Tiểu luận " mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh"

Chia sẻ: hendiv

Lịch sử cách mạng của nước ta trong gần 80 năm qua gắn liền với tên tuổi sự nghiệp,tư tưởng và đạo đức của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại,nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng Việt Nam.Trong lịch sử dựng nước và giữ nước,dân tộc ta đã sản sinh ra biết bao tên tuổi vĩ đại nhưng không ai có sự nghiệp lấy lừng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, không ai có được tầm vóc thời đại,được thế giới ca ngợi và thừa nhận như Hồ Chí Minh....

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận " mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh"

1




Đề bài
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa
vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng
Hồ Chí Minh.
2


Bài làm

I. Hồ Chí Minh và tư tưởng cua Người




Hồ Chí Minh ( 1980-1969)


Lịch sử cách mạng của nước ta trong gần 80 năm qua gắn liền với tên
tuổi sự nghiệp,tư tưởng và đạo đức của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh,
người anh hùng dân tộc vĩ đại,nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng Việt
Nam.Trong lịch sử dựng nước và giữ nước,dân tộc ta đã sản sinh ra biết bao
tên tuổi vĩ đại nhưng không ai có sự nghiệp lấy lừng như Chủ tịch Hồ Chí
Minh, không ai có được tầm vóc thời đại,được thế giới ca ngợi và thừa nhận
như Hồ Chí Minh.
Địa vị có một không hai trong lịch sử dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã được xác lập và củng cố vững chắc nhờ công lao to lớn và sự nghiệp vĩ
đại mà Người đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam, cũng như cách mạng
thế giới.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy: khi nào chúng ta xa rời hoặc
quán triệt không đầy đủ tư tưởng của Người thì sẽ không tránh khỏi vấp váp
và sai lầm.Có thể nói cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin dẫn đường, tư tưởng
Hồ Chí Minh quyết định sự thành bại của cách mạng Việt Nam. Chính vì
vậy, tại Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “ lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng là
bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta”.
3


Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những quan điểm về những vấn
đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-
Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong hệ tư tưởng đó thì nội dung
đầu tiên, cơ bản phải đề cập đến đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Dân
tộc, vấn đề giai cấp và Cách mạng giải phóng dân tộc.

Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc
với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách
mạng Việt Nam, một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho
tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin.
Để làm rõ mối quan hệ giữa 2 vấn đề này em xin đi vào: “ Phân tích mối
quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và và vấn đề giai cấp trong tư
tưởng Hồ Chí Minh”.


II- Vấn đề dân tộc của Người

I- Quan điểm của Mác- Lênin, Hồ Chí Minh về dân tộc
Quan điểm của Mác-Ăngghen-Lênin về vấn đề dân tộc
 Khái niệm: Dân tộc là một vấn đề rộng lớn bao gồm những quan
hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hoá
giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ tộc.
 Quan điểm của chủ nghĩa Mác: Dân tộc là sản phẩm của lịch sử.
Mác-Ăngghen đã đặt nền tảng lý luận cho việc giải quyết vấn đề
dân tộc một cách khoa học.
 Lênin đã phát triển quan điểm về vấn đề dân tộc thành hệ thống
lý luận toàn diện và sâu sắc

Vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh – là vấn đề dân tộc thuộc địa
 “Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải
phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của
nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xoá bỏ áp bức, bóc lột thực
dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân
tộc độc lập”.

II- Nguồn gốc hình thành tư tưởng về dân tộc của Hồ Chí Minh
Có thể nói, bốn nguồn gốc chính yếu :
+Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
4


+ Tinh hoa văn hoá nhân loại
+Chủ nghĩa Mác – Lênin
+ Nhân tố chủ quan, bản thân con người Hồ Chí Minh
4 nguồn hình thành nên tư tưởng của Hồ Chín Minh cũng chính là những
nguồn gốc hình thành nên tư tưởng của Người về vấn đề dân tộc chỉ có
sự biểu hiện của nó về các vấn đề, trong các giai đoạn là khác nhau mà
thôi.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã
đấu tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải
phóng giai cấp, bền bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc
và thuộc địa, đã phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ
khi hoạt động trong phong trào công nhân ở Pháp, Người đã nhận thấy một
hố sâu ngăn cách giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động ''chính quốc''
với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc địa. Đó là chủ nghĩa sô-
vanh nước lớn của các dân tộc đi thống trị và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đối
với các dân tộc bị thống trị.

Trong Đại hội Tua, thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), Nguyễn Ái Quốc
đã kêu gọi những người xã hội ủng hộ phong trào giải phóng ở các thuộc địa
và lên án phái nghị viện đi theo đường lối cơ hội của Đệ nhị quốc tế, theo
đuổi bọn thực dân phản động, từ chối yêu cầu giải phóng của các dân tộc
thuộc địa. Trong nhiều tham luận tại các Đại hội quốc tế và các bài viết,
Nguyễn Ái Quốc đã bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, phê bình một cách kiên
quyết và chân thành những sai lầm, khuyết điểm của các Đảng Cộng sản
chính quốc. Các Đảng Cộng sản này, tuy thừa nhận 21 điều kiện của Quốc tế
cộng sản, trong đó Điều 8 quy định các Đảng Cộng sản ở chính quốc phải
ủng hộ và hoạt động một cách thiết thực giúp đỡ phong trào giải phóng dân
tộc; nhưng trên thực tế hoạt động rất ít, do không nhận thức đúng tầm quan
trọng của vấn đề thuộc địa.

III- Những quan điểm chính của Người về vấn đề dân tộc

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thực chất là nghiên cứu
quan điểm của Bác về các dân tộc thuộc địa, nghiên cứu về quan hệ giữa dân
tộc và giai cấp trên pham vi quốc tế cũng như trong quốc gia dân tộc Việt
Nam, và nghiên cứu về quan hệ giữa Dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác
trên Thế giới. Đó là những vấn đề liên quan đến chiến lược giải phóng dân
tộc bị áp bức. Bao gồm những nội dung cơ bản sau:
5


1- Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm
phạm của tất cả dân tộc.
Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa

Kẻ xâm lược thường tự cho dân tộc mình là siêu đẳng, có nghĩa vụ đi
khai hoá dân tộc khác, chúng tự cho mình cái quyền chém giết những dân
tộc yếu hơn để đàn áp, bóc lột, thoả mãn dã tâm của riêng chúng. Chúng coi
mình đứng trên tất cả, cho sự bóc lột của mình là một sự ban phát ân huệ, và
đi rêu rao rằng dân tộc mình đang làm nghĩa vụ khai hoá cho một Dân tộc
khác hèn yếu hơn.(Những tư tưởng và hành động ấy thật là vô sỉ).
Chính vì vậy, độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát
vọng cháy bỏng của người dân mất nước. Bởi, mất nước là mất tất cả. Sống
trong cảnh nước mất, nhà tan, mọi quyền lực nằm trong tay quân xâm lược
và bọn tay sai thì quyền sống của con người cũng bị đe doạ chứ nói gì đến
quyền bình đẳng, tự do, dân chủ của mọi người. Nếu có, đó chỉ là thứ tự do
cướp bóc, bắt bớ, giết hại và tù đày của quân xâm lược và bọn tay sai. Chính
vì vậy mà “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, một trong những tư tưởng
lớn của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam đã trở thành chân lý của
dân tộc Việt Nam và của cả nhân loại có lương tri.

Theo Bác, tất cả các đân tộc phải được độc lập, tự do. Đây là độc lập
hoàn toàn, độc lập thực sự trên tất cả các mật kinh tế, chính trị, quân sự,
ngoại giao và toàn vẹn lãnh thổ. Mọi vấn đề thuộc về chủ quyền dân tộc
phải do chính Dân tộc đó giải quyết, không cá sự can thiệp của nước ngoài.
Dân tộc độc lập trong tư tưởng của Bác còn phải được thể hiện bằng sự ấm
no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Độc lập thật sự phải gắn với hoà bình thật sự. “Nhân dân chúng tôi
thành thật mong muốn hoà bình…kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ
những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập
cho đất nước”.
Khi đã giành được độc lập tự do thì phải bằng mọi giá để giành và bảo
vệ quyền ấy.

 Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã dc
các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ 1 thừa
nhận, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Người đã gửi tới
Hội nghi Vec- xay bản yêu sách gồm 8 điểm đòi quyền tự do, dân chủ
cho nhân dân Việt Nam. Trong đó nổi lên hai nội dung cơ bản:
+ Cho nhân dân Việt Nam được hưởng chế độ tự trị thuộc Pháp.
6


+ Cho nhân dân Việt Nam được hưởng các quyền tự do dân chủ, như
những người Pháp và người nước ngoài được hưởng trên lãnh thổ Việt
Nam.

 Khi trả lời câu hỏi của nữ đồng chí Rôdơ, thư ký Đại hội lần thứ 18
của Đảng Xã hội Pháp, họp ngày 29 tháng 12 năm 1920:Tại sao đồng
chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III? Hồ Chí Minh trả lời: “Rất giản đơn.
Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và
nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý
đến vấn đề thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc
tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi
hiểu.”

 Cũng ngay tại nước Pháp, giữa năm 1922, sau khi làm việc với Bộ
trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Anbe Xarô, Hồ Chí Minh đã nói thẳng với
ông ta mong muốn của mình và của nhân dân Việt Nam rằng: “Cái
mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi
được độc lập…”


 Cách mạng tháng Tám thành công, Người thay mặt Chính phủ lâm
thời đọc Tuyên ngôn độc lập, long trọng khẳng định trước toàn thế
giới: “Nước VN có quyền hưởng tự do va độc lập. Toàn thể dân tộc
VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng va của cải để
giữ vững quyền tự do
độc lập ấy”.


 Năm 1945, đứng trước thời cơ mới của cách mạng nước ta, khi nói
chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lúc
này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn
cũng phải cương quyết giành cho được độc lập.”
 Năm 1966, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc
bằng không quân và hải quân, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có
thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải
Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân
dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do.”

Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của
đồng bào là lẽ sống của mình. Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền
7


con người và độc lập là điều kiện tiên quyết để mang lại hạnh phúc cho mọi
người dân của đất nước mình. Đồng thời, độc lập dân tộc còn là điều kiện để
dân tộc Việt Nam được quyền sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế
giới và các dân tộc trong nước ta được chung sống bên nhau một cách bình
đẳng, hoà thuận và cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.


2- Ở các nước đấu tranh giải phóng dân tộc, chủ nghĩa dân
tộc chân chính là một động lực lớn

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự áp
bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa càng nặng
nề, thì phản ứng của dân tộc bị áp bức càng quyết liệt. Không chỉ quần
chúng lao động (công nhân va nông dân), mà cả các giai cấp và tầng lớp trên
trong xã hội (tiểu tư sản, tư sản va địa chủ) đều phải chịu nỗi nhục của người
dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập, tự do.
Xuất phát từ phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, chứng
kiên tinh thần đấu tranh quyết liệt của nhân dân các nước thuộc địa, chống
lại tư bản thực dân phương Tây, nhận thức sâu sắc sức mạnh của chủ nghĩa
dân tộc chân chính trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận ở các nước đấu tranh giải phóng dân
tộc, chủ nghĩa dân tộc chân chính là một động lực lớn.

Vi thế, “Người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không dựa
trên các lực lượng vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của nhân dân An
Nam”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính “là một
bộ phận của tinh thần quốc tế”- là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc
chân chính . Nó khác hẳn bản chất với chủ nghĩa dân tộc so vanh, của giai
cấp tư sản, “khác hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động”
đã bị lịch sử lên án.
Khi đã xác định chủ nghĩa dân tộc chân chính là một động lực lớn,
từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xa hội thuộc địa, từ truyền thống dân
tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư
cách là chủ nghĩa yêu nước chân chính của các dân tộc thuộc địa. Đó la sức
mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào mà người
cộng sản phải nắm lấy và phát huy, và Người cho đó là, “một chính sách
mang tính hiện thực tuyệt vời”.
Hồ Chí Minh yêu cầu Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản
8


phải nắm lấy và phát huy ngọn cờ dân tộc, không để ngọn cờ dân tộc rơi
vào tay giai cấp nào khác.
“ Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng
sản…Khi chủ nghĩa dân tộc bản xứ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc
ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế.”- đấy mới là chủ nghĩa dân tộc chân
chính.


3- Sự kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân
tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa
quốc tế
Dưới ánh sáng của CNMLN khi Hồ Chí Minh bàn đến vấn đề dân tộc
và cách mạng giải phóng dân tộc thì độc lập dân tộc phải gắn với CNXH,
mối quan hệ dân tộc và giai cấp.

Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp. Để phát huy sức
mạnh của chủ nghĩa dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc một cách triệt
để, việc kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp có một ý nghĩa hết
sức quan trọng.

Trước Hồ Chí Minh,các nhà kinh điển Mác–Lênin đã đưa ra
quan điểm về sự cần thiết phải kết hợp dân tộc với giai cấp. Tuy nhiên,
xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của các nước châu Âu, từ yêu
cầu và mục tiêu của cách mạng vô sản châu Âu, các ông đã nhấn mạnh
hơn đến vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, xem việc giải quyết
vấn đề dân tộc ở thuộc địa phụ thuộc vào việc giải quyết vấn đề giai
cấp ở chính quốc.

Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của các
nhà kinh điển Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và
vấn đề giai cấp. Người cũng cho rằng giữa các vấn đề này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể
của các thuộc địa, nơi mà mâu thuẫn dân tộc đang là mâu thuẫn nổi lên
hàng đầu, Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề dân tộc phải được ưu tiên giải
quyết trước vấn đề giai cấp, có giải phóng được dân tộc thì mới giải
phóng được giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có độc lập dân
tộc mới có địa bàn để tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.
9


Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh thấy rõ mối
quan hệ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai
cấp của giai cấp vô sản.“Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp
của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”.

Tư tưởng kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa to
lớn. Nó chính là phương hướng để giải quyết vấn đề dân tộc thuộc
địa một cách triệt để, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và
giải phóng con người.

Năm 1930, trong chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, Hồ Chí Minh xác
định con đường của cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: làm “tư
sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

Năm 1960, Hồ Chí Minh xác định “chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng
được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách
nô lệ”. Tư tưởng Hồ ChíMinh về sự gắn bó giữa độc lập dân tộc và CNXH
vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong
thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục
tiêu giải phóng dân tộc với các mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người. Do đó “giành được độc lập rồi phải tiến lên
CNXH, vì mục tiêu của CNXH là “làm sao cho dân giàu, nước mạnh”, “là
mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng”.

Độc lập cho dân tộc mình và cho tất cả các dân tộc khác. Hồ Chí
Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập dân tộc mình mà còn đấu tranh cho
tất cả các dân tộc bị áp bức.
Để chiến thắng chủ nghĩa đế quốc khi chúng đã kết hợp với nhau
thành lực lượng phản động quốc tế, các dân tộc thuộc địaphải đoàn kết với
nhau, đoàn kết với giai cấp vô sản ở chính quốc. Kết hợp chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản là cơ sở cho khối đoàn kết này.
Kế thừa tinh thần chủ nghĩa yêu nước dân tộc và nêu cao quan tinh
thần quốc tế vô sản của chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời nhận rõ sức mạnh
của chủ nghĩa đế quốc và sự câu kết các nc đế quốc trong việc xâm chiếm và
thống trị thuộc địa, Hồ Chí Minh cho rằng muốn giải quyết thành công vấn
đề thuộc địa, các nc thuộc địa và giai cấp vô sản chính quốc phải đoàn kết
chặt chẽ với nhau, thực hành chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô
sản. Bản thân Người là 1 tấm gương trong việc này.
10


“Chúng ta phải tranh đấu cho tự do, độc lập của các dân tộc khác như là
đấu tranh cho dân tộc ta vậy”. Chủ nghĩa dân tộc thống nhất với chủ
nghĩa quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh nêu cao tinh thần tự quyết của
dân tộc, song không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình trong việc
giúp đỡ các đảng cộng sản trên thế giới.

III-Vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Mác và Lênin, giai cấp là những tập đoàn người to lớn, khác
nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch
sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp
luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất và phân công lao động,
về vai trò của họ trong những tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác
nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải ít hoặc nhiều mà họ được
hưởng.
Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao
động của tập đoàn khác, do các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế
độ kinh tế - xã hội nhất định”

Theo Hồ Chí Minh ,tất cả của cải vật chất, trong xã hội, đều do công nhân và
nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới
sống còn và phát triển. Nhưng đa số người lao động thì suốt đời nghèo khó,
mà thiểu số người không lao động thì lại hưởng thụ thành quả lao động đó.
Đó là do một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã
hội. Họ có tư liệu sản xuất nhưng họ không làm lụng, họ bắt buộc người
khác làm cho họ hưởng. Do đó mà có giai cấp. Những người chiếm tư liệu
sản xuất không làm mà hưởng, là giai cấp bóc lột hay giai cấp tư sản. Những
người không sở hữu tư liệu sản xuất là giai cấp vô sản, trong giai cấp đó,
những người lao động mà không được hưởng giá trị thặng dư và thành quả
lao động là giai cấp bị bóc lột hay giai cấp công nhân.

IV-Mối quan hệ hữu cơ giữa vấn đề giai cấp và thuộc
địa trong tư tưởng của Người
1- Quan điểm Mác- Lênin

Giai cấp và dân tộc có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhưng đó là
những phạm trù chỉ các quan hệ xã hội khác nhau, mỗi nhân tố có vai trò
lịch sử của nó, dân tộc - giai cấp không thể thay thế lẫn nhau.
11


Tách rời giai cấp và dân tộc hoặc đem qui mối quan hệ này vào mối quan hệ
kia sẽ là sai lầm.
Giai cấp và dân tộc sinh ra, mất đi không đồng thời. Trong lịch sử loài
người, giai cấp ra đời trước dân tộc hàng ngàn năm, nhưng khi giai cấp mất
đi dân tộc vẫn tồn tại lâu dài. Quan hệ giai cấp - với tư cách là sản phẩm trực
tiếp của phương thức sản xuất trong xã hội có giai cấp - là nhân tố xét đến
cùng quyết định đối với sự hình thành dân tộc tư bản, xu hướng phát triển
quyết định bản chất xã hội của dân tộc, quyết định bản chất xã hội của dân
tộc, qui định tính chất của các quan hệ giữa các dân tộc.

Mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của lịch sử, giai cấp nào gắn với
phương thức sản xuất thống trị, giai cấp đó trở thành lực lượng tiêu biểu và
lãnh đạo dân tộc. Giai cấp đứng đầu sẽ hướng dân tộc phát triển theo mẫu
hình của nó. Giai cấp đó bằng mọi biện pháp quyết định hình thức phát triển
của dân tộc. Tuy nhiên giải quyết quan hệ giữa lợi ích của dân tộc cũng rất
phức tạp. Không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau, thậm chí trái ngược
nhau và đối lập với lợi ích dân tộc. Vì lợi ích giai cấp, trong nhiều trường
hợp giai cấp thống trị bán rẻ lợi ích dân tộc.

Cũng theo Mác –Ăngghen, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi
ích dân tộc- lợi ích của mình với các lợi ích của nhân dân lao động và của cả
dân tộc. Chỉ có xoá bỏ áp bức, bóc lột giai cấp thì mới xoá bỏ áp bức dân
tộc, đem lại độc lập thật sự cho dân tộc mình và cho dân tộc khác. Tuy
nhiên, Mác và Ăngghen không đi sâu nghiên cứu vấn đề dân tộc vì ở Tây Âu
vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản, đối với Mác, vấn
đề dân tộc chỉ là thứ yếu so với vấn đề giai cấp

Khi nhấn mạnh vài trò của nhân tố giai cấp, chủ nghĩa Mác - Lênin
không hạ thấp vai trò của nhân tố dân tộc trong quan hệ giai cấp - dân tộc.
Trong sự phát triển lịch sử, vấn đề dân tộc là một trong những vấn đề quan
trọng hàng đầu của cách mạng vô sản. Muốn nhận thức và giải quyết tốt vấn
đề dân tộc “phải có quan điểm của giai cấp công nhân”, đó là quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin.

2- Quan điểm của Hồ Chí Minh
Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc
với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách
mạng Việt Nam, một trong những đóng góp sáng tạo và xuất sắc của Người
vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
12


Vấn đề dân tộc luôn gắn với vấn đề giai cấp, phụ thuộc vào vấn đề giai cấp,
và dân tộc bao giờ cũng do một giai cấp đại diện, quan hệ này là quan hệ lợi
ích, giai cấp phong kiến và tư sản đã từng đại diện cho dân tộc và giải quyết
quan hệ lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc nhưng không triệt để, còn nhiều
mâu thuẫn ví dụ vua quan Nhà Nguyễn đầu hàng Pháp, bảo vệ lợi ích của
dòng tộc, Pháp đầu hàng Đức,…

Tiếp nhận những quan điểm đúng đắn của CNMLN về vấn đề giai cấp và
thuộc địa, Người cho rằng phải kết hợp và giải quyết hài hòa vấn đề dân
tộc và vấn đề giai cấp, song phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, và trước
hết vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân -
điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi ích của các giai cấp và lực lượng
tiến bộ trong dân tộc..

 Theo Người, giai cấp và dân tộc là hai vấn đề có liên quan chặt
chẽ với nhau.
Chúng kết hợp nhuần nhuyễn với nhau, sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai
cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh thể hiện:
-Khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy
nhất của Đảng Cộng Sản trong quá trinh cách mạng Việt Nam.
- Chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công
nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách
mạng của kẻ thù.
- Thiết lập chính quyền nhà nước của dân, do dân và vì dân.
- Gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

 Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết
Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng Việt Nam là một nước thuộc
địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế
quốc và tay sai nổi trội hơn mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ
phong kiến, giữa tư sản với vô sản. Do đó, không phải giải quyết vấn đề
giai cấp rồi mới giải quyết vấn đề dân tộc như ở phương Tây. Ngược
lại chỉ có thể giải quyết vấn đề dân tộc mới giải phóng được giai cấp.
Quyền lợi dân tộc và giai cấp là thống nhất, quyền lợi dân tộc không
còn, thì quyền lợi mỗi giai cấp, mỗi bộ phận cũng không thể tồn tại.

 Giải phóng dân tộc là tiền đề cho giải phóng giai cấp
13


Hồ Chí Minh giải quyết vấn để dân tộc theo quan điểm giai cấp,
nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc. Giải phóng dân
tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân la điều kiện để giải phóng giai
cấp. Vi thế, lợi ích của giai cấp phải phục tung lợi ích của dân tộc.

Tháng 5-1941, Người cùng với Trung ương Đảng khẳng định: “Trong lúc
này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong
của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc nay nếu không giải quyết được vấn đề
dân tộc giải phóng, không đoi được độc lập, tự do cho toan thể dân
tộc, thì chẳng những toản thể quốc gia dân tộc còn chịu mai kiếp ngựa trâu,
mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Khác với các con đường cứu nước của ông cha, gắn độc lập dân tộc với chủ
nghĩa phong kiến (cuối TK XIX), hoặc chủ nghĩa tư bản (đầu TK XX), con
đường cứu nước của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội.
Năm 1920, ngay khi quyết định phương hướng giải phóng và phát triển dân
tộc theo con đường của cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó
thống nhất giữa dân tộc va giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.
Năm 1960, Người nói: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động tren thế giới
khỏi ách nô lệ”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp
giải phóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, vừa phản ánh mối
quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải
phóng giai cấp và giải phóng con người. Hồ Chí Minh nói: “nước được độc
lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gi”.
Người khẳng định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ
nghĩa xã hội, vi có tiến lên chủ nghĩa xã hội thi nhân dân minh mỗi ngay một
no ấm thêm, Tổ quốc mỗi mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, trong ''Chính
cương vắn tắt'' do Nguyên Ái Quốc khởi thảo đã khẳng định: ''Chủ trương
làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản''. Như vậy là, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí
14


Minh, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng
XHCN. Cuộc cách mạng này kết hợp trong bản thân nó tiến trình của hai sự
nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và giải phóng
giai cấp khỏi ách áp bức bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập
trường của giai cấp công nhân - điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi
ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc


 Giữ vững độc lập của dân tôc mình đồng thời tôn trọng độc lập của
các dân tộc khác
Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho
độc lập của dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các
dân tộc bị áp bức.
Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, thực hiện nguyên tắc quyền dân tộc tự
quyết, nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ
các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, đề ra khẩu hiệu “giúp
bạn là tự giúp minh", và chủ trương phải bằng thắng lợi của cách mạng mỗi
nước mà đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách
mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc va giai cấp,
chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đúng như
Ph. Ăngghen từng nói: những tư tưởng dân tộc chân chính trong phong trao
công nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính”.


V-Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh trong
công cuộc đổi mới hiện nay

Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc
XHCN hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh
về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng hết sức cấp thiết. Bởi vì, thực tế cho ta bài học là,
có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng CNXH, đã có lúc Đảng ta
phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp
nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc trong việc hoạch định và thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không
được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hoà, sức mạnh dân tộc không được phát
huy như một trong những động lực chủ yếu nhất. Nhưng ngay sau đó, Đảng
15


ta đã kịp thời khắc phục có hiệu quả cả về phương điện nhận thức lý luận
cũng như trong hoạt động thực tiễn về vấn đề này.
Chính vì vậy Đảng ta luôn tìm cách vận dụng triệt để tư tưởng Hồ Chí
Minh về giai cấp và thuộc địa để xây dựng CNXH ở nc ta. Một só biện pháp
như là:

1. Khơi dậy CN yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn lực mạnh mẽ nhất
để xây dựng và bảo vệ tổ quốc:

Trong đổi mới Đảng ta luôn khẳng định tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế độc lập dân
tộc và CNXH nhằm tạo ra nguồn lực mới để phát triển đất nước. Trong đó
cần phát huy tối đa nguồn nội lực, nhất là nguồn lực con người (trí tuệ,
truyền thống dân tộc, vốn, tài nguyên) kiên quyết không chịu nghèo hèn,
thấp kém, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vững bước tiến lên
CNXH.

2. Nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm của giai cấp
CN:

Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao chủ nghĩa yêu nước
nhưng luôn vững vàng trên lập trường giai cấp CN trong giải quyết vấn đề
dân tộc.

Đảng ta luôn khẳng định: Giai cấp CN Việt Nam là giai cấp độc quyền lãnh
đạo CM Việt Nam từ khi có Đảng . Đại đoàn kết nhưng phải trên nền tảng
liên minh công nông trí thức do giai cấp CN lãnh đạo. Trong giành, giữ
chính quyền phải sử dụng bạo lực CM của quần chúng chống lại bạo lực
phản CM.

Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH: Đây là nguyên tắc bất
biến cần vận dụng mọi hoàn cảnh.

Phong trào CM thế giới có lúc tả, có lúc hữu, lúc nhấn mạnh lợi ích
giai cấp coi nhẹ lợi ích dân tộc, gần đây lại gạt bỏ lợi ích giai cấp, tuyệt đối
hơn lợi ích dân tộc, từ bỏ CM, từ bỏ CN quốc tế vô sản. Đảng ta vẫn khẳng
định: Dù Liên Xô, Đông Âu tan rã, thế giới biến động, đấu tranh giai cấp
dân tộc diễn ra dưới nhiều hình thức khác, nhưng không được buông lơi
quyền lợi giai cấp, nhấn mạnh lợi ích dân tộc làm suy yếu phong trào CM
16


thế giới, tan rã CNXH, bùng phát xung đột dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ là làm
giàu cho bọn lái súng,…

Cần chống lại quan điểm cho rằng đất nước đi theo con đường nào
cũng được, không nhất thiết độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, CNXH là
lý tưởng nhưng là không tưởng, ép ta từ bỏ CNXH, đa nguyên chính trị, từ
bỏ sự lãnh đạo của Đảng để có tự do tư sản.

Đảng ta khẳng định xây dựng CNXH vì mục tiêu "dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" không chỉ là vấn đề giai cấp mà
còn là vấn đề dân tộc, ở Việt Nam chỉ có Đảng CS Việt Nam mới là đại biểu
cho lợi ích giai cấp CN,nhân dân lao động và dân tộc, mới xây dựng được
khối đại đoàn kết thực hiện mục tiêu nêu trên những lệch lạc tư tưởng tả
hoặc hữu đều trái với tư tưởng Hồ Chí Minh.

3. Chăm lo xây dựng khối đại đòan kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan
hệ giữa các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam:

Trong đổi mới, Đảng ta lấy mục tiêu dân giàu nước mạnh… làm điểm
tương đồng, đồng thời cũng chấp nhận những điểm khác nhưng không trái
với lợi ích dân tộc (5 ngón tay có ngón dài ngón vắn, nhưng dù dài vắn đều
hợp lại nơi lòng bàn tay), giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí
Minh để hoàn thành mục tiêu trên.
ĐH9chỉ rõ: vấn đề dân tộc và đại đoàn kết luôn có vị trí chiến lược
trong CM Việt Nam. Bác Hồ chỉ rõ: Đồng bào miền núi có truyền thống cần
cù trong CM và kháng chiến, đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt.
Người chỉ thị phải chăm lo phát triển KT-XH vùng dân tộc miền núi, thực
hiện đền ơn đáp nghĩa với đồng bào.

Những năm đổi mới vừa qua, đời sống các vùng dân tộc có những
chuyển biến rõ rệt, song nhìn chung còn nghèo, khó khăn còn nhiều, sắp tới
phải đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế hàng hóa , xóa đói
nghèo, nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ, chống kì thị dân tộc, tự ty dân tộc,
dân tộc hẹp hòi.

Tuy thế, trong những năm gần đây, ở nước ta đã nảy sinh ý kiến cho
rằng: mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp luận chứng trong
chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một số nước
khác nào đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề
dân tộc bao giờ cũng chi phối, khi nào Đảng nhấn mạnh vấn đề giai cấp thì
17


đều dẫn đến sai lầm. Từ đó, họ đề xuất ý kiến theo hướng nhấn mạnh một
chiều vấn đề dân tộc, tách vấn đề dân tộc khỏi vấn đề giai cấp, hạ thấp ý
nghĩa quan trọng, bức thiết của vấn đề giai cấp, không lấy quan điểm giai
cấp làm quan điểm cơ sở lập trường để xem xét, giải quyết vấn đề dân tộc.
Theo họ, nước ta hiện nay chỉ nên đề ra và giải quyết những vấn đề dân tộc,
còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra. Mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh'' được họ đồng tình, thưng giải thích theo
hướng phi giai cấp, nghĩa là không nhất thiết phải theo định hướng XHCN.
Thực chất là họ bác bỏ đường lối giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường
của giai cấp công nhân. Quan điểm nêu trên đi ngược với con đường mà Hồ
Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, và rõ ràng là không phù hợp
với thực tiễn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó đã chỉ ra rằng,
trong bất cứ giai đoạn nào, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đều phải
kết hợp nhuần nhuyễn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc; trong chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam luôn luốn gắn bó hữu cơ với lý tưởng của giai cấp công
nhân Việt Nam. Nền độc lập thật sự của dân tộc; tự do, sự giàu mạnh, văn
minh và hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể đạt được một cách bền vững
trong sự nghiệp cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân.
Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã
xác định rõ: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan
niệm đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình
thức; bước đi và biện pháp phù hợp. Nói cách khác, giữ vững định hướng
XHCN là nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến
nay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn
diện, mà thực chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề
giai cấp trong công cuộc xây đựng CNXH ở nước ta.

Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “mối quan hệ
giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong
nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và
bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân
thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát
triển mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng
đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp.
18



Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn
trong những khó khăn của hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay,
tư tưởng Hồ Chí Minh đang thể hiện giá trị trường tồn nhất là trong bối cảnh
các dân tộc đang đứng trước những thách thức cực kì nguy hiểm khi các thế
lực hiếu chiến dựa vào tiềm lực quân sự hiện đại tiến hành chiến tranh xâm
lược những nước có chủ quyền, bất chấp luật pháp.

Điều đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, học tập, quán
triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình
mới, làm cơ sở vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc ta vượt
qua mọi thử thách, vững bước trong quá trình xây dựng một đất nước vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


-HẾT-
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản