Tiểu luận "Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay”.

Chia sẻ: Tran Tuyen Tuyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:35

0
187
lượt xem
92
download

Tiểu luận "Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay”.

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xi măng ngày nay đã trở thành một trong những vật liệu quan trọng trong ngành xây dựng, chính vì vậy nhu cầu sử dụng sản phẩm này ngày càng tăng đặc biệt là khi đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Bên cạnh đó sản xuất và kinh doanh sản phẩm xi măng đã tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng từ đó mà hệ thống cơ sở hạ tầng trên cả nước được cải tạo, đời sống nhân dân dần được nâng cao....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận "Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay”.

  1. BÀI TIỂU LUẬN Đề tài: Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay.
  2. MỤC LỤC CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI................................3 1.1.TÍNH CấP THIếT NGHIÊN CứU CủA Đề TÀI. ................................................... 3 1.2. XÁC LậP VÀ TUYÊN Bố VấN Đề TRONG Đề TÀI. .............................................. 4 1.3.MụC TIÊU NGHIÊN CứU. ............................................................................... 4 1.4. PHạM VI NGHIÊN CứU ................................................................................. 5 1.5. MộT Số KHÁI NIệM VÀ PHÂN ĐịNH NộI DUNG CủA VấN Đề NGHIÊN CứU. ........... 5 1.5.1 Một số khái niệm................................................................................. 5 1.5.2 Khái quát về sản phẩm xi măng. ........................................................ 9 1.5.3 Phân định nội dung về vấn đề nghiên cứu. ........................................ 12 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM XI MĂNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG BỈM SƠN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. ..................................................................................................14 2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU. ...................................................................... 14 2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp ....... 14 2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu ......................................................... 15 2.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIểN THƯƠNG MạI SảN PHẩM XI MĂNG CủA CÔNG TY Cổ PHầN V ậT LIệU X ÂY DựNG BỉM SƠN TRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY VÀ CÁC NHÂN Tố ảNH HƯởNG TớI PHÁT TRIểN THƯƠNG MạI SảN PHẩM NÀY. ..................... 16 2.2.1 Tình hình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn. ............................................................ 16 2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm xi măng. .................................................................................................................. 17 2.3 KếT QUả PHÂN TÍCH Dữ LIệU THứ CấP .......................................................... 21 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM XI MĂNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG BỈM SƠN. ................................................................................26 3.1 CÁC KếT LUậN VÀ PHÁT HIệN QUA NGHIÊN CứU........................................... 26 3.1.1 Thành tựu mà doanh nghiệp đạt được ............................................... 26 3.1.2 Hạn chế. ........................................................................................... 27 3.2 CÁC Đề XUấT VÀ KIếN NGHị VớI VấN Đề NGHIÊN CứU ................................... 30 3.2.1 Đẩy mạnh hoạt động điều tra nghiên cứu thị trường........................ 30 3.2.2 Tăng ngân sách cho hoạt động phát triển thị trường......................... 31 3.2.3 Hoàn thiện bộ máy kinh doanh và phát triển nhân sự. ...................... 32 3.2.4 Sử dụng tốt công cụ giá cả để thu hút khách hàng ............................ 32
  3. 3.2.5 Một số kiến nghị đối với nhà nước nhằm phát triển thương mại sản phẩm xi măng trên thị trường nội địa. ....................................................... 33 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài. Xi măng ngày nay đã trở thành một trong những vật liệu quan trọng trong ngành xây dựng, chính vì vậy nhu cầu sử dụng sản phẩm này ngày càng tăng đặc biệt là khi đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Bên cạnh đó sản xuất và kinh doanh sản phẩm xi măng đã tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng từ đó mà hệ thống cơ sở hạ tầng trên cả nước được cải tạo, đời sống nhân dân dần được nâng cao. Hiện nay trên cả nước có 13 nhà máy xi măng lò quay, 53 nhà máy xi măng lò đứng với tổng công suất thiết kế hơn 22 triệu tấn/năm từ nguồn clinker trong nước và hơn 26 cơ sở nghiền xi măng với tổng công suất lên trên 5 triệu tấn/năm sử dụng sản phẩm clinker nhập khẩu. Trong tương lại có rất nhiều dự án các DN sản xuất xi măng được xây dựng. Từ đó có thể thấy được rằng các DN sản xuất xi măng là tương đối nhiều, tuy nhiên thị phần lớn nhất vẫn thuộc về tổng công ty xi măng Việt Nam chiếm 40% toàn thị trường. Thị phần của các doanh nghiệp nhỏ chỉ chiếm 31% trên toàn thị trường bởi các DN này có số vốn nhỏ, khả năng cạnh tranh kém. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới rơi vào quá trình khủng hoảng vì vậy chi phí nguyên liệu đầu vào ngày càng đắt đỏ đã ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề đầu ra cho sản phẩm khi mà giá của sản phẩm tăng, vốn đầu tư giảm, năng lực cạnh tranh của DN kém. Là DN nhỏ kinh doanh trong lĩnh vực vật liệu xi măng vì vậy công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ tác động bởi các yếu tố trên. Lợi nhuận của DN trong các năm có sự biến động không đều năm 2008 lợi nhuận tăng 21914 triệu đồng so với 2007 nhưng đến năm 2009 chỉ
  4. tăng lên 3658 triệu đồng , hiệu quả thương mại của DN có sự thay đổi khi mà tỷ suất lợi nhuận trên chi phí năm 2008 là 13,17 đã giảm xuống còn 5,64 năm 2009. Bên cạnh đó thị trường tiêu thụ của DN tính đến năm 2009 chỉ chiếm 0,19% thị phần cả nước do khả năng quản lý của DN cũng như nguồn ngân sách chi cho phát triển thị trường còn hạn chế và hoạt động điều tra nghiên cứu thị trường chưa được chú trọng. Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy mà em chọn đề tài: “Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay”. 1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài. Để phát triển thương mại sản phẩm xi măng trên thị trường nội địa trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Chuyên đề khảo sát thực trạng phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty trên thị trường nội địa, thông qua các bản báo cáo tổng kết, báo cáo tình hình tiêu thụ sản phẩm của xi măng. Từ đó tập trung vào nhóm giải pháp phát triển thương mại theo hướng mở rộng quy mô thương mại. Chuyên đề tập trung giải quyết: - Thực trạng phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty cổ phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn? - DN phải làm thế nào để phát triển thương mại sản phẩm xi măng theo hướng mở rộng quy mô thương mại? 1.3.Mục tiêu nghiên cứu. + Khảo sát, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu thứ cấp. Từ đó, phát hiện thực trạng phát triển thương mại sản phẩm xi măng của DN trong giai đoạn hiện nay.
  5. + Đưa ra giải pháp thị trường nhằm phát triển thương mại sản phẩm xi măng của DN trong giai đoạn hiện nay. Từ đó đưa ra những đề suất đối với DN đề góp phần mở rộng thị trường của DN. 1.4. Phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu:là sản phẩm xi măng PCB40 của công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn. Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu về thương mại sản phẩm xi măng trên các thị trường nội địa của doanh nghiệp. Phạm vi thời gian: đề tài đưa ra những ý kiến nhận xét về thực trạng phát triển của thương mại sản phẩm xi măng của doanh nghiệp trên thị trường nội địa qua thời gian từ 2005 đến giai đoạn hiện nay đồng thời đề ra các dự báo, giải pháp khắc phục những tồn tại đó trong những năm tiếp theo. 1.5. Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu. 1.5.1 Một số khái niệm Phát triển thương mại là tất cả các hoạt động của con người tác động theo hướng tích cực đến lĩnh vực thương mại( mua bán sản phẩm, dịch vụ và các hoạt động hỗ trợ thúc đẩy quá trình mua bán sản phẩm dịch vụ) làm cho lĩnh vực này ngày càng mở rộng về quy mô, tăng về chất lượng, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững. Sự phát triển thương mại sản phẩm theo chiều sâu thể hiện ở việc DN phân phối sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu đa dạng của nhóm khách hàng khác nhau. Sự phát triển thương mại theo chiều rộng thể hiện ở việc DN phân phối sản phẩm nhằm đáp ứng đồng bộ một loại nhu cầu của khách hàng. Hoạt động thương mại ở cấp doanh nghiêp mang bản chất là hoạt động xúc tiến thương mại và hoạt động phát triển thương mại ở cấp các tổ chức hỗ trợ thương mại là những hoạt động nhằm hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp.
  6. Phát triển thương mại sản phẩm xi măng là sự gia tăng quy mô và tốc độ tăng trưởng sản phẩm xi măng một cách nhanh nhất, ổn định gắn với việc chuyển dịch cơ cấu hợp lý đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả, đáp ứng hài hoà mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội- Môi trường. - Bản chất của sự phát triển thương mại Các hoạt động nhằm phát triển thương mại thì phải đảm bảo làm cho lĩnh vực này có sự mở rộng về quy mô, sự thay đổi về chất lượng, nâng cao tính hiệu quả kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững hoặc cả bốn vấn đề trên + Sự mở rộng về quy mô thương mại Mở rộng quy mô thương mại tức là làm cho lĩnh vực thương mại có sự gia tăng sản lượng tiêu thụ qua đó gia tăng giá trị thương mại và có sự mở rộng về thị trường tiêu thụ. Phát triển thương mại sản phẩm về mặt quy mô là tạo đà cho sản phẩm bán được nhiều hơn, quay vòng nhanh và giảm bớt thời gian trong quá trình lưu thông. Quy mô tác động tới quá trình tiêu thụ sản phẩm, tác động tới việc sử dụng vốn để tái đầu tư sản xuất nhằm ngày càng thoã mãn hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tác động vào thị hiếu ngưới tiêu dùng đối với sản phẩm. Đối với sản phẩm xi măng của công ty Cổ phần VLXD Bỉm Sơn mở rộng về quy mô thương mại theo hướng kết hợp mở rộng cả chiều rộng và chiều sâu. Theo hướng mở rộng về chiều rộng: mở rộng thêm thị trường các tỉnh phía Bắc và các tỉnh Miền Trung, tăng số lượng khách hàng, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng về mặt số lượng Theo hướng mở rộng về chiều sâu: nâng cao chất lượng hiệu quả thị trường của DN. Hướng tới việc tăng doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ để tạo được dự hấp dẫn đối với khách hàng. Phát triển theo hướng thâm nhập sâu vào thị trường và mở rộng thị trường từ đó làm doanh thu bán hàng tăng giúp tăng thị phần của DN trên thị trường. + Lĩnh vực thương mại phải có sự thay đổi về chất lượng
  7. Phát triển thương mại sản phẩm về mặt chất lượng là sự đổi mới, cải tiến hoạt động thương mại sản phẩm nhằm tạo lòng tin của khách hang đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên. Phát triển thương mại góp phần thoã mãn hơn nhu cầu của khách hàng, khắc phục nhược điểm còn tồn tại trong sản phẩm. Lĩnh vực thương mại có sự dịch chuyển về cơ cấu hàng hoá theo hướng gia tăng hàng hoá có chất lượng tốt, khai thác hiệu quả thị trường cũ đồng thời tiếp tục mở rộng thêm các thị trường tiềm năng. Phát triển thương mại bao gồm kế hoạch định vị sản phẩm, chất lượng sản phẩm. định vị thị trường cho sản phẩm, hình ảnh thương hiệu cho sản phẩm, cải thiện cơ cấu... Để có thể phát triển thương mại sản phẩm xi măng của DN trên thị trường thì cẩn phải đảm bảo các yếu tố như: chất lượng sản phẩm xi măng phải theo tiêu chuẩn cũng như đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cải thiện mẫu mã bao bì sản phẩm xi măng. Đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp có các kiến thức kỹ năng kỷ luật… + Phát triển thương mại gắn liền với vịêc nâng cao hiệu quả Phát triển thương mại là hoạt động làm tăng giá trị gia tăng, nâng cao lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả xã hội. Các yếu tố về mặt xã hội: dân cư, quy mô dân số..phát triển thương mại tác động trực tiếp tới các nhân tố trên. Để nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả trong lĩnh vực thương mại nói riêng là việc sử dụng tất cả các biện pháp tác động đến kết quả và chi phí hoặc cả hai đại lượng. Ngoài ra hiệu quả thương mại còn được phản ánh thông qua tỷ trọng của ngành thương mại và lĩnh vực thương mại sản phẩm góp phần vào việc nâng cao giá trị của sản phẩm trên thị trường, đóng góp vào ngân sách của nhà nước đồng thời sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước đặc biệt là nguồn lực lao động. Từ đó giúp giải quyết các vấn đề xã hội. Trên bình diện vĩ mô hiệu quả thương mại phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực phục vụ cho hoạt động trao đổi mua bán hang hóa và cung ứng dịch
  8. vụ nói chung cho cả nền kinh tế. Phát triển thương mại hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường góp phần nâng cao đời sống , bảo vệ môi trường, đảm bảo công bằng xã hội. Hiệu quả thương mại của DN là thực hiện hiệu quả quá trình tổ chức mua, bán sản phẩm xi măng. Hiệu quả thương mại phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của DN trong các khâu kinh doanh, vận chuyển, phân phối… Nâng cao hiệu quả đối với sản phẩm xi măng là việc tác động mở rộng thị trường, nâng cao tầm quan trọng của sản phẩm này trên thị trường. Đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của sản phẩm. + Phát triển thương mại hướng đến tính bền vững Là sự kết hợp giữa mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường. Sự phát triển thương mại sản phẩm không làm ảnh hưởng tới quá trình phát triển trong tương lai. - Về bản chất thì phát triển bền vững phải đáp ứng được: + Đảm bảo hài hoà mối quan hệ lợi ích trong phtá triển giữa hiện tại và tương lai về tất cả các khía cạnh: kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường + Lồng ghép một cách hài hoà các khía cạnh tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. - Vậy để đáp ứng cho việc phát triển thương mại một cách bền vững thì cần có sự đảm bảo về: + Sự phát triển bền vững về kinh tế: có tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người cao và ổn định, trong điều kiện hiện nay các quốc gia phải có thu nhập GDP tăng với tỷ lệ cao vào khoảng 5% mới có thể xem là bền vững. Cơ cấu GDP theo hướng tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ trong GDP phải cao hơn nông nghiệp nhằm đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định và lâu dài. GDP và GDP bình quân đầu người bằng hoặc cao hơn mức trung bình hiện nay của các nước đang phát triển.
  9. + Sự phát triển bền vững về xã hội: phải đáp ứng được yêu cầu duy trì và phát huy tính đa dạng về bản sắc dân tộc, giảm đói nghèo. Giảm khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội. + Sự phát triển bền vững về môi trường: phải sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn được sự đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm, cải thiện môi trường. + Sự kết hợp hài hòa và hợp lý ba mặt lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển: phát triển bền vững chỉ có thể đạt được khi quá trình phát triển đáp ứng được yêu cầu có một sự cân bằng nhất định của 3 nội dung kinh tế, văn hóa và xã hội. Để phát triển thương mại sản phẩm xi măng theo hướng phát triển bền vững thì cần có sự kết hợp hài hòa ba mặt lợi ích kinh tế văn hóa xã hội. Bên cạnh đó cần chú trọng tới yếu tố môi trường bởi xi măng là sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu khai thác từ các núi đá, chính vì vậy khi tăng sản lượng xi măng trên thị trường cũng đồng nghĩa với việc tăng mức khai thác, việc khai thác ồ ạt sẽ có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường sinh thái. Vấn đề đặt ra chính là phát triển sản phẩm này như thế nào để phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp đồng thời không làm ảnh hưởng tới môi trường. Ngoài ra phát triển thương mại sản phẩm xi măng tạo điều kiện giúp cho doanh nghiệp có thể tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, giải quyết các mục tiêu xã hội. 1.5.2 Khái quát về sản phẩm xi măng. Khái niệm: Xi măng là chất kết tinh thuỷ lực được tạo thành bằng cách nghiền mịn clinker, thạch cao thiên nhiên và phụ gia. Khi tiếp xúc với nước thì xảy ra phản ứng thuỷ hoá và tạo thành một dạng hồ gọi là hồ xi măng. Tiếp đó do sự hình thành của các sản phẩm thuỷ hoá, hồ xi măng bắt đầu quá trình ninh kết sau đó là quá trình hoá cứng để cuối cùng nhận được một dạng vật liệu có
  10. cường độ và độ ổn định nhất định. Vì tính chất kết dính khi tác dụng với nước , xi măng được xếp vào loại chất kết dính thuỷ lực.1 Phân loại: Hiện nay trên thế giới đã sản xuất tới 40 chủng loại xi măng khác nhau như: xi măng Pooclăng; xi măng Pooclăng hỗn hợp; xi măng Pooclăng puzơlan; xi măng Pooclăng xỉ; xi măng Pooclăng bền sunfat; xi măng Pooclăng ít toả nhiệt; xi măng Pooclăng đóng rắn nhanh; xi măng Pooclăng giãn nở; xi măng trắng và xi măng màu; xi măng giếng khoan; xi măng chống phóng xạ; xi măng chịu axit... Tuỳ theo yêu cầu về chất lượng công trình xây dựng, kỹ thuật thi công, kiểu dáng, mầu sắc kiến trúc, điều kiện môi trường, khí hậu để lựa chọn chủng loại xi măng cho phù hợp. Tại Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại sản phẩm xi măng khác nhau, nhưng chủ yếu các công trình xây dựng ở nước ta sử dụng sản phẩm xi măng Pooclăng và xi măng Pooclăng hốn hợp. Xi măng Pooclăng là một hỗn hợp nghiền mịn của clinker, thạch cao có thể có hay không có đá phụ gia. -Tùy theo hàm lượng đá phụ gia nghiền mà thành phần các oxit chính trong xi măng thay đổi. Xi măng Pooclăng gồm các loại xi măng mác 30,40,50. Chia thành 2 loại chính là xi măng Pooclăng và xi măng Pooclăng hỗn hợp - Xi măng Pooclăng hỗn hợp ký hiệu là PCB gồm các loại PCB30, PCB40, PCB50 xi măng Pooclăng hỗn hợp được sản xuất từ việc nghiền hỗn hợp clinker, thạch cao và phụ gia (lượng phụ gia kể cả thạch cao không quá 40% trong đó phụ gia đầy không quá 20%). Chất lượng xi măng Pooclăng hỗn hợp được xác định theo tiêu chuẩn TCVN 6260 : 1997. - Xi măng Pooclăng ký hiệu là PC gồm các loại PC30, PC40. là xi măng Pooclăng được nghiền từ clinker với một lượng thạch cao nhất định (chiếm từ 4- 5%). Chất lượng xi măng Pooclăng được xác định theo tiêu chuẩn TCVN 2682 : 1999 1 Nguồn: //vi.wikipedia.org
  11. Là vật liệu kết dính sử dụng trong xây dựng, Xi măng Pooclăng và Pooclăng hỗn hợp có những đặc tính ưu việt: + Có đặc tính hóa lý ổn định. + Tăng thêm độ dẻo cho vữa và bê tông. + Có cường độ phát triển nhanh, rút ngắn thời gian thi công. + Tăng cường độ bền vững theo thời gian. + Tăng cường tính chống thấm và xâm thực của môi trường. Giá trị 30,40,50 là giới hạn cường độ nén của mẫu vữa xi măng sau 28 ngày dưỡng hồ bằng N/mm2, xây dựng theo TCVN 6016:1995[ISO 679:1989(E)]. Giá trị càng cao thì độ kết dính của xi măng càng tốt. - Các ứng dụng của xi măng Vật liệu xây dựng xi măng được ứng dụng rộng rãi do ưu điểm thi công đơn giản , nguyên liệu ban đầu đơn giản sẵn có, có tính chất cơ học tốt và tuổi thọ cao. Trong lĩnh vực xây dựng dân dụng ( lĩnh vực áp dụng chủ yếu) đây là vật liệu chính để xây dựng cầu, nhà, kênh, cống… Ngoài ra xi măng còn được sử dụng trong các công đoạn đổ móng, cột, sàn nhà, cũng như công tác xây tô và thi công các hạng mục hoàn thiện khác. Dùng cho bê tông cần độ bền cao và trong môi trường ăn mòn hóa học khắc nghiệt (như nước biển, sunfat, a-xít, clo). Dành cho bê tông khối lớn, sử dụng trong các dự án hạ tầng và công trình xây dựng. Bên cạnh đó có một số loại xi măng tối ưu được thiết kế đặc biệt nhằm ổn định các loại đất có khả năng chịu lực yếu. Rất phù hợp cho phương pháp vữa phun (Jetgrouting) và gia cố nền bằng công nghệ trộn sâu cột xi măng đất (Cement Deep Mixing) cũng như các phương pháp xử lý đất khác, ứng dụng cho các công trình cảng và bến cảng chứa côngtenơ, các công trình cơ sở hạ tầng như là đường hầm, cầu và sân bay.
  12. - Loại xi măng PCB30 sử dụng cho các công trình xây dựng dân dụng, nhà cao tầng. - Loại xi măng PCB 40 hoặc PC40, PC50 thường dùng cho các công trình có yêu cầu kết cấu bê tông chịu lực cao. 1.5.3 Phân định nội dung về vấn đề nghiên cứu. Hiện nay công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Bỉm Sơn đang đứng trước những khó khăn và thách thức lớn do doanh thu của DN biến động, hiệu quả thương mại giảm, thị phần của DN chỉ chiếm 1 phần nhỏ so với thị trường xi măng cả nước. Vì vậy phát triển thương mại sản phẩm xi măng của DN là thiết yếu trong giai đoạn hiện nay. Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài:” Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi măng tại công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay”. Chuyên đề đã hệ thống lại những vấn đề về lý thuyết liên quan đến phát triển thương mại sản phẩm xi măng như: khái niệm về phát triển thương mại, chỉ ra bản chất của phát triển thương mại và dựa trên lý thuyết về phát triển thương mại theo hướng mở rộng quy mô thương mại, các lý thuyết về sản phẩm xi măng bao gồm khái niệm phân loại và ứng dụng của sản phẩm này. Chuyên đề chủ yếu nghiên cứu các yếu tố thuộc về thị trường sản phẩm xi măng như: khả năng cung cấp sản phẩm xi măng, nhu cầu sử dụng sản phẩm, thị trường tiêu thụ sản phẩm của DN. Tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các nguồn là những bảng báo cáo tài chính của DN về tình hình sản xuất kinh doanh và báo cáo tình hình tiêu thụ sản phẩm xi măng trên các thị trường, hiệu quả kinh doanh của DN trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2009 từ đó đưa ra những nhận định chung về thị trường của DN. Thông qua quá trình khảo sát chuyên đề đã phát hiện ra những thành tựu mà DN đạt được đó là quy mô doanh thu thương mại tăng qua các năm và thị
  13. trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng. Bên cạnh đó vấn đề còn tồn tại là tốc độ gia tăng quy mô thương mại tuy tăng nhưng không ổn định, thị trường sản phẩm xi măng của DN chỉ chiếm thị phần nhỏ so với thị trường cả nước, thị phần của DN tại các thị trường truyền thống ngày càng giảm do khả năng cạnh tranh của DN và khả năng tiếp cận thị trường của DN là tương đối kém. Từ quá trình khảo sát trên chuyên đề đã đưa ra những giải pháp theo hướng mở rộng quy mô thương mại sản phẩm trong DN đó là: đẩy mạnh hoạt động điều tra nghiên cứu thị trường, tăng ngân sách chi cho phát triển thị trường, hoàn thiện bộ máy kinh doanh và phát triển nhân sự, sử dụng tốt công cụ giá cả để thu hút khách hàng. Thông qua các giải pháp để mở rộng quy mô thương mại sản phẩm xi măng của DN, chuyên đề đưa ra kiến nghị đối với nhà nước về những chính sách hỗ trợ cho hoạt động mở rộng quy mô thương mại sản phẩm cả về chiều rộng và chiều sâu trên thị trường nội địa nhằm giúp cho DN có thể. phát triển thương mại sản phẩm xi măng trong thời gian tới. Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương Chương 1: Tổng Quan Nghiên Cứu Đề Tài. Chương 2 Phương pháp nghiên cứu và thực trạng phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay. Chương 3 Giải pháp thị trường với phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bỉm Sơn trong thời gian tới.
  14. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM XI MĂNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT LIỆU XÂY DỰNG BỈM SƠN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. 2.1 Phương pháp nghiên cứu. 2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp Thu thập dữ liệu là một phần không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu bất cứ một vấn đề nào. Đây là nguồn kiến thức quý giá được tích lũy trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy việc thu thập dữ liệu sẽ giúp cho người nghiên cứu nắm được vẫn đề nghiên cứu, tìm ra phương pháp thích hợp. Chuyên đề sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp. Đó là những tài liệu có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, giải thích, thảo luận, diễn giải.. Nguồn dữ liệu thứ cấp được sử dụng chủ yếu được thu thập thông qua quá trình quan sát hoạt động của DN, đồng thời phân tích các bảng báo cáo từ phòng tiêu thụ và phòng kế toán tài chính của DN tình hình tiêu thụ của DN, báo cáo tổng kết tình hình sản xuất kinh doanh của DN trong 5 năm(2005-2009), báo cáo sản lượng tiêu thụ của DN từ 2005 – 2009 và hiệu quả phát triển thương mại sản phẩm trong năm 2008,2009. Các nguồn tài liệu trên chủ yếu được sử dụng để đánh giá tổng quan tình hình của DN, phân tích cụ thể các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của DN và đánh giá tình hình phát triển thương mại sản phẩm xi măng.
  15. Ngoài ra các thông tin được chuyên đề ghi nhận từ internet, sách báo là những nguồn thông tin về tiêu chuẩn xi măng của tổng cục đo lường, chính sách của nhà nước đối với các DN sản xuất kinh doanh và về lãi suất cơ bản các năm 2004, 2009, 4 tháng đầu năm 2010 chủ yếu được sử dụng để phân tích ảnh hưởng các chính sách của nhà nước đối với quá trình phát triển thương mại. 2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu - Phương pháp so sánh phương pháp được sử dụng để so sánh dữ liệu giữa các thời kỳ khác nhau hoặc so sánh hoạt động thương mại sản phẩm xi măng của công ty với các đối thủ cạnh tranh để đánh giá sự phát triển thương mại sản phẩm xi măng trong giai đoạn hiện nay. - Phương pháp chỉ số Các chỉ số được sử dụng để đánh giá sự tăng lên hoặc giảm xuống, tỷ trọng, thị phần tiêu thụ sản phẩm xi măng của DN trên các thị trường khác nhau từ đó đánh giá được các vấn đề phát triển thương mại sản phẩm nay. - Phương pháp diễn giải Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt chuyên đề giúp cho người đọc có thể hiểu rõ hơn các vấn đề trong chuyên đề. - Phương pháp khác Phương pháp chủ yếu sử dụng các phần mền chuyên dụng bằng máy vi tính và công nghệ thông tin để từ đó có thể phân tích, đánh giá thực trạng và dự báo tương lai về thương mại sản phẩm xi măng.
  16. 2.2 Đánh giá tình hình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn trong giai đoạn hiện nay và các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm này. 2.2.1 Tình hình phát triển thương mại sản phẩm xi măng của công ty Cổ Phần Vật Liệu Xây Dựng Bỉm Sơn. Là một DN nhỏ trong lĩnh vực VLXD xi măng, DN đã gặp nhiều khó khăn và thách thức trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên DN đã có nhiều nỗ lực để phát triển và khai thác tốt các cơ hội thị trường để có thể kinh doanh hiệu quả. - Quy mô doanh thu thương mại sản phẩm xi măng của công ty. Năm 2007 tổng doanh thu của DN đạt 71800 triệu đồng, năm 2008 là 99214 triệu đồng tăng 38,18% so với năm 2007. Năm 2009 doanh thu của DN là 112872 triệu đồng tăng 13,76% so với năm 2008. Tổng doanh thu nhiệm kỳ II ( 2005-2009) là 401023 triệu đồng so với nhiệm kỳ I (2000-2004) là 247576 triệu đồng tăng 161,34%. Nhận thấy doanh thu các năm liên tiếp của DN tăng chứng tỏ quy mô thương mại sản phẩm xi măng tăng, tuy nhiên tốc độ tăng chưa ổn định do thị trường sản phẩm xi măng có nhiều biến động, khả năng cạnh tranh với các đối thủ lớn còn hạn chế. Lợi nhuận của DN năm 2007 là 70300 triệu đồng, năm 2008 là 92214 triệu đồng tăng 31%. Năm 2009, DN đầu tư thêm hệ thống máy nghiền xi măng 14 tấn nên lợi nhuận của DN tăng chậm ở mức 3,96% với giá trị đầu tư sản xuất kinh doanh là 1700 triệu đồng. Qua kết quả phân tích hoạt động của công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bỉm Sơn có thế thấy được tuy mức doanh thu chưa đạt được sự ổn định nhưng đây là DN có kết quả kinh doanh tốt, có tiềm năng lớn. - Thị trường tiêu thụ của DN Thị trường mục tiêu của DN là các tỉnh miền trung và một số tỉnh miền bắc như: Thanh Hóa, Ninh Bình, Nghệ An, Nam Định, Hà Tĩnh, Nam Hà, Hà Tây…Trong đó bình quân Nghệ An chiếm 49,7% và Hà Tĩnh chiếm 33% thị
  17. phần tiêu thụ sản phẩm xi măng của DN tính chung cho các năm, còn lại Thanh Hóa và các tỉnh phía bắc chiếm 17,3%. Hiện nay, tại các thị trường truyền thống của DN nhu cầu sử dụng sản phẩm xi măng đang giảm. Năm 2008 thị phần của DN tại tỉnh Nghệ An là 25% lượng xi măng tiêu thụ trên toàn tỉnh, thị trường Hà Tĩnh năm 2008 thị phần của DN là 21% lượng xi măng trên toàn tỉnh. Nhưng đến năm 2009 tại 2 thị trường chính này thị phần giảm xuống lần lượt là 20% và 18%. 2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm xi măng. - Về Phía Nhà phân phối sản phẩm của công ty. Hầu hết các DN sản xuất và kinh doanh mặt hàng VLXD đều lựa chọn phương thức bán sản phẩm thông qua các nhà phân phối tại các địa phương. Đây là phương thức giúp cho DN có thể tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian sản phẩm lưu thông trên thị trường đồng thời mở rộng thị trường. Các nhà cung ứng chính là những người hiểu rõ nhất thị trường tại các địa phương, từ đó có thể giúp DN tiếp cận gần hơn với thị trường, đặc biệt là các thị trường mới có tiềm năng. Hiện nay DN có trên 15 nhà phân phối ở các tỉnh thành khác nhau. Trong đó có các nhà phân phối lớn như Hoa Thường tại Nghệ An tiêu thụ sản phẩm xi măng chiếm tới 40% sản lượng tiêu thụ của DN. Nhà phân phối Thông Thúy tại Hà Tĩnh tiêu thụ 29,95% sản lượng tiêu thụ của DN. Còn lại là các nhà phân phối nhỏ ở các địa phương khác nhau hầu hết đều tiêu thụ sản lượng xi măng chiếm 3,34% sản lượng xi măng của DN. Để mở rộng thị trường DN đã kết hợp với nhà phân phối Hoa Thường và Thông Thúy và các nhà phân phối khác để tiến hành chiến lược phát triển mới cho việc tiêu thụ xi măng PCB 40 như: Mở rộng chi nhánh phân phối ở các huyện, đi kèm với chiến lược là hỗ trợ cước vận chuyển, thưởng kích cầu ở các mức khác nhau. Chính những hoạt động của các nhà phân phối này mà DN đã
  18. thực hiện chiến lược đúng hướng nhằm huy động nguồn lực đồng thời đáp ứng thõa mãn nhu cầu kinh doanh cho các đại lý cấp 2,3 và người tiêu dùng cuối cùng từ đó góp phần giúp cho DN tăng uy tín và tăng thị phần tạo đà cho sự phát triển, góp phần phát triển thương mại sản phẩm về mặt quy mô. Bên cạnh đó có một số các nhà phân phối của DN không những phân phối sản phẩm của DN mà còn phân phối sản phẩm của DN khác, điều đó làm giảm thị phần của DN đồng thời làm giảm sản lượng xi măng tiêu thụ chung của DN, ảnh hưởng tới độ tăng trưởng của toàn DN. Đây cũng là nguyên nhân kiến cho năm 2009 tốc độ tăng trưởng của DN là 127,8% so với năm 2008 chỉ tăng hơn 4,8%, trong khi đó tốc độ tăng trưởng năm 2008 so với năm 2007 tăng 23%. - Về phía đối thủ cạnh tranh của DN Đối thủ cạnh tranh là yếu tố tác động trực tiếp đến sản lượng tiêu thụ sản phẩm xi măng của DN. Đồng thời đây là yếu tố góp phần cho DN cải thiện cơ sở hạ tầng, hoàn chỉnh hệ thống kênh phân phối, nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã… Trên thị trường xi măng hầu hết các DN sản xuất và kinh doanh là những DN có quy mô, vốn đồng thời đã có sự đầu tư nghiên cứu thị trường. Trong đó các DN thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam là những DN chiếm thị phần lớn trên thị trường. Thị trường chính của DN là thị trường Nghệ An và Hà Tĩnh, tuy nhiên phần trăm thị trường mà DN chiếm giữ là tương đối thấp, chỉ chiếm 20% thị trường Nghệ An, 18% thị trường Hà Tĩnh. Đối thủ trực tiếp ở các thị trường này là xi măng Hoàng Mai, xi măng Duyên Hà, xi măng của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn và một số xi măng khác như Phômihoa, Visai, Nghi Sơn. Các DN này đang tích cực thâm nhập sâu vào thị trường khu vực bằng các chính sách như: Xi măng Hoàng Mai đang len chân vào thị trường Nghệ An bằng cách tiếp cận với các nhà phân phối cấp 2,3 và bán sản phẩm xi măng với mức giá thấp hơn. Hay công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn đã yêu cầu các nhà phân phối
  19. không được bán sản phẩm của công ty CP VLXD Bỉm Sơn, ảnh hưởng lớn đến thị trường tiêu thụ xi măng của DN trên địa bàn Hà Tĩnh. Có thể thấy rằng đây là thị trường có sự cạnh tranh quyết liệt, chính vì vậy DN đã phải thực hiện chính sách kích cầu dài hơi đến hết năm 2009 để hướng và thúc đẩy các đại lý trung thành yên tâm kinh doanh xi măng PCB 40 của DN trên thị trường của mình, giữ thị phần và tiêu thụ đạt được sản lượng cao nhất, đồng thời ngăn chặn sự dành giật thị phần từ các DN khác. - Về phía người tiêu dùng. Nhân tố tác động tới sự phát triển thương mại sản phẩm xi măng trên thị trường phải kể đến thị hiếu sở thích của người tiêu dùng. Hầu hết những người có nhu cầu sử dụng sản phẩm xi măng đều cho rằng sản phẩm xi măng của các công ty nhà nước là đảm bảo chất lượng hơn cả. Họ chấp nhận trả một mức giá cao hơn để mua sản phẩm của các DN này, trong khi đó sản phẩm của các DN nhỏ cũng đảm bảo chất lượng theo TCVN 6260 – 1997. Thị hiếu của người tiêu dùng ở các vùng miền khác biệt nhau. Ở các thành phố lớn hầu hết các công trình xây dựng đều sử dụng sản phẩm xi măng của các DN nhà nước, bởi đây là khu vực mà người tiêu dùng có thu nhập cao, họ sẵn sàng bỏ một khoản tiền lớn hơn để mua sản phẩm của các DN thuộc tổng công ty xi măng thay vì phải đắn đo xem sản phẩm của các DN nhỏ có đảm bảo tiêu chuẩn hay không? Chính vì vậy thị phần của công ty CP VLXD Bỉm Sơn tại các thành phố lớn rất thấp Bên cạnh đó ở các vùng có nền kinh tế kém phát triển hơn, thu nhập của người dân thấp hơn, họ phải có sự tính toán để vừa đảm bảo chất lượng công trình của mình đồng thời tiết kiệm chi phí. Vì thế DN chỉ có thể tiếp cận được với thị trường ở các tỉnh nhỏ ở phía bắc và thị trường các tỉnh miền trung. Đặc biệt thị trường miền trung là khu vực tiêu thụ sản phẩm của DN lớn nhất bởi ngoài vấn đề về thu nhập thì đây là khu vực có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thường xuyên chịu bão lụt vì vậy người dân có nhu cầu tiêu dùng sản
  20. phẩm xi măng nhiều hơn để cải tạo lại cơ sở vật chất. Đây là thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng tiềm năng trong tương lai của DN. - Về chính sách nhà nước. Nhà nước tác động đến quá trình phát triển thương mại sản phẩm xi măng thông qua công cụ luật pháp như: luật thương mại, luật cạnh tranh, luật doanh nghiệp… Các hoạt động kinh doanh sản phẩm của DN dựa vào nền tảng là các luật định của nhà nước. Đặc biệt đối với sản phẩm xi măng, DN sản xuất sản phẩm cần phải đạt tiêu chuẩn TCVN 6260 – 1997. Bên cạnh đó hệ thống pháp luật ở Việt Nam còn đang trong quá trình thay đổi, chưa đạt được sự ổn định, chính vì vậy tác động lớn đến việc phát triển thương mại sản phẩm xi măng của DN. Ngoài ra chính sách của nhà nước là thực hiện nền kinh tế thị trường đã góp phần giúp cho DN có thể tìm thêm những cơ hội mới để phát triển thị trường sản phẩm. Sự điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế tạo nên sự công bằng giữa các DN, tạo cơ hội cho các DN nhỏ tiếp cận đồng thời mở rộng thị trường. Chính những ưu đãi đó góp phần giúp cho DN tiết kiệm được chi phí sản xuất kinh doanh, tăng sản lượng tiêu thụ trên thị trường, mở rộng quy mô và phát triển. Bên cạnh đó, các DN nhỏ nói chung và công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bỉm Sơn nói riêng chịu ảnh hưởng bởi chính sách về lãi suất cho vay. Nếu nhà nước nâng cao mức lãi suất thì đồng nghĩa với việc hạn chế khả năng đầu tư của các DN và ngược lại. Tại Công ty cổ phần vật liệu xây dựng hiện nay số vốn vay ngân hàng công thương Bỉm Sơn là 11,7 tỷ đồng, vì vậy quá trình phát triển thương mại sản phẩm xi măng phụ thuộc rất lớn vào mức quy định lãi suất của DN. Lãi suất cơ bản trong các năm từ năm 2004 đến 2009 có xu hướng biến đổi liên tục, tính đến cuối năm 2009 là 7%/năm. Lãi suất thay đổi ảnh hưởng không nhỏ tới việc đầu tư kinh doanh, áp dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại. Chính vì vậy năm 2009 với mức lãi suất thấp DN đã đầu tư vào sản xuất kinh doanh với mức giá trị đầu tư sản xuất kinh doanh là 17000 triệu đồng. Đến đầu năm 2010 mức lãi xuất dần đã đi vào ổn định ở mức 8%/năm. Mức lãi suất ổn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản