TIỂU LUẬN: Kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam

Chia sẻ: inside33

Sau những năm dài chiến tranh Việt Nam đi lên CNXH với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề. Thêm vào đó là những sai lầm chủ quan duy ý chí trong quản lý và lãnh đạo ở thời kỳ bao cấp càng làm cho nền kinh tế nước ta tụt hậu so với thế giới. Từ Đại hội VI Đảng ta quyết định xây dựng nền KTTT theo định hướng XHCN. Trải qua 20 năm đổi mới cho đến nay nền KTTT ở nước ta...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam

TIỂU LUẬN:



Kinh tế thị trường định hướng

Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam
Lời mở đầu




Sau những năm dài chiến tranh Việt Nam đi lên CNXH với xuất phát điểm là một

nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề. Thêm vào đó là

những sai lầm chủ quan duy ý chí trong quản lý và lãnh đạo ở thời kỳ bao cấp càng làm

cho nền kinh tế nước ta tụt hậu so với thế giới. Từ Đại hội VI Đảng ta quyết định xây

dựng nền KTTT theo định hướng XHCN. Trải qua 20 năm đổi mới cho đến nay nền

KTTT ở nước ta đã thu được những thành tựu có tính quyết định.


Tuy nhiên cụm từ "định hướng XHCN" còn nhiều băn khoăn và bàn cãi bởi lẽ có

lập luận cho rằng đã là KTTT thì đương nhiên có vận động theo hương TBCN, nước ta

đang cần phát triển, cần vận dụng cơ chế thị trường để thu hút mọi nguồn lực cho phát

triển kinh tế thì việc gì phải nêu định hướng XHCN. Vì vậy tìm hiểu "KTTT định hướng

xã hội chủ nghĩa" về thực tiễn và lý luận là cần thiết. Do đó em chọn đề tài: "Kinh tế thị

trường định hướng XHCN ở Việt Nam".
B. Nội dung


I/ Phát triển kinh tế thị trường là tất yếu khách quan


1- Quan niệm về Kinh Tế Thị Trường


Trước hết Kinh Tế Thị Trường là gì ?


Quá trình hình thành và phát triển của xã hội gắn liền với quá trình lao động.

Lịch sử loài người đã chứng kiến các kiểu tổ chức kinh tế xã hội từ giản đơn đến phát

triển cao đó là kinh tế Tự nhiên tự cấp tự túc, kinh tế hàng hoá (trong đó kinh tế hàng

hoá đi từ kinh tế hàng hoá giản đơn của nông dân thợ thủ công rồi phát triển lên thành

kinh tế hàng hoá tư bản) và kinh tế thị trường. KTTT đã được hình thành và phát triển

dưới CNTB khi mà hệ thống thị trường được phát triển một cách đồng bộ.


Vấn đề đặt ra KTTT là hình thức phát triển cao của KTHH trong đó từ sản xuất

đến tiêu dùng đều thông qua thị trường hay KTTT là hình thức phát triển cao của KTHH

trong đó các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá. KTHH và KTTT không đồng nhất với

nhau, chúng khác nhau về trình độ phát triển, về cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và

bản chất.


Như vậy chúng ta có thể kết luận KTTT là KTHH vận hành theo cơ chế thị

trường là tổng thể các nhân tố, các mối quan hệ, các qui luật. Trong đó các nhân tố các

mối quan hệ, các quy luật chi phối sự vận động của KTHH. Theo Các Mác: "sản xuất và

lưu thông hàng hoá là hiện tượng vốn có của những hình thái kinh tế xã hội. Những điều

kiện ra đời và tồn tại của KTHH cũng như trình độ phát triển của nó do sự phát triển của

LLSX tạo ra".
Xem xét quá trình lịch sử của KTTT, ta thấy những đặc trưng chung như:


+ Các chủ thể kinh tế có tính chủ thể cao, tính tự chủ cao.


+ Giá cả hình thành do thị trường là chủ yếu


+ KTTT chịu sự chi phối của những quy luật vốn có của nó


+ KTTT là kinh tế "mở"


Trong KTTT hiện đại còn có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Vậy KTTT

định hướng XHCN thực chất là nền KTHH nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị

trường theo định hướng XHCN




2- Sự cần thiết khách quan phát triển KTTT định hướng XHCN


2.1- KTTT không những tồn tại khách quan mà còn cần thiết cho công cuộc

xây dựng CNXH.


KTTT tồn tại khách quan vì nó vẫn còn cơ sở khách quan cho sự tồn tại như phân

công lao động xã hội không những không mất đi mà trái lại mà còn được phát triển cả

về chiều rộng và chiều sâu. Tức là sự chuyên môn hoá xã hội ngày càng sâu, về rộng là

sự phân công lao động phát triển trong từng cơ sở kinh tế, từng địa phương trong cả

nước. Phân công lao động trong nước gắn bó với phân công lao động quốc tế. Sự phát

triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú đa dạng và chất lượng

ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường.
Thứ hai, ngay ở CNXH vẫn còn sự tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể kinh tế.

sự tách biệt này trước hết biểu hiện ở còn nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về TLXS nh ư

sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp. Tức là có nhiều chủ

thể kinh tế. Ngay cả những đơn vị kinh tế dựa trên cùng một quan hệ sở hữu cũng có sự

tách biệt về kinh tế do nền sản xuất xã hội hoá chưa cao chưa thể phân phối trực tiếp sản

phẩm cho nhau mà phải sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ. Tiền tệ ra đời làm cho thế

giới hàng hoá tách ra làm hai cực Tiền -Hàng. Quan hệ hàng hoá - tiền tệ được hình

thành để tính toán hiệu quả kinh tế và trao đổi sản phẩm cho nhau. Hơn nữa quan hệ

hàng hoá tiền tệ còn được sử dụng trong quan hệ kinh tế quốc tế.


Như vậy, khi KTTT ở nước ta là một tồn tại, tất yếu khách quan thì không thể lấy

ý chí chủ quan mà xoá bỏ nó được.


KTHH hay KTTT có phải là sản phẩm riêng có của CNTB hay không ? trước đây

có quan niêm sai lầm cho rằng KTHH là sản phẩm của CNTB nh ưng thực sự nó có

trước CNTB và tồn tại sau CNTB. Mác đã chỉ ra rằng KTHH tồn tại trong nhiều phương

thức sản xuất khác nhau chỉ khác về hình thức, quy mô và mức độ phát triển KTTT

được phát triển dưới CNTB nhưng không phải là sản phẩm riêng có của CNTB nó được

coi là thành tựu của nền văn minh nhân loại.


Mấy thập niên trước 1986, nền kinh tế nước ta vận hành theo một cơ chế tập

chung quan liêu bao cấp. Đặc trưng của cơ chế này là Nhà nước ra kê hoạch cho các

doanh nghiệp với một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, Nhà nước cung cấp vật tư tiền vốn;

Xí nghiệp sản xuất và kinh doanh theo kế hoạch Nhà nước rồi giao nộp sản phẩm, lãi

Nhà nước thu lỗ Nhà nước bù. Điều đó có nghĩa là triệt tiêu động lực sản xuất kinh

doanh là lợi nhuận. Việc phân phối mang tính chất bình quân và dưới hình thức hiện vật
là chủ yêu. Một sự bao cấp tràn lan làm cho nền kinh tế bị hiện vật hoá, quan hệ hàng

hoá tiền tệ không được coi trọng, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là một trong những

nguyên nhân làm cho CNXH lâm vào khủng hoảng.


Do đó từ Đại hội VI năm 1986, Đảng ta chủ trương xoá bỏ cơ chế tập trung quan

liêu bao cấp chuyển sang nền KTHH vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ

mô của Nhà nước dần từng bước chuyển sang KTTT.


2.2- Tác dụng của nền KTTT


Về sự cần thiết thì chính chủ nghĩa tư bản đã biết sử dụng vai trò to lớn của

KTTT cùng với những ưu điểm của nó để thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế, cố

nhiên đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản. Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá

độ lên CNXH còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, chúng ta cần phải biết sử dụng KTTT

phát huy vai trò tác dụng to lớn của nó, đó là:


Thứ nhất, phát triển KTTT cùng với đó là phát triển lực lượng sản xuất, xã hội

hoá sản xuất (sản xuất tập trung với qui mô nagỳ càng lớn, sự phân công lao động ngày

càng chi tiết sự hợp tác ngày càng mở rộng)


Thứ hai, với những khó khăn trước mắt của nước ta, phát triển KTTT là cách tốt

nhất để xoá bỏ dấu ấn của KTTN - tự cấp tự túc của nước ta.


Thứ ba, Phân công lao động xã hội là điều kiện ra đời và tồn tại KTTT đến lượt

nó phát triển KTTT sẽ thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn hoá vào sản xuất. Vì

thế phát huy được tiềm năng, lợi thế trong từng vùng, có tác dụng mở rộng quan hệ kinh

tế với nước ngoài.
Thứ tư, sự phát triển KTTT sẽ thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất do đó tạo

điều kiện ra đời của sản xuất lớn có tính xã hội cao, đồng thời chọn lọc được những

người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ lao động lành nghề


Tác dụng quan trọng của KTTT là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Từ khi chuyển sang KTTT đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cao TB là

tốc độ phát triển GDP là 7%/ năm. Đời sống người dân được cải thiện, mức thu nhập và

tiêu dùng của người Việt Nam khá cao: GDP trên đầu người phát triển, tuổi thọ bình

quân tăng, trình độ học vấn tăng.


Ta có thể lấy thí dụ: Mức tiêu dùng của người Việt Nam năm 2004 là 378.000

bằng 2 lần năm 2000 đến năm 2005 là 458000


Mức bán lẻ tăng 14,8%


II/ Kinh tế thị trường định hướng XHCH


1. Thực chất của mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam


Trong thời Đại hội Đảng IX, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất

quán và lâu dài chính sách phát triển KTHH nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị

trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN đó chính là nền KTTT định

hướng XNCH. Đó là mô hình kinh tế tổng quán của nước ta trong tình hình quá độ lên

CNXH.


Thực chất của mô hình này là: phát triển nền KTHH nhiều thành phần vận hành

theo cơ chế TT có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
1.1- KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là sự kết hợp giữa cái chung và cái

đặc trưng.


Mỗi quốc gia khác có một trình độ kinh tế, kết cấu xã hội, phong tục tập quán

khác nhau, nên cùng một mô hình KTTT lại có các thể chế kinh tế khác nhau, vừa pha

các quan hệ chung của KTTT , vừa pha các quan hệ đặc thù trong từng phương thức sản

xuất và sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế. Mô hình KTTT ở nước ta không là

mô hình KTTT tự do dưới CNTB mà chỉ là KTTT mang định hướng XNCN. Nó vừa

mang những đặc trưng chung của KTTT lại mang những đặc trưng cơ bản của CNXH


Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam có những nét chung của nền KTTT

một là, nền KT bị chi phối của các qui luật kinh tế và các phạm trù vốn có của nó như

qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh chứ không phải những qui luật

mang tính hình thức như mô hình kinh tế cũ. Hai là, các phạm trù trung tâm của KTTT

như giá cả cung cầu, cạnh tranh vốn phát huy tác dụng. Ba là, mỗi đơn vị kinh tế là một

chủ thể tự do, tự chủ kinh doanh theo qui luật kinh tế tự nhiên đóng vai trò quan trọng

trong việc làm sống động thị trường. Bốn là, giá cả hình thành do thị trường là chủ yếu,

tiền tệ đóng vai trò rất quan trọng, đồng tiền được phát huy đầy đủ các chức năng của

mình, đồng tiền quốc gia từng bước hoà nhập vào đồng tiền quốc tế.


1.2 / Tính đặc thù của nền KTTT ở nước ta chính là sự phát triển theo định

hướng XHCN.


Các đặc thù được thể hiện ở các đặc trưng và mang tính chất XH. Mục đích phát

triển KTTT đó là nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kinh tế

cho CNXH và hoàn thiện quan hệ sản xuất trên cả ba mặt quan hệ sở hưữ , quan hệ tổ
chức quản lí , quan hệ phân phối lưu thông, cái đảm bảo cho nền KTTT phát triển theo

định hướng XHCN chính là sự can thiệp của Nhà nước trong việc quản lý vĩ mô bởi lẽ

TPKT Nhà nước nắm những mạch máu then chốt của nền kinh tế nó chi phố và dẫn dắt

các PT kinh tế khác.


2- KTTT định hướng XHCN


2.1/ Nền KTTT định hướng XHCN được xây dựng trên cơ sở đa dạng hoá các

loại hình sở hữu.


Đa dạng hoá sở hữu hay sự tồn tại của một nền kinh tế với nhiều hình thức sở

hữu là vấn đề tất yếu, khách quan,lâu dài và xã hội càng phát triển thì ngày càng có

nhiều hình thức sở hưu. Trước đây khi xây dựng kinh tế kế hoạch hoá xoá bỏ KTTT ,

chúng ta đa thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn giản và hai hình thức là sở hữu toàn dân và

sở hữu tập thể. Vì vậy khi chuyển sang KT hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường

cần phải xây dựng cơ cấu sở hữu mới dựa trên những quan hệ sở hữu về TLSX gắn

liền với một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nền KTTT TBCN dựa trên nhiều quan

hệ sở hữu khác nhau như sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, của các nhà TBCN, sở hữu

của các nhà tư bản độc quyền trong đó sở hữu tư nhân làm nền tảng thì nền KTTT định

hướng XHCN ở nước ta cũng dựa trên những quan hệ sở hữu Nhà n ước, sở hữu tạp

thể làm nền tảng.


Dựa trên cơ sở nhiều quan hệ sở hữu đó l;à một nền kinh tế nhiều thành phần (đó

là thành phần kinh tế Nhà nước, tư nhân tư bản,tiểu chủ các thể, tập thể, kinh tế tưbanrn

Nhà nước,có vốn đầu tư nước ngoài) Trong đó thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai
trò chủ đạo.Điểm khác biệt với kinh tế tư bản là kinh tế Nhà nước nắm vai trò chủ đạo

và nền tảng.


2.2/ Trong nền KTTT định hướng XHCN thì phân phối theo lao dộng là chủ

yếu.


Mỗi chế độ xã hội có chế độ phân phối tương ứng của nó. Chế độ phân phối do

quan hệ SX thống trị trước hết là do quan hệ sở hữu quyết định. Nếu trong KTTT TB

cũng có nhiều hình thức phân phối trong đó phân phối theo giá trị là chủ yếu thì trong

KTTT định hướng XHCN[’ Việt Nam có nhiều quan hệ sở hữu cho nên cũng có nhiều

hình thức phân phối: Phân phối theo lao động, phân phối ngoài thù lao lao động thông

qua các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể, phân phối theo nguồn lực đóng góp trong đó

phân phối theo lao động là chủ yếu. Bởi vì khi người lao động được giải phóng khỏi áp

bức, bóc lột làm chủ về kinh tế thì phân phối phải vì lợi ích của họ.Phân phối theo lao

động là đặc trưng bản chất của KTTT định hướng XHCN, nó là hình thức thực hiện về

mặt kinh tế của chế độ công hữu.


2.3/ KTTT định hướng XHCN thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế

gắn liền với công bằng xã hội.


Trước hết, Đảng ta xác định xây dựng KTTT định hướng XHCN chứ không phải

KTTT TBCN. Nếu trong KTTT TB, nó đã phân hoá xã hội thành hai cực đối lập giầu

nghèo. Tính chung một bên là 20% người giầu chiếm 80% tài sản Quốc dân, một bên là

80% người nghèo chiếm 20% tài sản Quốc dân. Để giải quyết những vấn đề mâu thuân

xã hội phát sinh do giầu nghèo thì Nhà nước TB đã có nhiều chính sách xã hội như trợ

cấp người nghèo, người thất nghiệp, người tàn tật hay là cho những người già cô đơn.
KTTT ở Việt Nam sự tăng trưởng và phát triển kinh tế gắn liền với sự công bằng

XH cho mỗi bước phát triển. Trong đó tăng trưởng phát triển kinh tế là tiền đề để thực

hiện công bằng XH. Công bằng XH là mục đích vì nó trở thành động lực để thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế.


Thực hiện một sự công bằng XH có nghĩa là người lao động thoát khỏí áp bức

bóc lột được phân phối công bằng tức là hưởng thụ đúng với thành quả lao động của

mình. XH phải tạo ra điều kiện để người lao động thực hiện được khả năng lao động của

mình phải thực hiện xoá đói giảm nghèo, khuyến khích làm giầu hợp pháp,gắn phát triển

kinh tế với bảo vệ tài nguyên MT và hệ Sinh thái. .... Đại hội Đại biểu toàn Quốc lần thứ

IX "Tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng XH ngay trong từng

bước phát triển".


Bên cạnh đó sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự phát triển văn hoá giáo dục.

Phát triển VH - GD kà xây dựng một nền tảng văn hoá mới vừa đậm đà bản sắc dân tộc

lại và tiếp thu những tinh hoa văn hoá thế giới. Phát triển GD để đào tạo nhân lực nâng

cao dân trí. Trong thời đại ngày nay, tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ không

cong là thế mạnh của Việt Nam chỉ có nguồn lực con người mới thực sự là ưu thế thúc

đẩy phát triển kinh tế. Vì vậy chỉ có một nền kinh tế đảm bảo một cuộc sống đầy đủ và

ổn định trong toàn dân, đảm bảo dân chủ và công bằng XH, được thực hiện an sinh và

các tiêu chí phát triển con người lúc đó tăng trưởng kinh tế mới thực sự thể hiện tiến bộ

XH.


2.4/ KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế mở hội nhập theo xu hướng toàn

cầu hoá.
Nền kinh tế mở hội nhập phản ánh sự khác biệt giữa nền KTTT định hướng

XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng, khép kín trước đây. Đồng thời

phản ánh su hướng hội nhập cùng khu vực và quốc tế của nền kinh tế n ước ta trong điều

kiện toàn cầu hoá kinh tế. Do sự tác động của cuộc cách mạnh khoa học công nghệ,

đang diễn ra quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, nó đặt ra trước các nước đang phát

triển nhiều thách thức hơn là thời cơ. Vấn đề đặt ra: Không phải là nên hay không nên

hội nhập vào quá trình đó mà phải tìm cách ứng xử như thế nào để dành được nhiều lợi

ích, giảm thiểu tác hại, rủi do. Vì vậy mở cửa kinh tế hội nhập khu vực và thế giới là

điều đương nhiên đối với nước ta.


Đảng ta đã xác định rõ: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,

rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế.Việt Nam sẵn sàng làn bạn,

là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập

và phát triển.


KTTT định hướng XHCN nước ta thực hiện đa phương hoá, đa dangj hoá KT

đối ngoại để khai thác nguồn nhân lực bên ngoài. Ta cố gắng củng cố thế đứng trên thị

trường truyền thống và tạo thế đứng mới ở thị trường mới. Trong thời gian tới cần chủ

động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và bảo

đảm thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA,

APEC, hiệp định thương mại Việt - Mỹ tiến tới gia nhập WTO....


3/ KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam có sự quản lý kinh tế vĩ mô

của Nhà nước.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng dịnh: " Nước ta là một nước

XHCN, quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách

sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng những hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của

KTTT để kích thích sản xuất và giải phóng sức sản xuất.


Sự quản lý kinh tế vĩ mô 1của Nhà nước là một yếu tố đảm bảo cho sự phát

triển định hướng XHCN trong KTTT. Sự quan hệ vĩ mô Nhà n ước cũng phải phát huy

những mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của

nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.


III/ Thực trạng, mục tiêu và những giải pháp cơ bản để phát triển KTTT

định hướng XHCN ở Việt Nam.


1/ Thực trạng nền kinh tế định hướng XHCN


Chúng ta phải thừa nhận rằng nền KTTT ở nước ta đang ở tình trạng kém phát

triển, Bởi lẽ xuất phát điểm của nước ta là một nền kinh tế mang nặng tính chất tự cung

tự cấp lại tồn tại trong cơ chế bao cấp trong một thời gian dài. Thêm vào đó, những tàn

dư hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài, những sai lầm chủ quan duy ý chí

trong quản lý và lãnh đạo ở thời kỳ bao cấp càng làm cho tính chất của nền sản xuất và

đời sống kinh tế xã hội thêm phần biến dạng và trì trệ được biểu hiện ở chỗ:


Thứ nhất: Phân công lao động xã hội là cơ sở của KTTT chưa phát triển. Theo Lê

- Nin "Nhìn vào một nước mà đa số dân cư sống trong Nông nghiệp thì chứng tỏ là

một nền KTHH kém phát triển".Người sản xuất vẫn giữ thói quen sản xuất nhỏ chưa

liên kết với nhau để tạo nên cơ sở lớn, tạo cho mình vị trí trên thị trường.
Thứ hai: Việt Nam quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN cơ sở vật chất kỹ

thuật còn lạc hậu. Phần lớn các ngành kinh tế vẫn áp dụng công nghệ cũ kỹ nên năng

suất thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao (năng suất lao động của nước ta chỉ bằng 30% mức

trung bình của thế giới)


Thứ ba:Thị trường phát triển chưa đồng bộ. Do giao thông kém phát triển nên

chưa lôi cuốn đượctất cả các vùng trong nước vào một mạng lưới lưu thông hàng hoá

thống nhất. Thị trường hàng hoá dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và nhiều hiện

tượng tiêu cực (như hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng ..... làm rối loạn thị

trường) thị trường tìên tệ, thị trường vốn mới hình thành, có nhiều tíên bộ nhưng còn

trắc trở vì vướng mắc thủ tục. Thị trường hàng hoá sức lao động đã hình thành nhưng

chưa phát triển một số trung tâm giới thiệu việc làm mới xuất hiện nhưng đã nẩy sinh

hiện tượng khủng hoảng. Thị trường bất động sản mới hình thành và có nhiều tiềm

năng.


Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trạng thái sản xuất nhỏ ở Việt Nam vẫn

còn mang tính phổ biến trong quan hệ kinh tế đối ngoại do cơ sở vật chất kỹ thuật lạc

hậu, năng suất còn thấp dẫn đến hàng hoá Việt Nam có sức cạnh tranh yếu. Về mặt quản

lý của Nhà nước vẫn co yếu kém hệ thống luật pháp và chính sách chưa dòng bộ,thủ tục

còn rườm rà


Trong nền KTTT chúng ta chưa có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh tương đương

với trình độ của luật pháp quốc tế.Do vậy trong một số vụ án kinh tế , cơ chế quản lý

đôi khi vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm trong nền KTTT. Hoặc chúng ta lại dặt mình

vào sự đã rồi như vụ kiện bán phá giá cá tra, cá ba sa hay vụ tranh chấp thương hiệu ca

phê Trung Nguyên...
Vấn đề đạo đức đang được baó động trong nền KTTT hiện nay. Do th ương mại

hoá một cách tràn lan đã làm cho các giá trị đạo đức xuống cấp, đồng tiền chi phối

quan hệ giữa người với người, sự phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội có chiều

hướng gia tăng, lối sống ích kỷ, thực dụng ngày càng tăng.


2. Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới.


Kế hoạch 5 năm 2001-2005 là bước rất quan trọng trong việc thực hiện chiến

lược 2001-2010. Mục tiêu là tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chuyển dịch cơ

cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.


Trong 5 năm 2001-2005 phấn đấu nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình

quân 7,5%.


Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 nhằm: Đưa nước ta ra

rỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thân của nhân dân.

Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế

quốc phòng an ninh được tăng cường, thể chế KTTT đính hướng XHCN được hình

thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Năm 2010, tổng

sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000, chuyển dịch mạnh cơ

cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp xuống còn khoảng 50%.


Mục tiêu đến năm 2020, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã đưa

ra chỉ tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định

hướng hiện đại tức là tốc độ tăng trưởng trung bình lý tưởng từ nay tới đó đặt trên dứi

10%, ổn định quốc phòng và an ninh. Theo đó thể chế KTTT định hướng XHCN được

hình thành cơ bản ở nước ta.
3. Những giải pháp cơ bản để phát triển KTTT định hướng XHCN


Nền KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế quá độ nên nó không tránh

khỏi những quyết điểm. Để phát triển KTTT định hướng XHCN cần thực hiện đồng bộ

nhiều giải pháp. Dưới đây là những giải pháp chủ yếu:


Thứ nhất: Đẩy mạnh phân công lao động xã hội - cơ sở của KTTT trong từng cơ

sở kinh tế, từng địa phương, trong cả nước và tiến tới sự hợp tác phân công lao động

quốc tế. Sự phân công lao động này nó diễn ra theo một qui luật tỷ trọng lao động công

nghiệp tăng, tỷ trọng lao động dịch vụ tăng, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm.


Thứ hai: Thực hiện đa dạng hoá các quan hệ sử hữu để tạo ra sự cách biệt nhất

định về kinh tế - cơ sở của KTTT. Trên cơ sở đó là sử dụng một cơ cấu kinh tế nhiều

thành phần nhằm khai thác mọi tiềm năng như: Vốn, kỹ thuật công nghệ, sức lao động

và kinh nghiệm quản lý .... để thúc đẩy KTTT tăng trưởng phát triển. Khuyến khích kinh

tế tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ phát triển ở cả nông thôn và thành thị. Phát triển

thành phần kinh tế có 100% vốn đầu tư nước ngoài để thu hút nhiều ngoại tệ. Đồng thời

đảm bảo vai trò chủ đạo của Nhà nước.


Thứ ba: Tiến hành Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nền kinh tế đất nước để khắc

phục cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu ở nước ta.


Thứ tư: Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, đặc biệt là thị

trường vốn, sức lao động, đất đai... Phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ thông qua

việc đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thêm vào đó, vừa phải

phân công lại lao động vừa phải đổi mới kinh tế. Phát triển thị trường hàng hoá sức lao
động, thị trường vốn, thị trường khoa học công nghệ, phát triển một thị trường tài chính

lành mạnh, thị trường bất động sản.


Thứ năm: Phải nâng cấp cơ sở hạ tầng. Vì theo Mac giao thông phát triển đến

đâu thì thị trường phát triển đến đó. Nâng cấp và xây dựng mới hệ thống cơ sở hạ tầng

sản xuất đặc biệt là giao thông vận tải, thông tin liên lạc nhằm tạo điều kiện cho việc sản

xuất và lưu thông hàng hoá được thuận tiện tác động tích cực tới nền KTTT định hướng

XHCN.


Thứ sáu: Mở rộng hiệu quả kinh tế đối ngoại để tranh thủ nguồn lực bên ngoài

như: vốn, công nghệ... để khai thác những nguồn lực bên trong. Thực hiện đa dạng hoá,

đa phương hoá kinh tế đối ngoại.


Thứ bảy: Tăng cường đổi mới cách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Nhà

nước phải làm tốt chức năng pháp luật. Xây dựng hệ thống pháp lý kinh tế hoàn chỉnh,

chức năng lập pháp hành pháp, đổi mới thủ tục hành chính. Nhà nước thực hiện tốt chức

năng quản lý và sử dụng tốt công cụ quản lý kinh tế như kế hoạch hoá, chính sách tài

chính, tiền tệ để quản lý nền KTTT.


C. Kết luận




Trong suốt những thập niên trước 1986, nền kinh tế nước ta vận hành theo một

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Một sự bao cấp tràn lan làm cho nền kinh tế bị hiện

vật hoá, quan hệ hàng hoá tiền tệ không được coi trọng. Đây là một trong những nguyên

nhân CNXH lâm vào khủng hoảng. Do đó, từ Đại hội VI năm 1986, Đảng ta chủ trương
xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền KTHH, vận hành theo cơ

chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước dần từng bước chuyển sang KTTT.


Cơ chế thị trường ở nước ta tuy đã hình thành nhưng còn ở giai đoạn sơ khai, còn

mang nhiều yếu tố tự phát. Cơ chế chính sách kinh tế chậm đổi mới và cải cách còn

chậm chạp đang là trở ngại cho đổi mới và phát triển kinh tế. Vì vậy, để phát triển nền

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trước hết cần nhận thức đúng đắn về nó để có thể

phát huy vai trò tác dụng đồng thời giảm thiểu tối đa mặt hạn chế tiến tới một xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh và ấm no hạnh phúc.
MỤC LỤC




Trang




LỜI NÓI ĐẦU.


I-PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG LÀ MỘT TÂT YẾU KHÁCH

QUAN. ...................................................................................................................... 1


1-Quan niệm về KTTT . ................................................................................. 1


2-Kinh tế thị trưũng khụng những tồn tại khỏch quan mà cũn cần thiết cho

cụng cuộc xõy dựng chủ nghĩa xó hội ....................................................................... 2


II- KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HễỊ CHỦ NGHĨA Ở VIỆT

NAM . ....................................................................................................................... 4


III-THỰC TRẠNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. .......................................... 8


1 - Thực trạng nền kinh tế định hướng XHCN ................................................ 8


2- Mục tiêu phấn đấu . .................................................................................... 9


3-Giải pháp thực hiện mục tiêu. ...................................................................... 9


KẾTLUẬN ................................................................................................... 11
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản