Tiểu luận: Gía trị thặng dư sử dụng vào việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Chia sẻ: Tran Tuan Hung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
689
lượt xem
456
download

Tiểu luận: Gía trị thặng dư sử dụng vào việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lấy cơ sở nghiên cứu là trường phái kinh tế chính trị cổ điển, mà đại biểu chính là David Ricardo, Karx Marx và Engels đã xây dựng nên trường phái kinh tế chính trị Macxít và sau này được lênin củng cố thành kinh tế chính trị Mac - Lênin. Kinh tế chính trị Mac - Lênin đã đưa ra những luận chứng có tính chất quá độ lịch sử của chủ nghĩa tư bản và tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và hướng tới chủ nghĩa cộng sản. Quyển I của bộ tư bản có...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Gía trị thặng dư sử dụng vào việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá

  1. Tiểu luận Gía trị thặng dư sử dụng vào việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá 1
  2. MỤC LỤC(ĐỀ CƢƠNG CHI TIẾT) 1. LỜI MỞ ĐẦU. ............................................................................................. 4 2. NỘI DUNG. ................................................................................................. 5 2.1.Cơ sở lý luận của giá trị thặng dư, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối, mối quan hệ giữa hai phương pháp này. ...................................................................................................... 5 Phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối .................................................... 8 2.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: .............................................................................................................. 13 2.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được vận dụng vào trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta hiện nay. ............................................................................................................. 14 Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá................................................ 15 2
  3. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ............................................................... 16 Kết quả .................................................................................................. 21 3. KẾT LUẬN. ............................................................................................... 24 3
  4. 1. LỜI MỞ ĐẦU. Lấy cơ sở nghiên cứu là trƣờng phái kinh tế chính trị cổ điển, mà đại biểu chính là David Ricardo, Karx Marx và Engels đã xây dựng nên trƣờng phái kinh tế chính trị Macxít và sau này đƣợc lênin củng cố thành kinh tế chính trị Mac - Lênin. Kinh tế chính trị Mac - Lênin đã đƣa ra những luận chứng có tính chất quá độ lịch sử của chủ nghĩa tƣ bản và tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và hƣớng tới chủ nghĩa cộng sản. Quyển I của bộ tƣ bản có tựa đề là “Về tƣ bản” đƣợc K.Marx cho xuất bản năm 1867, trong tác phẩm này K.Marx đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tƣ bản mà trƣớc đó, chƣa ai có thể làm đƣợc, nó đƣợc đánh giá nhƣ “tiếng sét nổ giữa bầu trời quang đãng của chủ nghĩa tƣ bản”, một trong số các học thuyết đƣợc nêu ra là thuyết giá trị thặng dƣ, nhờ có học thuyết này mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa đƣợc vạch trần, phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa đƣợc nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phƣơng pháp sản xuất chính là phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tƣơng đối và phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối đƣợc áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tƣ bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đƣa xã hội tƣ bản ngày càng phát triển. Hai phƣơng pháp này đã đƣợc đƣa vào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Sau ngày đất nƣớc dành đƣợc độc lập, đảng và nhà nƣớc ta đã nhận định rằng để đƣa đất nƣớc phát triển thì con đƣờng duy nhất để đƣa nƣớc ta phát triển là đƣa nƣớc ta trở thành một nƣớc có nền kinh tế hiện đại, để làm đƣợc điều đó trƣớc hết chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì mới từng bƣớc đƣa nƣớc ta trở thành một nƣớc công nghiệp hiện đại. Do vận dụng không hợp lý những nguyên tắc trong từng thời kì khác nhau của đất nƣớc nên chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng đất nƣớc, đạt đƣợc ít thành quả trong quá trình xây đựng đất nƣớc. Nhƣng từ khi bƣớc vào thời kì đổi mới năm 1986, từ 4
  5. những kinh nghiệm thu đƣợc sau nhiều năm và kinh nghiệm của thế giới, đảng ta đã có quan điểm hết sức rõ ràng (tại đại hộigiữa nhiệm khoá VII): “Những tiến bộ về kinh tế, xã hội cùng với sự mở rộng và tăng cƣờng hợp tác phát triển với các nƣớc, các tổ chức quốc tế cho phép chúng ta đẩy tới một bƣớc công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc nhằm tạo thêm công ăn việc làm cho ngƣời lao động, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, từng bƣớc cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đƣờng thoát khỏi tụt hậu xa hơn so với các nƣớc xung quanh, giữ đƣợc ổn định chính trị và xã hội, bảo vệ đƣợc độc lập, chủ quyền và định hƣớng phát triển xã hội chủ nghĩa”. 2. NỘI DUNG. 2.1.Cơ sở lý luận của giá trị thặng dư, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối, mối quan hệ giữa hai phương pháp này. Đã có nhiều ngƣời đƣa ra các phạm trù giá trị thặng dƣ, nhƣng họ không chỉ ra đƣợc sự đúng đắn của phạm trù này, K.Marx là ngƣời đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh học thuyết giá trị thặng dƣ.Và theo K.Marx thì “giá trị thặng dƣ là giá trị do sức lao động của công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động và bị nhà tƣ bản chiếm đoạt”, nó là kêt quả lao động không công của ngƣời công nhân làm thuê. Khi nói đến tƣ bản ngƣời ta thƣờng liên tƣởng đến tiền, đến tƣ liệu sản xuất, nhƣng không phải nhƣ vậy, mà tƣ bản là quan hệ sản xuất hàng hoá, là mối quan hệ sản xuất giữa giữa giai cấp tƣ sản và giai cấp công nhân làm thuê, tƣ bản là giá trị mang lại giá trị thặng dƣ bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê. Bởi vậy, cũng dễ hiểu khi mục đích của giai cấp tƣ sản là giá trị thặng dƣ. Nhƣng để sản xuất giá trị thặng dƣ, trƣớc 5
  6. hết nhà tƣ bản phải sản xuất ra hàng hoá có giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hoá, là vật mang giá trị và giá trị thặng dƣ. Đây cũng là quá trình nhà tƣ bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tƣ liệu sản xuất để sản xuất giá trị thặng dƣ. Bởi thế mỗi sản phẩm đƣợc làm ra đều đƣợc kiểm soát bởi nhà tƣ bản và thuộc sở hữu của nhà tƣ bản. Trong quá trình sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân lao động làm thuê sử dụng tƣ liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao động trừu tƣợng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dƣ. Ví dụ sau sẽ minh hoạ rõ về giá trị thặng dƣ: Giả sử để chế tạo 1kg sợi, nhà tƣ bản phải ứng ra số tiền là 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 10 giờ. Tổng cộng số tiền ứng ra là 28.000 đơn vị tiền tệ. Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể công nhân sử dụng máy móc để chuyển 1kg bông thành 1kg sợi, Theo đó giá trị của bông và hao mòn của máy móc đƣợc chuyển vào sợi, bằng lao động trừu tƣợng công nhân tạo ra giá trị mới nhập vào sợi. Trong 5 giờ công nhân đã chuyển đƣợc 1kg bông thành 1kg sợi thì giá trị của 1kg sợi là: + Giá trị 1kg bông chuyển vào: 20.000 đơn vị + Hao mòn máy móc: 3.000 đơn vị + Giá trị mới tạo ra (bằng giá trị sức lao động): 5.000 đơn vị Tổng cộng: 28.000 đơn vị Nếu quá trình lao động dừng ở đây thì nhà tƣ bản không thu đƣợc ít giá trị thặng dƣ nào. Nhƣng nhà tƣ bản đã mua sức lao động trong 10 giờ nên 5 giờ tiếp theo nhà tƣ bản không phải trả công nữa mà chỉ cần phải chi thêm 2.000 đơn vị tiền tệ để mua 1kg bông và 3.000 đơn vị hao mòn máy móc nhƣng sẽ có thêm 1kg sợi. 6
  7. Tổng số tiền nhà tƣ bản bỏ ra để có 2kg sợi: + Tiền mua bông: 20.000 x 20 = 40.000 đơn vị + Hao mòn máy móc trong 10 tiếng 3.000 x 2 = 6.000 đơn vị + Tiền lƣơng cả ngày 10 tiếng: = 5.000 đơn vị Tổng cộng: = 51.000 đơn vị Giá trị sợi nhà tƣ bản thu đƣợc 28.000*2 = 56.000 đơn vị Nhƣ vậy nhà tƣ bản thu đƣợc giá trị thặng dƣ = 56.000 - 51.000 = 5.000 đơn vị Từ ví dụ trên đây có thể thấy đích xác đƣợc giá trị thặng dƣ từ đâu mà có, cái mà nhà tƣ bản thu đƣợc là cái gì, nguồn gốc sâu xa của nó. Đó là cơ sở của sự giàu có của giai cấp tƣ sản, cho nên K.Marx đã viết “Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của tƣ bản quy lại là ở chỗ tƣ bản chi phối đƣợc một số lƣợng lao động không công nhất định của ngƣời khác”. Nhà tƣ bản làm đƣợc điều đó vì họ có trong tay tƣ liệu sản xuất, còn ngƣời lao động không có tƣ liệu sản xuất chỉ có sức khoẻ, điều duy nhất ngƣời công nhân có thể làm là bán sức lao động của mình để lấy tiền luôi sống bản thân và gia đình của họ. Khi đó sức lao động trở thành hàng hoá, giá trị sức lao động là điều kiện quan trọng để sản xuất ra giá trị thặng dƣ. Nhƣ vậy, theo K.Marx giá trị sản phẩm đƣợc khái quát theo công thức sau: c+v+m Trong đó: c: giá trị tƣ liệu sản xuất v: giá trị của sức lao động m: giá trị thặng dƣ Khi thu đƣợc giá trị thặng dƣ nhà tƣ bản sẽ chia nó làm nhiều phần, sử dụng vào những mục đich khác nhau, trong đó một phần rất lớn dùng mua tƣ liệu sản xuất, để tái mở rộng sản xuất nhằm đem lại nhiều giá trị thặng dƣ hơn. 7
  8. Đã có nhiều phƣơng pháp đƣợc dùng để tạo ra giá trị thặng dƣ, nhƣng hai phƣơng pháp đƣợc sử dụng chủ yếu là phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối và phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tƣơng đối. Mỗi phƣơng pháp đại diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tƣ sản, cũng nhƣ những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội. Phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối đƣợc áp dụng ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tƣ bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao động thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trƣờng thủ công. Đó là sự gia tăng về mặt lƣợng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dƣ. Bởi phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối là giá trị thặng dƣ thu đƣợc do kéo dài ngày lao động vƣợt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu là không thay đổi. Có nghĩa là khi nhà tƣ bản muốn tăng giá trị thặng dƣ, thì nhà tƣ bản sẽ mua thêm máy móc mua, thêm tƣ liệu sản xuât, thuê thêm công nhân để sản xuất ra hàng hóa; nhƣng móc, chỉ mua thêm nguyên liệu sản xuất, và bắt công nhân hiện có phải cung cấp thêm một lƣợng lao động, đồng thời tận dụng triệt để công suất của máy móc hiện có. Cái lợi ở đây là nhà tƣ bản không cần ứng thêm tƣ bản, thuê thêm công nhân, mua thêm máy móc thiết bị, đồng thời máy móc sẽ đƣợc khấu hao nhanh hơn, hao mòn và chi phí bảo quản giảm đi rất nhiều, thời gian thu lợi nhuận sẽ dài hơn. VD: Một ngày ngƣời công nhân lao động 8 giờ, trong đó thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dƣ là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10.000 đơn vị tiền tệ, thì trong một ngày ngƣời công nhân tạo ra một lƣợng giá trị mới là 80.000, bao gồm 40.000 là chi phí sản phẩm và 40.000 là giá trị thặng dƣ tuyệt đối, tỷ suất giá trị thặng dƣ là 100%. Nhƣng khi kéo dài thời gian lao động ra thêm 2 giờ với điều kiện các yếu tố khác không đổi thì giá trị thặng dƣ tuyệt đối tăng lên là 60.000, nhà tƣ bản đƣợc lợi thêm 20.000 đơn vị 8
  9. so với trƣớc đó, tỷ suất thặng dƣ là 150%.(Tỷ suất giá trị thặng dƣ biểu hiện của trình độ bóc lột giá trị thặng dƣ). Nhà tƣ bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của ngƣời công nhân làm thuê, nhƣng thực tế thì không cho phép họ làm nhƣ vậy trong một thời gian quá dài. Vì những việc làm đó là vƣợt quá giớ hạn sinh lí của ngƣời công nhân, một ngƣời có thể duy trì mãi một cƣờng độ lao động với năng suất cao trong một thời gian dài là điều không thể có đƣợc, họ cần phải có thời gian ăn ngủ, nghỉ ngơi giải trí nhằm hồi phục sức khoẻ. Thật dễ hiểu khi giai cấp tƣ bản gặp phải sự kháng cự của giai cấp công nhân. Giai cấp tƣ sản muốn kéo dài thời gian lao động trong ngày, còn giai cấp công nhân muốn rút ngắn thời gian lao động, do đó độ dài ngày lao động có thể co giãn và việc xác định độ dài ngắn ấy phụ thuộc vào so sánh lực lƣợng trong cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đó. Điểm dừng của độ dài ngày lao động là điểm mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tƣ bản và lợi ích kinh tế của ngƣời lao động đƣợc thực hiện theo một thoả hiệp tạm thời. Khi độ dài ngày lao động đã đƣợc xác định, nhà tƣ bản sẽ tìm mọi cách để tăng cƣờng độ lao động của ngƣời công nhân. Tăng cƣờng độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động trong một khoảng thời gian nhất định, nên về thực chất cũng giống nhƣ kéo dài thời gian lao động trong ngày. Nhà tƣ bản có thể tăng thêm tƣ liệu lao động, yêu cầu hay thoả thuận ngƣời lao động lao động với cƣờng độ cao mức bình thƣờng, yêu cầu khi ngƣời lao động là họ phải tập trung làm việc hơn, các thao tác làm việc phải nhanh hơn… những việc đó sẽ tốn nhiều sức lao động hơn so với bình thƣờng, và cũng tạo ra nhiều sản phẩm hơn. Nhƣng việc tăng cƣờng độ lao động khó hơn việc tăng thời gian lao động của ngƣời công nhân. vì việc này muốn thực hiện đựoc thì nhà tƣ bản phải thay đổi máy móc. 9
  10. Việc áp dụng phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ tuyệt đối ngoài việc gặp khó khăn nhƣ ở trên đã đề cập, theo D.Ricardo “với sự tăng thêm của một nhân tố sản xuất nào đó, trong điều kiện các nhân tố sản xuất khác là không thay đổi, năng suất của của nhân tố tăng thêm sẽ giảm đi”. Bởi vậy, việc gia tăng các nguyên liệu sản xuất trong khi các điều kiện sản xuất khác không đổi, là việc làm không hiệu quả khi mà nhà tƣ bản muốn tăng thu thêm giá trị thặng dƣ. Để khắc phục những vấn đề mà phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối gặp phải thì nhà tƣ bản đã áp dụng phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ tƣơng đối vào sản xuất. Phƣơng pháp này có tiến bộ vƣợt bậc so với phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối, thể hiện trình độ sản xuất cũng nhƣ trình độ xã hội đã đƣợc nâng lên một tầm cao hơn. Phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tƣơng đối là giá trị thặng dƣ thu đƣợc do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dƣ lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn nhƣ cũ. Vì giá trị sức lao động đƣợc quyết định bởi các tƣ liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tƣ liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho ngƣời lao động. Điều đó chỉ đƣợc thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tƣ liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tƣ liệu sản xuất để sản xuất ra các tƣ liệu sinh hoạt và dịch vụ. VD: Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó đƣợc chia ra 4 giờ là thời gian lao động tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dƣ, khi này tỷ suất thăng dƣ là 100%.Nhƣng khi máy móc đƣợc thay đổi, ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động tất yếu của ngƣời công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thời gian lao động thặng dƣ đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dƣ đã tăng lên là 166%. (Đồng nghĩa với trình độ bóc lột tăng lên). 10
  11. Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng. Máy móc có ƣu thế tuyệt đối so với các công cụ thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con ngƣời trực tiếp sử dụng bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con ngƣời, nhƣng khi lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế đó. Vì thế, việc sử dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị tƣ liệu sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dƣ, giúp nhà tƣ bản thu đƣợc nhiều giá trị thặng dƣ hơn. Phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tƣơng đối ngày càng đƣợc nâng cao do các cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chƣa từng có trong lịch sử loài ngƣời, nó khác với cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không đơn thuần về công cụ sản xuất nhƣ cách mạng khoa học, do đó dẫn đến sự tăng trƣởng cao, đƣa xã hội loài ngƣời bƣớc sang một nền văn minh mới - nền văn minh trí tuệ. Phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tƣơng đối là phƣơng pháp sản xuất theo chiều sâu, lao động phức tạp tăng lên và thay thế cho lao động giản đơn. Để có lợi cho mình có lợi cho mình các nhà tƣ bản buộc phải chú trọng đến nhân cách sáng tạo của lao động làm thuê. Điều đó đã chứng minh rằng lao động trí óc, lao động có trình độ kĩ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định tới việc sản xuất giá trị thặng dƣ và tầng lớp công nhân này có mức sống tƣơng đối cao. Chính những điều đó dã làm cho một số ngƣời lao động nhầm tƣởng rằng họ không bị bóc lột sức lao động, sức lao động của họ đƣợc trả một cách thoả đáng, họ an tâm làm việc mà không không biết rằng một khối lƣợng lớn giá trị mới do sức lao động của mình tạo ra đã bị nhà tƣ bản chiếm đoạt. Hơn nữa, với tốc độ phát triển chóng mặt của máy móc công nghệ, tác hại của sóng điện 11
  12. từ từ những thiết bị tin học hiện đại làm cho ngƣời lao động bị hao phí rất nhiều sức lực, phát sinh nhiều bệnh nghề nghiệp, các bệnh này có thể phát sinh ngay trong quá trình còn đang lao động của ngƣời công nhân nhƣng cũng có thể để lại di chứng sau một thời gian dài mới biều hiện bệnh. Một dạng của giá trị thặng dƣ tƣơng đối là giá trị thặng dƣ siêu ngạch, đây là cái đích hƣớng tới của các nhà tƣ bản. Giá trị thặng dƣ siêu ngạch là giá trị thặng dƣ thu đƣợc do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của nó. Xét trong từng trƣờng hợp giá trị thặng dƣ siêu ngạch là hiện tƣợng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ đó đã đƣợc phổ biến rrộng dãi, nhƣng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một hiện tƣợng thƣờng xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dƣ siêu ngạch là kì vọng của nhà tƣ bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tƣ bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất xã hội tăng lên nhanh chóng. Bởi vậy K.Marx gọi giá trị thặng dƣ siêu ngạch là biến tƣớng của giá trị thặng dƣ tƣơng đối. Thực ra, hai phƣơng pháp giá trị thặng dƣ đó không hề bị tách dời nhau, mà chỉ trong mỗi thời kì khác nhau sự vận dụng hai phƣơng pháp là nhiều hay ít mà thôi, trong thời kì đầu của chủ nghĩa tƣ bản thì phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tuyệt đối đƣợc sử dụng nhiều hơn so với phƣơng pháp giá trị thặng dƣ tƣơng đối, còn trong thời kì sau của chủ nghĩa tƣ bản thì ngƣợc lại. Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc nhà tƣ bản kết hợp tốt hai phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ đã tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dƣ cho nhà tƣ bản, bằng cách tăng cƣờng các phƣơng tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều sức lao động làm thuê. Máy móc hiện đại đƣợc áp dụng, các lao động chân tay bị cắt giảm nhƣng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cƣờng độ lao động của ngƣời công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục 12
  13. buộc ngƣời công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho cƣờng độ lao động tăng lên, năng suất lao động tăng, ngoài ra nền sản xuất hiện đại áp dụng tự động hoá cao cƣờng độ lao động ngƣời công nhân tăng lên với hình thức mới đó là cƣờng độ lao động thần kinh thay thế cho cƣờng độ lao động cơ bắp, tạo ra sản phẩm chứa nhiều chất xám có giá trị lớn. Nên sản xuất tƣ bản chủ nghĩa trong diều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh vi của hai phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ tuyệt đối và tƣơng đối. 2.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: Việc nghiên cứu 2 phƣơng pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tƣ bản thì các phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ, nhất là phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ tƣơng đối và giá trị thặng dƣ siêu ngạch có thể vận dụng trong các danh nghệp ở nƣớc ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất. Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nƣớc ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dƣ gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phƣơng thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất phát của nƣớc ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. 13
  14. 2.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được vận dụng vào trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta hiện nay. Giá trị thặng dƣ là do lao động không công của công nhân lao động làm thuê tạo ra, là mục đích, kết quả hoạt động của tƣ bản, của giai cấp tƣ sản. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, việc bóc lột sức lao động không công của ngƣời công nhân không còn nữa, nhƣng không có nghĩa là giá trị thặng dƣ không tồn tại, mà giá trị thặng dƣ đƣợc sử dụng vào mục đích khác không giống nhƣ giai cấp tƣ sản, đó là giá trị thặng dƣ thu đƣợc là cơ sở, tiền đề để xây dựng đất nƣớc, xây dựng chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất, vì mục đích phát triển xã hội chủ nghĩa, vì con ngƣời. Không tác ra khỏi xu hƣớng của xã hội, Việt Nam vận dụng các phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ vào trong công cuộc xây dựng đất nƣớc, trong đó tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Khi tách riêng hai thuật ngữ công nghiệp hoá và hiện đại hoá ra làm hai, thấy công nghiệp hoá là quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân một nƣớc từ trình độ phát triển thấp sang một trình độ phát triển cao hơn nhiều dựa trên cơ sở các ngành kinh tế có trình độ khoa học công nghệ hiện đại, với năng suất chất lƣợng hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn, còn hiện đại hoá là việc xây dựng và phát triển đất nƣớc đạt trình độ của những nƣớc phát triển nhất của thời đại mà mấu chốt là đạt trình độ hiện đại hoá của nền sản xuất xã hội. Chính bởi vậy mà công nghiệp hoá phải luôn đi đôi với hiện đại hoá, tạo thành khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nƣớc ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động với công nghệ, phƣơng tiện tiên tiến, 14
  15. hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.Thực chất công nghiệp hoá, hiện đại hoá: là quá trình tạo ra những tiền đề về vật chất, kỹ thuật, về con ngƣời, công nghệ, phƣơng tiện, phƣơng pháp, những yếu tố cơ bản của lực lƣợng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội. Nội dung cốt lõi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sủ dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại đạt tới năng suất lao động xã hội cao, tạo ra sự đổi mới trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải đƣợc tiến hành từng bƣớc, phải có sự đồng bộ trong giữa các bƣớc, tránh nóng vội chủ quan sẽ đem lại những hậu quả đáng tiếc. Muốn phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất trƣớc hết bằng việc cơ khí hoá nền sản xuất xã hội trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ. Trong đó, chú trọng xây dựng, phát triển công nghiệp và sản xuất tƣ liệu sản xuất, then chốt là công nghiệp chế tạo tƣ liệu sản xuất. Khi phát triển công nghiệp sẽ tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị, trong đó sản phẩm đƣợc sử dụng nhiều nhất là các tƣ liệu sản xuất. Đối tƣợng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân, các ngành công nghiệp chế tạo tƣ liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì sản phẩm của ngành này sẽ đƣợc ứng dụng vào các ngành khác để sản xuất ra sản phẩm cấp thấp hơn, nên ngành công nghiệp chế tạo tƣ liệu sản xuất có vị trí quan trọng việc thúc đẩy sự nghiệp phát triển của các ngành khác. Xã hội phát triển kéo theo quy mô, cơ cấu, tỷ trọng các ngành công nghiệp phải phù hợp với điều kiện hoàn cảnh tiềm năng của đất nƣớc. Đó là trong thời kì đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì sản xuất công nghiệp nhẹ chiếm tỷ trọng lớn hơn so với công nghiệp, bởi trong hoàn cảnh này sẽ dễ dàng tận dụng đƣợc những nguyên liệu có sẵn và lao động có tay nghề không cao, tuy nhiên phải không ngừng đầu tƣ phát triển để đƣa ngành công nghiệp nặng tạo tiền đề cho giai đoạn sau. Ở giai 15
  16. đoạn sau công nghiệp nặng sẽ chiếm tỷ trọng lớn hơn so với công nghiệp nhẹ, công nghệ nặng sẽ là nền công nghiệp chủ đạo của nền kinh tế sử dụng những lao động lành nghề, trình độ kỹ thuật cao. Đồng thời, công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng là chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hƣớng hiện đại hợp lý và hiệu quả hơn. Tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần, nhƣng mỗi giai đoạn khác nhau mà tỷ trọng công nghiệp là lớn hay tỷ trọng dịch vụ là lớn hơn, nhƣng một tất yếu là tỷ trọng ngành nông nghiệp sẽ giảm đi trong cơ cấu kinh tế. Kéo theo là lao động trong nông nghiệp sẽ giảm và chuyển sang ngành công nghiệp và dịch vụ. Thời kì này, chúng ta phải tăng cƣờng củng cố địa vị chủ đạo của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tiến tới xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đảng ta đã lấy mục tiêu phát triển của đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa nên một làm cần thiết là chúng ta phải tuyên truyền rộng khắp tƣ tƣởng của chủ nghĩa xã hội làm cho nhân dân hiểu, tin tƣởng vào chế độ mà đảng đã lựa chọn, yên tâm tham gia sản xuất phát triển xã hội. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cuộc cải biến cách mạng từ xã hội nông nghiệp trở thành xã hội công nghiệp, đó là cuộc cải biến trên mọi lĩnh vực, làm đƣợc điều đó cần có nhiều điều kiện về kinh tế, văn hoá xã hội. Một tiền đề quan trọng là việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. Trong tình hình hội nhập kinh tế thé giới sôi động ngày nay thì mỗi quốc gia đều phát triển dựa trên hai nguồn vốn chính là vốn trong nƣớc và vốn ngoài nƣớc, nhƣng mỗi nƣớc có quan điểm khác nhau trong việc coi trọng nguồn vốn trong nƣớc hay nƣớc ngoài hơn. Quan điểm của nƣớc ta là dựa vào vốn trong nƣớc là chính, vốn nƣớc ngoài là quan trọng. Chúng ta phải tận dụng hết mọi nguồn vốn trong nƣớc để tạo ra sự phát triển bền vững, cân đối, nhƣng nguồn vốn nƣớc ngoài là chất xúc tác quan trọng đƣa nền kinh tế phát triển vƣợt bậc. Việc tích luỹ nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân đƣợc thực hiện trên cơ 16
  17. sở hiệu quả sản xuất, nguồn của nó là lao động thặng dƣ của ngƣời lao động thuộc tất cả các thành phần kinh tế. Con đƣờng cơ bản để giải quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nƣớc là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, mặt khác chúng ta phải khai thác và sử dụng tốt quỹ lao động. tập trung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, chỉ nhƣ thế chúng ta mới tận dụng đƣợc hết các nguồn lực sẵn có, tận dụng đƣợc lợi thế tƣơng đối của nƣớc ta. Chúng ta tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức, quốc gia tham gia vào đầu tƣ tại nƣớc ta, giúp nguồn vốn đầu tƣ đƣợc bổ sung, đó là các nguồn vốn nhƣ FDI, ODA, nguồn vốn vay của các tổ chức tài chính quốc tế nhƣ: IMF, ADB, WB… Khi các nguồn vốn này đƣợc đƣa vào trong nƣớc thì sẽ cải thiện rất nhiều cho tình hình kinh tế Việt Nam, nhƣ một luồng gió mới, chất xúc tác không thể thiếu đƣa nền kinh tế Việt Nam đi lên. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc với mục đích là nâng cao nền sản xuất xã hội, mà chỉ sử dụng các phƣơng tiện công nghệ thì chƣa đủ, một điều kiện không thể thiếu là chúng ta phải sử dụng đội ngũ những ngƣời lao động có khả năng vận hành điều khiển các loại máy móc công nghệ đó. Nguồn nhân lực có thể đáp ứng nhu cầu đó của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm những con ngƣời có tài có đức, ham học hỏi, thích sáng tạo, làm việc quên mình vì nền độc lập và sự phồn vinh của tổ quốc. Họ phải đƣợc trang bị tốt về tƣ tƣởng chỉ đạo của đảng, về kiến thức văn hoá, đƣợc đào tạo thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh doanh, về điều hành kinh tế vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, có trình độ khoa học kỹ thuật vƣơn lên ngang tầm với thế giới. Đó là nguồn lực của nền văn hoá công nghiệp hiện đại. Từ đó thấy rằng việc quan trọng hàng đầu là chúng ta phải ƣu tiên cho phát triển con ngƣời, phải đầu tƣ cho giáo dục coi đó là nhiệm vụ quốc sách hàng đầu hƣớng chính của đầu tƣ phát triển, phải tạo cơ cấu nhân lực đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, đào tạo cán bộ quản lý 17
  18. kinh tế, cán bộ trong các ngành kỹ thuật, trong các ngành kinh doanh, đào tạo các công nhân lành nghề có khả năng sử dụng công nghệ kỹ thuật cao. Tiềm lực khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khoa học công nghệ có vai trò ngày càng to lớn đến tăng trƣởng nền kinh tế. Nếu quá trình tích luỹ, mở rộng đầu tƣ theo quy mô sản xuất đƣợc coi là tái sản xuất theo chiều rộng thì phát triển khoa học công nghệ đƣợc coi là quá trình tái mở rộng sản xuất theo chiều sâu, khoa học công nghệ là biểu hiện của trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Khoa học công nghệ có vai trò quyết định tới lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng của các quốc gia. Tiềm lực khoa học công nghệ là tiềm lực trí tuệ sáng tạo của mỗi quốc gia. Theo một nghiên cứu thấy rằng khả năng cạnh tranh của nƣớc ta trên thị trƣờng thế giới nhƣ sau: Xếp hạng Nước 2002 2003 2004 Phần Lan 1 1 1 Mỹ 2 2 2 Đài Loan 6 5 4 Đan mạch 4 4 5 Singapore 7 6 7 Malaysia 30 29 31 Thái Lan 37 32 34 Inđônêxia 69 72 69 Trung Quốc 38 44 46 Phi-líp- pin 63 66 76 Việt Nam 62 60 77 Thấy rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam là thấp so với khu vực và thế giới, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của nƣớc ta chậm hơn so với 18
  19. các nƣớc trên thế giới, điều đó có nghĩa là mức độ đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trƣởng kinh tế còn hạn chế. Với tình hình đó thì việc thay đổi khoa học công nghệ là một việc làm tất yếu của nƣớc ta thì mới mong có sự thay đổi trong nền kinh tế. Để thay đổi công nghệ trong sản xuất là một điều không phải dễ đối với tất cả các nền kinh tế đặc biệt khi nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp đi lên, nhƣng khi chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại thì điều đó trở nên dễ dàng hơn. Quan hệ kinh tế đối ngoại càng rộng rãi và có hiệu quả bao nhiêu thì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc càng thuận lợi, nhanh chóng bấy nhiêu. Thực chất của việc mở rộng quan hệ đối ngoại là việc thu hút vốn đầu tƣ từ bên ngoài, là tiếp thu nhiều kỹ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi đƣợc kinh nghiệm điều hành, quản lý hiện đại để áp dụng vào tình hình thực tế nƣớc ta, đồng thời cũng dễ dàng cho việc mở rộng thị trƣờng, giúp cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đƣợc tiến hành nhanh hơn. Một trong những điều kiện không thể thiếu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự lãnh đạo đảng và sự quản lý của nhà nƣớc. Khi có sự lãnh đạo của đảng thì chúng ta mới có thể đi đúng hƣớng theo con đƣờng đảng đã chọn lựa là phát triển đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, mà cao hơn cái mà chúng ta đang hƣớng tới là chủ nghia cộng sản. Mặt khác khi có sự quản lý của nhà nƣớc thì, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới đƣợc thực hiện từng bƣớc theo đứng quy luật và phù hợp với tình hình trong nƣớc và quốc tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới đƣợc diễn ra đồng đều và rộng khắp trên các vùng miền của đất nƣớc. Có thế thì ngƣời dân mới tin tƣởng vào chế độ, an tâm để lao động và làm việc, chỉ có sự quản lý của nhà nƣớc thì các dịch vụ công đƣợc đảm bảo, trật tự công bằng mới đƣợc thực hiện. Khi nội dung và tiền đề của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã đƣợc vạch ra thì phƣơng hƣớng, quy mô, bƣớc đi của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải đƣợc cân nhắc kỹ trên cơ sở thấu suốt các quan điểm của đảng và 19
  20. nhà nƣớc, trong văn kiện đại hội ban chấp hành trung ƣơng 7 (khoá VII) đã nêu rõ nhƣ sau: - Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phƣơng tiện, phƣơng pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động cao. Đối với nƣớc ta, đó là một quá trình thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bƣớc quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ƣu việt của chế độ mới. - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải tạo ra những điều kiện cần thiết về vật chất kỹ thuật, về con ngƣời và về khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế tăng trƣởng nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trƣờng sinh thái. - Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng một nền kinh tế mở cả trong và ngoài nƣớc, đa phƣơng hoá và đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh, gắn tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trƣờng. - Kiên trì chiến lƣợc hƣớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nƣớc sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của đất nƣớc trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trƣờng trong nƣớc, thị trƣờng khu vực và thị trƣờng quốc tế. - Lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phƣơng hƣớng phát triển, lựa chọn các dự án đầu tƣ công nghệ. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản