Tiểu luận Đường lối CM của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chia sẻ: earthquake_nmt

Như chúng ta đã biết, chặng đường đổi mới cũng không phải là và không thể là một lộ trình đã được tính trước tất cả, đồng thuận tất cả. Đó là sự chung đúc những trăn trở, những ý tưởng, những sáng kiến của rất nhiều bộ óc, nhiều cơ sở, nhiều địa phương.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận Đường lối CM của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


MỤC LỤC


Lời mở đầu ...................................................................................................................... 2
I. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ......................................................................... 3
1. Khái niệm kinh tế thị trường ........................................................................................ 3
2. Sự cần thiết của kinh tế thị trường định hướng XHCN ................................................. 3
II. Sự hình thành và phát triển tư duy mới của Đảng về KTTT ......................................... 5
1. Tư duy kinh tế trước đổi mới ........................................................................................ 5
2. Tư duy kinh tế thời kì đổi mới ...................................................................................... 7
3. Tư duy mới của Đảng về KTTT là đúng đắn và cấn thiết.............................................. 9
4. Đảng tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới đất nước, hoàn thiện
tư duy về KTTT trong giai đoạn mới .............................................................................. 13
Kết luận ......................................................................................................................... 16
Tài liệu tham khảo ......................................................................................................... 17




nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 1
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, chặng đường đổi mới cũng không phải là và không thể là một lộ
trình đã được tính trước tất cả, đồng thuận tất cả. Đó là sự chung đúc những trăn trở, những ý
tưởng, những sáng kiến của rất nhiều bộ óc, nhiều cơ sở, nhiều địa phương. Đó cũng là một
quá trình vừa đi vừa tìm đường, vừa đi vừa điều chỉnh, đấu tranh với cái cũ, đấu tranh với
chính mình, thuyết phục nhau, chờ đợi nhau, rồi từng bước đi tới đồng thuận. Trên lộ trình
đó, có những bộ óc bứt phá, vươn lên trước và lần lượt cuốn hút cả tập thể tiến lên. Có cả
những sức ỳ, những nghi kỵ, những cản trở do chưa kịp nhận thức ra cái mới. Có những bộ
óc đã từng trì trệ, bỗng bừng tỉnh, vượt lên, tỏa sáng. Có những trường hợp sau khi vượt trội,
tỏa sáng lại ngưng trệ, lu mờ, bị đà tiến chung vượt qua. Lại có không ít bộ óc rất cấp tiến về
mặt này, nhưng lại chưa chuyển biến kịp về mặt kia. Nhưng tổng hợp lực của sự vận động là
tiến tới, tiến tới trong sự đồng thuận ngày càng cao...
Đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới chính thức từ năm 1986. Đối với nước ta,
đổi mới là con đường vươn lên để tự khẳng định mình trước thế giới hiện đại, là yêu cầu bức
thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn. Sau 25 năm đổi mới Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn về cả kinh tế và xã hội. Công tác lý luận của Đảng cũng có những
chuyển biến tích cực, góp phần tạo nên những khởi sắc chung của đất nước. Đảng đã không
ngừng đổi mới phương pháp tư duy lý luận, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, mở ra
những bước chuyển quan trọng, từng bước xây dựng và hoàn chỉnh đường lối đổi mới toàn
diện, làm cho nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ. Cần phải thấy rằng một trong
những đổi mới có ý nghĩa quan trọng nhất và là tiền đề của mọi sự phát triển đó chính là đổi
mới tư duy kinh tế của Đảng.
Đến nay, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, nước ta đã phát triển theo mô
hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu không thể
phủ nhận. Có được kết quả ấy là nhờ cả một quá trình phát triển không ngừng của tư duy lý
luận, tư duy kinh tế của Đảng cộng sản Việt Nam.
Việt Nam
. Trước thực tế đó, với vốn kiến thức đã học cùng với tìm tòi tài liệu em đã
lựa chọn đề tài tiểu luận “Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm
đổi mới ở nước ta” làm bài tiểu luận của mình.
Nội dung bài tiểu luận em trình bày bao gồm 2 phần chính
I. Kinh tế thị trường định hướng XHCN
II. Sự hình thành và phát triển tư duy mới của Đảng về KTTT
Với những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, những sai sót mắc phải trong
khi thực hiện sẽ là điều không thể tránh khỏi, em rất mong nhận được những lời phê bình và
góp ý quý báu của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn.


nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 2
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


I. KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

1. Khái niệm kinh tế thị trường
Theo quan điểm của Samuelson : “ Một nền kinh tế thị trường là một cơ chế tinh vi để
phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị
trường. Nó là một phương tiện giao thông để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá
nhân khác nhau, không có bộ não trung tâm nó vẫn giải được bài toán mà máy tính lớn nhất
hiện nay cũng không thể giải nổi. Không ai thiết kế ra nó. Nó tự xuất hiện và nó đang thay
đổi cũng như xã hội loài người.”
Theo quan điểm của Đảng ta, một nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản của
nó do thị trường quyết định được xem là nền kinh tế thị trường. Nói cách khác nền kinh tế thị
trường chính là nền kinh tế hàng hoá chịu sự điều khiển của cơ chế thị trường. Nền kinh tế
này khác với nền tập trung ở chủ thể xác định các vấn đề cơ bản của nền kinh tế mà nền kinh
tế tập trung chủ thể này là nhà nước thông qua các mệnh lệnh hành chính. Chính sự khác biệt
này tạo ra sức mạnh và là động lực cho nền kinh tế phát triển.
Tại Việt Nam kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã xác định xây
dựng nền kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tức là có sự can thiệp
của nhà nước vào nền kinh tế nhưng không phải can thiệp vào nền kinh tế theo kiểu mệnh
lệnh hành chính mà can thiệp thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn định nền kinh
tế và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất và kinh doanh. Sự can
thiệp này được xem là cần thiết nhằm thiết lập khuôn khổ pháp luật phù hợp, sữa chữa những
khuyết tật của thị trường, đảm bảo sự công bằng xã hội và ổn định nền kinh tế. Phát triển
kinh tế phải dựa trên hai bàn tay là cơ chế thị trường và nhà nước: “điều hành một nền kinh
tế không có cả chính phủ lẫn thị trường thì cũng như định vỗ bằng một bàn tay”. Trong hoàn
cảnh nước ta thì sự can thiệp của nhà nước còn đóng vai trò giữ cho nền kinh tế đi theo đúng
định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Sự cần thiết của kinh tế thị trường định hướng XHCN
Kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại là
một công trình sáng tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi. Trước đây có
quan niệm cho rằng kinh tế hàng hoá là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Đây là quan
điểm sai. Đó là trình độ văn minh mà nhân loại đã đạt được, chứ không phải là phát minh
của chủ nghĩa tư bản.
Nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường nên chủ nghĩa tư bản đã đạt được những thành
tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất lao động xã hội.
Nhờ sử dụng kinh tế thị trường, quản lí xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã đạt được những
thành quả văn minh hành chính, văn minh công nghiệp, văn minh trí tuệ...


nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 3
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


Vì vậy chủ nghĩa xã hội cũng phải biết kế thừa và sử dụng các ưu điểm của kinh tế thị
trường, loại bỏ những khuyết tật của nó để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mô hình chủ
nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mô hình
này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất
nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công
tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là
bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không
tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế.
Đối với nước ta, một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp,
lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, muốn chuyển từ nền kinh tế còn kém phát triển lên sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì không còn con đường nào khác là phải phát triển kinh tế thị
trường. Kinh tế thị trường khắc phục được kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc, đẩy mạnh phân
công lao động xã hội phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động, khuyến khích
ứng dụng công nghệ- kĩ thuật mới nhằm tăng năng suất lao động, tăng số lượng, chủng loại,
hàng hoá, dịch vụ, thúc đẩy tích tụ tập trung sản suất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa
phương, các vùng lãnh thổ, thúc đẩy việc phát huy tính năng động sáng tạo của mỗi người
lao động, mỗi đơn vị kinh tế đông thời tạo ra cơ chế phân bổ và sử dụng các nguồn lực của
xã hội hợp lý, tiết kiệm. Vì vậy phát triển kinh tế thị trường được coi là chiếc đòn để xây
dựng chủ nghĩa xã hội, là phương tiện khách quan để xã hội hoá xã hội chủ nghĩa .
Trước đây có quan niệm cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội không thể
dung hợp với nhau, chúng là những thực thể xã hội tuyệt đối loại bỏ lẫn nhau. Đã là chủ
nghĩa xã hội thì không thể là kinh tế thị trường. Họ cho rằng kinh tế thị trường là chủ nghĩa
tư bản và khi đưa ra đòi hỏi trong hai điều kiện phải chọn lấy một. Họ hi vọng rằng trước sự
năng động hấp dẫn của kinh tế thị trường so với kinh tế bao cấp nhân dân sẽ chọn chủ nghĩa
tư bản nhưng họ đã sai kinh tế thị trường có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, nó như “ con
dao hai lưỡi” trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường là con đường
dẫn tới giàu có, văn minh, là bạn đồng hành của chủ nghĩa xã hội, nhưng nó cũng có thể dẫn
đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tự phát đi theo con đường tư bản chủ nghĩa trái với mục
tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã chọn. Vì vậy cần định hướng xã hội chủ nghĩa cho
kinh tế thị trường để kinh tế thị trường phát triển phục vụ cho xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội.




nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 4
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY MỚI CỦA ĐẢNG VỀ KTTT

1.Tư duy kinh tế trước đổi mới
1954- 1975 mô hình chủ nghĩa xã hội mới được xác lập trên thực tế ở miền Bắc. Đó là
mô hình chủ nghĩa xã hội chịu sự chi phối của quy luật chiến tranh khi miền Bắc giữ vai trò
là hậu phương của miền Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác
liệt, đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc. Những vấn đề kinh tế tạm lùi xuống
hàng thứ yếu, để rồi lại nổi lên hàng đầu khi chiến tranh kết thúc. Chiến tranh kết thúc cũng
có nghĩa là kinh tế miền Nam mất hẳn nguồn viện trợ Mỹ và chiến phí của Mỹ, mỗi năm
chừng 2 tỷ đô la. Còn kinh tế miền Bắc thì cũng không còn viện trợ của Trung Quốc vào
khoảng 400 triệu đô la mỗi năm. Một nền kinh tế kiệt quệ về nhiên liệu và nguyên liệu, lại
mất hẳn động lực phát triển do những biện pháp quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa được áp
dụng vội vã.
Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan
liêu, bao cấp với những điểm chủ yếu là:
Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên
hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiếp áp đặt từ trên xuống dưới.
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu tránh nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối
với quyết định của mình.
Thứ ba, quan hệ hàng hoá – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ
yếu.
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh
ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan.
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hoá thấp
hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá thị trường.
Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu
dùng cho cán bộ, công nhân viên, theo định mức qua hình thức tem phiếu.
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc
trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn.
a. Thời kỳ 1976-1982
Đường lối kinh tế chủ đạo của Việt Nam từ thời kỳ này là công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động (gồm công
nhân, nông dân tập thể, trí thức xã hội chủ nghĩa và lao động khác), xây dựng nền sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân trong đó có cả “do khuyết điểm, sai lầm của các cơ
quan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 5
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


xã hội” dẫn tới "chủ quan, nóng vội, đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước
quá cao so với khả năng, những chủ trương sản xuất, xây dựng, phân phối, lưu thông thiếu
căn cứ xác đáng, dẫn đến lãng phí lớn về sức người, sức của; ... rất bảo thủ, trì trệ trong việc
chấp hành đường lối của Đảng và nhiều nghị quyết của Trung ương, trong việc đánh giá và
vận dụng những khả năng về nhiều mặt của đất nước.... kéo dài cơ chế quản lý quan liêu bao
cấp với cách kế hoạch hóa gò bó, cứng nhắc, không đề cao trách nhiệm và mở rộng quyền
chủ động cho cơ sở, địa phương và ngành, và cũng không tập trung thích đáng những vấn đề
mà Trung ương cần và phải quản lý... duy trì quá lâu một số chính sách kinh tế không còn
thích hợp, cản trở sản xuất và không phát huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo
của những người lao động ... chưa nhạy bén trước những chuyển biến của tình hình, thiếu
những biện pháp có hiệu quả," Hậu quả nghiêm trọng phải kể hai cuộc đổi tiền năm 1975 (do
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thực hiện) và đổi tiền năm 1978 trên toàn quốc để thực thi
"đánh tư sản mại bản", tiêu diệt tiết kiệm vốn liếng của người dân và làm xáo trộn kinh tế
trầm trọng.
Nhận định tổng quát về thực trạng kinh tế nước ta, trong những năm cuối thập kỷ 70,
Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) tháng 8/1979 đã chỉ ra: Việt Nam đang đứng trước nhiều
khó khăn về kinh tế và đời sống; sản xuất phát triển chậm (tốc độ tăng tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân dưới 1%/năm); năng suất lao động quá thấp; đời sống nhân dân thiếu
thốn, nhiều hiện tượng trong xã hội có tính tiêu cực nghiêm trọng.
b. Thời kỳ 1982-1986
Năm 1982, Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Nam
trong thời kỳ 1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu
tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa bảo
đảm được tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh; thị trường, vật giá, tài chính,
tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn nhiều khó khăn". Vì thế, từ năm
1982, Đảng này quyết định Việt Nam sẽ tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp và coi
nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, và kết hợp nông
nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông
nghiệp hợp lý, tăng cường phân cấp cho địa phương trong công tác sản xuất và quản lý sản
xuất. Kinh tế quốc doanh vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, kinh tế gia đình được khuyến
khích. Thị trường không có tổ chức bị quản lý chặt chẽ.
Tuy nhiên, thời kỳ 1981-1985 kinh tế Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đã
đề ra trong nghị quyết đại hội V là cơ bản ổn định tình hình kinh tế-xã hội, ổn định đời sống
nhân dân. Sai lầm về tổng điều chỉnh giá - lương - tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất
nước đến những khó khăn mới. Nền kinh tế-xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Siêu
lạm phát xuất hiện và kéo dài.
Để vượt qua khó khăn, các địa phương nhất là địa phương ở Nam Bộ đã có những
biện pháp “xé rào” như khoán hộ, khoán sản phẩm, bù giá vào lương, tăng cường quan hệ
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 6
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


ngoại thương với các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa. Những biện pháp “xé rào” này đã
mang lại những hiệu quả nhất định trong tăng năng suất sản xuất, giải quyết tình trạng khan
hiếm hàng hóa và nợ lương người lao động. Vì thế, chúng đã thu hút được sự chú ý của các
nhà lãnh đạo Đảng và chính phủ. Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (hay Khoán
100 gọi dựa theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư trung ương Đảng CSVN khóa IV) và mở rộng
quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các xí nghi ệp quốc doanh (nghị quyết 25/CP của
Chính phủ) được Đảng và Chính phủ cho phép thí điểm và dần áp dụng rộng rãi từ năm
1981. Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, một số nhà nghiên cứu kinh tế gồm cả những
người được đào tạo thời Việt Nam Cộng hòa đã được lãnh đạo Đảng triệu tập để nghiên cứu,
chuẩn bị cho Đổi Mới.
Những thực tiễn “xé rào” và lý luận mới trên đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam triển
khai chính thức chương trình Đổi mới tư duy quản lý kinh tế mà thể hiện trước hết là nghị
quyết của Đại hội VI tổ chức vào giữa tháng 12 năm 1986. Đề cập tới sự cần thiết đổi mới cơ
chế quản lí kinh tế, Đại hội VI khẳng định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi
mới cơ chế quản lí kinh tế. Cơ chế quản lí tập trung quản lí tập trung quan liêu, bao cấp từ
nhiều năm nay không tạo được động lực động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ
nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm
giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều
hiện tượng tiêu cực trong xã hội”. Chính vì vậy, việc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế quản lí
kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách.

2. Tư duy kinh tế thời kì đổi mới
a. Tư duy của Đảng về KTTT từ Đại hội VI đến Đại hội VIII
Đây là giai đoạn hình thành và phát triển tư duy của Đảng về kinh tế thị trường.
So với thời kì trước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay đổi căn bản và
sâu sắc.
Một là, kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành
tựu phát triển chung của nhân loại.
Kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu dài, nhưng cho đến nay nó mới biểu hiện rõ
rệt nhất trong chủ nghĩa tư bản. Nếu trước chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường còn ở thời kì
manh nha,trình độ thấp thì trong chủ nghĩa tư bản nó đạt trình độ cao đến mức chi phối toàn
bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó. Điều đó khiến người ta nghĩ rằng kinh tế thị
trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản không sản sinh ra kinh tế
hàng hóa, do đó, kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hóa ở trình độ cao không phải
là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Chỉ
có thể chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hay cách thức sử dụng kinh tế thị trường theo
lợi nhuận tối đa của chủ nghĩa tư bản mới là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.


nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 7
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


Hai là, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Kinh tế thị trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương thức tổ chức,
vận hành nền kinh tế, là phương tiện điều tiết kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân
bổ các nguồn lực kinh tế và điều tiết mối quan hệ giữa người với người. Kinh tế thị trường
chỉ đối lập với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội.Bản
thân kinh tế thị trường không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh tế cơ bản của xã
hội. Là thành tựu chung của của văn minh nhân loại, kinh tế thị trường tồn tại và phát triển ở
nhiều phươngthức sản xuất khác nhau. Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ tư
hữu, vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho chúng. Vì vậy, kinh tế thị trường
không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội và cả trong chủ nghĩa xã hội. Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường không phải là
phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và tất nhiên, xây dựng
kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng không dẫn đến phủ định kinh tế thị trường.
Ba là, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó còn tồn tại khách quan
trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị
trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa tư bản không sinh ra kinh tế thị trường nhưng đã biết kế
thừa và khai thác có hiệu quả các lợi thế của kinh tế thị trường để phát triển. Thực tiễn đổi
mới ở nước ta cũng đã chứng minh sự cần thiết và hiệu quả của việc sử dụng kinh tế thị
trường làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội.
b. Tư duy của Đảng về KTTT từ Đại hội IX đến Đại hội X
Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng (4/2001): xác định nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh t ế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội X: kế thừa tư duy của Đại hội IX, Đại hội X đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ
bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, thể hiện ở
bốn tiêu chí là:
Về mục đích phát triển: mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta nhằm thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” giải
phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao cao đời sống nhân dân; đẩy
mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ
người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn.
Về phương hướng phát triển: phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế,trong mỗi
cá nhân và mọi vùng miền…phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế. Trong
nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 8
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Về định hướng xã hội và phân phối: thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với
phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu
phát triển con người. hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.
Trong lĩnh vực phân phối, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua chế độ
phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội. Đồng thời để huy
động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển, chúng ta còn thực hiện phân phối theo mức
đóng góp và các nguồn lực khác.
Về quản lý: phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân. Bảo đảm vai trò quản lý,
điều tiết của nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của kinh tế thị trường, bảo đảm quyền lợi chính đáng của mọi người.

3. Tư duy mới của Đảng về KTTT là đúng đắn và cần thiết
a. Các bước đổi mới tư duy về KTTT của Đảng
Bước 1 : Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta là kinh tế
thị trường. Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý chứ không phải nói về
toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế. Do đó, trong khi phê phán nghiêm
khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp và đề ra chủ trương đổi mới quản lý kinh
tế (một bộ phận của đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ
chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”. Phát triển thêm một bước, Đại hội
VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
nhà nước”.
Bước 2 : Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản,
không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
(tháng 1/1994) nhận định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đang hình thành. Và cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế
vận hành của nền kinh tế. Có nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý
luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa
tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại”. Theo nhận định này, thị trường, kinh
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 9
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


tế thị trường đã từng tồn tại và phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau. Nó có
trước chủ nghĩa tư bản, trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản. Nếu trước chủ
nghĩa tư bản nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì
trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của
con người trong xã hội đó, làm cho người ta nghĩa rằng nó chính là chủ nghĩa tư bản. Như
vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn
tại là tất yếu. Vấn đề ở đây là liệu kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không,
và liệu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên
một nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận động theo
các quy luậtd dặc thù của chủ nghĩa xã hội hay không? Câu trả lời là không. Quan điểm này
cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII (1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai
trò quản lý của Nhà nước theo định hướng, xã hội chủ nghĩa”.
Bước 3 : Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng
quát của nước ta trong thời kỳ quá độ. Đại hội IX của Đảng (2001) ghi rõ: Đảng và Nhà
nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản
xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao
đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản
xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập
thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Theo Nghị quyết của Đại hội IX, các thành
phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX ra Ngh ị quyết: Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng
cao hiệu quả kinh tế tập thể; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều
kiện phát triển kinh tế tư nhân, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 -
2010; khẳng định kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là Hợp tác xã,
dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể liên kết rộng rãi người lao động, các hộ
sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không giới hạn quy mô, lĩnh vực, địa bàn; phân phối
theo lao động, vốn và mức độ tham gia dịch vụ. Phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu
dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; kinh tế tư nhân được phát triển
rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm, không hạn
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 10
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


chế về quy mô; những đảng viên đang làm chủ các doanh nghiệp tư nhân chấp hành tốt Điều
lệ Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước thì vẫn là đảng viên của Đảng; Đại hội IX
cũng nhấn mạnh việc phát triển nền kinh tế nước ta ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, phải
tạo ra bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, xây dựng
đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động và khẩn trương hơn trong
hội nhập kinh tế quốc tế. Những chủ trương chính sách kinh tế mới của Đại hội IX và các
Nghị quyết Trung ương (khóa IX) đề ra đã nhanh chóng đi vào cu ộc sống và phát huy tác
dụng tích cực tạo nhiều cơ hội cho nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng
trưởng khá cao, bình quân trong 5 năm (2001 - 2005) là 7,51% và phát triển tương đối toàn
diện; lương thực xuất khẩu hàng năm từ 4 đến 5 triệu tấn gạo. Đời sống nhân dân tiếp tục
được cải thiện, đặc biệt là thành tựu về xóa đói giảm nghèo, chúng ta đã đạt chuẩn quốc tế
vào năm 2003.
Bước 4 : Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trương toàn cầu hóa,
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và đầy đủ hơn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
(tháng 4/2006) đã xác định 5 năm (2006 - 2010) có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn
thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI và đề ra mục tiêu
phương hướng tổng quát trong lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới nền kinh tế. Đó là, nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH, HĐH
đất nước... sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Từ mục tiêu tổng quát
trên trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội X chỉ rõ một số quan điểm lớn về đổi mới như: Đẩy
mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đây là thể hiện bước tiến về nhận thức
của Đảng ta, bắt kịp xu thế phát triển mới của thế giới. Đại hội X chủ trương phát triển
nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và
hiện đại hóa; tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ; tạo bước ngoặt về hội nhập
kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại. Đảng tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới
kinh tế, đổi mới đất nước trong giai đoạn mới.
b. Đổi mới tư duy về KTTT của Đảng tạo ra sức mạnh phát triển đất nước
25 năm đổi mới, tư duy về kinh tế thị trường của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn.
Nếu ở Đại hội VI, Đảng ta mới khẳng định sự cần thiết phải sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền
tệ dưới chủ nghĩa xã hội thì đến Đại hội VII và Đại hội VIII Đảng đã khẳng định cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội IX tiếp tục
đánh dấu thêm một bước phát triển mới trong đổi mới tư duy lý luận kinh tế của Đảng, đã
xác định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh t ế
tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội X làm sáng tỏ thêm
nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là
nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, nâng cao vai trò và hiệu
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 11
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại
hình thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần
kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nền kinh tế không chỉ độc tôn bàn tay kế
hoạch của Nhà nước, mà phải được vận hành bởi hai bàn tay: thị trường và Nhà nước. Thực
hiện cơ chế thị trường đã khuyến khích sự làm giàu hợp pháp, tháo gỡ sự kìm hãm sản xuất
và lưu thông. Cơ chế thị trường cũng đã góp phần phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các
khu vực trong nước, giữa thành thị và nông thôn, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng có lợi, cải thiện đời sống nhân dân. Sự phá bỏ độc quyền, tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp phát huy tính
năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Như vậy, sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát triển so với
trước :
- Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về
tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm
nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba chế độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư
nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác
nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân),
kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải nhanh
chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ là những
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đến quan niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội, phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng
quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản
xuất.
- Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa bỏ nhanh
chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu đã là nền tảng của nền kinh
tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc thì phải trải qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển
với những bước thích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế
tư nhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế và phát triển
lực lượng sản xuất.
- Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung,
thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến phân biệt rõ
chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý
nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý
kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận
vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế
hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên bình diện vĩ mô, còn thị
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 12
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và
phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh.
- Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân phối theo lao
động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả
lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các
nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Công bằng
xã hội thể hiện không phải ở chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở chỗ phân phối hợp lý
tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đến có cơ hội phát
triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Không ngăn cấm mọi sự làm giàu mà trái lại khuyến
khích mọi người làm giàu chính đáng theo đúng pháp luật, đồng thời thực hiện xóa đói giả m
nghèo, hạn chế phân cực quá đáng hai đầu.

4. Đảng tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới đất nước, hoàn thiện tư
duy về KTTT trong giai đoạn mới
Thực tế cuộc sống cho thấy, đang có xu hướng bằng lòng với những thành tựu đạt
được. Ngược lại với xu hướng trên, lại có biểu hiện nóng vội, quá chú trọng đến tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao mà chưa quan tâm, chú trọng đúng mức đến phát triển bền vững và chất
lượng. Hơn nữa, có nơi còn có biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm cho lãnh đạo cấp trên, xem đổi
mới tư duy là trách nhiệm của những người lãnh đạo, của các nhà quản lý. Đổi mới tư duy
kinh tế của chúng ta chưa theo kịp với những biến đổi nhanh chóng của thời đại, chưa giải
quyết thỏa đáng những đòi hỏi từ thực tiễn đặt ra. Do vậy, để giải quyết tốt những vấn đề từ
thực tiễn cuộc sống, cũng như lý luận kinh tế thì trong thời gian tới cần phải tiếp tục đổi mới
tư duy kinh tế.
Trong bối cảnh mới, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào môi trường khu vực
và quốc tế, cần phải nhận thức được rằng: luôn luôn chủ động, sáng tạo và dựa vào nội lực.
Để từ đó thấy rằng: mọi chủ trương chính sách tiếp tục đổi mới kinh tế phải coi ưu tiên số
một là giải phóng lực lượng sản xuất và mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của xã hội nhằm tất
cả vì mục tiêu phát triển.
Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh, phát
triển bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng đại hàng đầu, là nhiệm vụ trung tâm.
Bên cạnh đó, phải lưu ý lãnh đạo thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ song song: CNH,
HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và phát triển mạnh nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Cần phải nhận thức sâu sắc rằng thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước trước mắt, cũng như lâu dài không thể tách rời sự phát triển ngày càng hiện đại của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do đo, là một trong những vấn đề có tính “hạt nhân”
của sự tiếp tục đổi mới lãnh đạo kinh tế của Đảng là đề ra và thực hiện được những chính
sách kinh tế có tác động tích cực thúc đẩy mạnh nền kinh tế thị trường phát triển theo định


nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 13
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


hướng XHCN và thực hiện có hiệu quả các chính sách CNH, HĐH đất nước để từng bước
thực hiện được mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Cũng cần phải giải quyết tốt mâu thuẫn giữa nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế với yêu
cầu bắt buộc phải tiến lên theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Đồng thời tập trung lãnh
đạo đẩy lùi những nguy cơ tiềm ẩn có thể đưa nền kinh tế chệch định hướng XHCN; lãnh
đạo phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước
đi và từng chính sách phát triển. Vì đây là một đặc trưng của định hướng XHCN nền kinh tế
thị trường ở nước ta, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội ta.
Ngoài ra, phải nhanh chóng khắc phục nguy cơ tiềm ẩn suy thoái kinh tế do tác động
của khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới, quyết tâm giảm tỷ lệ lạm phát và tăng giá xuống
ở mức một con số; bảo đảm và nâng cao đời sống dân sinh cả về vật chất và tinh thần.
Điều quan trọng là trong sự điều hành, nắm bắt, quản lý đó cần nâng cao năng lực lãnh
đạo kinh tế của Đảng, đặc biệt nâng cao năng lực nắm vững các quy luật khách quan của
kinh tế thị trường, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra những chủ
trương, chính sách kinh tế đúng đắn, khai thác được tối đa những tiềm năng trong nước và
ngoài nước cho sự nghiệp phát triển kinh tế và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH đất
nước trong từng thời kỳ phát triển của đất nước. Nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước, lãnh
đạo quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thành
công các chính sách đổi mới kinh tế trong bất cứ tình huống khó khăn nào.
Bạn bè quốc tế thời gian qua cũng đánh giá cao những thành tựu kinh tế to lớn mà Việt
Nam đạt được trong những năm qua, cho rằng Việt Nam là một hình mẫu cần được nghiên
cứu về kinh nghiệm vượt qua khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới, phát triển kinh tế đi
cùng với công bằng xã hội. Và còn rất nhiều những nhận định lạc quan nữa về sự phát triển
đáng khích lệ của Việt Nam từ các tổ chức quốc tế, các quốc gia cùng hợp tác trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội.
Rõ ràng là, cho đến nay Đảng ta vẫn là lực lượng chính trị duy nhất đảm nhận vai trò
tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới đất nước giai đoạn mới từ nay về sau -
giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và phát triển bền vững hơn.
Chính sách “đổi mới” được xem là lối thoát cho cuộc khủng hoảng về chính sách kinh
tế ở nước ta kéo dài mấy thập kỷ. Nó khơi thông dòng chảy cho các hoạt động kinh tế. Tuy
nhiên, nó không phải là lời giải cho những vấn đề cơ bản của kinh tế Việt Nam, của xã hội
Việt Nam. Bàn về vấn đề nhạy cảm này cũng chính là chúng ta chúng ta đi tim đáp án cho 1
loạt câu hỏi nhức nhối hiện nay:
- Với sự phát triển của kinh tế cá thể, tư nhân, kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu? Sẽ trở thành
một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển ư? Làm thế nào hòa hợp được với định hướng xã
hội chủ nghĩa?
- Với kinh tế thị trường thì tránh sao được phân hóa giàu nghèo trong lớp người tiểu sản
xuất, tránh sao được “hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản”? Ai đó đã gắn chủ nghĩa
nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 14
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


xã hội với nền kinh tế thị trường, nhưng chưa có ai ch ứng minh được chúng gắn với nhau
như thế nào!
- Với chính sách “đổi mới”, chúng ta đang ở vào thời điểm nào của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội? Những chính sách kinh tế đặc trưng của thời điểm ấy là gì? Đến lúc nào thì
chính sách “đổi mới” hết tác dụng và phải thay bằng chính sách khác?
- Với sự phá sản của mô hình xã hội chủ nghĩa Liên Xô, từ nay người ta phải hiểu chủ nghĩa
xã hội theo mô hình nào, theo những đặc trưng nào? Phải hiểu định hướng xã hội chủ nghĩa
theo những định hướng nào, đặc trưng nào?
- Đạt đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như Liên Xô, như Đông Âu, mà vẫn thấy
chưa đủ chín muồi để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, vậy thì Việt Nam sẽ phải rút ra kết
luận như thế nào cho con đường phát triển hướng tới chủ nghĩa xã hội của mình? Việt Nam
sẽ phải trải qua những “bước quá độ nhỏ” như thế nào để hướng tới mục tiêu đó?
- Cuối cùng thì cũng vẫn phải quay về với những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mac-Lenin.
Những phát hiện của Mac-Lenin về chủ nghĩa tư bản có còn đúng nữa không? Những dự
đoán của các ông về xã hội tương lai có còn đúng nữa không? Điểm nào còn đúng, điểm nào
là sai?
- Chỉ điểm sơ đầu việc đã thấy ngổn ngang những vấn đề. Những cuộc tranh luận đang chờ
đón chúng ta. Nếu tiếp tục tìm tòi, tranh luận theo kiểu ấp úng, né tránh, kiêng kỵ thì khôn g
biết đến bao giờ chúng ta mới tiếp cận được chân lý. Phải có những nhóm nghiên cứu, những
diễn đàn, những câu lạc bộ, những “think tank” với tinh thần cởi mở, chỉ lấy chân lý làm
trọng, không kiêng kỵ, không cho phép bất cứ ai lên giọng dạy đời, chụp mũ. Lại phải có
những người, hoặc nhóm người, đủ khả năng gạn lọc những gì là chân lý để hình thành nên
những quan điểm, những chương trình, những chính sách sẵn sàng đưa vào cuộc sống.
Cả nước đang ý thức được sự cần thiết của thay đổi, của một tư duy mới cho nền kinh
tế xã hội nói chung và một chiến lược phát triển cho tương lai. Bài học lớn nhất cho tương lai
Việt Nam là cần thay đổi tư duy lẫn chiến lược phát triển cho phù hợp với điều kiện của đất
nước, xu hướng phát triển của thế giới và của thời đại.




nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 15
Tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong hơn 20 năm đổi mới ở nước ta


KẾT LUẬN
Qua 25 năm, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đạt được những thành tựu như ngày
hôm nay là nhờ có Đảng lãnh đạo và do Đảng đã luôn luôn chủ động, sáng tạo trong đổi mới
tư duy về kinh tế. Đường lối và chính sách đổi mới từ Đại hội VI (1986) của Đảng đã đặt cơ
sở, nền tảng ban đầu cho giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta. Đảng đã đề
ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, trong đó có đổi mới tư duy về kinh tế thị trường,
bước đi mạnh dạn và đầy thành công, tạo ra một thời kì mới, tương lai mới cho nền kinh tế
Việt Nam.
25 năm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội vừa qua không phải là một tiến trình
thẳng tắp luôn đi lên về mọi mặt và trong mọi lúc. Trái lại, đó là những chặng đường gian
khó, có thăng trầm, có những bước tiến suôn sẻ nhẹ nhàng và cũng có những bước tiến trầy
trật, vất vả, thậm chí có cả sự do dự, ngập ngừng. Nhìn lại 25 năm đổi mới và phát triển,
thành tựu là to lớn, như một cuộc đổi đời so với mấy chục năm trước đây. Nhưng thành tựu
ấy chưa phát huy được hết khả năng và tiềm năng, cũng chưa đáp ứng được hết nguyện
vọng và đòi hỏi của dân tộc ta. Khó khăn và thách thức luôn luôn tồn tại. Chặng đường sắp
tới của đổi mới và phát triển là chặng đường tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn,
kiên quyết hơn để khắc phục những yếu kém còn tồn tại, phát huy những thế mạnh của đất
nước.
Song hành với chặng đường đó là sự hoàn thiện tư duy về kinh tế. Tư duy, nhận thức
bao giờ cũng là một quá trình đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Bởi vậy, bám sát thực tiễn nghiên cứu và tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận - đó chính là
yêu cầu to lớn mà thực tiễn đặt ra cho hoạt động lý luận của Đảng hôm nay.
Với phương châm "Hãy bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ cho câu trả lời", hy vọng
rằng từng bước, từng bước, thực tiễn sẽ làm góp phần làm phong phú thêm lý luận về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã chọn.




nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 16
Tiểu luận Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ĐHBKHN


Tài liệu tham khảo
- http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/tieu-luan-qua-trinh-doi-moi-tu-duy-kinh-te-o-viet-nam-
giai-doan-1975-den-nay-.206139.html (TRẦN THỊ CHI- C12BH1)
- Giáo trình Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (NXB CTQG)
- Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (NXB CTQG)
- Các Văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (NXB Thống kê)
- Website ĐCSVN http://www.cpv.org.vn
……………………………




nang_trong_dem_90@yahoo.com Page 17
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản