giúp cơ sở rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng ban hành văn bản. Mặc dù đã cố gắng trong việc cải cách thủ tục hành chính nhưng thực tế vẫn còn nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, nặng về hình thức. Một số cơ quan chưa quan tâm đến việc xây dựng các quy trình, thủ tục hành chính thực sự khoa học. Việc niêm yết, công khai hoá các thủ tục hành chính nhiều nơi chưa thực hiện được. 14
  15. Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND cấp huyện tuy có nhiều tiến bộ, góp phần quan trọng vào kết quả cải cách hành chính, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần phải giải quyết tiếp. Cơ chế vận hành của bộ phận “một cửa” sao cho tổ chức, công dân chỉ phải giải quyết công việc ở bộ phận “một cửa” chứ không phải sang các cơ quan khác còn tiếp tục phải hoàn thiện. Mối quan hệ trong giải quyết công việc giữa bộ phận “một cửa” với các cơ quan có liên quan, giữa các cơ quan có với nhau cũng cần phải tiếp tục cải tiến để đảm bảo tốt hơn chất lượng, hiệu quả, thời gian theo yêu cầu của tổ chức, công dân và theo luật định. Triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND cấp xã còn chậm. K ỷ luật, kỷ cương, nề nếp hoạt động công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức cấp huyện và đại đa số cán bộ, công chức cấp xã còn yếu. Việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc ở UBND một số xã chưa được quan tâm đúng mức. Một số chính quyền cơ sở chưa nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, thoả thuận của mình nên có lúc, có nơi bỏ sót công việc, trông chờ cấp trên, có lúc, có nơi lại giải quyết công việc sai thẩm quyền. Đổi mới lề lối làm việc, phương thức quản lý, điều hành ở một số cơ quan và xã, thị trấn tiến hành còn chậm, lúng túng. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch nhìn chung còn yếu, có lúc còn mang tính hình thức, chiếu lệ. V iệc đôn đốc, kiểm tra, truy kích công việc có lúc chưa triệt để, chưa kiên quyết vì vậy có công việc chưa đảm bảo thời gian, chất lượng chưa cao. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức, đặc biệt là cấp xã đã được quan tâm nhưng nhìn chung tốc độ còn chậm. Tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã chưa đào tạo đạt chuẩn về chuyên môn, chưa được bồi dưỡng về lý luận chính trị và quản lý Nhà nước còn chiếm tỷ lệ cao. Chưa có kế hoạch dài hạn về đào tạo cán bộ, công chức. Trình độ, năng lực, kỹ năng hành chính của nhiều cán bộ, công chức hiện tại còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập do chưa được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản về những nội dung nêu trên. 15
  16. Quản lý Ngân sách nói chung và cải cách tài chính công nói riêng ở cấp xã nhìn chung còn yếu. Quy trình, thủ tục trong thu, chi ngân sách nhiều nơi chưa bảo đảm, từ đó dẫn đến những sai phạm, khuyết điểm trong quản lý ngân sách. ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhìn chung còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa phát huy được ưu điểm, thế mạnh của công nghệ thông tin trong hoạt động từ huyện lên Ban Chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh. iv. nguyên nhân. 1. Nguyên nhân của ưu điểm. Có sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ về chuyên môn và cơ sở vật chất cho cải cách hành chính của UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh và của Ban Thường vụ Huyện uỷ. U BND huyện đã chủ động trong việc thể chế hoá các nội dung của cải cách hành chính vào các chương trình, kế hoạch cụ thể và triển khai tổ chức thực hiện. Các cơ quan chuyên môn tích cực thực hiện cải cách hành chính tại cơ quan m ình, đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình cải cách hành chính của huyện. Cải cách hành chính là một chủ trương đúng đ ắn, hợp lòng dân nên được đông đảo nhân dân ủng hộ. Sự tích cực, chủ động của nhân dân vào cải cách hành chính góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nội dung của cải cách hành chính. 2. Nguyên nhân của thiếu sót, khuyết điểm. Cải cách hành chính là việc khó khăn, phức tạp và lâu dài trong khi đó kinh nghiệm chỉ đạo cải cách hành chính của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính cấp huyện chưa nhiều, vì vậy trong quá trình tổ chức thực hiện cải cách hành chính còn có biểu hiện lúng túng, hiệu quả công tác chỉ đạo chưa cao. Công tác cải cách hành chính từ Trung ương đến địa phương còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, vì vậy gây trở ngại cho việc triển khai cải cách hành chính ở lĩnh vực có nhiều cơ quan liên quan. Ví dụ: khi chưa có đổi mới về 16
  17. phân cấp quản lý công tác tổ chức và cán bộ, chưa cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng các cơ quan hành chính về sử dụng biên chế thì cũng chưa thực hiện đ ược chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí quản lý hành chính theo tinh thần N ghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ. Biên chế cán bộ, công chức của huyện được giao hàng năm; biên chế cán bộ, công chức cấp x ã theo Nghị định 114 của Chính phủ nhìn chung là ít so với yêu cầu nhiệm vụ được giao. Cường độ làm việc của cán bộ, công chức quá lớn, vì vậy ảnh hưởng một phần đến chất lượng giải quyết công việc. Biên chế làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả lấy từ biên chế các phòng, ban chuyên môn cũng gây khó khăn cho các cơ quan thực hiện theo cơ chế “một cửa”. Trình đ ộ, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu, vì vậy khả năng tiếp thu nội dung cải cách hành chính còn hạn chế, việc triển khai thực hiện cải cách hành chính hiệu quả chưa cao. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động công vụ nói chung, cho cải cách hành chính nói riêng còn thiếu thốn, chưa đồng bộ, ảnh hưởng tới quá trình triển khai và kết quả của cải cách hành chính. v. bài học kinh nghiệm. Cải cách hành chính là việc làm lâu dài, thường xuyên, vì vậy phải biết lựa chọn nội dung trọng tâm, trọng điểm cần tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm trong từng thời điểm nhất định. Phải thường xuyên cập nhật thông tin về cải cách hành chính đ ể áp dụng kịp thời vào thực tiễn công tác cải cách hành chính ở địa phương. Cải cách hành chính là việc khó khăn, phức tạp, vì vậy phải thường xuyên đánh giá, kịp thời phát hiện những yếu kém để rút kinh nghiệm cho giai đo ạn tiếp theo. Cải cách hành chính phải được tiến hành đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan có liên quan thì mới đem lại có hiệu quả cao. 17
  18. Phần thứ hai một số giải pháp của cải cách hành chính giai đoạn 2006 – 2010 i. giải pháp trọng tâm của công tác cải cách hành chính giai đoạn 2006 – 2010. 1. Tiếp tục đổi mới việc ban hành thể chế. Cụ thể hoá các cơ chế, chính sách để phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Tiếp tục cải tiến quy trình so ạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản ban hành chính đảm bảo đúng luật, đ ơn giản, gọn nhẹ. 2. Tích cực và thường xuyên rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là hệ thống các cơ chế, chính sách của cấp trên, các quy định của huyện nhằm phát hiện những vấn đề bất hợp lý để sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị các cơ quan ban hành sửa đổi, bổ sung, phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Thực hiện đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho việc giao dịch của tổ chức, công dân với các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Phấn đấu đến năm 2010 đ ưa từ 6 đến 7 lĩnh vực cấp huyện và 100% số x ã, thị trấn áp dụng triển khai cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, đảm bảo giải quyết thông suốt, kịp thời yêu cầu chính đáng của tổ chức, công dân. Tăng cường sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhân dân đối với cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ khi tiếp nhận, xử lý công việc của công dân. 3. Đ ẩy mạnh thực hiện phân cấp giữa tỉnh với huyện, giữa huyện với xã, đặc biệt quan tâm đến phân cấp công tác tổ chức và cán bộ, phân cấp lập quy hoạch, kế hoạch, phân cấp về đầu tư, phân cấp về ngân sách, phân cấp về ho ạt động quản lý hoạt động sự nghiệp… theo tinh thần Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ. Thực hiện mạnh mẽ phân cấp trong hệ thống hành chính đi đôi với nâng cao tính tập trung thống nhất trong việc ban hành thể chế. Quy định rõ trách nhiệm quyền hạn của từng cấp, từng tổ chức và cá nhân. 18
  19. Chấn chỉnh bộ máy hành chính theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu bộ máy hành chính trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục thực hiện tách chức năng công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, ngăn chặn, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Xây dựng cơ cấu công chức hợp lý gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức, cán bộ công chức. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. X em xét khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ với sự giám sát của cộng đồng. 4. Đ ẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, chú trọng đội ngũ cán bộ x ã, thị trấn. Phấn đấu đến năm 2010 có 90% cán bộ, công chức cấp huyện có trình độ đại học chuyên môn, 80% có trình độ trung cấp về lý luận trở lên và qua b ồi dưỡng về quản lý hành chính Nhà nước. 90% trở lên công chức x ã được đào tạo chuẩn hoá về chuyên môn, 70% trở lên cán bộ chuyên trách xã được đào tạo về chuyên môn và lý luận chính trị. Đổi mới và đưa vào nề nếp việc thực hiện quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nâng lương, nâng ngạch… Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Bảo đảm cho nhân dân tiếp xúc dễ dàng với cơ quan công quyền, có điều kiện kiểm tra cán bộ, công chức, nhất là những người trực tiếp làm việc với dân. 5. Thực hiện tốt cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính Nhà nước. Tăng thẩm quyền tự chủ về tài chính đối với các đ ơn vị sự nghiệp có thu theo quy định của Chính phủ. Phấn đấu đến năm 2010 có 100% số cơ quan hành chính thực hiện khoán biên chế và chi phí hành chính, 100% đơn vị sự nghiệp có thu chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính. 6. Đ ẩy mạnh công tác tuyên truyền về cải cách hành chính Nhà nước, tập trung tuyên truyền những nội dung của Chương trình tổng thể cải cách 19
  20. hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010. Thông q ua các phương tiện thông tin đại chúng để làm cho mọi người hiểu rõ chủ trương, chính sách, nội dung về cải cách hành chính Nhà nước và những lợi ích cơ bản do cải cách hành chính đem lại. 7. Tranh thủ các nguồn lực đầu tư, triệt để tiết kiệm chi ngân sách để xây dựng, triển khai chương trình hiện đại hoá công sở, tin học hoá hành chính. Phấn đấu đến năm 2010 có 100% số x ã được trang bị máy vi tính, máy phôtô coppy. 100% các cơ quan hành chính cấp huyện đủ điều kiện để nối mạng LAN, sử dụng các phần mềm dùng chung, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả công vụ. ii. những giải pháp trọng tâm công tác cải cách hành chính năm 2006. 1. Cải cách thể chế và thủ tục hành chính. Rà soát, đánh giá tình hình phân cấp quản lý Nhà nước hiện nay giữa cấp tỉnh với cấp huyện, giữa cấp huyện với cấp xã, trên cơ sở đó đề nghị cấp trên tiếp tục phân cấp hoặc điều chỉnh, sửa đổi phân cấp theo tinh thần Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ. Thực hiện việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện của Chính phủ. K iểm tra, rà soát các văn b ản quy phạm pháp luật. Qua rà soát để đề nghị với cơ quan ban hành văn bản bãi bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung. Triển khai xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của U BND cấp huyện và cấp xã theo quy chế làm việc mẫu do Chính phủ ban hành. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc khi quy chế làm việc của UBND huyện thay đổi. Tổ chức sửa đổi, bổ sung hoàn thiện Đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND cấp huyện; tập trung vào văn bản quy định việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo cơ chế “một cửa” bản quy chế tổ chức và hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản