TIỂU LUẬN: Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội

Chia sẻ: chipchip1122

Toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành xu hướng tất yếu khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường. Hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới đang là xu hướng chung của các nước. Trong xu thế hội nhập hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến thị trường Việt Nam với những lợi thế so sánh với các nước trong khu vực. Dòng vốn đầu tư vào trong nước đang ngày càng tăng mạnh. Từ thực tế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội

TIỂU LUẬN:

Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu

nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

Cục thuế thành phố Hà Nội
LỜI NÓI ĐẦU



Toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành xu hướng tất yếu khách quan của quá trình
phát triển nền kinh tế thị trường. Hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới đang là xu
hướng chung của các nước. Trong xu thế hội nhập hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài
rất quan tâm đến thị trường Việt Nam với những lợi thế so sánh với các nước trong khu
vực. Dòng vốn đầu tư vào trong nước đang ngày càng tăng mạnh.

Từ thực tế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đang diễn ra với tốc độ ngày
càng cao càng đặt ra cho chúng ta yêu cầu phải đổi mới cơ chế, chính sách sao cho phù
hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập. Thực hiện
công cuộc cải cách thuế trong những năm gần đây, ngành thuế nói chung và Cục thuế
Hà Nội nói riêng đã không ngừng hoàn thiện hệ thống các sắc thuế một cách hiệu quả
nhất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế

Tuy nhiên trong quá trình quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài cũng đang phát sinh nhiều vấn đề như tình trạng trốn thuế, gian lận
thương mại, quy trình quản lý thuế còn nhiều bất hợp lý ảnh hưởng trực tiếp đến môi
trường đầu tư. Các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm đầu tư trên thị trường
quốc tế nên rất dễ lợi dụng kẽ hở của chính sách, pháp luật của nước ta để gian lận thuế
thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó là việc các nhà đầu tư nước ngoài thiếu hiểu biết
về Pháp luật Việt Nam cũng là một hạn chế không nhỏ.

Trong những năm qua, công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đạt được nhiều những kết quả to lớn song
cũng vẫn còn thể hiện những nhược điểm cả trong hệ thống chính sách, tổ chức quản lý
cũng như tình trạng thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp ở các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN diễn ra khá phổ biến.

Chính vì vậy, đi sâu nghiên cứu để tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn
thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp với các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài là một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu. Xuất phát từ những thực tế trên,
đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội” đã được
chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn.

Thông qua việc vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích tổng hợp,
đối chiếu so sánh, logic…đề tài sẽ hệ thống lại một số vấn đề lý luận về thuế nói chung
và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng. Đề tài bước đầu tổng kết những thành quả đã
đạt được cũng như đánh giá thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trọng tâm nghiên cứu giới hạn tại Cục
thuế Thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là Cục thuế Hà Nội). Từ đó đề xuất một số giải
pháp, nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới, góp phần động viên
nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài
CHƯƠNG 1 THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG
NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

1.1.1 Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay không còn là một thuật ngữ mới lạ đối với
kinh tế Việt Nam. Có thể nói trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, thành
phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Theo Luật đầu
tư của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29
tháng 11 năm 2005:

 Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng
tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư

 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định trong Luật này là:

 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài: là tổ
chức kinh tế thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do nhà ĐTNN thành lập tại Việt
Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

 Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài: là tổ chức kinh tế được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng
hợp tác kinh doanh được ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành hoạt động kinh
doanh tại Việt Nam

 Đầu tư theo hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC): là hình thức đầu tư được ký
giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm
làm ra mà không thành lập pháp nhân
- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là hình thức đầu tư
được ký giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh
doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn nhà đầu tư
chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) là hình thức đầu tư được
ký giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình cho Nhà nước
Việt Nam, Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một
thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): là hình thức đầu tư được ký giữa các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng
sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam;
Chính phủ sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư
và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT

 Đầu tư phát triển kinh doanh

 Góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư

 Đầu tư thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác như đầu tư vào khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao…

1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập tại Việt
Nam do cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam cấp giấy phép thành lập hoặc hoạt
động kinh doanh theo các hợp đồng hợp tác kinh doanh.

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường là thành viên của các công ty
đa quốc gia (công ty mẹ đặt tại một quốc gia và các công ty con được thành lập ở nhiều
nơi trên thế giới). Đặc điểm này khiến cho mối liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài và các bộ phận khác của công ty đa quốc gia tương đối chặt chẽ và
phức tạp. Vì vậy, khiến cho các cơ quan chức năng của ta khó tập trung quản lý, việc
can thiệp và kiểm soát các giao dịch tương đối khó khăn.

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức quản lý chịu sự chi phối gián
tiếp của luật pháp nước cư trú của công ty mẹ nhưng cũng phải chịu sự quản lý của
nước sở tại (nước nhận đầu tư) nên việc kiểm soát và theo dõi sẽ gặp nhiều khó khăn.
Các công ty này đã có kinh nghiệm lâu năm kinh doanh trên thị trường quốc tế nên có
rất nhiều những biện pháp tinh vi đối phó với cơ quan chức năng

- Các doanh nghiệp nước ngoài trong quá trình đầu tư, tiến hành sản xuất kinh doanh
vào nước khác thường sử dụng nguồn nguyên liệu, dây truyền công nghệ từ chính quốc
nên rất phức tạp trong việc xác định được giá trị thị trường trong quá trình góp vốn liên
doanh ảnh hưởng đến việc xác định chi phí.

- Sản phẩm được sản xuất ra thường chịu sự chi phối, bao tiêu của công ty mẹ nên
gây cản trở cho các cơ quan chức năng trong việc xác định doanh thu

Chính từ thực tế đặc thù của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, để có thể
chủ động trong việc quản lý, kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp thì các cơ quan chức năng cần có những biện
pháp cụ thể, có sự tính toán chặt chẽ và lâu dài.

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế quốc
dân

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm
huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho nền kinh tế là chủ trương, chính
sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.

Quá trình vận động tồn tại và phát triển cùng với sự đóng góp ngày càng to lớn
có hiệu quả của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cho sự ổn định, phát triển
nền kinh tế của nước ta trong 20 năm qua đã khẳng định vị trí và vai trò tầm quan trọng
của thành phần kinh tế này.

Ngày nay thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài trở thành nhu cầu thiết yếu của
mọi quốc gia. Theo số liệu của ngân hàng thế giới thì tổng số FDI của thế giới năm
1980 là 191.595 triệu USD; năm 1996 là 314.696 triệu USD và tăng lên rất nhanh qua
các năm. Theo công bố ngày 2/8/2001 của tổ chức thương mại và phát triển liên hiệp
quốc phòng FDI tăng nhanh trong những năm qua, hầu hết các nước đều thực hiện
chính sách đầu tư thông thoáng và cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư
nước ngoài.

Các nước đang phát triển muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của mình
cần có lượng vốn lớn trong khi khả năng huy động nguồn lực từ trong nước có hạn do
nhiều nguyên nhân khác nhau, cho nên hầu như họ đều tìm mọi cách thu hút nguồn vốn
từ bên ngoài, mà nguồn vốn FDI là rất quan trọng bởi tính ưu việt của nó so với các
nguồn huy động khác. Cạnh tranh thu hút nguồn vốn này giữa các quốc gia không kém
phần quyết liệt, nhất là các nước trong khu vực. Bằng nhiều hình thức ưu đãi thu hút
đầu tư hấp dẫn mang tính lợi thế so sánh, trong đó thuế cũng là một công cụ mà hầu như
quốc gia nào cũng sử dụng để khuyến khích đầu tư.

Đối với Việt Nam: Một quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế
tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì tăng trưởng kinh tế là
mục tiêu số một để tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn, và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã
hội khác như: chống lạm phát, gia tăng xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, xóa đói
giảm nghèo. Nhưng để tăng trưởng kinh tế thì yếu tố vật chất quyết định là gia tăng vốn
đầu tư. Cùng với việc đẩy mạnh khai thác nguồn vốn đầu tư trong nước thì việc tăng
cường thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng cần phải được
quan tâm đặc biệt.

Những vai trò nổi bật của doanh nghiệp có vốn ĐTNN:

* Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ đáp ứng một lượng vốn lớn cho nền
kinh tế. Đặc biệt như với nước ta lượng vốn còn hạn chế, nguốn vốn bổ sung từ đầu tư
nước ngoài sẽ đáp ứng lượng vốn đầu tư mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất và
phát triển mọi mặt cho các ngành kinh tế. Hơn nữa sự có mặt của các doanh nghiệp có
vốn ĐTNN còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần hình thành và phát triển
trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương
đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả cao
* Sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ làm tăng sức cạnh tranh cho
các doanh nghiệp trong nước. Khi có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, muốn
tốn tại và phát triển các doanh nghiệp trong nước phải có những triến lược phát triển
của mình, cải thiện chất lượng và mẫu mã sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Các doanh
nghiệp trong nước cần mở rộng thị phần, gia tăng cả về chất lượng và số lượng sản
phẩm

* Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong quá trình đầu tư vào Việt Nam sẽ đem
theo những dây truyền công nghệ mới, điều này sẽ cải thiện tình trạng công nghệ lạc
hậu của các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là bước đầu cải thiện và đổi mới hoàn toàn
công nghệ trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Từ đây phát triển một số ngành kinh tế
quan trọng có hàm lượng kỹ thuật cao mà Việt Nam còn nhiều tiềm năng như viễn
thông, thăm dò và khai thác, chế biến dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học,
ô tô, xe máy...

* Một vai trò không kém phần quan trọng là việc các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN hoạt động tại Việt Nam sẽ góp phần nâng cao năng lực trình độ quản lý của các
nhà quản lý Việt Nam. Với những nước đang phát triển như nước ta doanh nghiệp có
vốn ĐTNN sẽ là trường đào tạo các bộ quản lý tốt nhất bởi lẽ với yêu cầu ngày càng
cao của công việc, của hội nhập kinh tế lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ có
môi trường để thực tập, cọ sát và học tập không ngừng nâng cao trình độ của mình

* Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ
tạo cho người lao động tác phong công nghiệp trong lao động, góp phần đào tạo và
nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động. Điều này sẽ gián tiếp làm tăng năng suất
lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao

* Ở tầm vĩ mô, doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn tạo điều kiện cân bằng cán cân
thanh toán quốc tế. Tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào đời sống kinh
tế quốc tế.
1.2 THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.1.1 Bản chất, sự ra đời và phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp

 Khái niệm về thuế

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước. Thuế xuất hiện, tồn tại và
phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Khi Nhà nước ra đời đòi hỏi
phải có nguồn lực của cải để trang trải chi phí hoạt động của bộ máy Nhà nước, thực
hiện các chức năng của Nhà nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà nước quy định các
khoản đóng góp bắt buộc đối với dân chúng và các chủ thể khác trong xã hội.

Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất
tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh
khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.

Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản. Mác đã chỉ rõ: “Để
duy trì quyền lực công cộng đó, cần có ngay những sự đóng góp của những người công
dân của nước đó là thuế ...” (Mác – Ăng ghen. TT. T2 – NXB Sự thật – Hà Nội – 1962.
trang 522)

Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một
định nghĩa tương đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất
xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua
con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”.(Gaston Jeze.
“Finances Publiqué”, 1934)

Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân
phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các
quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi
tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo
đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư
sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước.

Một cách chung nhất thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước. Khi
Nhà nước ra đời, thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu
của Nhà nước. Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc
dân cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước.

Thuế là hình thức đóng góp theo luật định của các pháp nhân và thể nhân cho
Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định.
Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Nhà nước dùng
quyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công
dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm
bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn ổn
định được Ngân sách Nhà nước. Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa
vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó. Đặc điểm này
phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng góp mang tính tự
nguyện cho Ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vay mượn khác của Chính
Phủ.

Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thuế vận động một
chiều, trên cơ sở các số thuể thu được Nhà nước sẽ sử dụng cho những chi tiêu công
cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mọi cá nhân trong xã hội. Số thuế mà các
đối tượng phải nộp cho Nhà nước được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích
công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ. Đặc
điểm này cũng phân bịêt giữa thuế với phí và lệ phí.
Như vậy, Thuế là một khoản đóng góp có tính bắt buộc từ các thể nhân và pháp
nhân cho Nhà nước, được quy định bằng các văn bản pháp luật và không có tính hoàn
trả trực tiếp

 Bản chất, sự ra đời và phát triển của thuế TNDN

Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của
các doanh nghiệp. Nó có vai trò điều tiết thu nhập từ kết quả sản xuất kinh doanh.

* Bản chất của thuế TNDN

Thuế TNDN là một loại thuế trực thu. Tính chất trực thu biểu hiện sự đồng nhất
giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế trên phương diện kinh tế. Nếu
thuế gián thu luôn được cấu thành trong giá cả hang hoá, dịch vụ mà người tiêu dung
phải trả qua hành vi mua hang hoá và dịch vụ được cung cấp, người nộp thuế là các nhà
sản xuất và trung gian thương mại, thì thuế TNDN lại điều tiết trực tiếp vào thu nhập
của các nhà sản xuất, các nhà đầu tư và người cung cấp dịch vụ. Chính điều tiết trực
tiếp vào thu nhập của các pháp nhân nên thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp, lợi nhuận đạt được của các nhà đầu tư.

Nhà nước thường sử dụng thuế TNDN để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội
đề ra. Do vậy các yếu tố kỹ thuật của thuế TNDN như: các khoản thu nhập thuộc đối
tượng chịu thuế thu nhập (phạm vi điều chỉnh), các chi phí được khấu trừ, thuế suất, các
hình thức miễn, giảm thuế TNDN đều phản ánh chính sách của Nhà nước trong từng
thời kỳ nhất định.

* Sự ra đời và phát triển:

Ở Việt Nam, cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi
tức đã được ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ
nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
mới: giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức được vai trò của thuế trong chính
sách tài chính công, mà cụ thể là cải cách thuế nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi
khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời
kỳ. Để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng
cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
đã được ban hành. Sự hoàn chỉnh và phù hợp của Luật thuế TNDN được thể hiện qua
xu hướng cải cách cụ thể như sau:

Thứ nhất: Thuế TNDN luôn có xu hướng cắt giảm thuế xuất nhưng phải đảm bảo
nguồn thu cho NSNN. Chính vì lẽ đó, lộ trình xây dựng và hoàn thiện Luật thuế TNDN
đã được Quốc hội thông qua: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức, có mức thuế suất phổ thông là 32%. Cho
đến nay trong tình hình mới, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XI, kỳ họp thứ 3 đã ban hành Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, được thông
qua vào ngày 17/6/2003, có mức thuế suất là 28%. Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 1 tháng 1 năm 2004. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 10 tháng 5 năm 1997
hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật mới này có hiệu lực. Tiếp tục đến 2008, sau 4 năm
đi vào áp dụng, trước những đòi hỏi mới, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài Chính dự theo
Luật sửa đổi Luật thuế TNDN, và lần này dự kiến mức thuế suất thuế TNDN là 25%các
cơ quan chức năng lại đang tiếp tục có những điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình
mời. Dự thảo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi đang tiếp tục được Bộ Tài chính
trình lên quốc hội.

Thứ hai: Về kỹ thuật hành thu, thuế thu nhập doanh nghiệp không khác thuế lợi
tức là mấy song về quan điểm kinh tế, thuế thu nhập doanh nghiệp có cái nhìn cởi mở
hơn về hoạt động sản xuất kinh doanh cả trong nước và đầu tư nước ngoài thuế thu
nhập doanh nghiệp mở rộng hơn về cơ sở tính thuế và xoá bỏ dần sự phân biệt thuế suất
đối với các loại thu nhập. Sự chuyển đổi cách nhìn thể hiện rõ trong việc thuế Lợi tức
đánh theo các mức khác nhau trên lợi nhuận tuỳ theo phân ngành kinh tế quốc dân theo
cơ chế kế hoạch hoá ví như doanh nghiệp chịu thuế suất 30% nếu chỉ hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp nặng, xây dựng, chịu thuế suất 50% nếu hoạt động trong lĩnh vực
thương mại, dich vụ. Còn thuế suất thuế thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng một mức
thuế suất phổ thông đánh trên thu nhập không phân biệt ngành nghề kinh doanh, trừ
khai thác và thăm dò dầu khí do Chính phủ qui định.
Thứ ba: Thuế TNDN luôn được cải cách theo hướng mang lại hiệu quả cao nhất,
đảm bảo công bằng nhất, rõ ràng minh bạch và đơn giản nhất, nhưng cũng thể hiện tính
linh hoạt, thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN ở
Việt nam.




1.2.1.2 Mối quan hệ giữa thuế TNDN với các loại thuế khác

Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối
quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của Nhà nước trong
từng thời kỳ. Hệ thống thuế gồm nhiều hình thức thuế khác nhau nhưng sự hình thành
từng hình thức thuế do cơ sở thuế quyết định. Trong nền kinh tế thị trường, thuế suy
cho cùng đều lấy từ thu nhập. Do yêu cầu của quá trình tái sản xuất mà thu nhập được
vận động trong một chu kỳ khép kín và luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện của nó.
Chính sự biến đổi đa dạng đó đã làm nảy sinh các cơ sở thuế khác nhau, tạo ra khả
năng đáng thuế của Chính phủ trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín và hình
thành các hình thức thuế khác nhau.

Hệ thống thuế của một quốc gia được hình thành tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế
xã hội, cấu trúc và quan điểm thực thi chính sách của từng quốc gia. Mỗi loại thuế đảm
nhận những sứ mệnh khác nhau nhưng mục đích cuối cùng vẫn là động viên nguồn thu
cho ngân sách nhà nước.

Với tất cả các nền kinh tế trên thế giới: “Doanh nghiệp là trái tim của nền kinh
tế” chính vì vậy thuế TNDN đóng vai trò vô cùng quan trọng. Có ý kiến cho rằng, thuế
TNDN là loại thuế trung tâm của hệ thống thuế. Sự vận động của thuế TNDN có tác
động rất lớn lên các loại thuế khác và ngược lại sự vận động của từng sắc thuế cũng tác
động trở lại đối với thuế TNDN.

Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế - Thuế TNDN phải nộp

Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x Thuế suất (%)
Thu nhập Doanh thu tính Chi phí hợp Thu nhập
chịu thuế trong = thuế thu nhập - lý trong kỳ + chịu thuế
kỳ tính thuế trong kỳ tính thuế khác



Như vậy, bất cứ sự thay đổi nào của thuế TNDN sẽ làm ảnh h ưởng đến thu nhập
sau thuế nhận được. Thu nhập thay đổi ảnh hưởng đến cầu tiêu dùng, điều này sẽ điều
tiết hành vi tiêu dùng trong xã hội vì vậy gián tiếp tác động tới thuế gián thu trong nền
kinh tế như GTGT, tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. Sự tương quan tác động của
các loại thuế còn thể hiện ở chỗ, khi nguồn thu nhập của mỗi cá nhân bị điều tiết một
phần thông qua thuế TNCN thì cũng ảnh hưởng không nhỏ tới cầu tiêu dùng gián tiếp
ảnh hưởng trở lại cung hàng hóa của doanh nghiệp, doanh thu thay đổi tất yếu số thu
của thuế TNDN sẽ có những biến đổi nhất định. Bên cạnh đó, để xác định thu nhập chịu
thuế TNDN trong kỳ tính thuế thì việc xác định chi phí hợp lý, hợp lệ là yếu tố vô cùng
quan trong. Cấu thành nên chi phí trong kỳ cũng cần đưa vào đây các loại thuế gián thu
khác như thuế XNK, thuế TTĐB…

Có thể thấy rằng, dù mục đích ra đời, đối tượng chịu sự điều tiết của mỗi loại
thuế là khác nhau song mọi sắc thuế đều có những mối tương quan nhất định và có sự
tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ. Sự tác động này diễn ra nhiều chiều, vận hành
liên tục tạo ra sự gắn bó giữa các sắc thuế tạo nên hệ thống thuế thống nhất. Từ đây đặt
ra yêu cầu cho các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu thật đầy đủ mối tương
quan giữa các sắc thuế để tạo một động lực tốt, tăng hiệu quả quản lý nguồn thu từ thuế
và thực hiện được mục tiêu tạo sự công bằng trong xã hội. Hơn nữa các chính sách thuế
được áp dụng cần lưu ý đến khả năng nuôi dưỡng nguồn thu, phải tạo ra động lực thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.

1.2.1.3 Thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Luật đầu tư nước ngoài ra đời là một bước ngoặt trong qua trình cải cách hành
chính, cải cách đầu tư ở nước ta. Ngay từ khi có Luật ĐTNN, thành phần kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài đã có chỗ đứng vững chác trong nền kinh tế. Điều này cũng đòi hỏi
những chính sách thuế phải được xây dụng sao cho minh bạch và rõ ràng hơn cho phù
hợp với những đặc thù riêng có của loại hình doanh nghiệp này

- Đứng trước yêu cầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra cho môi trường
quản lý thuế có những quy định cởi mở hơn so với doanh nghiệp trong nước. Cụ thể là
thuế suất 15%, 20%, 25% cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN thì doanh nghiệp trong
nước là 30%, 50% và sau này là 32%, 28%. H ơn nữa chúng ta cũng đã xây dựng những
điều kiên ưu đãi miến giảm thông qua chính sách khuyến khích đầu tư (XNK 50, 80%
trở lên; sử dụng trên 500 lao động ...). Cho đến này, khi chúng ta đã áp dụng mức thuế
TNDN phổ thông 28% không phân biệt doanh nghiệp trong hay ngoài n ước thì những
doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động trước năm 2004, nay vẫn còn hiệu lực thì
vẫn tiếp tục được hưởng các ưu đãi trong giấy phép đầu tư ví như thuế suất vẫn duy trì
ở mức 25% nếu thời gian miễn, giảm thuế vẫn còn thì vẫn tiếp tục được miễn, giảm...

- Yêu cầu về hội nhập thuế quốc tế lại đạt ra các vẫn đề về tranh chấp quyền
đánh thuế với doanh nghiệp nước ngoài từ đây phát sinh các hiệp định song phương và
đa phương về thuếm như Hiệp định tránh đánh thuế hai lần... Đến thời điểm này chúng
ta cũng đã ký kết khoảng 48 hiệp định song phương và hiệp định đa phương về thuế.
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành thuế Việt Nam trong quá trình hội nhập
quốc tế và cũng tạo hành lang pháp lý thuận lợi, minh bạch cho các nhà ĐTNN đến với
Việt Nam.

- Mặt khác do có sự đầu tư về vốn và công nghệ từ bên ngoài vào, nên chính
sách thuế cũng có những điều chỉnh riêng cá biệt với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt
động ở Việt Nam như quy định về hình thức kinh doanh không có pháp nhân tại Việt
Nam thông qua chính sách về thuế nhà thầu, bản quyền...

1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.2.1 Quản lý thuế TNDN và nội dung của quản lý thuế TNDN đối với doanh
nghiệp có vốn ĐTNN

 Quản lý thuế

 Khái niệm Quản lý thuế
Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức nhà
nước có tư cách pháp nhân. Do đó, quản lý thuế là một hình thức quản lý công. Quản lý
thuế chủ yếu thực hiện khâu hành pháp về thuế.

Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, chủ yếu
thuộc lĩnh vực hành pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ
quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền
thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ
quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho
các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu
trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện
môi trường quản lý luôn biến động.

Quản lý thuế quan tâm trước hết tới việc thực thi chính sách thuế. Để thực hiện
tốt công tác quản lý thuế cần có một chính sách thuế hợp lý. Sau khi chính sách thuế
được hoạch định và được thông qua, chính sách đó được thực thi trong thực tế. Quản lý
thuế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc sống. Hoạt động
quản lý thuế là sự tác động có tổ chức, tuân theo những quy tắc nhất định và mang tính
quyền lực nhà nước. Đây cũng có thể coi là hoạt động quản lý hành chính – kinh tế
trong lĩnh vực thuế

 Nội dung quản lý thuế

Hoạt động quản lý thuế bao hàm nhiều nội dung được quy định cụ thể trong luật
Quản lý thuế. Nó bao gồm

- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế.

- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.

- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt.

- Quản lý thông tin về người nộp thuế.

- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế.

- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế.

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.

Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy chế, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ nhất
định với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định.

Do vậy, xét về khía cạnh hành chính thuế, nội dung chính của quản lý thuế sẽ là
các trình tự và thủ tục thuế của các đối tượng có liên quan (đối tượng nộp thuế, cơ quan
thuế và các đối tượng khác). Các trình tự và thủ tục thuế - hay là các "quy tắc ứng xử"
này được xây dựng trong mọi lĩnh vực của công tác quản lý thuế: kê khai, nộp thuế,
quyết toán thuế... với mục đích nhằm làm cho các đối tượng liên quan thực hiện đúng
các nghĩa vụ luật định về thuế. Thông qua công tác quản lý thuế, các "quy tắc ứng xử"
này sẽ được xây dựng, ban hành, hướng dẫn và kiểm tra bằng "sức cưỡng chế" của cơ
quan thuế.

 Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp

 Nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có
vốn ĐTNN

 Đối tượng chịu thuế: Tất cả các khoản phải thu nhập thu được từ bất kỳ
hoạt động kinh tế nào của doanh nghiệp có vốn ĐTNN đều là đối tượng chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp

Các doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu là hợp đồng
hợp tác kinh doanh thì thuế TNDN được tính cho từng hợp đồng hợp tác kinh doanh).

 Đối tượng nộp thuế

* Công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt
Nam.

Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài tại Việt Nam là cơ sở kinh doanh mà
thông qua cơ sở này công ty nước ngoài thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh
doanh của mình tại Việt Nam mang lại thu nhập. Cơ sở thường trú của công ty nước
ngoài tại Việt Nam bao gồm các hình thức sau:
- Công ty đó có tại Việt Nam: chi nhánh, trụ sở điều hành, văn phòng (trừ văn
phòng đại diện thương mại không được phép kinh doanh theo pháp luật Việt Nam), nhà
máy, xưởng sản xuất, kho giao nhận hàng hoá, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu
hoặc khí đốt, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên hay các thiết bị,
phương tiện phục vụ cho việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên.

- Hoặc có tại Việt Nam: địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt hoặc
lắp ráp; các hoạt động giám sát xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp.

- Thực hiện việc cung cấp dịch vụ ở Việt Nam thông qua nhân viên của công ty
hay một đối tượng khác được công ty ủy nhiệm thực hiện dịch vụ cho một dự án hay
nhiều dự án.

- Tổ chức tại Việt Nam đại lý môi giới, đại lý hưởng hoa hồng hoặc bất kỳ một
đại lý nào khác.

- Công ty đó ủy nhiệm cho một đối tượng tại Việt Nam có thẩm quyền ký kết các
hợp đồng đứng tên công ty hoặc không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên công
ty nhưng có quyền thường xuyên đại diện cho công ty giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ
tại Việt Nam.

* Cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại
Việt Nam.

 Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài

Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định dựa trên 2 căn cứ: thu nhập chịu thuế và
thuế suất.

Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x thuế suất (%)

Thu nhập Doanh thu tính Chi phí hợp Thu nhập
chịu thuế trong = thuế thu nhập - lý trong kỳ + chịu thuế
kỳ tính thuế trong kỳ tính thuế khác
 Thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập chịu thuế của hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở
nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác.

* Doanh thu tính thuế

 Ðối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là toàn bộ tiền
bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở sản xuất, kinh
doanh được hưởng. Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo
phương thức trực tiếp trên giá trị gia tăng, doanh thu để tính thu nhập bao gồm cả thuế
giá trị gia tăng.

Ðối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là doanh thu của hàng hóa bán


tính theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm.

Ðối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng thì doanh thu tính thuế


theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm
trao đổi, biếu, tặng.

Ðối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là chi phí để sản


xuất ra sản phẩm đó.

Ðối với hoạt động gia công hàng hoá là tiền thu về gia công bao gồm cả tiền


công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi tiết khác phục vụ cho việc gia công hàng
hoá.

Ðối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu được từng kỳ theo hợp


đồng thuê. Trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều tháng, nhiều năm thì doanh thu
là toàn bộ số tiền thu được.

Ðối với hoạt động tín dụng là tiền lãi cho vay thực thu được trong kỳ tính thuế.


Ðối với hoạt động khác do Bộ tài chính quy định.


* Chi phí
Thông tư 134/2007/TT-BTC ra đời đã có bước thay đổi rõ rệt trong việc quy
định các khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý thay cho việc quy định cả các
khoản chi phí hợp lý, hợp lệ và các khoản chi không hợp lý, hợp lệ. Điều này tiến tới
đơn giản hơn trong việc xử lý và xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ, tạo ra tính minh
bạch, dễ thực hiện trong quá trình quản lý thuế của cơ quan chức năng cũng như việc
thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT.

Những khoản chi phí sau đây không tính vào chi phí hợp lý:

 Chi phí khấu hao tài sản cố định thuộc một trong các trường hợp sau:

. Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.

. Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh được
thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh (trừ tài sản cố định thuê mua tài chính).

. Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch
toán trong sổ sách kế toán của cơ sở kinh doanh theo chế độ quản lý tài sản cố định và
hạch toán kế toán hiện hành.

. Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế độ
quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Trường hợp áp dụng phương pháp
khấu hao đường thẳng, khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ là phần trích khấu hao
vượt quá 02 lần mức khấu hao theo quy định.

. Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị.

. Chi phí khấu hao đối với công trình trên đất vừa sử dụng cho sản xuất kinh
doanh vừa sử dụng cho mục đích khác thì không được tính khấu hao vào chi phí hợp lý
đối với giá trị công trình trên đất tương ứng phần diện tích không sử dụng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh.

 Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá phần vượt mức
tiêu hao hợp lý, bị tổn thất hoặc bị hư hỏng đã được các tổ chức, cá nhân bồi thường.

 Chi phí tiền lương, tiền công thuộc một trong các trường hợp sau:
. Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động
nhưng hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm thực tế chưa chi.

. Chi phí tiền lương, tiền công do cơ sở kinh doanh chi ngoài hợp đồng lao động
hoặc thoả ước lao động tập thể.

. Các khoản tiền thưởng cho người lao động không mang tính chất tiền lương,
không được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động

. Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể, cá nhân
kinh doanh. Thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội
đồng quản trị không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ.

 Chi phí của cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ không có hoá đơn, được
phép lập Bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ mua vào nhưng không lập Bảng kê kèm
theo chứng từ thanh toán cho cơ sở, người bán hàng, cung cấp dịch vụ

 Phần chi phí tiền ăn giữa ca hàng tháng cho mỗi người lao động vượt quá mức
lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước.

 Phần chi phí tiền ăn định lượng chi trả cho người lao động làm việc trong một số
ngành đặc biệt vượt quá mức chế độ Nhà nước quy định.

 Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà cơ sở kinh doanh không có quy chế quy định
cụ thể về việc chi thưởng sáng kiến, cải tiến, không có hội đồng nghiệm thu sáng kiến,
cải tiến.

 Chi tài trợ cho giáo dục không đúng đối tượng quy định

 Phần chi bồi thường, trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
vượt quá mức quy định. Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.

 Chi phí trả tiền điện, nước đối với những hợp đồng điện nước do chủ sở hữu cho
thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh ký trực tiếp với đơn vị cung cấp điện, nước không
có đủ chứng từ
 Phần chi phí thuê tài sản cố định vượt quá mức phân bổ theo số năm mà bên đi
thuê trả tiền trước.

Đối với chi phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê mà trong hợp đồng thuê tài sản
quy định bên đi thuê có trách nhiệm sửa chữa tài sản trong thời gian thuê thì chi phí sửa
chữa tài sản cố định đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ dần vào chi
phí nhưng thời gian tối đa không quá 3 năm.

Trường hợp chi phí để có các tài sản không thuộc tài sản cố định: chi về mua và
sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn
hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh... được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh nhưng
tối đa không quá 3 năm

 Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép không đúng theo quy định của Bộ Luật Lao
động

 Các khoản chi cho lao động nữ không đúng đối tượng và mức chi vượt quá quy
định

 Phần chi trang phục bằng tiền cho người lao động vượt quá 1.000.000
đồng/năm.

 Phần trích nộp quĩ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn vượt mức
quy định. Phần chi đóng góp hình thành nguồn chi phí quản lý cho cấp trên, chi đóng
góp vào các quỹ của hiệp hội vượt quá mức quy định của cơ sở kinh doanh, hiệp hội.

 Phần chi phí lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của các tổ
chức tín dụng, các tổ chức tài chính vượt mức lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay.

 Trích, lập và sử dụng không đúng chế độ về trích lập và sử dụng Quỹ nghiên
cứu phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.

 Trích, lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn
thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng bảo hành sản
phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp không theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính.
 Trích, lập và sử dụng quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm và chi trợ cấp thôi việc
cho người lao động không theo đúng chế độ hiện hành.

 Các khoản chi phí trích trước mà thực tế không chi gồm: trích trước về sửa chữa
lớn tài sản cố định và các khoản trích trước khác.

 Các khoản chi phí của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số kiến
thiết, kinh doanh chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh đặc thù khác không thực
hiện đúng theo văn bản hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

 Khoản lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ cuối năm tài chính; lỗ chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây
dựng cơ bản (giai đoạn trước hoạt động sản xuất kinh doanh).

 Chi phí quản lý kinh doanh do công ty ở nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường
trú tại Việt Nam phần vượt mức chi phí được tính theo công thức:

Chi phí quản lý [Doanh thu tính thuế của cơ Tổng số chi phí
kinh doanh do sở thường trú tại Việt Nam quản lý kinh
công ty ở nước trong kỳ tính thuế doanh của
ngoài phân bổ cho -------------------------------- công ty ở nước
cơ sở thường trú = Tổng doanh thu của công ty x ngoài trong kỳ
tại Việt Nam trong ở nước ngoài, bao gồm cả tính thuế.
kỳ tính thuế doanh thu của các cơ sở
thường trú ở các nước khác
trong kỳ tính thuế

Căn cứ để xác định chi phí và doanh thu của công ty ở nước ngoài là báo cáo tài
chính của công ty ở nước ngoài đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập

 Các khoản tiền phạt về vi phạm hành chính như: vi phạm luật giao thông, vi
phạm chế độ đăng ký kinh doanh, vi phạm chế độ kế toán thống kê, vi phạm pháp luật
về thuế và các khoản phạt về vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

 Chi về đầu tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các đoàn thể, tổ chức xã hội và ủng
hộ địa phương; chi từ thiện
 Các khoản thuế:

. Thuế GTGT của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
đã được khấu trừ hoặc hoàn thuế;

. Thuế thu nhập doanh nghiệp;

. Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

. Thuế thu nhập cá nhân.

 Chi phí không hợp lý khác theo quy định của pháp luật.

* Thu nhập khác

Chênh lệch về mua, bán chứng khoán.


Thu nhập về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản:


· Thu nhập về cho thuê tài sản.

· Thu nhập từ việc cho sử dụng hoặc quyền sử dụng sở hữu trí tuệ.

· Thu nhập khác về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.

Lãi từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản.


Lãi tiền gửi, cho vay vốn.


Chênh lệch do bán ngoại tệ.


Kết dư cuối năm các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá


chứng khoán, dự phòng bù đắp các khoản phải thu khó đòi.

Thu các khoản thu khó đòi đã xoá sổ kế toán nay đòi lại được.


Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ.


Các khoản thu nhập từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của những năm trước bị bỏ


sót mới phát hiện ra.

Các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở


nước ngoài.
Trường hợp nhận được khoản thu nhập đã nộp thuế thu nhập ở nước ngoài thì cơ
sở kinh doanh phải xác định số thu nhập trước khi nộp thuế thu nhập ở nước ngoài để
tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi xác định số thuế thu nhập cả năm sẽ được trừ số
thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài nhưng số thuế được trừ không vượt qúa số thuế thu
nhập tính theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cho khoản thu nhập nhận được đó.

· Các khoản thu nhập liên quan đến việc tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ
không tính trong doanh thu, sau khi đã trừ các khoản chi phí theo quy định của Bộ tài
chính để tạo ra khoản thu nhập đó.

· Các khoản thu nhập khác.

· Cơ sở kinh doanh nhận được thu nhập do cơ sở kinh doanh nhận góp vốn cổ
phần, liên doanh liên kết kinh tế chia cho (sau khi đã nộp thuế) thì không phải nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập đó nhưng phải gộp vào phần thu nhập
sau thuế để xác định thuế thu nhập bổ sung.

 Thuế suất

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam như sau:

Thuế suất chung là 28%. Còn đối với những doanh nghiệp thành lập và hoạt


động tại Việt Nam trước năm 2004 nếu giấy phép đầu tư còn hiệu lực thì sẽ áp dụng
thuế suất 25% hoặc thuế suất ưu đãi ghi trong giấy phép đầu tư

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở kinh doanh tiến hành tìm


kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác từ 28% đến 50% phù hợp
với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh

Trong từng trường hợp cụ thể, với những đối tượng được hưởng ưu đãi, miễn
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhà nước sẽ có những quy định cụ thể. Mức miễn
giảm cụ thể và thời gian được ghi trong giấy phép đầu tư

 Quy trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài
 Đăng ký và cấp mã số thuế

Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn ĐTNN do cục thuế trực tiếp
quản lý. Việc quản lý thu thuế phải thực hiện theo đúng trình tự quy định của quy trình
quản lý thu thuế.

Sau khi nhận được giấy phép đầu tư do cấp có thẩm quyền phê duyệt, doanh
nghiệp đến liên hệ trực tiếp với cục thuế để nhận tờ khai đăng ký thuế theo mẫu quy
định. Doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai, sau đó gửi
tờ khai cùng với bản sao giấy phép đầu tư (đã công chứng) cho cơ quan thuế. Cục thuế
tiến hành kiểm tra đầy đủ chính xác các chỉ tiêu trên tờ khai, thực hiện việc cấp mã số
thuế cho doanh nghiệp (mã số thuế này được tồn tại trong suốt đời sống của doanh
nghiệp); đây là bước khởi đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng, các chứng từ mua bán,
trao đổi hàng hóa - dịch vụ của doanh nghiệp phải được ghi đầy đủ mã số thuế này.

 Xử lý tờ khai chứng từ nộp thuế

Theo quy trình này doanh nghiệp có thể lấy được mẫu tờ khai thông qua phần
mềm hỗ trợ tự khai tự nộp trên trang Web của Tổng cục thuế. Thông qua bộ phận một
cửa, doanh nghiệp sẽ nộp tờ khai hàng tháng. Phòng Kê khai - Kế toán thuế sẽ tiến hành
nhập tờ khai chuyển về các phòng Kiểm tra để tiến hành ra soát, đối chiếu và quản lý.
Trên cơ sở số liệu kê khai, các doanh nghiệp sẽ tự động trích chuyển phần thuế phát
sinh phải nộp vào tài khoản của cơ quan quản lý thuế mở tại kho bạc Nhà nước.

 Xử lý miễn thuế, giảm thuế

NNT thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo luật thuế tự xác định mức ưu
đãi thuế và kê khai thuế theo quy định, trừ những trường hợp pháp luật về thuế có quy
định phải lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế gửi cơ quan thuế. Đối với các trường
hợp phải ra quyết định miễn, giảm, các bộ phận chức năng trong cơ quan thuế cũng phải
tiến hành các bước thẩm định nhằm xem xét một cách thận trọng việc miễn, giảm thuế
có đúng đối tượng không, căn cứ miễn giảm, thời hạn miễm giảm, thuế suất áp dụng…
đã đúng chưa? Cơ quan thuế phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi ban hành quyết định.
Quyết đinh miễn giảm thuế được lưu vào "hồ sơ miễn giảm thuế của NNT" tại bộ phận
lưu trữ theo quy định. Việc sử lý miễn, giảm còn căn cứ vào các hiệp định song, đa
phương ký kết với các quốc gia khác. Bên cạnh các doanh nghiệp có vốn ĐTNN có
pháp nhân tại Việt Nam còn phát sinh hoạt động kinh doanh không pháp nhân như nhà
thầu, hợp đồng… Để xét miễn, giảm thuế cho những đối tượng này còn căn cứ vào một
số luật bổ sung khác như Luật thuế nhà thầu, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần…

 Quyết toán thuế

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp thì NNT kê khai tạm nộp theo quý, tự quyết
toán theo năm. Đây là công việc rất quan trọng và chiếm thời gian nhiều nhất trong
công tác quản lý thu thuế, nếu doanh nghiệp và cơ quan thuế làm tốt khâu này thì tác
dụng rất lớn trong quản lý thu thuế. Đồng thời góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo quy định của chế độ tài chính hiện hành thì: Các doanh nghiệp đang hoạt
động trong thời hạn 90 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch (trường hợp đặc biệt có
thể là năm tài chính đã đăng ký với Bộ Tài Chính) hoặc trước khi chia, tách sát nhập,
giải thể trong vòng 45 ngày NNT phải lập và gửi báo cáo quyết toán thuế, báo cáo tài
chính đã được cơ quan kiểm toán lập và xác nhận với cơ quan thuế

 Lập hồ sơ người nộp thuế

Phòng Kiểm tra thuế có trách nhiệm tập hợp và quản lý có hệ thống hồ sơ của
NNT hàng năm nhằm phục vụ tốt cho công tác quản lý NNT, phòng Kê khai - kế toán
thuế, phòng tổng hợp - nghiệp vụ - dự toán có trách nhiệm lưu giữ các tờ khai, bảng kê,
chứng từ nộp thuế, quyết định hoàn thuế, phiếu điều chỉnh quyết toán thuế theo đúng
chức năng của mình.

Thực hiện đầy đủ quy trình quản lý thuế chính là nội dung cơ bản của công tác
hành thu, một quy trình khoa học hợp lý sẽ là công cụ tốt để nhà nước thực hiện tốt
chức năng quản lý thuế, nâng cao hiệu quả ngành thuế và tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.

 Thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài
Thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện bằng bộ máy của thuế Nhà nước được cụ
thể hóa trong Luật thể hiện uy lực, tính nghiêm minh trong việc chấp hành pháp luật về
thuế.

- Trước hết các phòng Kiểm tra thuế sẽ tiến hành kiểm tra việc chấp hành những
quy định về kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của kiểm tra thuế là soát xét
đánh giá tính đúng đắn, chính xác của tờ khai của doanh nghiệp với tình hình thực tế
kinh doanh tại cơ sở, phát hiện những sai sót và những điều bất thường trong tờ khai
của các doanh nghiệp.

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ thống kê - kế toán, hoá đơn chứng
từ. Trong thực tế có rất nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng hoá đơn
chứng từ và đặc thù kinh doanh đưa trở về công ty mẹ bao tiêu sản phẩm để trốn lậu
thuế, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Đồng thời thanh tra thuế sẽ giúp kiểm tra
tính chính xác của các số liệu kế toán làm căn cứ tính thuế

- Thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. Quá trình thanh tra
đối với những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp phát hiện những trường
hợp nộp thiếu, nộp chậm số thuế

- Công tác thanh tra thuế với doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn có vai trò trong
việc tuyên truyền phổ biến và mang tính răn đe đối với các đối tượng nộp thuế. Soát xét
và phát hiện những yếu kém và bất cập, hướng dẫn, sửa chữa kịp thới những sai sót còn
tồn tại trong công tác kê khai và nộp thuế của từng doanh nghiệp

- Một nhiệm vụ cũng rất quan trọng của thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh
nghiệp là giải quyết và xử lý kịp thới những khiếu kiện về thuế. Làm tăng tính công
bằng và nghiêm minh cho tất cả các đối tượng nộp thuế

Để công tác thanh tra, kiểm tra thuế được hiệu quả thì việc thường xuyên tiến
hành kiểm tra, theo dõi mọi biến động của các doanh nghiệp kết hợp thanh tra đột xuất
hoặc định kỳ là một việc làm cần thiết

Công tác thanh tra, kiểm tra chỉ có thể đạt được hiệu quả khi nó đảm bảo tính
khách quan, trung thực, rõ ràng, sâu sát khi đưa ra kết luận và đặc biệt phải dựa trên cơ
sở các văn bản pháp quy của nhà nước, tuyệt đối không được gây phiền hà, sách nhiễu
cho các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra

1.2.2.2 Sự cần thiết của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Quản lý thuế chính là việc thực hiện quá trình hành pháp về thuế. Chính vì vậy,
sự cần thiết của quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài cũng xuất phát từ chính vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp trong
nền kinh tế quốc dân. Và ảnh hưởng của thuế TNDN tới sự phát triển của nền kinh tế
mà trong đó khoản thuế từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần
quan trọng

 Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện
chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế
đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng trên cơ sở pháp luật. Ðể thực hiện tái phân
phối thu nhập, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách
Nhà nước được công bằng, hợp lý, Nhà nước sử dụng thuế TNDN làm công cụ điều tiết
thu nhập

 Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà
nước

Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng, gồm cá nhân, nhóm
kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển
và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động
nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào.
 Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp phần khuyến
khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến
lược, phát triển toàn diện của Nhà nước

Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những
ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển
trong từng giai đoạn nhất định.

 Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là một trong những công cụ quan trọng
của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã
hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống
pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu qủa vai trò của thuế
thu nhập doanh nghiệp, chúng ta cần phải xem xét nó d ưới nhiều khía cạnh, kể cả
những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài. Nếu chúng ta làm tốt các công tác quản lý
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì vai trò
của thuế đối với loại hình doanh nghiệp này sẽ thực sự phát huy trong thực tế

 Thuế thu nhập doanh nghiệp tạo điều kiện thực hiện mục tiêu công bằng và
bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đồng thời cũng khuyến
khích và thu hút đầu tư

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, không thế tiếp tục thực hiện
cơ chế bao cấp, bảo hộ cho các doanh nghiệp như trước đây. Các doanh nghiệp trong và
ngoài nước cần được cạnh tranh bình đẳng để vừa thu hút được đầu tư, mở rộng thị
trường vừa thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tự nâng cao khả năng cạnh tranh của
mình.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI
2.1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở HÀ
NỘI

2.1.1 Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài

Luật đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987. Có thể coi đây chính là dấu
mốc quan trọng đánh dấu cho sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam. Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo
môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn ĐTNN vào Việt Nam. Luật này đã bổ sung
và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn cảnh
mới. theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp
phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Có thể thấy, trước đây chúng ta không thừa nhận thành phần kinh tế tư bản nước
ngoài, nên thành phần kinh tế này không được quan tâm đúng mức. Sau cải cách những
năm 1986, trước đòi hỏi của tình hình mời, cũng như để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
chúng ta cũng đã có những điểu chỉnh để phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài. Sự ra
đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường pháp lý cao
hơn để thu hút vốn ĐTNN vào Việt Nam. Trong hơn 20 năm qua, Luật đầu tư nước
ngoài đã 4 lần được sửa đổi vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 và năm 2006 được
hợp nhất với Luật khuyến khích đầu tư trong nước thành Luật đầu tư. Cho đến nay
chúng ta cũng đã xây dựng một khung pháp lý chung dựa trên Luật đầu tư điều chỉnh tất
cả các loại hình doanh nghiệp trong cả nước không có sự phân biệt đối xử giữa các
doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Từ năm 1988 tính đến hết năm 2007, cả nước có 8.684 dự án còn hiệu lực với
tổng vốn đăng ký 85,05 tỷ USD; vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt gần
30 tỷ USD. (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ
USD). FDI vào Việt Nam đã đóng góp cho nền kinh tế rất lớn. Vốn FDI chiếm tỷ trọng
18% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 16,2% GDP, chiếm 19,78% kim ngạch xuất khẩu
(chưa kể dầu thô) và 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước.
* Phân theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất
chiếm 67% về số dự án và 60% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ
chiếm 22,3% về số dự án và 34,3% (tăng từ mức 30,7% đến hết năm 2006) về số vốn
đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.

* Phân theo hình thức đầu tư:- Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 77,6%
về số dự án và 61,6% về tổng vốn đăng ký; Liên doanh chiếm 18,8% về số dự án và
28,8% về tổng vốn đăng ký. Số còn còn lại đầu tư theo hình thức Hợp doanh, BOT,
công ty cổ phần và công ty quản lý vốn.

* Phân theo nước: Đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt
Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 66% tổng vốn đăng ký; các nước châu Âu chiếm
29% tổng vốn đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 4% vốn đăng ký. Riêng 4 nền kinh tế
đứng đầu trong đầu tư vào Việt Nam theo thứ tự: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và
Nhật Bản đã chiếm 55% tổng vốn đăng ký. Riêng Hàn Quốc đã có 1.837 dự án với tổng
vốn đầu tư 13,5 tỉ USD. Tuy nhiên trong vài năm gần đây, lượng vốn đầu tư của các
quốc gia Tây Âu và Bắc Mĩ cũng đã tăng lên nhanh chóng.

*Phân theo địa phương: Hiện nay đã có 52 tỉnh, thành phố của nước ta thu hút
nguồn vốn ĐTNN. Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi thuộc các
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc vẫn là những địa phương dẫn đầu thu
hút ĐTNN, trong đó 5 địa phương dẫn đầu :

(1) TP. Hồ Chí Minh chiếm 27,6% về số dự án và 20% tổng vốn đăng ký;

(2) Hà Nội chiếm 11,6% về số dự án; 14,9% tổng vốn đăng ký;

(3) Đồng Nai chiếm 10,5% về số dự án; 13,7% tổng vốn đăng ký;

(4) Bình Dương chiếm 18,2% về số dự án; 10,0% tổng vốn đăng ký;

(5) Bà Rịa –Vũng Tàu chiếm 1,8% về số dự án; 7,2% tổng vốn đăng ký;

Tình hình đầu tư nước ngoài năm 2007

Sau một năm gia nhập WTO, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam đã
có những bước phát triển vượt. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),
hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong năm 2007 tiếp tục có bước đột phá về
lượng và có sự chuyển biến mạnh mẽ về chất. Trong năm 2007 tổng vốn đăng ký đạt
21,3 tỷ USD vượt 1 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (20,3 tỷ USD). Tổng vốn thực hiện
đã đạt hơn 8 tỷ USD (trong đó dầu khí đạt 2,89 tỷ USD), vượt 4 tỷ USD so với báo cáo
ban đầu (4,6 tỷ USD). Tính chung, thu hút FDI đạt 21,3 tỷ USD, tăng gần 70% so với
năm 2006, gần bằng tổng mức đầu tư nước ngoài của 5 năm 2001-2005 và chiếm tới
gần 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong 20 năm qua

* Theo ngành nghề: Trong năm 2007, vốn đầu tư đăng ký (cấp mới và tăng vốn)
tiếp tục tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 54,9% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 44,5%. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp

* Theo đối tác đầu tư: Trong năm 2007 có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư
tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu với số vốn đăng ký (cấp
mới và tăng vốn) 5,3 tỷ USD, chiếm 25,2% về tổng vốn đăng ký. British Virgin Islands
đứng thứ 2, chiếm 20,6%; Singapore đứng thứ 3, chiếm 12,04%; Đài Loan đứng thứ 4,
chiếm 11,6%; Nhật Bản đứng thứ 5, chiếm 6,4%; Malaysia đứng thứ 6, chiếm 5,5% ;
Trung Quốc đứng thứ 7, chiếm 2,6% (cộng cả Hồng Kông sẽ chiếm 5,5%) và Hoa Kỳ
(không tính các dự án đầu tư qua nước thứ 3) đứng thứ 8, chiếm 1,8%; Thái Lan đứng
thứ 10 chiếm 1,3% tổng vốn đăng ký.

* Về cơ cấu vùng: Trừ dầu khí, trong năm 2007 cả nước có 56 địa phương thu
hút được dự án ĐTNN, trong đó 10 địa phương dẫn đầu. Đó là: Hà Nội đứng đầu với số
vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Đồng Nai đứng thứ 2,
chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 3, chiếm 10,6% ; Bình Dương đứng thứ 4,
chiếm 10,5% về tổng vốn đầu tư đăng ký; Phú Yên đứng thứ 5, chiếm 7,9%; Bà Rịa-
Vũng Tàu đứng thứ 6, chiếm 5,2%; Vĩnh phúc đứng thứ 7, chiếm 4,9%; Đà Nẵng đứng
thứ 8, chiếm 4,4%; Long An đứng thứ 9 chiếm 3,8% và Hậu Giang đứng thứ 10, chiếm
2,9%.

Vốn đăng ký trong thời gian qua tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản,
bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng
khu công nghiệp (42% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong khu vực dịch vụ), du lịch-
khách sạn (24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%). Trong số các ngành dịch vụ, lĩnh
vực dịch vụ du lịch đang nổi lên là điểm sáng đáng chú ý của nền kinh tế Việt Nam với
số lượng các dự án lớn đang tìm hiểu và xúc tiến đầu tư tăng mạnh. Chỉ tính riêng năm
2007, số liệu thống kê của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cho thấy: ngành du lịch Việt
Nam đã thu hút 47 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký lên đến trên 1,86 tỷ USD, tăng
19,57% so với năm 2006.

Một thành công nữa là Việt Nam đã thu hút được các tập đoàn lớn vào kinh
doanh tại Việt Nam. Điều đó đã tạo ra uy thế cho Việt Nam cũng như giá trị sản phẩm
trên trường quốc tế. Hiện có trên 110 các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) trong danh sách
500 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới (do tạp chí uy tín Fortune 500 công bố) đã
đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 11,09 tỉ USD, chiếm một tỉ trọng lớn,
20% tổng vốn FDI của cả nước.

Ba tháng đầu năm nay, tổng vốn FDI vào Việt Nam ước đạt 5,4 tỷ USD và vốn
thực hiện đạt 1,6 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỹ đã thay thế Hàn
Quốc trở thành nhà đầu tư số một vào Việt Nam trong thời điểm này.

Tình hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên dịa bàn Hà
Nội

Hà Nội là một thành phố lớn, là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả
nước, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi, thuộc các vùng kinh tế trọng điểm nên vẫn
luôn là địa phương dẫn đầu thu hút ĐTNN. Đứng thứ 2 trong cả nước về thu hút vốn
ĐTNN chiếm 11,6% về số dự án; 14,9% tổng vốn đăng ký. Trong đó có mặt đầy đủ cả
82 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào đa dạng các lĩnh vực.

Ước tính đến hết tháng 3/2008, Hà Nội thu hút được 72 dự án cả cấp mới và tăng
vốn với tổng vốn đăng ký là 574,8 triệu USD. Trong đó:

- Dự án cấp mới là 67 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 542 triệu USD; trong đó
có một số dự án đầu tư lớn là Công ty đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghệ sinh học
Hà Nội- 250 triệu USD (Irland), Công ty TNHH Khách sạn 5 sao Hoa Sen - 250 triệu
USD (X2- Riviera/CSK); Công ty TNHH Honda Trading Việt nam với vốn đầu tư 5
triệu USD

- Dự án tăng vốn là 5 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 32,8 triệu USD; trong đó
có 3 dự án tăng vốn nhiều nhất là Công ty cổ phần Vina Power –tăng 15,6 triệu USD,
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt nam- tăng 13 triệu USD, Công ty TNHH dịch
vụ xây dựng và phát triển phần mềm Okada Harmony- tăng 4 triệu USD. So với cùng
kỳ năm trước số dự án ước bằng 100% (72/72), còn số vốn đầu tư tăng gấp 2,6 lần
(574,8/218,9).

Bảng 2.1 : Tổng vốn đăng ký kinh doanh mời và bổ sung của doanh nghiệp
có vốn ĐTNN ( giai đoạn 2003 – 2007) trên địa bàn Hà Nội

Đơn vị : Triệu USD

Chỉ tiêu Năm 2005 2006 2007

9.664 11.785 12.672
Tổng vốn đăng ký mới

63 71 86
Đăng ký bổ sung

Nguồn : Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội




Bảng 2.2 : Vốn đầu tư theo thành phần kinh tế trên địa bàn Hà Nội (2005 –
2007)

Đơn vị : Triệu USD, %

Khu vực kinh tế Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số vốn Tỷ trọng Số vốn Tỷ trọng Số vốn Tỷ trọng
59,1 56,3 51,8
KT Nhà nước 32.010 38.287 41.173

22,8 26,2 32,1
KT ngoài quốc doanh 12.384 17.776 25.426

18,1 17,5 16,1
KT có vốn ĐTNN 9.727 11.856 12.758

100 100 100
Tổng số 54.121 67.919 79.357

Nguồn : Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội

2.1.2 Những đặc điểm về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội

Khác với các địa phương trên cả nước, quản lý thuế nói chung và thuế TNDN
nói riêng, Hà nội có những điểm riêng về tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách quản lý
thuế ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, cũng nh ư ở từng giai đoạn của cải cách
hệ thống thuế.

+ Ví dụ như trong giai đoạn thực hiện cơ chế TKN: trong khi cả nước còn thực
hiện kê khai và nộp theo thông báo của cơ quan thuế thì Hà Nội đã bắt đầu tiến hành
thực hiện doanh nghiệp tự khai, tự chịu trách nhiệm. Điều này cũng cho thấy vị trí cũng
như vai trò của doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng như bộ máy cơ quan quản lý thuế ở
Hà Nội đối với cả nước

- Địa bàn Hà Nội có đối tượng có vốn ĐTNN đa dạng, hoạt động đa ngành nghề,
lĩnh vực chính vì vậy đặt ra yêu cầu quy định quản lý thuế cần rõ ràng, minh bạch, có sự
phân loại và điều chỉnh cụ thể cho từng đối tượng những cũng phải mang tính bao quát,
bọc lót nguồn thu. Hơn nữa do đặc thù các doanh nghiệp có quy lớn, đối tượng lại đa
dạng vì vây quy trình quản lý thuế cần đơn giản, dễ thực hiện

- Đối tượng đa dạng, hoạt động kinh doanh đa dạng ngành nghề, lĩnh vực nhất
thiết cần có số lượng lớn cán bộ quản lý, lực lượng này cần có chuyên môn tốt, am hiểu
cả pháp luật Việt Nam và cả pháp luật quốc tế. Ví dụ như số cán bộ quản lý doanh
nghiệp có vốn ĐTNN tại Cục thuế Hà Nôi hiện nay là 32 người trong khi tại Cục thuế
Hà Tây số lượng này là 14 người... Một yếu tố không kém phần quan trọng là các cán
bộ thuế phải thông thạo ngoại ngữ không chỉ tiếng Anh mà cần biết và sử dụng thêm
những ngoại ngữ khác nữa để hoàn thành tốt được công việc của mình

- Hà Nội là thủ đô kinh tế chính trị văn hóa của cả nước chính vì vậy môi trường
chính trị và quản lý hành chính cũng có những đặc thù riêng có so với các địa phương
khác điều này gián tiếp ảnh hưởng tới yêu cầu quản lý thuế trên địa bàn. Vì vậy ngoài
yêu cầu về quản lý nguồn thu về thuế Hà Nội còn phải đảm bảo yêu cầu về an ninh,
chính trị, văn hóa, môi trường khắt khe hơn so với các địa phương khác trong cả nước.

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CỤC
THUẾ HÀ NỘI

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế tại Cục thuế Hà Nội

Cơ cấu tổ chức của Cục thuế Hà Nội

Cục thuế thành phố Hà Nội được thành lập theo quyết định 314/TC-QĐ-TCCB
ngày 21/8/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính và quyết định 1683/QĐ/TCT ngày
14/1/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế. Vị trí, chức năng của Cục thuế Hà Nội
được quy định cụ thể tại quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007
của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Cục Thuế thành phố Hà Nội (sau đây gọi chung là Cục Thuế Hà Nội) là tổ chức
trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ
phí và các khoản thu khác của Ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) trên địa
bàn thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh nhiệm vụ đảm bảo số thu cho ngân sách Nhà nước, Cục thuế Hà Nội
còn phải thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác do Tổng cục thuế giao và đảm
bảo thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân thành phố Hà Nội

Cục thuế Hà Nội hiện nay có 1 Cục trưởng và 4 phó cục trưởng giúp Cục trưởng
quản lý các công việc chuyên môn. Cục thuế Hà Nội có 17 phòng chức năng và 14 chi
cục Thuế trực thuộc (Là các Chi cục thuế quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội).
Các phòng chức năng tiếp quản lý và thực hiện những nhiệm vụ Cục trưởng giao cho.

Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các phòng

Những năm trở lại đây nhất là từ khi Luật quản lý thuế ra đời, bộ máy quản lý
thuế ở cơ quan thuế các cấp được cải cách theo hướng tổ chức tập trung theo các chức
năng: tuyên truyền, hướng dẫn cơ sở kinh doanh; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn
đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế nhằm chuyên môn hoá, nâng cao
năng lực quản lý thuế ở từng chức năng.

Trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý thuế theo chức năng, cơ quan thuế phân định rõ
chức năng nhiệm vụ giữa các phòng, ban, bộ phận, giữa cấp trung ương và cấp địa
phương, trong đó tăng cường vai trò của cấp trung ương trong việc xây dựng kế hoạch,
chỉ đạo, hướng dẫn giám sát và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch của các địa
phương. Tương ứng với việc cải cách về bộ máy tổ chức, cán bộ thuế được đào tạo, có
đủ kiến thức, năng lực để thực hiện kỹ năng quản lý thuế chuyên sâu (tính chuyên
nghiệp cao) theo từng chức năng quản lý.

Theo Quyết định số 728/QĐ-TCT ngày 18 tháng 6 năm 2007 của Tổng cục
Trưởng Tổng cục Thuế, cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng thuộc
Cục Thuế được quy định cụ thể như sau:

Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ
chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp
thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý

Phòng Kê khai và Kế toán thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện
công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ kê khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế trong phạm
vi Cục Thuế quản lý.

Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức
thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế
nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý
Phòng Kiểm tra thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế kiểm tra, giám sát kê khai
thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản
lý trực tiếp của Cục Thuế.

Phòng kiểm tra được chia làm 4 phòng kiểm tra phân theo đối tượng quản lý và
lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp

 Phòng kiểm tra 1 quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các
doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, dầu khí,
bảo hiểm, ngoại giao trên địa bàn thủ đô.

 Phòng kiểm tra 2 quản lý các doanh nghiệp thuộc khối ngành giao thông vận tải,
bưu chính viễn thông, hàng hải

 Phòng kiểm tra 3 quản lý các doanh nghiệp hoạt động thương mại dịch vụ, văn
hoá xã hội, an ninh quốc phòng, xăng dầu

 Phòng kiểm tra 4 quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thành
phố Hà Nội.

Phòng Thanh tra thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế triển khai thực hiện công tác
thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành
vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm vi Cục Thuế
quản lý

Ba phòng thanh tra có chức năng chung, nhiệm vụ công tác của mỗi phòng từng
năm tuân theo sự phân công của Lãnh đạo cục và có sự luân phiên thay đổi theo từng
năm

Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ - Dự toán: Giúp Cục trưởng Cục thuế trong việc
chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế; xây dựng và
thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý

Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức, chỉ
đạo triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các cá nhân có thu nhập thuộc diện
phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi Cục Thuế
quản lý;
Phòng Kiểm tra nội bộ: Phòng kiểm tra nội bộ được thành lập để phù hợp với
những quy định của luật Quản lý thuế. Có thể coi đây là phòng chức năng mới được
thành lập, có chức năng giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện
công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức
thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ
quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên
quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức
thuế trong phạm vi quản lý của Cục trưởng Cục thuế.

Phòng Tin học: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức quản lý và vận hành hệ thống
trang thiết bị tin học ngành thuế; triển khai các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ
công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ thuế trong việc sử dụng ứng
dụng tin học trong công tác quản lý.

Phòng Tổ chức cán bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai
thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán
bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục thuế.

Phòng Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo,
triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý tài
chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị, quản lý và hướng dẫn các nghiệp vụ về
ấn chỉ thuế trong toàn Cục thuế.

Phòng Hành chính - Lưu trữ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo triển
khai thực hiện công tác hành chính, chương trình, kế hoạch công tác của Cục Thuế
trong phạm vi toàn Cục Thuế.

Phòng Kiểm tra thuế số 1 – Phòng quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài

Phòng kiểm tra thuế số 1 tiền thân là Phòng Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hay phòng Đầu tư nước ngoài được thành lập theo quyết định số 161
CT/TCCB ngày 17/07/1993 của Cục trưởng cục thuế Hà Nội. Phòng được thành lập
trên cơ sở tách một bộ phận của phòng thuế các đơn vị kinh tế nông – lâm - thuỷ lợi,
văn phòng xã và bổ sung thêm nhiều cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ngoại
ngữ từ các phòng khác sang. Phòng Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
chức năng nhiệm vụ tổ chức quản lý thu thuế đối với các đơn vị có vốn đầu tư nước
ngoài, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, dầu khí, bảo hiểm, ngoại
giao trên địa bàn Thủ đô.

Trong những năm trước 1989, tại Việt Nam về cơ bản chưa có thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chúng ta cũng chưa có Luật đầu tư nước ngoài, nên phòng
kiểm tra 1 trước đây là 1 tổ thuế thuộc phòng Nông lâm. Cho đến năm 1993, thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có sự phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu.
Trước tình hình đó, phòng Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hay phòng
Đầu tư nước ngoài) đã được thành lập. Từ đó cho tới này, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đã trở thành thành phần kinh tế quan trong. Luật đầu tư đã có nhiều điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế. Thêm nữa sự ra đời của Luật quản lý thuế đã
tạo ra một hành lang pháp lý mang tính minh bạch và đơn giản hơn.

Ngày 1/7/2007, Phòng đầu tư nước ngoài được tổ chức lại thành phòng Kiểm tra
thuế số 1 cho phù hợp hơn với những quy định của Luật quản lý thuế và điều kiện thực
tế.

Cơ cấu tổ chức của phòng kiểm tra 1

- Phòng kiểm tra 1 có 1 trưởng phòng và 3 phó trưởng phòng

- Hiện nay, số cán bộ thuế của phòng là 32 người trực tiếp quản lý các doanh
nghiệp thuộc đối tượng quản lý của phòng. Đội ngũ cán bộ của phòng đa số là nhưng
người trẻ, có năng lực và trình độ chuyên môn cũng như ngoại ngữ.

- Phòng trực tiếp quản lý tính đến 31/12/2007 là 1800 doanh nghiệp trên địa bàn
Thủ đô; trong đó có 1480 doanh nghiệp và chi nhánh có vốn đầu tư nước ngoài. Các đối
tượng quản lý của phòng ngành nghề kinh doanh đa dạng và mỗi đối tượng có nhiều sắc
thuế. Năm 2006, phòng là đơn vị được chọn thực hiện thí điểm công tác tự khai tự nộp
thuế.
Có thể thấy rằng việc áp dụng mô hình quản lý theo chức năng tại các đơn vị
ngành thuế nói chung và tại Cục thuế Hà Nội nói riêng đã đem lại những thành quả
đáng khích lệ. Thủ tục đã tiến tới đơn giản, nhanh chóng và thuận lợi hơn. NNT chủ
động hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế và tự ý thức được trách nhiệm của mình.
Còn Cục thuế Hà Nội cũng từng bước được chuyên môn hóa, chuyên sâu hơn về
chuyên môn, nghiệp vụ.

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội

2.2.2.1 Số thu về thuế TNDN từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN

Để mở rộng và hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực của đất nước, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm
khuyến khích hoạt động đầu tư nước ngoài. Sau 20 năm Việt Nam thực hiện chính sách
thu hút đầu tư nước ngoài, tính đến nay đã cho thấy những kết quả đáng mừng

Hoạt động đầu tư nước ngoài cũng đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp công
nghiệp hoá đất nước: khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện chiếm 36,4% giá
trị sản lượng công nghiệp (tương đương với khu vực doanh nghiệp Nhà nước). Khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 100% lĩnh vực khai thác dầu thô, sản xuất ô tô,
điện tử điện lạnh cao cấp; chiếm 60% sản lượng thép cán; 33% giá trị máy móc thiết bị
điện, điện tử sản xuất hàng năm; 76% dụng cụ y tế chính xác; 55% sản lượng sợi các
loại; 49% sản lượng da giày…

Ngoài việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá, mở rộng thị trường cho hàng hoá Việt
Nam, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và cải thiện cán cân thương mại… hoạt động
đầu tư nước ngoài còn đóng góp khoảng 7% tổng thu Ngân sách Nhà nước hàng năm.
Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước và sự tăng trưởng của hoạt động đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, tổng thu ngân sách nhà nước từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đã tăng đều hàng năm. Giai đoạn 2001-2005 khu vực doanh nghiệp
ĐTNN đã nộp ngân sách hơn 3,6 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần 5 năm trước. Năm 2006
con số trên đạt 1,4 tỷ USD, bằng cả 5 năm 1996-2000. Năm 2007, dự kiến thu ngân
sách đạt 1,576 tỷ USD, tăng 7% so với năm trước.

Bảng 2.3: Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội (2003 – 2007)

Đơn vị: tỷ đồng

2003 2004 2005 2006 2007

Tỷ
Tỷ
Tỷ Tỷ Tỷ
Chỉ tiêu Số trọn Số
trọng Số thu trọng Số thu trọng Số thu trọng
thu g thu
(%) (%) (%)
(%)
(%)

Thuế TNDN
5,6 9,2
407 846 1.139 11,9 8,1 1.276 10,6
khối DN có 795
vốn ĐTNN

Thuế TNDN
100 100
7.280 9.207 9.595 100 12.105 100
9.885 100
toàn Cục
thuế Hà Nội



Nguồn: Cục thuế Hà Nội
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng thuế TNDN giữa khối DN có vốn
ĐTNN với toàn Cục thuế Hà Nội (2003 - 2007)
%
5.3% 6.5% 8.1% 11.3% 13.2%
100%
1.5% 1.4% 1.5%
90%
1.2% 1.3%
80%
70%
60%
78.5% 74.9%
87.6% 79.4%
82.9%
50%
40%
30%
20%
11.9%
9.2%
10% 10.6%
8.1%
5.6%
0%
2007 Năm
2003 2004 2005 2006
DN có vốn ĐTNN DNNN Trung ương
DNNN Địa phương DN ngoài quốc doanh
Nguồn: Cục thuế Hà Nội

Có thể thấy rằng so sánh tổng mức đầu tư vào khu vực ĐTNN với đầu tư vào các
khu vực khác trên địa bàn Hà Nội thì kết quả số thu về thuế TNDN đối với doanh
nghiệp có vốn ĐTNN chưa cao. Tỷ lệ này dao động và trung bình khoảng 8.5% so với
số thu toàn Cục. Số thu này cao hơn so với số thu về thuế TNDN của khu vực DNNN
do địa phương quản lý và DN ngoài quốc doanh nhưng so với khu vực DNNN do Trung
ương quản lý thì mới bằng một phần mười. Tuy nhiên theo những thống kê về tổng vốn
đầu tư phân theo thành phần kinh tế thì khu vực ĐTNN có số vốn đầu tư trung bình
bằng một phần ba khu vực DNNN. Như vậy, có thể thấy số thu về thuế thu nhập doanh
nghiệp của khu vực ĐTNN chưa thực sự tương xứng với vị trí của nó.
Bảng 2.4: Chênh lệch số thuế kê khai - số thực nộp - số kiểm tra thuế TNDN
của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (2003 – 2007)

Đơn vị: triệu đồng

Số thu thuế TNDN của doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Chỉ tiêu
Số phát sinh thêm Tăng thu qua kiểm
Năm Số kê khai
khi quyết toán tra

2003 247.298 82.524 3.700

2004 334.519 64.725 12.518

2005 542.142 161.961 10.225

2006 508.286 94.286 16.915

2007 856.621 * 7.193

*: riêng năm 2007 số liệu này chưa được cập nhật hết

Nguồn: Cục thuế Hà Nội




Bảng 2.5: Lũy kế nợ thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (2005 – 2007)

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Tại thời điểm
31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007

- Nợ của ĐTNT giải thể, phá sản 4.933 5.078 5.620

- Nợ của ĐTNT bỏ trốn, mất tích 4.386 4.630 6.475

- Nợ chờ xử lý 47.411 36.644 42.481

Bao gồm:

+ Nợ đang khiếu nại 131 330 2317

+ Nợ chờ xử lý khác 6.779 2.493 3.068

+ Nợ sai sót 13.297 4.023 4.414

+ Nợ khó thu khác (*) 27.204 29.798 32.682

- Nợ khác 34.878 31.733 62.722

(*): Gồm cả nợ khó thu tài chính do tình hình tài chính gặp khó khăn

Nguồn: Cục thuế Hà Nội

Từ những số liệu thống kê có được ta thấy vẫn có sự chênh lệch tương đối lớn
giữa số kê khai, số phát sinh phải nộp bổ sung khi quyết toán và số kiểm tra. Hơn thế
nữa tỷ lệ nợ thuế cũng là một vấn đề đáng quan tâm tại đơn vị. Điều này cũng xuất phát
từ ý thức của một bộ phận nhỏ NNT còn chưa ý thức được tính chủ động và trách nhiệm
của mình trong quá trình thực hiện tự khai, tự nộp. Trong thời gian vừa qua, Cục thuế
Hà Nội cũng đã tiến hành phân loại nợ, phân loại rủi ro trong tiến hành thanh kiểm tra,
nhưng để giảm thiểu số nợ cần có nhiều biện pháp cụ thể hơn trong thời gian tới.

2.2.2.2 Sự thất thu thuế TNDN tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN

Thực tế cho thấy là trong thời gian qua mặc dù số vốn đầu tư vào các doanh
nghiệp có vốn ĐTNN là không ngừng tăng lên xong tỷ lệ báo lỗ của các doanh nghiệp
cũng ngày càng tăng. Theo số liệu quản lý của Tổng cục thuế, trên cơ sở tham khảo số
liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, trong trên 3000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
đang sản xuất kinh doanh ở Việt Nam, doanh nghiệp làm ăn có lãi trong năm 2005 chỉ
chiếm khoảng 40%, số thuế thu nhập doanh nghiệp nộp NSNN có tỷ trọng thấp hơn
12% so với tổng số thu thuế, xu hướng chuyển đổi doanh nghiệp sang 100% vốn nước
ngoài ngày càng gia tăng... – Trích tổng hợp số liệu Tổng cục thuế 12/2005.

Có thể thấy rằng số thu thuế Thu nhập doanh nghiệp đối từ các doanh nghiệp có
vốn ĐTNN chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số thu về thuế (chỉ khoảng 7%).
Trong khi số vốn đầu tư vào nước ta trong những năm gần đây ngày một tăng thì đây là
một điều khó có thể lý giải.

Theo thống kê mới nhất của Tổng cục thống kê trong 3 năm 2004, 2005 và 2006,
tỷ lệ doanh nghiệp có vốn ĐTNN kê khai lỗ dao động từ 62% -79% tổng số doanh
nghiệp có vốn đầu tư tại các địa phương trên toàn quốc

Như vậy, mặc dù có lợi thế trình độ công nghệ, trình độ quản lí, kinh nghiệm
kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn kinh doanh kém hiệu quả hơn
các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế khác của Việt Nam. Trong giai đoạn 2001-
2004 tỷ lệ doanh nghiệp có vốn ĐTNN bị lỗ nhiều gấp 2,3 đến 3,1 lần doanh nghiệp
quốc doanh và ngoài quốc doanh. Đây có phải là sự thực hay không?

Thật vậy, theo nhận định của các chuyên gia kinh tế và chuyên gia thuế, đây chỉ
là tình trạng "lỗ giả" do hành vi gian lận thuế của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và
chính sách định giá chuyển nhượng của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam

Một cách chung nhất: thuế thu nhập doanh nghiệp được cấu thành từ 4 yếu tố là
doanh thu tính thuế trong kỳ, chi phí hợp lý, hợp lệ trong kỳ, thu nhập chịu thuế khác và
thuế suất ưu đãi miễn giảm
Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x thuế suất (%)

Thu nhập Doanh thu tính Chi phí hợp Thu nhập
chịu thuế trong = thuế thu nhập - lý trong kỳ + chịu thuế
kỳ tính thuế trong kỳ tính thuế khác



Để làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, hiện nay các doanh nghiệp
sử dụng rất nhiều các thủ đoạn ngày một tinh vi và khó phát hiện hơn. Đặc biệt đối với
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với những đặc điểm riêng có về nguồn phát
sinh thu nhập và nơi cư trú cũng như những ưu đãi mà nước sở tại giành cho, thì việc
lợi dụng những khe hở này để trốn thuế là không thể tránh khỏi.

Như vậy, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp là hành vi làm giảm thuế TNDN
hoặc làm tăng số thuế được miễn giảm. Phương thức thực hiện những hành vi gian lận
này rất đa dạng, có thể kể ra một số trường hợp chủ yếu sau:

 Gian lận thuế thông qua doanh thu

- Doanh nghiệp có thể thực hiện giấu doanh thu bằng cách không kê khai doanh
thu trong kỳ, điều chuyển doanh thu từ năm nay sang năm khác trong thời gian được
hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

- Xác định sai giá bán (thường là thấp hơn thực tế) để làm giảm doanh thu, ghi
hóa đơn sai khác giữa các liên

- Không kê khai doanh thu có được do chênh lệch về doanh thu hàng bán trả góp,
trả từng lần, ứng trước

 Gian lận thuế thông qua chi phí

- Đưa chi phí khống như lương, nguyên vật liệu, các khoản tiếp khách hoặc các
chi phí không liên quan đến sản xuất kinh doanh của DN …

- Điều chuyển chi phí từ năm này qua năm khác để hưởng chính sách ưu đãi thuế

- Lợi dụng khoản chênh giữa chính sách tài chính và chế độ kế toán: VD như
trong xác đinh khấu hao tài sản cố định chính sách tài chính quy đinh doanh nghiệp
được xác định tuổi thọ để tính khấu hao của tài sản và phương pháp trích khấu hao còn
trong chế độ kế toán quy định khấu hao nhanh không vượt quá 2 lần khấu hao đường
thẳng. Doanh nghiệp lợi dụng việc chưa đồng nhất nay để tăng chi phí

- Hạch toán vượt mức các chi phí có liên quan hay trích trước các khoản trích
không hợp lý, đưa vào đây các khoản chi phí không phục vụ hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, chi phí của các bên liên quan

 Thông qua thu nhập chịu thuế khác
Thông thường gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua thu nhập chịu thuế
khác chủ yếu là việc không ghi nhận hoặc ghi nhận không đầy đủ các khoản như lãi do
chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản, lãi vay, kinh doanh chứng khoán …

 Thông qua chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế

Bên cạnh đó lợi dụng chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế (đặc biệt thông qua
chính sách động viên thu hút vốn đầu tư nước ngoài) các doanh nghiệp thường gộp hoạt
động không được ưu đãi về thuế vào hoạt động được hưởng ưu đãi

- Thành lập các công ty con tại các vùng, miền thuộc khu vực khuyên khích, ưu đãi
đầu tư thực hiện “chuyển giá nội địa”

- Cố tình xác định sai chế độ, hình thức hoạt động để đưa hoạt động của doanh
nghiệp mình vào khung ưu đãi

Đây là các hình thức gian lận thuế chủ yếu trong các doanh nghiệp để trốn, tránh
thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
với đặc điểm là các công ty đa quốc gia nên gian lận thuế TNDN được thực hiện một
cách tinh vi hơn: Gian lận thông qua “Định giá chuyển nhượng". Cụ thế đó là việc các
doanh nghiệp này:

- Xác định giá hàng nhập khẩu thường là các bán thành phẩm, lãi tiền vay, giá trị
công nghệ chuyển giao hoặc các khoản tiền chi trả cho các hợp đồng tư vấn, đào tạo…
thông qua công ty mẹ từ các cơ sở kinh doanh tại Việt Nam cao hơn giá thị trường rất
nhiều làm chi phí của cơ sở kinh doanh được dùng để tính thu nhập chịu thuế giảm đi
nhiều lần.

- Xác định giá hàng xuất khẩu, lãi tiền cho vay, giá bán công nghệ… thấp hơn
mức giá thị trường chung khiến doanh thu giảm đi.

- Công ty mẹ ở nước ngoài thường phân bổ một phần chi phí cho các công ty con
phải chịu khiến các công ty con luôn rơi vào tình trạng thua lỗ

- Đặc biệt, các công ty mẹ thường thực hiện bao tiêu sản phẩm nhưng lại định giá
rất thấp khiến cho doanh thu giảm, chi phí kê khai luôn tăng khiến tình trạng thu lỗ ở
các công ty con diễn ra thường xuyên
Hình thức gian lận thông qua định giá chuyển nhượng có thể được thực hiện cả
trong việc làm giảm doanh thu và tăng chi phí nhưng lại rất khó để xác minh và có
những luận cứ cụ thể để xử phạt hành vi này

Thực tế ở Việt Nam, việc này không những làm thất thu một phần rất lớn thuế
thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam mà còn khiến phía đối tác của ta chịu thiệt thòi.
Trong trường hợp này, lợi dụng sự thiếu thông tin, thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh
của các đối tác Việt Nam, lợi dụng sự yếu kém về khả năng thẩm định của các cơ quan
giám định Nhà nước, tài sản góp vốn của phía nước ngoài thường được định giá cao
hơn so với giá trị thực của nó. Sau khi góp vốn, nhằm trốn thuế phía nước ngoài lại tiếp
tục định giá các máy móc thiết bị cũng như hàng hoá, vật liệu phục vụ sản xuất cung
cấp cho phía Việt Nam cao hơn rất nhiều giá thị trường

 Tình trạng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

Không chỉ thực hiện hành vi gian lận thuế thông qua ẩn lẩu, trốn thuế một thực
trạng cũng rất đáng báo động đang là một vấn đề nan giải trong quản lý thuế thu nhập
doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là tình trạng
chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Các công ty đa quốc gia với số chi nhánh rải khắp thế
giới rất thuận lợi để thực hiện hành vi gian lận thuế của mình dựa trên sự chênh lệch về
thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp, các quy định về miễn, giảm thuế giữa Việt Nam
và các nước khác trên thế giới
Bảng 2.6: Chênh lệch thuế thu nhập doanh nghệp phổ thông giữa một số
nước trên thế giới

Thuế suất thuế
STT Quốc gia
TNDN (phổ thông)

1 Hông – Kông 17%

2 Đài Loan 25%

3 Thái Lan 25%

4 Singapo 26%
Thuế suất thuế
5 Hàn Quốc 28%
TNDN (phổ thông) ở
6 Malaixia 28%
Việt Nam: 28%
7 Myanmar 30%

8 Pháp 33%

9 Hoa Kỳ 35%

10 Nhật Bản 38%


Nguồn: Transfer Pricing Rules in Asia Pacific

Khi so sánh các mức thuế suất thuế TNDN của Việt Nam so với các nước trên thế
giới, có thế nhận thấy trong trường hợp Việt Nam áp dụng mức thuế suất thuế TNDN
như hiên nay thì các công ty đa quốc gia rất dễ lợi dụng sự chênh lệch thuế suất này để
tối đa hoá lợi nhuận

Như vậy, với mức thuế suất chênh lệch giữa các quốc gia sẽ gây nên hiện tượng
các doanh nghiệp thông qua chuyển lợi nhuận ra nước ngoài để có được mức thuế suất
thuế Thu nhập doanh nghiệp thấp ở một số nước như Đài Loan, Hông-Kông, Thái
Lan…Với Việt Nam đây cũng sẽ là một sự thất thoát rất lớn nguồn thu từ thuế cho
Ngân sách nhà nước. Bên cạnh những thất thoát về thuế TNDN thì thông qua việc
chuyển lợi nhận ra nước ngoài, các công ty này còn có thể dùng phần tiền này chi trả
trực tiếp lương thông qua tài khoản ở nước ngoài cho người nước ngoài làm việc tại
Việt Nam. Điều này lại dẫn đến gây thất thu thuế Thu nhập cá nhân cho Ngân sách nhà
nước.

Nếu áp dụng mức thuế suất 25% thấp hơn so với mức thuế suất hiện nay có thế
nói sẽ là một động lực tốt để tăng thu cho Ngân sách. Bởi lẽ thuế suất thấp sẽ là điều
kiện tốt để thu hút vốn ĐTNN. Mặc dù thuế suất giảm đi nhưng khi lượng vốn đầu tư
tăng lên, nhiều dự án mới, nhiều doanh nghiệp có vốn ĐTNN đi vào hoạt động thì về
tổng thể sẽ làm số thu về thuế cho Ngân sách tăng lên. Không những thế, thuế suất giảm
sẽ phần nào hạn chế được tình trạng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài như chúng ta vừa
phân tích ở trên (tới những quốc gia có mức thuế suất thấp hơn hay các “thiên đường
thuế”) thông qua các công ty hay chi nhánh của tập đoàn tại các quốc gia khác. Hạn chế
được tình trạng này cũng là bước tiến lớn để quản lý nguồn thu thuế TNDN cho Ngân
sách và là bước tiến quan trọng trong việc tạo một môi trường đầu tư bình đẳng cho mọi
thành phần kinh tế.

2.2.3 Phân tích nghi vấn về hiện tượng gian lân thuế TNDN tại một doanh nghiệp
có vốn ĐTNN ở Hà Nội

Tìm hiểu về tình hình nộp thuế TNDN tại một số doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Hà Nội, trường hợp công ty X – doanh nghiệp 100% vốn Đài Loan kinh
doanh trong ngành dệt chuyên sản xuất vải thông thường các loại là một trường hợp khá
điển hình.

Doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam vào năm 1995, đã đi vào hoạt động
tại Việt Nam được hơn 10 năm. Công ty X mua nguyên vật liệu và bán thành phẩm chủ
yếu từ công ty mẹ tại Đài Loan và các liên kết tại nước ngoài. Chỉ một lượng nhỏ màu
nhuộm, bao bì… được mua tại thị trường nội địa. Sau khi sản xuất sản phẩm, xuất khẩu
phần lớn theo chỉ định của công ty mẹ, còn lại chủ yếu cũng cung cấp cho các cơ sở liên
kết ở nước ngoài.

Trong quá trình hoạt động, công ty X đã xin điều chỉnh tăng vốn đầu tư đăng ký
(từ 22,1 triệu USD lên 80 triệu USD vốn đầu tư và từ 20 triệu USD lên 39 triệu USD
vốn pháp định). Công ty cũng thay đổi chủ sở hữu 3 lần và đổi tên doanh nghiệp nhưng
vẫn là một chủ đầu tư của Đài Loan.
Tuy nhiên theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán của kiểm toán độc lập, công
ty kinh doanh lỗ liên tục từ khi bắt đầu kinh doanh (năm 1995)

Bảng 2.7: Tình hình sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế của
Đơn vị: Tỷ đồng
công ty X

NỘI DUNG 2000 2001 2002 2003

Lãi (lỗ) - 54,5 - 18 - 41,1 - 36,3

Thuế TNDN thực nộp 0 0 0 0



Nguồn: Công ty X – Báo cáo tài chính

Từ những số liệu đã nêu, ta thấy việc công ty X liên tục mở rộng quy mô nhưng
lại kinh doanh lỗ liên tục trong nhiều năm là một điều đáng nghi vấn. Bên cạnh đó, theo
những số liệu cập nhật năm 2003, công ty mẹ tại Đài Loan có doanh thu 654 triệu USD
và lãi trên 50 triệu USD. Mặt khác các giao dịch liên kết của công ty X diễn ra rất chặt
chẽ. Từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, thiết bị tới tiêu thụ hơn 70% sản phẩm đầu
ra. Vì vậy, có thể nhận định nguyên nhân gây lỗ ở đây là do công ty đã lợi dụng giá
chuyển nhượng để chuyển thu nhập ra nước ngoài, gây lỗ giả thông qua kê khai giá
nguyên vật liệu đầu vào thật cao và xuất bán thành phẩm với giá thấp. Như vậy việc
phân tích các vấn đề liên quan đến xác định chi phí và doanh thu của các doanh nghiệp
có vốn ĐTNN là vô cùng quan trọng.

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

2.3.1 Những thành tựu đạt được

Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi phải đáp ứng nhiều điều kiện mới có thể thực
hiện thành công nhưng lại được tiến hành trong hoàn cảnh nước ta bắt đầu hội nhập
kinh tế toàn cầu cũng như chưa có kinh nghiệm thực tế. Vì vậy có thể khẳng định,
những kết quả bước đầu của công tác chống gian lận, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam rất đáng ghi nhận. Số thuế
thu nhập doanh nghiệp mà cơ quan thuế thu được cũng tạo nền tảng cho số thu vào ngân
sách nhà nước. Chúng ta cũng đã bước đầu tạo lập được một môi trường đầu tư thông
thoáng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Cũng như tạo cơ sở để các doanh nghiệp
tiến hành kinh doanh ở nước ta đóng góp vào phát triển kinh tế và tăng thu cho ngân
sách

Trong thời gian vừa qua Việt Nam đã có những quy định cụ thể để thực hiện
chống gian lận thuế Thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt là chống gian lận qua định giá
chuyển nhượng. Những qui định của pháp luật đã trao cho cơ quan thuế một số quyền
hạn nhất định trong việc yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp thông tin, chứng minh, xác
định lại doanh thu, chi phí cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp. Đồng thời, các
phương pháp xác định giá thị trường của phần tài sản góp vốn của phía nước ngoài cũng
được đưa vào những văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật thuế Thu
nhập doanh nghiệp đã giúp cơ quan thuế địa phương và các doanh nghiệp bước đầu làm
quen với việc xác định giá theo nguyên tắc thị trường.

Trong thời gian qua, ngành thuế Việt Nam hay Cục thuế Hà Nội đã tranh thủ
được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức và cơ quan thuế các nước trong việc phổ
biến kinh nghiệm xây dựng hệ thống qui phạm pháp luật, đào tạo đội ngũ cán bộ chống
gian lận thuế. Những kinh nghiệm và những khoá đào tạo này đã giúp Việt Nam tránh
được các sai lầm trong việc hoạch định chính sách đầu tư nước ngoài, chính sách thuế
cũng như có được một đội ngũ cán bộ có trình độ, kiến thức nhất định về chống gian lận
thuế Thu nhập doanh nghiệp nhất là chống gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác, việc hợp tác tốt với các cơ quan thuế
nước ngoài trong việc trao đổi thông tin thuế đã giúp cơ quan thuế Việt Nam có những
tài liệu có giá trị, góp phần không nhỏ trong thành công của quá trình đấu tranh với các
công ty đa quốc gia.

Kết quả của những cuộc thanh tra đã cho thấy việc chuyển lợi nhuận để gây lỗ,
để gian lận thuế tại Việt Nam là có thực cũng như mức độ nghiêm trọng của hành vi
này. Đồng thời, việc cơ quan thuế Việt Nam thanh tra và xử lý hành vi gian lận thuế của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng là một lời cảnh báo đối với các công
ty đa quốc gia tại Việt Nam…

Đã hình thành một hệ thống tổ chức quản lý thuế thống nhất trong cả n ước ngày
càng được củng cố và tăng cường về mọi mặt; chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành
dọc và cấp uỷ, chính quyền địa phương. Đội ngũ cán bộ quản lý thuế được đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao trình độ quản lý và phẩm chất. Áp dụng công nghệ tin học vào quản lý
thuế. Do đó hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý thuế ngày càng được nâng cao, góp
phần quyết định vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán thu Ngân sách
Nhà nước hàng năm đã được Quốc hội thông qua.

Công tác quản lý thuế được chuyển từng bước từ chế độ chuyên quản khép kín
sang chế độ người nộp thuế tự tính, tự khai và nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế
và đến nay đã thực hiện thành công cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế. Cơ chế này đã
đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế trước pháp luật; cơ quan thuế tăng
cường được chức năng tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, đôn đốc thu nộp, kiểm tra,
thanh tra xử lý vi phạm về thuế.

Tổ chức quản lý thuế được tổ chức theo mô hình chức năng đã hạn chế được tiêu
cực trong công tác quản lý thuế theo kiểu "khép kín" trước đây. Từng bước thực hiện
chuyên môn hoá quản lý thuế, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thuế.

Công tác quản lý thuế đã có những chuyển biến tích cực theo hướng rõ ràng,
công khai, dân chủ và minh bạch hơn. Từng bước củng cố, mở rộng áp dụng chế độ kế
toán hoá đơn chứng từ đối với các thành phần kinh tế, đặc biệt là đối với thành phần
kinh tế tư nhân, từ đó tình trạng thất thu Ngân sách đã giảm nhiều so với trước đây.

Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế xã hội trong nước, quốc tế có nhiều yếu tố không
thuận lợi nhưng công cuộc cải cách hệ thống thuế đã góp phần tích cực vào việc ổn định
và phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Thu ngân
sách ngày càng tăng lên; phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị
trường và thực hiện đúng lộ trình hội nhập quốc tế.

Mặc dù đã thu được một số thành tựu đáng tự hào nhưng nếu đánh giá một cách
khách quan và toàn diện thì hoạt động chống gian lận thuế Thu nhập doanh nghiệp đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung hay tại Cục thuế Hà
Nội nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập cũng như gặp nhiều khó khăn trong quá trình
triển khai. Việc phát hiện những hạn chế, bất cập và khó khăn cũng như xác định
nguyên nhân chính của những hạn chế, bất cập này là tiền đề quan trọng bậc nhất, quyết
định đến kết quả của công tác chống gian lận thuế trong thời gian tới.

2.3.2 Những hạn chế cần khắc phục

2.3.2.1 Hạn chế trong chính sách thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài

 Chính sách thuế còn nhiều bất hợp lí

Do thường xuyên phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nên việc áp dụng các qui
định của pháp luật thuế trong hoạt động quản lí thuế nói chung và hoạt động chống gian
lận thuế qua định giá chuyển nhượng nói riêng còn tồn tại rất nhiều kẽ hở

Tuy nhiên, những bất cập chủ yếu trong chính sách thuế khiến doanh nghiệp có
khả năng lợi dụng để gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận nhằm gian lận thuế và khiến cho
công tác chống gian lận thuế gặp nhiều khó khăn là:

+ Các văn bản pháp luật thuế đã qui định bắt buộc phải xác định giá mua, giá bán
hàng hoá, dịch vụ sử dụng để xác định thuế phải tuân thủ nguyên tắc thị trường nhưng
những quy định này chưa được thực hiện 1 cách triệt để, chưa có một cơ quan chuyên
môn riêng biệt được trang bị đủ năng lực trình độ, thẩm quyền để quản lý vấn đề này

+ Các thủ tục quy định về quản lý và chuyển giao công nghệ, cũng như ưu đãi
thuế đối với hoạt động chuyển giao công nghệ, áp dụng kĩ thuật mới khiến còn phức
tạp, và phần nào chưa rõ ràng đã và đang là vấn đề để cho các cơ sở kinh doanh lợi
dụng điều kiện định giá chuyển nhượng công nghệ.

+ Các qui định về khấu trừ tại nguồn đối với các khoản thu nhập từ Việt Nam
của các cơ sở kinh doanh nước ngoài chưa chặt chẽ và không bao quát được nguồn
thu…
 Còn nhiều kẽ hở trong chính sách đầu tư nước ngoài, chính sách xuất nhập
khẩu

Có thể khẳng định, Luật Đầu tư dù đã có những qui định nhằm hạn chế hành vi
định giá chuyển nhượng để gian lận thuế nhưng mới chỉ dừng lại ở việc bắt buộc các
nhà đầu tư, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải thực hiện giám định độc
lập máy móc thiết bị nhập khẩu. Trong Luật Đầu tư cũng như Nghị định hướng dẫn thi
hành của Chính phủ, các vấn đề cơ bản của hoạt động xác định giá chuyển nhượng, của
nguyên tắc thị trường và các biện pháp, các chế tài xử lý hành vi gian lận trong định giá
chuyển nhượng đã được quy định rất cụ thể nhưng trong thực tế kết qua thực hiện
không cao.

Mặt khác, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư còn rất nhiều kẽ hở khiến
cho các công ty đa quốc gia vẫn có thể thực hiện định giá chuyển nhượng như:

+ Quy định giá hàng hoá nhập khẩu thuộc diện chịu thuế nhập khẩu được xác
định theo hoá đơn thương mại. Qui định doanh nghiệp được toàn quyền xác định giá
bán của sản phẩm là hoàn toàn đúng nhưng chúng ta cần có một đội ngũ cán bộ và chế
tài đủ mạnh để kiểm soát một cách triệt để hoạt động xuất nhập khẩu này

+ Quy định giá trị công nghệ chuyển giao do các bên liên quan thoả thuận. Như
vậy trong trường hợp thực hiện các giao dịch liên kết với các công ty liên kết hoặc các
công ty trong cùng tập đoàn các doanh nghiệp này sẽ dễ dàng thực hiện định giá sai giá
công nghệ chuyển giao so với giá thị trường

Rõ ràng với những qui định "mở" như vậy sẽ làm cho các công ty đa quốc gia dễ
dàng thực hiện hành vi gian lận qua định giá chuyển nhượng để giảm thiểu nghĩa vụ
thuế, chuyển bớt lợi nhuận ra nước ngoài mà các cơ quan quản lí Nhà nước khó có thể
can thiệp. Trong những năm vừa qua chúng ta cũng đã xây dựng và kiện toàn Luật cạnh
tranh và chống bán phá giá. Điều này cũng đã phần nào làm giảm thiểu tình trạng trốn,
tránh thuế TNDN những có thể nói tình trạng bán phá giá vẫn diễn ra. Chúng ta chưa có
bộ máy chuyên biệt để thực thi và chế tài đủ mạnh để xóa bỏ hiện tượng này.

Đồng thời, những ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài như: miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố
định, miễn thuế nhập khẩu của nguyên liệu sản xuất của các dự án đầu tư vào địa bàn
hoặc lĩnh vực khuyến khích…đã làm giảm mâu thuẫn giữa mục tiêu giảm thuế thu nhập
hay giảm thuế quan của doanh nghiệp. Thực tế đã cho thấy, các công ty đa quốc gia rất
thích sử dụng kẽ hở này để khai tăng giá trị hàng hoá nhập khẩu, làm tăng chi phí giảm
thu nhập tính thuế Thu nhập doanh nghiệp mà không phải nộp thêm thuế nhập khẩu…

2.3.2.2 Công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập

Khả năng thu thập và xử lí thông tin còn thiếu và yếu không đáp ứng yêu cầu
chống gian lận thuế

Để chống gian lận thuế thành công, một điều kiện không thể thiếu là phải có cơ
sở dữ liệu được cập nhật thường xuyên, đầy đủ, toàn diện về đối tượng nộp thuế, về các
cơ sở kinh doanh có mối quan hệ liên kết của đối tượng nộp thuế, về tình hình kinh tế
trong nước và trên thế giới. Tuy nhiên hiện nay do chưa có một bộ phận chuyên thu
thập, xử lí thông tin cũng như chưa có một cơ chế thu thập thông tin nên việc phân tích,
đánh giá và xử lí hành vi gian lận thuế, xác định lại doanh thu và chi phí thực tế hay
chính là xác định một cách chính xác thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp là rất khó
khăn. Mặt khác, ngay cả khi đã thu thập được đủ thông tin kinh tế tài chính để tiến hành
phân tích thì cũng chưa có những phần mềm hỗ trợ phân tích khiến việc phân tích mất
nhiều thời gian, độ chính xác không cao…

Có thể khẳng định: một trong những việc cần làm ngay để công tác chống gian
lận thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt hiệu
quả cao chính là xây dựng được một cơ sở dữ liệu tốt và có những phần mềm hỗ trợ
việc xử lý, phân tích cơ sở dữ liệu đó.

Công tác quản lý và điều hành thu nộp cũng còn rất nhiều bất cập. Tình trạng
chậm trễ, thủ tục rườm ra vẫn luôn là hạn chế lớn đối với bộ máy ngành thuế. Thới gian
để doanh nghiệp thực hiện kê khai và nộp thuế thường rất lâu. Mặc dù đã có những cải
tiến trong thời gian qua nhưng đây vẫn là khâu yếu nhất trong quá trình thu thuế của các
cơ quan thuế
2.3.2.3 Thanh tra thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài còn chưa hiệu quả

Công tác thanh kiểm tra chống gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là kém hiệu quả.

Hiện nay, ngành thuế vẫn đã xây dựng được một quy trình thanh kiểm tra nhưng
hệ thống này chưa đáp ứng được sự thay đổi và phát triển của doanh nghiệp nói riêng
hay của cả nền kinh tế nói chung. Do đó, công tác thanh kiểm tra thuế và công tác thanh
kiểm tra chống gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp còn rất thủ công nên thường bị kéo
dài và hiệu quả thấp. Đồng thời, công tác thanh kiểm tra chống gian lận thuế mặc dù
cũng được các cơ quan chức năng quan tâm nhưng chưa được đánh giá đúng mức, chưa
được quan tâm chuyên môn hoá cao độ và việc đánh giá mức độ rủi ro còn thiếu tính
chính xác và cơ sở thực tế… khiến cho kết quả chống gian lận hạn chế.

Mặt khác, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trình độ và nghiệp vụ của các cán bộ
ngành thuế ở các cơ quan thuế địa phương còn nhiều hạn chế, cũng chưa chủ động tiến
hành hoạt động thanh tra chống gian lận thuế. Chính điều này đã góp phần khiến hành
vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiêp của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam ngày
càng phổ biến và nghiêm trọng.

Theo Luật quản lý thuế, hiện nay cơ quan thuế đã có quyền khởi tố, điều tra, tịch
biên tài sản của NNT vi phạm để thu thuế cho Nhà nước nhưng khi thực hiện còn gặp
rất nhiều khó khăn, rào cản do sự ràng buộc và chồng chéo quản lý giữa nhiều cơ quan
ban ngành. Việc thực hiện chưa quyết liệt này làm giảm phần nào tính hiệu lực của luật
thuế và làm nản lòng người thi hành công vụ về thuế.

2.3.3 Nguyên nhân

 Công tác xây dựng và ban hành Luật thuế, Luật đầu tư còn thiếu tính ổn định

Có thể dễ dàng nhận thấy, văn bản quy phạm pháp luật về thuế ở Việt Nam thiếu
tính ổn đinh lâu dài, thường xuyên phải thay đổi bổ sung. Điều này không chỉ tạo nên
sự chồng chéo mà còn khiến cho cán bộ ngành thuế gặp nhiều khó khăn trong công tác
quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong một số trường hợp trong thời gian giao thoa tiến tới thực hiện theo văn bản mới,
các doanh nghiệp còn lợi dụng những kẽ hở này để thực hiện những hành vi gian lận
thuế.

Tình trạng này xảy ra còn do các cơ quan thi hành luật chưa có cái nhìn lâu dài,
dù đã quan tâm tới tính trễ về thới gian của các văn bản luật nhưng thờì gian áp dụng
của các văn bản này thường không dài. Chỉ một thời gian ngắn sau khi ban hành đã bộc
lộ những lạc hậu so với điều kiện mới.

Một thực tế nữa là việc thi hành luật ở Việt Nam còn phải chờ đợi Nghị định và
Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ban ngành cho nên dù trên giấy tờ thời gian thi hành
Luật đã có hiệu lực nhưng khi chưa có hướng dẫn thì những quy định mới này cũng
chưa thế được thực hiện.

Tất cả những điều này đang gây một cản trở rất lớn đến công tác quản lý thuế nói
chung và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN nói riêng. Nó
gây ra tâm lý bất an đối với các doanh nghiệp làm ăn hợp pháp nhưng lại là kẽ hở lớn
để những doanh nghiệp làm ăn thiếu minh bạch lợi dụng để thực hiện hành vi gian lận,
trốn và tránh thuế

 Ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp còn
thấp

Nhìn chung các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội và các cơ quan
thông tấn, báo chí chưa hiểu rõ bản chất của thuế, chưa nắm được nội dung cơ bản của
chính sách thuế. Do đó, nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội và các cơ quan thông tấn,
báo chí chưa lên án kịp thời, mạnh mẽ các hành vi gian lận thuế và chưa hỗ trợ tích cực
với cơ quan thuế để chống gian lận thuế… Không những thế, một số tổ chức, doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thuế - tài chính còn gợi ý cho các cơ sở kinh
doanh thực hiện những biện pháp để khai giảm doanh thu, tăng chi phí để giảm thuế
phải nộp để giúp các công ty đa quốc gia trốn thuế.

Về phía đối tượng nộp thuế, do chưa nắm bắt được quyền lợi, nghĩa vụ thực hiện
đầy đủ các qui định của pháp luật thuế nên ý thức tự giác chấp hành các qui định về
thuế, về xác định giá đối với các giao dịch liên kết chưa cao.
 Công tác tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế chưa linh hoạt, hiệu quả

Có thể dễ dàng nhận thấy, các hình thức tuyên truyền chính sách thuế hiện nay
rất đơn điệu, cứng nhắc và không có tính thu hút. Việc tổ chức công tác tuyên truyền về
thuế chưa chủ động, không thường xuyên, liên tục cũng như chưa thật sự thống nhất,
đồng bộ, chưa đi vào chiều sâu. Công tác tuyên truyền để xã hội nhận thức rõ tác động
tiêu cực của hành vi gian lận thuế. Do đó, chưa gây được sức ép của công luận đối với
các cơ sở kinh doanh đang thực hiện hành vi gian lận thuế…

Không những thế, công tác hỗ trợ đối tượng nộp thuế của cơ quan thuế còn thủ
công, chưa phong phú, hiệu quả thấp cũng khiến cho các cơ sở kinh doanh gặp nhiều
khó khăn trong việc hiểu và nắm bắt được đúng những quy định của Luật để tuân thủ
đúng việc kê khai, xác định giá đối với các giao dịch liên kết theo qui định của Nhà
nước…

 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thuế làm công tác chống
gian lận thuế còn hạn chế.

Nếu so với yêu cầu của công tác chống gian lận thuế trong điều kiện hội nhập
kinh tế thế giới ngày càng mở rộng và phức tạp thì đội ngũ cán bộ thuế hiện nay không
thể đáp ứng. Đội ngũ cán bộ thuế làm công tác chống gian lận thuế còn thiếu kiến thức
chuyên sâu, không chuyên nghiệp và thiếu kĩ năng quản lí thuế hiện đại. Khả năng phân
tích, đánh giá và kĩ năng sử dụng máy tính để tính toán và xử lý các vấn đề phát sinh
còn kém.

Mặt khác, một bộ phận nho cán bộ thuế chưa có ý thức trách nhiệm trong công
tác, thiếu rèn luyện và tu dưỡng về đạo đức tiếp tay cho những hành vi gian lận….
Đồng thời, do hiện nay ngành thuế còn thiếu những chuyên gia kinh tế, kĩ thuật giỏi,
hiểu biết sâu rộng về các ngành kinh tế, về kế toán quốc tế nên khi thực hiện việc phân
tích hoạt động và tình hình tài chính của các cơ sở kinh doanh để phát hiện hành vi
chuyển lợi nhuận để gian lận thuế rất hạn chế, làm cho công tác chống gian lận thuế tiến
hành không triệt để, hiệu quả thấp.
 Sự phối kết hợp giữa các cơ quan ban ngành khác với ngành thuế còn chưa
hợp lý và gắn kết

Quản lý thuế chịu tác động của rất nhiều yếu tố từ phía ngành thuế, từ NNT đến
môi trường xung quanh. Chính vì vậy để công tác quản lý thuế đạt được hiệu quả thì
không thể thiếu sự phối kết hợp của các cơ quan ban ngành khác. Trong thời gian vừa
qua công tác này chưa thực sự đạt được hiệu quả. Bởi lẽ mới chỉ có sự liên kết trao đổi
thông tin từ ngành thuế với Kho bạc Nhà nước còn sự liên kết với các cơ quan như
UBND, tòa án nhân dân, viện kiểm soát còn chưa được quan tâm đúng mức. Chỉ khi
nào có sự phối kết hợp đồng bộ giữa tất cả các cơ quan hành chính,hành pháp, tư pháp
trên địa bàn thì công tác quản lý thuế mới được thực hiện một cách toàn diện và triệt để.




CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

3.1.1 Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài

FDI đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, đặc biệt với nước ta thuộc nhóm các nước đang phát triển, có nền kinh tế thu
nhập thấp (theo các tiêu chí phân loại của Liên hiệp quốc) thì nguồn vốn này càng đóng
vai trò quan trọng

FDI góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước, trong thời kỳ 2001-2005 khối
doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, 2007 trên 1,5 tỷ USD; thu hút trên 1,2 triệu lao
động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp, góp phần tăng thêm các ngành nghề lao
động mới, thay đổi cơ cấu ngành nghề cũng như nâng dần chất lượng chuyên môn của
lực lượng lao động này.

FDI góp phần làm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua ở mức độ cao
(từ 2002-2004: trên 7,0%, 2005: 8,44%, 2006: 8,17%, 2007: 8,48%); góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (từ năm
2005 đến nay, công nghiệp, xây dựng chiếm trên 41% GDP, riêng 2007: 41,61% GDP),
chuyển giao công nghệ tạo nên nhiều sản phẩm mới có chất lượng, có hàm lượng công
nghệ cao, trong đó có các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; góp
phần nhanh chóng phát triển các vùng kinh tế trọng điểm kéo theo các vùng phụ cận;
góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp không có FDI) nâng cao
khả năng quản trị kinh doanh, khả năng cạnh tranh; góp phần nâng cao khả năng khai
thác, sử dụng có hiệu quả lao động, vốn, tài nguyên,...

Với 82 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, FDI là cầu nối quan
trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới ( không chỉ về kinh tế tiếp cận và
mở rộng thị trường, mà còn về phát triển du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế,...); nói cách
khác FDI góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế và
các lĩnh vực khác trong khu vực và thế giới.

Trong thời gian tới, nước ta chủ trương thu hút nhiều hơn và nâng cao hiệu quả
sử dụng FDI như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ: “Tăng cường
thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển
toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng
vào những thị trường giầu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài’’

Để thực hiện các nhiệm vụ này từ các chính sách đến cơ chế, từ các quy hoạch
phát triển vùng, ngành đến các chuẩn bị các thông tin có tính hệ thống, đầy đủ mức độ
chính xác cao và có tính minh bạch, và nhất là tập trung đầu tư vào hạ tầng cơ sở để đáp
ứng các yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài (không ít nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước đã cảnh báo với hạ tầng cơ sở như hiện nay, với một số những chính sách và cơ
chế liên quan đến việc giải phóng mặt bằng... sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam), chuẩn bị nguồn nhân lực không chỉ về số lượng mà còn chất
lượng và cơ cấu ngành nghề chuyên môn... một cách đồng bộ. Và chỉ có như thế mới
thu hút thêm vốn đầu tư đồng thời tăng nhanh tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện để sớm đưa các
dự án đi vào hoạt động – đây không chỉ là nguyên tắc đầu tư của các nhà đầu tư mà
cũng là điều mong muốn của nước nhận FDI

Trong thời gian tới, nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài dự
báo cũng sẽ tăng khá. Trong 5 năm 2006-2010, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đăng ký mới, tăng vốn và đầu tư gián tiếp đạt khoảng 23-25 tỷ USD, trong đó vốn tăng
thêm của các dự án đang hoạt động chiếm khoảng 35%. Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài thực hiện bao gồm cả tăng vốn các dự án đang thực hiện trong 5 năm 2006-2010
khoảng 17,5-19,5 tỷ USD, trong đó công nghiệp (kể cả dầu khí) chiếm 72-75%; nông,
lâm, ngư nghiệp chiếm 5-6,5% và dịch vụ chiếm 20-21,5%.

Còn đối với Hà Nội, trong những năm tới nơi đây vẫn là trung tâm kinh tế, văn
hóa, xã hội năng động của cả nước. Chính vì vậy, đây vẫn sẽ là địa phương thu hút vốn
FDI lớn của cả nước. Với nhiều lợi thế so sánh về vùng miền, vế kinh tế chính trị văn
hóa, về nhân lực thì thời gian tới đây Hà Nội sẽ tiếp tục thu hút đầu tư phát triển đa
ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên để làm được điều này thì chúng ta cũng cần có những điều
chỉnh, cải cách đơn giản hóa thủ tục hành chính. Xây dựng những khu công nghiệp, khu
chế suất... tạo mọi điều kiện vế mặt bằng kỹ thuật cho doanh nghiệp nước ngoài. Với
đặc thù kinh tế của Hà Nội thời gian tới đây, xu hướng sẽ tập trung phát triển các ngành
khoa học kỹ thuật có hàm lượng kỹ thuật cao và du lịch. Đặc biệt sẽ chú trọng đầu tư
nhiều hơn vào các khu vực còn khó khăn chưa có điều kiện khai thác và phát triển. Chú
trọng phát triển các cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đại.

3.1.2 Định hướng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội

Quản lý thuế trước hết cần một hệ thống chính sách hợp lý và công bằng. Trong
thời gian tới đây cải cách hệ thống thuế cần thức hiện theo hướng tạo hành lang pháp
luật trong chính sách thuế, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc
thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế
phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Triệt để áp dung và thực thi Luật quản lý thuế nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả công tác này; đặc biệt là có chế tài, biện pháp xử lý mạnh hơn đối với các trường
hợp trốn, lậu thuế.

Những yêu cầu cụ thể là:

- Nhận diện được những thủ đoạn trốn thuế, lách thuế của NNT để có biện pháp
ngắn chặn hữu hiệu chống thất thu ngân sách Nhà nước.

- Phát hiện những bất hợp lý về chính sách để đề xuất chỉnh sửa cho phù hợp với
thực tiễn.

-Phải thấy được những vấn đề tồn tại trong cơ chế hành thu, bộ máy tổ chức thu
thuế.

- Phương hướng nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới:
Thứ nhất, cần chỉnh sửa hệ thống chính sách thuế nhằm đảm bảo thuế phải bao
quát nguồn thu, đảm bảo tính bọc lót giữa các sắc thuế, các loại thuế với nhau tạo thành
chỉnh thể thống nhất gắn bó, liên hoàn. Trong từng sắc thuế phải đảm bảo đơn giản,
chính xác, dễ thực hiện và hiệu quả.

Thứ hai, các sắc thuế cần phải được xây dựng đảm bảo phù hợp với điều kiện
Việt Nam, nhưng phải đảm bảo tính thông lệ, thực hiện tốt các cam kết khu vực và quốc
tế.

Thứ ba, phải hoàn thiện cơ chế hành thu, cải cách hành chính trong việc hành thu
phù hợp với phương thức "Tự khai, tự tính, tự nộp thuế" của đối tượng nộp thuế. Bộ
máy hành thu phải được cải cách, tổ chức, sắp xếp lại; cán bộ công chức phải được đào
tạo để phù hợp tiến trình cải cách hành chính thuế trong nền kinh tế thị trường hội nhập.

Thứ tư, phải tạo môi trường pháp lý thông thoáng thuận lợi để thu hút đầu tư, ban
hành qui chế phối hợp công tác giữa các ngành trong tỉnh để quản lý doanh nghiệp hiệu
quả.

Năm là, Đẩy mạnh cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công
khai; tách dần chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế; tạo sự công bằng giảm bớt bảo
hộ thông qua thuế; nhanh chóng hiện đại hoá và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý
thuế; khắc phục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém trong quản lý thuế; kiện toàn bộ máy
trong sạch, vững mạnh.

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI

3.2.1 Hoàn thiện Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, đổi mới quy trình quản lý thuế

Việc từng bước hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là việc làm đặt ra cấp bách nhất hiện nay. Chỉ khi nào
chúng ta có những căn cứ pháp lý đủ mạnh, mang tính bao quát thì chúng ta mới có thể
vận dụng tốt trong thực tế.
- Đầu tiên đó là việc xây dựng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sao cho đảm bảo khuyến khích và thu hút các
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nhưng cũng đảm bảo cạnh tranh lành mạnh,
công bằng giữa các thành phần kinh tế. Việc tạo điều kiện miễn, giảm, ưu đãi thuế là
việc làm cần thiết nhưng không nên áp dụng với thời gian dài vì điều nay sẽ gây nên
hiện tượng gian lận thuế và tạo nên tình trạng cạnh tranh thiếu công bằng cho các doanh
nghiệp Việt Nam

Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài cần được thiết lập một cách thông thoáng nhưng để tránh việc lợi dụng những ưu
đãi được hưởng chúng ta càng cần phải có kế hoạch nghiên cứu, lấp đầy những kẽ hở
của hệ thống pháp luật về thuế

Cũng cần xây dựng một cách chi tiết cách xác định đối tượng nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp xét theo tiêu thức cư trú. Điều này vừa giúp cho chúng ta hoạch định rõ
đối tưọng nộp thuế cũng như thực hiện đúng như những hiệp định, cam kết quốc tế,
tránh tình trạng phân biệt đối xử

Nghiên cứu sửa đổi qui định về thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc ấn định
doanh thu tính thuế. Soát xét toàn bộ chế độ miễn, giảm và ưu đãi về thuế hiện đang tồn
tại trên nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác nhau như: Luật đầu tư, Luật khoa học
công nghệ,… chính sách miễn giảm thuế TNDN phải được tập trung và ghi đầy đủ
trong luật thuế TNDN.

* Đổi mới quy trình quản lý thuế là một cuộc cách mạng lớn trong nhận thức và
hành động của cả NNT và cơ quan quản lý Nhà nước về thuế. Xu hướng chuyển từ
phương pháp NNT tự tính tự khai và nộp thuế theo thông báo thành NNT tự tính, tự
khai, tự nộp, không chỉ khắc phục được hạn chế, nhược điểm của quy trình quản lý thuế
hiện hành mà còn làm tăng mối liên hệ tương tác nhiều chiều giữa NNT và cơ quan
quản lý thuế

Quy trình cần đơn giản: các mẫu và thủ tục càng đơn giản càng tốt để NNT dễ
hiểu và không nản lòng khi thực hiện các thủ tục này, việc hướng dẫn cách điền vào tờ
khai phải được cung cấp miễn phí và sẵn có ở địa điểm thuận tiện như ngân hàng, kho
bạc, trang web, việc nộp tờ khai thuế dễ dàng không tiêu tốn thời gian và chi phí.

Với đặc thù các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có phạm vi đa quốc gia
nên trong chính sách thuế đối với loại hình doanh nghiệp này càng cần phải đưa ra
chính sách xử lý thật nặng với những trường hợp có hành vi gian lận, trốn thuế. Ta có
thể tham khảo một số mức xử phạt của một số nước Châu Á – Thái Bình Dương (Phụ
lục)

3.2.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi
phạm

Để hoàn thiện hệ thống thuế ở nước ta hiện nay, một công tác quan trọng là phải
xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Cần tăng cường hoạt động giám sát của các cơ
quan thanh tra thuế. Cần phát hiện nhanh những hành vi trốn thuế để từ đó thu đúng, thu
đủ thuế cho ngân sách nhà nước. Cũng chính các cơ quan thanh tra sẽ góp phần phát
hiện những sơ hở, hạn chế trong chính sách thuế, những sai phạm của chính các cán bộ
thuế, của cơ quan thuế để có những xử lý kịp thời không để xảy ra tình trạng móc nối
giữa doanh nghiệp với các cán bộ thuế dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước. Thực hiện
được tốt công tác này sẽ góp phần giáo dục răn đe, từng bước đưa chính sách thuế vào
nề nếp, kỷ cương

Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về
tổ chức, cá nhân nộp thuế và sử dụng phân tích thông tin, đánh giá rủi ro để xác định
đúng đối tượng cần thanh tra, kiểm tra đáp ứng yêu cầu thanh tra, kiểm tra hiệu quả của
cơ quan thuế và tránh phiền hà cho tổ chức, cá nhân nộp thuế chấp hành tốt pháp luật
thuế.

Thêm nữa cần áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoá đơn, kiểm tra đối
chiếu hoá đơn để việc thanh tra, kiểm tra đạt hiệu quả cao.

Tăng cường quyền hạn cho cơ quan quản lý thu: quyền cưỡng chế, điều tra khởi
tố các vụ vi phạm về thuế.
- Người nộp thuế phải thấy rằng hệ thống xử phạt nghiêm minh đang được áp
dụng: Trường hợp không tuân thủ các yêu cầu về thuế cần phải áp dụng các hình thức
xử phạt nghiêm khắc để ngăn chặn kịp thời việc không tuân thủ. Xây dựng và áp dụng
các chế tài xử lý và cưỡng chế thuế đối với các hành vi gian lận, chây ì, trốn tránh nghĩa
vụ nộp thuế... Nhưng đi đôi với nó cần thiết phải xây dựng quy trình khiếu nại nhằm
bảo vệ quyền của NNT, tránh tình trạng khi khiếu nại, phần thiệt thòi thuộc về họ.

- Người nộp thuế cần phải tin rằng các chương trình thanh tra thuế có hiệu quả
đang tồn tại: NNT phải thấy được các trường hợp không tuân thủ, gian lận về thuế sẽ bị
phát hiện và khi đó sẽ phải chịu hình thức xử phạt thích đáng.

Bên cạnh đó, những trường hợp gian lận thuế, trốn thuế cần được xử lý triệt để,
nếu có hành vi chống đối hoặc vi phạm nhiều lần thì cần có sự phối hợp can thiệp của
các có quan ban ngành đủ thẩm quyền. Với những hành vi sai phạm về kê khai, nộp
chậm thì cũng cần có những mức nộp phạt thích đáng. Và hơn hết là nghiêm trị các cán
bộ ngành thuế tiếp tay cho đối tượng nộp thuế thực hiện hành vi gian lận thuế và trốn
thuế

3.2.3 Đào tạo, nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý thuế thu nhập
doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Đây là điều kiện quyết định để công tác quản lý thu thuế ngày càng được hoàn
thiện hơn. Để có thể quản lý tốt thuế thu nhập doanh nghiệp đòi hỏi chính những cán bộ
ngành thuế phải có đầy đủ năng lực, trình độ, phẩm chất. Vấn đề này đòi hỏi ngành thuế
trong thời gian tới cần chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về
chuyên môn và nghiệp vụ nhất là lực lượng cán bộ trẻ. Không chỉ chú trọng đến số
lượng mà phải đi sâu đào tạo về chất lượng. Chỉ những cán bộ thuế thực sự có trình độ
chuyên môn được đào tạo bài bản và có phẩm chất tốt mới có thể đưa những chính sách,
pháp luật của nhà nước đi vào thực tiễn và thực thi chúng một cách triệt để và hiệu quả

Tổng cục Thuế cần thường xuyên tổ chức tập huấn, trao đổi rút kinh nghiệm nhất
là trong lĩch vực chống lại hiện tượng trốn lậu thuế của các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài thông qua hoạt động chuyển giá. Và đặc biệt, Cục thuế các địa phương – cơ quan
trực tiếp quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng cần có sự
chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm từ thực tế quản lý để rút ra những biện pháp và cách xử lý
thích hợp

Đối với từng cấp cần có những kế hoạch đào tạo cụ thể ngay từ bây giờ. Trang bị
đầy đủ các kiến thức về kinh tế vĩ mô, tài chính, quản lý... để từ đó có thể tham mưu
cho Đảng và Nhà nước những chiến lước phát triển lâu dài. Cần chú trọng đào tạo, nâng
cao trình độ ngoại ngữ, tin học để bắt kịp với xu thế hội nhập của thế giới. Bởi lẽ lực
lượng cán bộ đã có nhiều năm công tác, có nhiều kinh nghiệm thì có phần hạn chế về
trình độ tin học và ngoại ngữ. Trong điều kiện đối tượng quản lý lại là những doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, để có thể tăng cường quản lý và nâng cao trình độ
hiểu biết thì lực lượng cán bộ quản lý thuế cần đáp ứng trình độ ngoại ngữ và tin học
nhất định. Đặc biệt trong xu thế ứng dụng công nghệ đang được tăng cường sử dụng
trong quản lý số liệu, đối tượng nộp thuế…

Thêm vào đó để có thể sớm phát hiện những trường hợp có hành vi gian lận và
trốn thuế của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN thì đào tạo nâng cao trình độ kế toán
quốc tế cũng là một đòi hỏi bức thiết. Vì như chúng ta đã để cập ở những phần trước
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vừa phải chịu sự quản lý của pháp luật nước cư
trú, vừa phải tuân thủ luật pháp nước đầu tư. Để khắc phục tình trạng lợi dụng kẽ hở của
Luật pháp, cán bộ quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN phải có những hiểu
biết sâu sắc về chế độ kế toán của Việt Nam cũng như của quốc tế. Điều nay cũng tránh
gây sự xung đột trong quản lý thuế thông qua kiểm soát kế toán giữa Việt Nam và quốc
tế, tránh gây thiệt thòi cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và hơn hết là nhằm quản lý
tốt nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta

3.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

3.3.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người nộp thuế

Để đẩy mạnh và tăng hiệu quả công tác quản lý thu thì công việc quan trọng và
lâu dài là nâng cao nhận thức của từng người nộp thuế. Nhận thức của các doanh nghiệp
cần được đổi mới. Tạo ra nhiều những điều kiện ưu đãi hợp lý, thực sự thu hút đầu tư
nước ngoài. Để làm được điều này cần làm cho mọi đối tượng nộp thế thấy được tính
nghiêm minh của công tác kê khai và nộp thuế. Hơn hết, chính các cơ quan quản lý thu,
các cơ quan quản lý ngân sách cần thực hiện thông báo công khai, minh bạch mọi
khoản thu chi của ngân sách nhà nước. Chỉ khi nào người nộp thuế thấy được lợi ích
thiết thực của khoản đóng góp của mình thì bản thân họ sẽ tự giác chấp hành những
nghĩa vụ thuế do nhà nước đặt ra. Thực hiện chi đúng, hiệu quả để mỗi đối tượng nộp
thuế thấy được giá trị công sức mà mình đóng góp vào ngân sách nhà nước thực sự đem
lại hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho mình và cho nhiều đối tượng khác trong xã
hội

Xây dựng và thực hiện đầy đủ các hình thức và nội dung tuyên truyền, hỗ trợ tổ
chức, cá nhân nộp thuế phù hợp với nhu cầu của tổ chức, cá nhân nộp thuế và chuẩn
mực quốc tế (theo nguyên tắc cơ quan thuế coi tổ chức, cá nhân nộp thuế là khách hàng)
được tổ chức, cá nhân nộp thuế hài lòng và tin tưởng ở chất lượng phục vụ. Cũng cần đa
dạng hóa hình thức tuyên truyền, hướng dẫn, nội dung cần đơn giản, dễ hiểu để NNT có
thể nhận thức và thấu hiểu nghĩa vụ và quyền lợi của mình

Bên cạnh việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của NNT, cũng cần hướng dẫn
để cho NNT có hiểu biết đầy đủ về nghĩa vụ thuế của mình. Bởi lẽ hiện nay ngành thuế
đã áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, chi khi có những hiểu biết đầy đủ họ
mới có thể thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác các thủ tục, tờ khai của đơn vị
mình.

3.3.2 Kiện toàn lại bộ máy ngành thuế, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin

Đến năm 2010 công nghệ thông tin sẽ áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực quản lý
hành chính thuế. Để đảm bảo phục vụ các yêu cầu quản lý cốt lõi về xử lý thông tin
thuế đạt từ 95 - 100% so với nhu cầu. Cung cấp dịch vụ điện tử cho 80% doanh nghiệp.
Cần xây dựng 1 hệ thống tin học hiện đại, khoa học, tập trung, thống nhất toàn ngành.

Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các khâu quản lý thuế;
cung cấp thông tin nhanh chóng chính xác phục yêu cầu quản lý; cung cấp các dịch vụ
thuế đầy đủ, kịp thời, nhanh chóng với chất lượng cao. Xây dựng hệ thống thông tin cơ
sở dữ liệu về tổ chức, cá nhân nộp thuế từ các nguồn th ông tin trong và ngoài ngành
thuế, phù hợp với chuẩn mực quốc tế; đáp ứng được các yêu cầu quản lý thuế, phân
tích, dự báo thu NSNN, công tác chỉ đạo điều hành.
Xây dựng hệ thống thông tin thuế tập trung, tạo lập cơ sở dữ liệu về đối tượng
nộp thuế trong phạm vi ngành thuế và phối hợp kết nối mạng thông tin trao đổi với các
cơ quan: Hải quan, Kho bạc, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan khác.

Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực
khoa học kỹ thuật và những vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý thuế, cơ sở vật chất,
kỹ thuật của ngành thuế cần được hiện đại hoá hơn nữa. Đây là điều kiện cần thiết để
tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Có thể chi phí đầu tư là không nhỏ nhưng về lâu dài thì nó sẽ tiết
kiệm được nguồn kinh phí rất lớn phục vụ công tác hành thu của ngành. Nó sẽ tăng
cường khả năng quản lý đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế… cũng như bao quát tất
cả những thay đổi của từng đối tượng nộp thuế. Nó giúp giảm bớt công tác quản lý,
thanh kiểm tra thủ công như hiện nay, rút ngắn thời gian thực hiện cho các kỳ tình thuế
và công tác thu nộp thuế.

Mục tiêu của ứng dụng công nghệ thông tin đối với công tác thanh tra, kiểm tra
thuế là tạo công cụ phân tích thông tin tình trạng nộp thuế, tình hình biến động kinh
doanh của từng doanh nghiệp và tham chiếu với các thông tin thu thập từ các ngành
ngoài phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra, đúng đối tượng, hạn chế lãng phí nhân
lực, vật lực và đem lại hiệu quả cao.

Trong thời gian trước mắt Cục Thuế cần chủ động trong việc rà soát các chương
trình ứng dụng tin học trong công tác quản lý thuế hiện hành, nếu còn phù hợp thì nâng
cao, hoàn thiện để tiếp tục sử dụng phục vụ công tác quản lý thuế nói chung và công tác
thanh tra, kiểm tra nói riêng.

- Khai thác các phần mềm ứng dụng hỗ trợ đối tượng nộp thuế qua mạng, xây
dựng các dữ liệu về thuế phục vụ cho việc hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về thuế,
xây dựng cơ sở dữ liệu về cơ sở kinh doanh, nâng cấp các chương trình phần mềm về
mã số thuế, xử lý tờ khai thuế, theo dõi số thuế phải nộp, quản lý hóa đơn ấn chỉ.

- Cần nâng cấp kho cơ sở dữ liệu thanh tra, kiểm tra, cơ sở dữ liệu về đối tượng
nộp thuế, cần tập trung đẩy mạnh tiến độ mở rộng, ưu tiên phát triển nhanh chương
trình ứng dụng cho cơ chế tự khai, tự nộp thuế, chọn phương án phát triển mở rộng
chương trình phần mềm xử lý tờ khai, tự nộp thuế đó là cơ sở để hỗ trợ công tác thanh
tra, kiểm tra đạt kết quả cao.

- Cũng cần tổ chức bộ máy quản lý thuế từ Cục thuế cho tới các chi cục thuế địa
phương sao cho tinh giản, gọn nhẹ. Trong thời gian cần chuyên môn hóa hơn nữa chức
năng của các bộ phận, tiến tới hợp nhất hai bộ phận kiểm tra, thanh tra riêng biệt thành
một bộ phận có chức năng thanh tra tổng hợp.

Là đơn vị hành chính thuế lớn trong cả nước, Cục thuế Hà Nội có thể là nơi thí
điểm công tác “Kê khai điện tử”, điều này giúp tiết kiệm chi phí, tăng cường chất lượng
kê khai và nộp thuế

3.3.3 Thực hiện tốt Luật kế toán trong doanh nghiệp, đẩy mạnh việc thực hiện
thanh toán giao dịch thông qua ngân hàng

Quản lý sổ sách kế toán là điều kiện không thế thiếu đối với các doanh nghiêp có
vốn đầu tư nước ngoài. Với đặc thù là các công ty đa quốc gia hoạt động sản xuất đa
ngành nghề, lĩnh vực thì cần phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định sổ sách và chứng
từ kế toán

Bên cạnh đó mỗi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều
có một mã số thuế và tài khoản ngân hàng. Vậy để công tác quản lý thuế đạt hiệu quả
cao thì yêu cầu đặt ra là cần dần tiến tới thực hiện 100% các giao dịch thanh toán qua
ngân hàng. Trong tình hình hiện nay ở Việt Nam khi giao dịch tiền mặt vẫn còn chiếm
tỷ lệ lớn thì điều này càng cần được xem xét và thực hiện. Việc tiến tới thực hiện tất cả
các giao dịch thanh toán thông qua hệ thống tài khoản ngân hàng không những sẽ giúp
quản lý doanh thu và chi phí của doanh nghiệp một cách đầy đủ và chính xác hơn. Thực
hiện thanh toán qua ngân hàng cũng sẽ giúp hạn chế tình trạng tham nhũng trong quá
trình quản lý thu thuế hiện nay ở nước ta




3.3.4 Cải cách đồng bộ hệ thống chính sách quản lý kinh tế xã hội nước ta
Hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay còn chưa thực sự đồng bộ. Hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ chú trọng đồng bộ trong riêng rẽ từng
ngành. Chưa có sự đồng nhất và hệ thống cho toàn bộ các ngành, các Bộ chủ quản. Các
văn bản vẫn còn tồn tại sự chồng chéo trong quy định dẫn đến tình trạng còn có một vài
xung đột trong thực thi và dễ gây nên kẽ hở cho các đối tượng nộp thuế thực hiện hành
vi gian lận của mình.

Để chính sách cũng như những quy định của Luật thuế TNDN được áp dụng có
hiệu quả thì cần tới sự đồng bộ của rất nhiều các loại hình văn bản khác và sự phối kết
hợp trong xây dựng chính sách của các Ban ngành như văn bản Luật của Quốc hội,
Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan.
Bộ kế hoạch đầu tư… Trong qua trình thực hiện, cần có sự phối kết hợp, tăng cường
trao đổi thông tin của các cơ quan chuyên môn về thuế với các cơ quan hành chính khác
như Bộ, Sở Kế hoạch đầu tư, cơ quan hải quan, Ủy bản nhân dân hay Kho bạc Nhà
nước địa phương...Tiến tới xây dựng một hệ thống mạng liên kết lưu trữ thông tin và
kiểm tra giữa các cơ quan Nhà nước, nhằm quản lý toàn diện các hoạt động của các
doanh nghiệp.

Như vậy, trong thời gian tới cần kiến nghị với Quốc hội thông qua sự tham mưu
của các Bộ, các ngành cần nghiên cứu đồng bộ và có hướng nghiên cứu lâu dài và sát
với thực tiễn tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta khi ban hành các quy định
trong các bộ luật. Cần có những biện pháp kiện quyết xử lý thật nặng các trường hợp vi
phạm để tạo tính răn đe và nghiêm minh cho từng bộ luật. Và đặc biệt cần nghiên cứu
một cách kỹ lưỡng mang tính lâu dài để tạo nên sự ổn định tương đối cho mỗi văn bản
quy phạm pháp luật. Điều này cũng sẽ tạo nên sự an tâm cho các nhà đầu tư về môi
trường kinh doanh của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong tương lai.

KẾT LUẬN

Trong nội dung đề tài này, chúng ta đã vừa cùng nhau đề cập đến một số vấn đề
về thuế thu nhập doanh nghiệp, thực trạng cũng như nhưng giải pháp để nâng cao chất
lượng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam. Đây là một vấn đề phức tạp, liên quan đến rất nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực từ quản lý, tài chính đến luật pháp... chính vì vậy nghiên cứu vấn đề nay cần có
cái nhìn toàn diện, kỹ lưỡng, bao trùm nhiều khía cạnh quá trình phát triển kinh tế xã
hội, tăng cường hợp tác quốc tế và hoàn thiện ngành Luật Việt Nam.

Đề tài đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn áp dụng của thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Chúng ta cũng đã bước đầu tổng kết những thành quả đã đạt được và đánh giá thực
trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trong thới gian vừa qua. Nhìn thấy những gì đã làm được cũng như những
yếu kém còn tồn tại để trong thời gian tới đây có những điều chỉnh phù hợp. Phát huy
những mặt tích cực, khắc phục những tồn tại để thuế thu nhập doanh nghiệp thực sự trở
thành công cụ hữu hiệu động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện mục
tiêu xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành
phần kinh tế đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

Để làm được điều này cần có sự phối hợp đồng bộ của rất nhiều các cơ quan ban
ngành, đặc biệt là sự phối hợp liên kết quản lý của Tổng cục thuế, Tổng cục hải quan,
Bộ kế hoạch đầu tư…Thêm vào đó cần đưa ra những giải pháp kịp thời mang tính răn
đe cũng như nâng cao ý thức tự giác của toàn xã hội.

Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, việc quản lý tốt thuế Thu nhập
doanh nghiệp cũng sẽ là một tiền đề quan trọng để Việt Nam hội nhập với các nước trên
thế giới, là địa điểm hứa hẹn một môi trường đầu tư thông thoáng và bình đẳng cho các
nhà đầu tư, là một địa chỉ thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đặc biệt thực hiện thành
công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giáo trình và các công trình nghiên cứu

1. PGS.TS Nguyễn Thị Bất, TS Vũ Duy Hào (Đồng chủ biên), Giáo trình quản lý thuế,
NXB Thống kê, 2002

2. TS. Nguyễn Hữu Tài (Chủ biên), Giáo trình Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ, NXB
Thống kê, 2002

3. GS.TS Đỗ Hoàng Toàn, PGS.TS Mai Văn Bửu (Đồng chủ biên), Giáo trình Quản lý
nhà nước về kinh tế, NXB Lao động – Xã hội, 2005

4. Phan Hiển Minh, Hoàn thiện phương pháp định giá chuyển giao trong chính sách
thuế Việt Nam - Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện tài chính, 2002

5. Vũ Thị Mai "Mô hình tổ chức cơ quan thuế trên thế giới", Tạp chí Thuế Nhà nước số
tháng 3/2003.
6. Nguyễn Minh Ngọc (Tổng cục Thuế) "Dịch vụ hóa đối tượng nộp thuế - xu hướng
cải cách công tác quản lý thuế", Thời báo Tài chính Việt nam, số 143 (884) ngày
29/11/2002.

7. TS Quách Đức Pháp "Tiến trình cải cách hệ thống chính sách thuế ở Việt nam", Tạp
chí thuế Nhà nước, số 4/2002.

8. TS Quách Đức Pháp (2000), Những vấn đề cần giải quyết để thực hiện cải cách hành
chính về công tác thu thuế, Ban tổ chức cán bộ Chính phủ, Hà nội.

9. Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế (2001), Thuế Việt nam qua các thời kỳ lịch sử (tập I,
tập II), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội.




Các văn bản quy phạm pháp luật

10. Luật đầu tư của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật đầu tư

11. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003 và các Nghị định của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

12. Luật Quản lý Thuế của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006

13. Nghị định 32/2007/NĐ-CP và thông tư 134/2008/TT-BTC hướng dẫn chi tiết thi
hành Nghị định 32/2007/NĐ-CP

14. Luật Quản lý Thuế của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành

15. Danh mục một số văn bản về tổ chức bộ máy cơ quan thuế, quy trình nghiệp vụ và
quy chế làm việc.
Báo cáo số liệu

16. Cục thuế TP Hà nội, Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm 2003-2007

17. Phòng Kiểm tra thuế số 1, Báo cáo nhanh số liệu thu thuế năm 2003-2007

18. Báo cáo tài chính hàng năm của Bộ tài chính

19. Báo cáo số liệu tổng kết của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư cho những
dự án còn hiệu lực tính tới ngày 22/12/2007

20. Niên giám thống kế các năm



Các bài báo, tổng hợp số liệu trên các trang web

www.mpi.gov.vn www.gdt.gov.vn www.docbao.com.vn
www.vietlaw.com.vn
www.moi.gov. www.thanhnien.com.vn
www.chinhphu.vnvn www.hapi.gov.vn www.vnexpress.com.vn
www.gso.gov.vn www.fetp.edu.com www.vnn.vn
www.mof.gov.vn www.vneconomy.com.vn
PHỤ LỤC

QUY ĐỊNH XỬ PHẠT ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI GIAN LẬN THUẾ CỦA MỘT
SỐ NƯỚC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG



STT QUỐC GIA QUY ĐỊNH XỬ PHẠT

Số tiền phạt là từ 10% đến 30% đối với số thuế
chênh lệch giữa số thuế công ty khai báo và số thuế có
quan thuế xác định lại. Ngoài ra lãi suất đối với các khoản
1 Hàn Quốc
nộp bổ sung mà công ty phải chịu là 18,25%/năm. Nếu
không xuất trình được các tài liệu yêu cầu thì công ty có
thể bị phạt đến 30 triệu Won

Công ty có thể bị phạt từ 25% đến 50% số thuế
2 Philippin chênh lệch sau khi xác định lại. Khoản nộp này còn phải
chịu lãi suất 20%/năm

Nếu công ty không đưa ra được các tài liệu chứng
3 Niudilan
minh thì có thể bị phạt ít nhất là 20% số thuế phải nộp

Cơ quan thuế có thể áp mức phạt tới 300% số thuế
4 Ấn Độ
phải nộp thêm

Số tiền phạt có thể lên đến 50% số thuế gian lận,
5 Úc nếu DN đưa ra được các bằng chứng hợp lý làm giảm nhẹ
tình tiết thì phải chịu mức phạt là 25%



Nguồn: Transfer Pricing Rules in Asia Pacific
MỤC LỤC

Danh mục bảng và biểu đồ

Các ký tự việt tắt

LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................ 1

CHƯƠNG 1: THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI ............................................................................................. 4

1.1 DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG
NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN ................................................................................. 4

1.1.1 Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam ............... 4

1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ............................ 6

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế quốc dân7

1.2 THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI .............. 10

1.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp ......................................................................... 10

1.2.1.1 Bản chất, sự ra đời và phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp ............... 10

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa thuế TNDN với các loại thuế khác ................................. 15

1.2.1.3 Thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . 16

1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài18

1.2.2.1 Quản lý thuế TNDN và nội dung của quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp
có vốn ĐTNN ........................................................................................................ 18

1.2.2.2 Sự cần thiết của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài ....................................................................................... 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI .................................. 36
2.1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở HÀ
NỘI ....................................................................................................................... 36

2.1.1 Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
.............................................................................................................................. 36

2.1.2 Những đặc điểm về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội ............................................................................ 42

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CỤC
THUẾ HÀ NỘI .................................................................................................... 43

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế tại Cục thuế Hà Nội ........................................ 43

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội ...................................................................... 49

2.2.2.1 Số thu về thuế TNDN từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN ............................... 49

2.2.2.2 Sự thất thu thuế TNDN tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN ...................... 54

2.2.3 Phân tích nghi vấn về hiện tượng gian lân thuế TNDN tại một doanh nghiệp có
vốn ĐTNN ở Hà Nội.............................................................................................. 60



2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ..................................... 62

2.3.1 Những thành tựu đạt được ............................................................................. 62

2.3.2 Những hạn chế cần khắc phục ...................................................................... 65

2.3.2.1 Hạn chế trong chính sách thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
.............................................................................................................................. 65

2.3.2.2 Công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập ...................................................................... 67
2.3.2.3 Thanh tra thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài còn chưa hiệu quả......................................................................................... 68

2.3.3 Nguyên nhân ................................................................................................. 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI ........................................................................................... 73

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ... 73

3.1.1 Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài73

3.1.2 Định hướng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội .............................................. 75

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI ................................................................................................................. 77

3.2.1 Hoàn thiện Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, đổi mới quy trình quản lý thuế ............................................................ 77

3.2.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm
.............................................................................................................................. 79

3.2.3 Đào tạo, nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.......................................... 80

3.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ..................... 82

3.3.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người nộp thuế .... 82

3.3.2 Kiện toàn lại bộ máy ngành thuế, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin 83

3.3.3 Thực hiện tốt Luật kế toán trong doanh nghiệp, đẩy mạnh việc thực hiện thanh
toán giao dịch thông qua ngân hàng ....................................................................... 85

3.3.4 Cải cách đồng bộ hệ thống chính sách quản lý kinh tế xã hội nước ta ............ 86
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 : Tổng vốn đăng ký kinh doanh mời và bổ sung của doanh nghiệp có
vốn ĐTNN ( giai đoạn 2003 – 2007) trên địa bàn Hà Nội ...................................... 41

Bảng 2.2 : Vốn đầu tư theo thành phần kinh tế trên địa bàn Hà Nội (2005 –
2007) ..................................................................................................................... 42

Bảng 2.3: Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội (2003 – 2007)........................................ 50

Bảng 2.4: Chênh lệch số thuế kê khai - số thực nộp - số kiểm tra thuế TNDN của
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (2003-2007)...52

Bảng 2.5: Lũy kế nợ thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (2005 – 2007).................................................................... 53

Bảng 2.6: Chênh lệch thuế thu nhập doanh nghệp phổ thông giữa một số nước
trên thế giới ........................................................................................................... 59
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................

Bảng 2.7: Tình hình sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế của công ty
X ........................................................................................................................... 61

Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng thuế TNDN giữa khối DN có vốn ĐTNN với toàn Cục thuế
Hà Nội (2003 - 2007) ............................................................................................. 51
CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT

ĐTNN : Đầu tư nước ngoài

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

TNCN : Thu nhập cá nhân

DN : Doanh nghiệp

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

NSNN : Ngân sách nhà nước

NNT : Người nộp thuế

GTGT (VAT) : Giá trị gia tăng

OECD : Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản