TIỂU LUẬN: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp và dân tộc

Chia sẻ: inside33

Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề giai cấp và dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là mối quan hệ cơ bản và có tác động mạnh mẽ đối với công cuộc giải phóng dân tộc cũng như sự phát triển của toàn xã hội. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu vấn đề giai cấp, dân tộc và mối quan hệ giữa chúng là điều hết sức cần thiết. Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp và dân tộc

TIỂU LUẬN:



Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin

về vấn đề giai cấp và dân tộc
LỜI MỞ ĐẦU


Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề giai cấp và dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí

Minh là mối quan hệ cơ bản và có tác động mạnh mẽ đối với công cuộc giải phóng dân

tộc cũng như sự phát triển của toàn xã hội. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh, nghiên cứu vấn đề giai cấp, dân tộc và mối quan hệ giữa chúng là điều

hết sức cần thiết.


Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển

mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn, sáng tạo của

tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp. Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm

bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó kh ăn của hoà bình xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ ra rằng khi nào và ở

đâu, vấn đề giai cấp và dân tộc không được kết hợp một cách đúng đắn; quan điểm

giai cấp và dân tộc được vận dụng một cách cứng nhắc, giáo điều hoặc bị coi nhẹ thì ở

đó cách mạng sẽ không chỉ gặp khó khăn mà thậm chí còn bị tổn thất nặng nề. Qua đó,

chúng ta có thể rút ra được bài học trong việc vận dụng xem xét vấn đề giai cấp, đấu

tranh giai cấp và mối quan hệ của chúng với vấn đề dân tộc trong tình hình hiện nay và

trong giai đoạn sắp tới của thời kì quá độ khi mà nền kinh tế nước nhà phát triển mạnh

mẽ theo hướng thị trường và hội nhập quốc tế, sự phát triển chắc chắn sẽ đem lại cho

chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng kéo theo không ít những nguy cơ, thách thức cũng

như muôn vàn khó khăn.
NỘI DUNG


I. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp và dân tộc


1. Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp


1.1. Khái niệm giai cấp


Trong tác phẩm “Phát kiến vĩ đại”, Lênin định nghĩa: Người ta gọi là giai cấp,

những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ

thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với

những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là

khác nhau về cách hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít nhiều mà họ được hưởng.

Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập

đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội

nhất định”.


1.2. Đặc trưng của giai cấp


Mỗi giai cấp có những đặc trưng riêng, giai cấp không phải là sản phẩm của sản

xuất nói chung mà là sản phẩm của hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử.

Đặc trưng cơ bản của giai cấp là khác nhau về việc nắm giữ tư liệu sản xuất trong cùng

xã hội, khác nhau về vai trò quản lý, phân công lao động xã hội, khác nhau về phân

phối sản phẩm, khác nhau về địa vị trong nền sản xuất. Như vậy giai cấp không phải là

phạm trù xã hội thông thường mà là phạm trù kinh tế - xã hội có tính chất lịch sử.
Giai cấp được hình thành từ hai nguồn gốc. Nguồn gốc trực tiếp của sự hình

thành giai cấp là sự ra đời của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Về sâu xa,

đó là do sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ nhất định.


1.3. Đấu tranh giai cấp


Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp. Lênin định nghĩa

đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước đoạt hết quyền, bị áp bức

và lao động chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu

tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống lại những

người hữu sản hay giai cấp tư sản.


Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của các giai cấp

và tầng lớp bị trị không chỉ về lợi ích kinh tế mà còn về chính trị, tinh thần. Lợi ích của

giai cấp bị trị hoàn toàn đối lập với lợi ích của giai cấp thống trị. Có áp bức thì tất có

đấu tranh chống áp bức. Vì vậy đấu tranh giai cấp không do một lý thuyết xã hội nào

tạo ra mà là động lực phát triển và là hiện tượng tất yếu không thể thiếu được trong xã

hội có áp bức.


2. Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc


Khái niệm dân tộc được dung để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành

nhân dân một nước có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có ý

thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi những quyền lợi về chính trị,

kinh tế, truyền thống, văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình dựng

nước và bảo vệ đất nước.
Dân tộc có tính thống nhất cao thể hiện ở sự cộng đồng về lãnh thổ, về kinh tế,

về ngôn ngữ và về văn hóa. Dân tộc có tính ổn định, bền vững, đảm bảo bởi nguyên

tắc pháp lý cao, tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dân tộc.


Dân tộc là một vấn đề rất rộng lớn mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã không đi sâu

giải quyết vì thời đó ở Tây Âu, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư

sản. Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một

bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, Lênin có c ơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề

dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận. Tuy cả C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin đã

nêu lên những quan điểm cơ bản về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề giai cấp và

vấn đề dân tộc nhưng từ thực tiễn cách mạng vô sản ở Châu Âu, các ông vẫn tập trung

nhiều hơn vào vấn đề giai cấp. Điều kiện những năm đầu thế kỉ XX trở đi đặt ra yêu

cầu vận dụng và phát triển sang tạo lý luận Mác-Lênin cho phù hợp với thực tiễn ở các

nước thuộc địa. Chính Hồ Chí Minh là người đã đáp ứng được yêu cầu đó.




II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ VẤN ĐỀ

DÂN TỘC


1. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh


Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) đã đưa ra khái niệm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là

một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt

Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân

tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho
cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và

dân tộc ta”.


Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự tổng hòa và phát triển biện chứng tư

tưởng văn hóa truyền thống của dân tộc, tinh hoa tư tưởng văn hóa của phương Đông

và phương Tây với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng cùng thực tiễn của dân tộc và

thời đại qua sự tiếp biến và phát triển của Hồ Chí Minh – một con người có tư duy

sáng tạo, có phương pháp biện chứng, có nhân cách, phẩm chất cách mạng cao đẹp tạo

nên.


2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân

tộc


Quá trình hình thành tư tưởng về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí

Minh đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người ngay từ những năm

cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trước khi học thuyết Mác – Lênin được truyền bá

vào Việt Nam thì các phong trào yêu nước của người Việt Nam chống thực dân Pháp

liên tục nổ ra, nhưng kết cục đều thất bại. Nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các

phong trào đó thất bại chính là do bế tắc về đường lối. Mặc dù các bậc lãnh tụ của

những phong trào yêu nước ấy đã dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp của mình,

nhưng do họ không nhận thức được xu thế của thời đại, nên không thấy được giai cấp

trung tâm của thời đại lúc này là giai cấp công nhân - giai cấp đại biểu cho một

phương thức sản xuất mới, một lực lượng tiến bộ xã hội. Do đó, mục tiêu đi tới của

những phong trào ấy không phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại, nên

không thể đem lại kết quả và triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội Việt Nam.
Trước yêu cầu bức xúc của vấn đề giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước,

người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu

nước. “Công lao to lớn đầu tiên của Bác đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là đã

tìm ra con đường cứu nước, khai phá con đường giải phóng dân tộc và các dân tộc bị

áp bức trên thế giới”.


Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở các nước trên

các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay cả trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra nhận

xét: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc mọi sự đau khổ của công nhân,

nông dân lao động ở cả “chính quốc” cũng như ở thuộc địa. Nghiên cứu các cuộc cách

mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776); Pháp (1789), Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc

cách mạng này tuy nêu khẩu hiệu “tự do”, “bình đẳng”, nhưng không đưa lại tự do,

bình đẳng thực sự cho quần chúng lao động. Người viết: Tiếng là cộng hoà, dân chủ kì

thực trong thì nó bóc lột công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Tuy khâm phục các

cuộc cách mạng ấy, nhưng Nguyễn Ái Quốc cho rằng đó là cách mạng chưa đến nơi.

Vì thế, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào

giải phóng của các dân tộc bị áp bức, phong trào giải phóng giai cấp công nhân ở các

nước tư bản. Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với cách mạng Tháng Mười

Nga, đến với V.I. Lênin; như một tất yếu lịch sử. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng

lợi là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động tìm đường

cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Đặc biệt, sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận

cương về dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn con

đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải qua. Người khẳng định: “Chỉ có chủ

nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”; rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân

tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Kết luận trên đây

của Nguyễn Ái Quốc là sự khẳng định một hướng đi mới, nguyên tắc chiến lược mới,

mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong

trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo

của cách mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công

nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng. Vì vậy, con

đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách

mạng XHCN. Người chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách

mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.


3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề giai cấp

và vấn đề dân tộc


3.1. Khái quát về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc


Giai cấp và dân tộc có mối quan hệ mật thiết với nhau, song đó là phạm trù chỉ

các quan hệ xã hội khác nhau. Do đó giai cấp và dân tộc không thể thay thế được cho

nhau. Trong dân tộc thì có giai cấp và quan hệ giai cấp có vai trò quyết định tới sự

hình thành xu hướng phát triển, bản chất xã hội của dân tộc, tính chất quan hệ giữa các

dân tộc với nhau. Phương thức sản xuất sinh ra giai cấp nên phương thức sản xuất gián

tiếp quy định bản chất của dân tộc. Giai cấp nào lãnh đạo dân tộc thì dân tộc đó mang

bản chất của giai cấp đó.
Trong xã hội luôn có hiện tượng dân tộc này áp bức dân tộc khác. Việc các

nước đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa thực chất do giai cấp tư sản các nước này đến

đàn áp, bóc lột các dân tộc, các nước thuộc địa nhằm vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao

động của nhân dân bản địa.


Nhân tố giai cấp ảnh hưởng một cách cơ bản đến dân tộc song nhân tố dân tộc

cũng tác động sâu sắc tới nhân tố giai cấp. Đấu tranh dân tộc do đó cũng tác động tới

đấu tranh giai cấp.
3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa giai cấp và dân tộc


Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh

và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, bền

bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã phát triển lý

luận về cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ khi hoạt động trong phong trào công

nhân ở Pháp, Người đã nhận thấy một hố sâu ngăn cách giữa giai cấp công nhân và

nhân dân lao động “chính quốc” với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc

địa. Đó là chủ nghĩa sô-vanh nước lớn của các dân tộc đi thống trị và chủ nghĩa dân

tộc hẹp hòi đối với các dân tộc bị thống trị.


Trong Đại hội Tua, thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), Nguyễn Ái Quốc đã

kêu gọi những người xã hội ủng hộ phong trào giải phóng ở các thuộc địa và lên án

phái nghị viện đi theo đường lối cơ hội của Đệ nhị quốc tế, theo đuổi bọn thực dân

phản động, từ chối yêu cầu giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Trong nhiều tham

luận tại các Đại hội quốc tế và các bài viết, Nguyễn Ái Quốc đã bảo vệ chủ nghĩa Mác

- Lênin, phê bình một cách kiên quyết và chân thành những sai lầm, khuyết điểm của

các Đảng Cộng sản chính quốc. Các Đảng Cộng sản này, tuy thừa nhận 21 điều kiện

của Quốc tế cộng sản, trong đó Điều 8 quy định các Đảng Cộng sản ở chính quốc phải

ủng hộ và hoạt động một cách thiết thực giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc; nhưng

trên thực tế hoạt động rất ít, do không nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc

địa.


Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, trong “Chính

cương vắn tắt” do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã khẳng định: “Chủ trương làm tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy là, lần

đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp đấu tranh giải

phóng dân tộc gắn liền với cách mạng XHCN. Cuộc cách mạng này kế t hợp trong bản

thân nó tiến trình của hai sự nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực

dân và giải phóng giai cấp khỏi ách áp bức bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết

trên lập trường của giai cấp công nhân - điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi ích

của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc. Sức mạnh đi tới thắng lợi của cách

mạng Việt Nam không phải là cái gì khác mà là mục tiêu dân tộc luôn thống nhất với

mục tiêu dân chủ trên cơ sở định hướng XHCN. Đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt

Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt để, tạo tiền đề cho bước chuyển sang

thời kỳ quá độ lên CNXH; tức là, cách mạng XHCN là bước kế tiếp ngay khi cách

mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi và giữa hai cuộc cách mạng này không có

một bức tường nào ngăn cách. Đây là quan điểm hết sức căn bản của tư tưởng Hồ Chí

Minh: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện để tiến lên

CNXH và chỉ có cách mạng XHCN mới giữ vững được thành quả cách mạng giải

phóng dân tộc, mới mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi tầng lớp

nhân dân, mới có độc lập dân tộc thực sự.


Như chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ

nghĩa Mác - Lênin. Từ đó, Người đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống

Việt Nam, trong sự thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Bởi vậy, trong tư tưởng

Hồ Chí Minh, đúng như Ph. Ăng-Ghen đã nói: Những tư tưởng dân tộc chân chính...

đồng thời cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính. Sự phát triển tự tưởng Hồ Chí

Minh đã chỉ đạo sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong sự thúc đẩy lẫn
nhau giữa dân tộc và giai cấp, ý thức giác ngộ về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là

tiền đề quyết định nhất, cũng là động lực chủ yếu để Nguyễn Ái Quốc đến với chủ

nghĩa Mác - Lênin và tiếp thu quan điểm mác-xít về giai cấp. Đó chính là nhân tố đảm

bảo tính khoa học và cách mạng cho sự phát triển tinh thần dân tộc đúng đắn ở người

chiến sĩ cộng sản Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.


Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình đấu

tranh cách mạng: giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản không phải chỉ là chứng

minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn là sự phát triển sáng tạo và

có giá trị định hướng rất cơ bản. Qua thực tiễn đấu tranh và lãnh đạo cách mạng Việt

Nam, luôn bám sát đặc điểm thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm các nước

khác, Hồ Chí Minh đã có những giải pháp đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi của lịch

sử, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; đó

cũng chính là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng nước ta trong suốt bảy thập kỷ qua.

Bởi lẽ:


Một là, cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay muốn thành công

triệt để nhất định phải đi theo quỹ đạo và là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô

sản. Cuộc cách mạng đó phải dựa vào lực lượng của nhân dân, nòng cốt là liên minh

công nông, do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhận thức

rất rõ, nếu chỉ đưa vào lực lượng của riêng giai cấp công nhân, thậm chí cả giai cấp

nông dân là hoàn toàn không đủ, mà theo Người, chỉ có phát động cả dân tộc tham gia

mới biến sức mạnh dân tộc thành lực lượng vô địch.
Hai là, cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc (mâu

thuẫn địa chủ - nông dân, mâu thuẫn tư sản - vô sản) không tách rời cuộc đấu tranh

giải quyết mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với các thế lực đế quốc xâm lược. Ở giai

đoạn đầu của cách mạng cần đặt vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc lên trên hết. “Nếu

không giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân

tộc, thì chẳng những toàn thể dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ

phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. “Chính lập trường và lợi ích giai

cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc”. Ở đây rõ ràng cái giai cấp

được biểu hiện ở cái dân tộc, cái dân tộc được giải quyết theo lập trường giai cấp công

nhân, chứ đâu phải là “hy sinh cái nọ cho cái kia” như có người từng cố chứng minh.


Ba là, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở chính quốc như

''hai cánh của một con chim'', phải thực hiện sự liên minh giữa vô sản ở chính quốc với

vô sản và nhân dân các nước thuộc địa thì cách mạng mới thắng lợi. Cách mạng giải

phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không phụ thuộc một chiều vào cách mạng vô sản

ở chính quốc, mà có thể và phải chủ động tiến lên giành thắng lợi, thậm chí có thể

giành thắng lợi trước, từ đó góp phần tích cực hỗ trợ cho cách mạng ở các nước tư bản.

Đó là nhận định hết sức đúng đắn, táo bạo và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đáng tiếc là

có lúc quan điểm này của Hồ Chí Minh không được một số người, trong đó có một vài

người của Quốc tế cộng sản cũng không thừa nhận.


Bốn là, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang, khỏi chế độ

thuộc địa, dân tộc vừa được giải phóng phải quá độ lên CNXH và trong bước quá độ

ấy phải tự mình tìm tòi con đường, phương thức riêng phù hợp với tình hình và đặc
điểm đất nước, tránh giáo điều, dập khuôn những hình thức, bước đi, biện pháp của

nước khác.
III. VẤN ĐỀ GIAI CẤP – DÂN TỘC TRONG THỰC TIỄN VIỆT NAM

HIỆN NAY


Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện

nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh về mối quan hệ biện

chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng hết

sức cấp thiết. Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ

xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá

nhấn mạnh vấn đề giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và

thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp

không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát

huy như một trong những động lực chủ yếu nhất. Nhưng ngay sau đó, Đảng ta đã kịp

thời khắc phục có hiệu quả cả về phương điện nhận thức lý luận cũng như trong hoạt

động thực tiễn về vấn đề này.


Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay,

Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện, mà thực

chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ

Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong công cuộc xây

đựng CNXH ở nước ta.


Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “Mối quan hệ giữa

các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân,

đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh

đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong
mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Điều này đã thể hiẹn

rõ quan điểm biện chứng về sự thống nhất giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc ,

giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc. Mục tiêu này vừa thể hiện vừa đáp ứng nguyện

vọng của toàn thể dân tộc, của các giai cấp và của mỗi người dân yêu nước.


Mặc dù tình hình đã có nhiều thay đổi so với trước đây nhưng cả hiện nay và

trong giai đoạn sắp tới của thời kỳ quá độ không thể chỉ chú ý đến lợi ích của một giai

cấp riêng biệt nào đó, kể cả lợi ích của giai cấp công nhân ra khỏi lợi ích của toàn thể

dân tộc. Tuy nhiên không thể không nhận thấy rằng trong bối cảnh hiện nay của đất

nước và thế giới, nội dung, tính chất và mức độ của cuộc đấu tranh này trên đất nước

ta không hoàn toàn giống như trước đây. Không thể để lặp lại một quan niệm sai lầm

cho rằng khi đã có độc lập dân tộc hoàn toàn rồi thì chỉ cần tập trung vào việc giải

quyết mâu thuẫn giai cấp. Nhận thức được điều đó chúng ta sẽ thấy được sự cần thiết

phải tập trung toàn bộ sức mạnh của các thành phần kinh tế, của các giai cấp và của

toàn dân tộc vào nhiêm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ là nhanh chóng phát triển

lực lượng sản xuất, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước.


Thực hiện được nhiệm vụ phát triển kinh tế không chỉ là hiện thực hóa nội dung

của con đường xã hội chủ nghĩa mang tính giai cấp công nhân sâu sắc mà còn là hiện

thực hóa nội dung mang tính dân tộc, là nhiệm vụ cơ bản của toàn dân tộc, của mọi

thành phần kinh tế. Lúc này đây, cả giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam

không có nhiệm vụ nào quan trọng hơn nhiệm vụ từng bước thực hiện thành công sự

nghiệp công nghiêpk hóa, hiện đại hóa giống như trước đây cả dân tộc đã tập trung vào
nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Chính vì lẽ đó mà trong nhiệm vụ phát triển đất nước,

tính giai cấp và tính dân tộc hòa quyện vào nhau.


Đảng ta cũng đã chỉ rõ trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc cần nhận

thức và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái thống

nhất và cái đa dạng, giữ gìn và phát huy truyền thống của dân tộc cũng như tiếp thu

tinh hoa văn hóa của nhân loại.
KẾT BÀI


Nghiên cứu vấn đề giai cấp và dân tộc giúp chúng ta hiểu rõ về nguồn gốc, quá

trình tồn tại và xu hướng phát triển của cộng đồng các dân tộc trên thế giới, đồng thời

tìm hiểu bản chất căn nguyên của sự biến đổi và phát triển thông qua việc tìm hiểu về

quan hệ giai cấp nội tại trong mỗi quốc gia, dân tộc. Qua đó ta nhận thấy mối quan hệ

biện chứng, gắn bó mật thiết giữa giai cấp và dân tộc.


Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát triển

mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn, sáng tạo của

tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp. Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm

bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn trong những khó kh ăn của hoà bình xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh đang thể hiện giá trị trường

tồn nhất là trong bối cảnh các dân tộc đang đứng trước những thách thức cực kì nguy

hiểm khi các thế lực hiếu chiến dựa vào tiềm lực quân sự hiện đại tiến hành chiến

tranh xâm lược những nước có chủ quyền, bất chấp luật pháp.


Điều đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, học tập, quán triệt

tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới, làm cơ sở

vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách

của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc ta vượt qua mọi thử thách, vững bước trong

quá trình xây dựng một đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,

dân chủ, văn minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Giáo trình triết học Mác-Lênin


2. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh


3. Tạp chí triết học


4. Tạp chí Đảng cộng sản


5. Những vấn đề lý luận đặt ra tại văn kiện đại hội IX của Đảng


6. Hồ Chí Minh toàn tập
MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1


NỘI DUNG .................................................................................................... 3


I. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp và dân tộc............ 3


1. Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề giai cấp .......................... 3


1.1. Khái niệm giai cấp ......................................................................... 3


1.2. Đặc trưng của giai cấp .................................................................. 3


1.3. Đấu tranh giai cấp ......................................................................... 4


2. Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc ........................... 4


II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP VÀ VẤN ĐỀ

DÂN TỘC .................................................................................................................. 5


1. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh................................................. 5


2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giai cấp và dân

tộc ........................................................................................................................... 6


3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề giai

cấp và vấn đề dân tộc .......................................................................................... 8


3.1. Khái quát về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc..................... 8
3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa giai cấp và

dân tộc ............................................................................................................. 10


III. VẤN ĐỀ GIAI CẤP – DÂN TỘC TRONG THỰC TIỄN VIỆT NAM

HIỆN NAY .............................................................................................................. 15


KẾT BÀI ...................................................................................................... 18


TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 19

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản