TIỂU LUẬN : Một số kinh nghiệm về xây dựng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của trường THPT hiện nay

Chia sẻ: hongha1980

Lí do chọn đề tài: Hiện nay,toàn đảng,toàn dân ta đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới với mục tiêu là công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước,xây dựng một xã hội công bằng,dân chủ,văn minh nhằm thực hiện lý tưởng dân giàu,nước mạnh,xã hội phát triển bền vững.Thực chất,dân tộc ta đang chuyển từ nền văn minh lúa nước sang nền văn minh công nghiệp,tiếp cận từng bước hội nhập vào nền văn minh hậu công nghiệp-văn minh của nền kinh tế tri thức.Đây là một thực trạng mà chúng ta phải đối mặt trong quá trình hoạch...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN : Một số kinh nghiệm về xây dựng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của trường THPT hiện nay

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM




TIỂU LUẬN


MÔN: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC


Đề tài: Một số kinh nghiệm về xây dựng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên của trường THPT hiện nay




Sinh viên : Trần Thị Huế
Lớp : K50 SP Sinh




HÀ NỘI 1-2009




-1-
MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 3
Lí do chọn đề tài: ....................................................................................................................... 3
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................................. 5
Chương 1: Cơ sở khoa học ................................................................................................. 5
Cơ sở lí thuyết .............................................................................................................................. 5
Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng giáo viên THPT. ........................................ 7
Mục đích bồi dưỡng: ............................................................................................................... 7
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................................ 40
Kết luận: ......................................................................................................................................... 40
Kiến nghị: ...................................................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 44




-2-
PHẦN MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài:
Hiện nay,toàn đảng,toàn dân ta đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới với mục
tiêu là công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước,xây dựng một xã hội công bằng,dân
chủ,văn minh nhằm thực hiện lý tưởng dân giàu,nước mạnh,xã hội phát triển bền
vững.Thực chất,dân tộc ta đang chuyển từ nền văn minh lúa nước sang nền văn minh
công nghiệp,tiếp cận từng bước hội nhập vào nền văn minh hậu công nghiệp-văn minh
của nền kinh tế tri thức.Đây là một thực trạng mà chúng ta phải đối mặt trong quá trình
hoạch định chiến lược phát triển của đất nước,
Chúng ta chỉ có thể giải quyết được những thách thức tên bằng cách làm cho nền
giáo dục có những bước chuyển căn bản,có tính cách mạng,phải phát triển toàn diện con
người,phát triển nguồn nhân lực-nguồn tài nguyên vô giá để phát triển kinh tế xã hội.
Hiến pháp điều 35 ghi rõ:" Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu" và điều
36"nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục khuyến khích các nguồn đầu tư khác" vì phát
triển nguồn lực người là bí quyết,là chìa khoá dẫn đến thành công của mọi quốc gia
trong thời đại ngày nay.Phát triển nguồn lực con người nhằm tạo nên những con người
mới, những con người của nền văn minh hậu công nghiệp,của nền kinh tế tri thức
Để thực hiện được mục tiêu giáo dục,đòi hỏi phải có rất nhiều yếu tố,trong đó yếu
tố quan trọng,căn bản là đội ngũ giáo dục.Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung
ương đảng 2,khoá 8 khẳng định:"giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giaó dục và
được xã hội tôn vinh".
Trong thời đại ngày nay,một đất nước muốn phát triển hưng thịnh,bền vững thì
không chỉ nhờ vàp tài nguyên,vốn kinh tế,...mà yếu tố quyết định chính là nguồn lực
con người nói chung và đội nhũ giáo dục phổ thông trung học nói riêng là rất quan
trọng và cấp thiết.Chỉ thị của ban bí thư trung ương đảng về việc xây dựng,nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn 2005-2010
trong đó mục tiêu tổng quát nêu:"Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
được chuẩn hoá,đảm bảo chất lượng đủ về số lượng,đồng bộ về cơ cấu,đặc biệt chú

-3-
Thực tế chất lượng và hiệu quả của giáo dục nước ta trong những năm gần đây tuy
có những bước khởi sắc nhưng chưa đáp ứng được với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế.Điều này đã được chỉ rõ trong
nghị quyết trung ương 2,khoá 8 của ban chấp hành trung ương đảng:"giáo dục và đào
tạo nước ta còn yếu kém,bất cập cả về quy mô,cơ cấu,nhất là chất lượng và hiệu quả,
chưa đáp ứng kịp thời với những đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi
mới về kinh tế xã hội và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá hiện đaị hoá đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa".
Từ những vấn đề nêu trên đã đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo cả nước nói chung
và trường trung học phổ thông Chương Mỹ A nói riêng một nhiệm vụ vô cùng quan
trọng,cấp thiết đó là: Phát triển đội ngũ giáo viên có trình độ,năng lực,phẩm chất đáp
ứng được nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập.
Trong những năm qua,cấp học THPT của Hà Tây nay là Hà Nội có nhiều cố gắng
về nhiều mặt,nhất là công tác bồi dưỡng,phát triển đội ngũ giáo viên.Nhưng trước yêu
cầu đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới về kinh tế xã hội và bảo
vệ tổ quốc,trước yêu cầu,nhiệm vụ của giáo dục của giáo dục hiện tại và trong thời gian
tới cho thấy đội ngũ giáo viên THPT trên địa bàn còn nhiều bất cập về chất lượng, số
lượng cơ cấu. Vì vậy có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Từ thực tế và yêu cầu đòi hỏi phát triển kinh tế xã hội như hiện nay nhất thiết phải
xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên THPT đủ về số lượng mạnh về chất lượng,
đồng bộ về cơ cấu góp phần tích cực thực hiện mục tiêu của sự nghiệp giáo dục:" Nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước".Vì những lý do như vậy tôi chọn đề tài" một số kinh nghiệm bồi
dưỡng giáo viên của trường THPT làm đề tài nghiên cứu.

-4-
1- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm cho giáo viên trường THPT,đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm trong bối cảnh hiện nay,góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo.
2- Đối tượng nghiên cứu.
- Kinh nghiệm bồi dưỡng giáo viên ở trường THPT.
3- Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của việc quản lý QTDH ở trường
THPT.
4.2. Phân tích thực trạng quản lý QTDH ở trường THPT X.
4.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng QTDH ở trường
THPT X.

4- Phương pháp nghiên cứu.

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu.



PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở khoa học
Cơ sở lí thuyết
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là điều kiện để phát huy nguồn lực con người.
Đây là trách nhiệm của toàn đảng,toàn dân trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
là lực lượng nòng cốt có vai trò quan trọng.Và đội ngũ giáo viên là 1 yếu tố quyết định
sự phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo.Đảng,chính phủ,nhân dân ta luôn luôn đánh giá
cao công lao của thầy,cô giáo,của nhà trường đối với việc dạy dỗ thế hệ trẻ. Hiện
nay,đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục chiếm phần lớn trong đội ngũ những
người ăn lương của nhà nước ( trên dưới 800.000 người ).Tuy nhiên trước yêu cầu đổi
-5-
mới của sự phát triển giáo dục trong thời kì CNH, HĐH,đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý Giáo dục còn những hạn chế bất cập.Về số lượng,giáo viên còn thiếu rất nhiều,
số lượng còn thiếu khoảng hơn 150.000 giáo viên bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông. Đặc biệt ở vùng sâu,vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chất
lượng chuyên môn, nghiệp vụ của độ ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới
giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội. Đa số vẫn dạy theo lối cũ, nặng về truyền đạt lý
thuyết, ít chú ý đến sự phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của
người học. Nước ta hiện đang tiến hành công cuộc cải cách sách giáo khoa và được tiến
hành ở tất cả các cấp, ngành, bậc học. sách giáo khoa mới liệu có đáp ứng được với sự
thay đổi của đất nước không cũng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy cũng
như chuyên môn của giáo viên, với trình độ giáo viên hiện nay thì không thể đáp ứng
được việc truyền tải kiến thức mới tới người học một cách tốt nhất. Nên phải có chương
trình bồi dưỡng giáo viên để dạy theo chương trình và sách giáo khoa mới. Yêu cầu của
ngành giáo dục đặt ra là phải xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên để bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên đạt hiệu quả cao.

1. Cơ sở pháp lí.

Bước vào thể kỷ 21, giáo dục Việt Nam đã trải qua 15 năm đổi mới và đã thu được
một số thành tựu quan trọng: Mở rộng quy mô, đa dạng hoá hình thức giáo dục, nâng
cấp cơ sở vật chất cho nhà trường…Bên cạnh những thành tựu đó nền giáo dục Việt
Nam cũng còn rất nhiều yếu kém, một trong số yếu kém là chất lượng của đội ngũ giáo
viên còn thấp: Thấp về chuyên môn, thấp về phương pháp giảng dạy… Đứng trước bối
cảnh quốc tế và trong nước dần một cải tiến đã đặt ra những thách thức không nhỏ cho
đội ngũ giáo viên cần phải nâng cao chất lượng mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng
lớn của mọi tầng lớp xã hội.

Tiếp tục khai triển Nghị quyết số 40/GH 10 của Quốc hội, chỉ thị số 14/2001/CT-
TTg của Thủ tường chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.



-6-
Thực hiện chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của ban Bí thư về việc xây dựng,
nâng cao chất lượng độ ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, Chỉ thị số 22/2003/CT-
BGD&ĐT ngỳa 05/6/2003 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc bồi dưỡng nhà giáo và
cán bộ quản lí giáo dục, Bô GD&ĐT chỉ đạo các đơn vị, các địa phương thực hiện có
hiệu quả kế hoạch bồi dưỡng CBQL giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.



3- Cơ sở thực tế.

Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kì này, đội ngũ giáo
viên của nhà trường có những hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu, cơ cấu
giáo viên còn mất cân đối giữa các môn học. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của
đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu và truyền đạt lí thuyết, ít chú ý đến phát
triển tư duy, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành của người học. Chế độ, chính sách
còn bất hợp lí, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của đội ngũ này.

Tình hình trên đòi hỏi phải phải xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện.
Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài
nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010. Mục tiêu là xây
dựng độ ngũ nhà giáo được chuẩn hóa, đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ
về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tân, tay nghề
của nhà giáo. Dưới đây là chương trình và nội dung bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên của trường THPT.



Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng giáo viên THPT.
Mục đích bồi dưỡng:
- Nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn và quản lí giáo dục để đáp ứng
nâng cao chất lượng giáo dục.



-7-
- Nắm vững mục tiêu đổi mới chương trình, sách gíáo khoa theo tinh thần
NQ 40/QH 10 của Quốc hội, Chỉ thị 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ và
Chỉ thị số 40-CT/TW của ban Bí thư về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và quản lí giáo dục.

- Tăng cường kiến thức, hiểu và nắm vững được những điểm mới trong
chương trình, sách giáo khoa, nắm được chương trình, nội dung tìa liệu BDTX chu
kỳ III.

- Tăng cường năng lực sư phạm, nắm vững yêu cầ đổi mới phương pháp dạy
học, bước đầu vận dụng được quá trình chỉ đạo, dạy học, tích cực đổi mới phương
pháp dạy học để thực hiện tốt các yêu cầu đổi mới giáo dục.

- Củng cố các kết quả bồi dưỡng của các giai đoạn, các chu kì BDTX trứơc
và tinh thần tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên.

Trên đây là những mục đích về bồi dưỡng giáo viên của nhà nước Việt Nam trong
thời kì đổi mới. Đó chỉ là một mô hình chung hay nói cách khác đó là những ý kiến chỉ
đạo chung nhất. Mỗi trường đều có một thế mạnh riêng cũng như đều có những đặc
điểm khác nhau về đội ngũ giáo viên, hay học sinh trong trường. Do đó mỗi trường cần
phải cụ thể hoá mục đích chung đó thành một mục tiêu bồi dưỡng riêng để phù hợp với
hoàn cảnh mổi trường. Ở đây em chỉ muốn bàn luận đến kinh nghiệm để đưa ra được
mục đích bồi dưỡng sao cho mục đích đó phù hợp với từng hoàn cảnh của từng trường.
Mục đích cần phải rõỏàng vì nếu mục đích đúng thì hướng đi sẽ đúng và sẽ nâng cao
được chất lượng giáo dục, nếu mục đích sai thì hướng phát triển sẽ không tốt điều này
làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục. Cụ thể em
xin đưa ra một vài ý kiến để xây dựng mục đích bồi dưỡng giáo viên sao cho hiệu quả:

- Đối với giáo viên việc quan trọng đó là phải nâng cao trình độ chuyên
môn. Đây là mục đích hàng đầu của mỗi người giáo viên khi tham gia vào công tác
giảng dạy. Có nâng cao trình độ chuyên môn lúc đó các kiến thức cung cấp cho học



-8-
sinh cũng như phương pháp giảng dạy dễ hiểu sẽ giúp cho học sinh học hiệu quả
hơn, yêu thích môn học hơn.

- Giáo viên cần phải nắm rõ nội dung chương trình sách giáo khoa. Cần phải
nắm rõ và bám sát nội dung sách mới có thể giúp các học sinh ôn tập tốt. Tránh lan
man những phần không cần thiết, chú trọng vào các nội dung quan trọng, phương
pháp sạy phải phù hợp với hình thức thi trắc nghiệm khách quan, tránh học tủ, học
lệch.

- Giáo viên luôn phải tự học hỏi, luôn tự bồi dưỡng bản thân để nâng cao
trách nhiệm nghề nghiệp. Một người dù có trình độ đến đâu mà khôngcó tinh thần
trách nhiệm với công việc làm việc phất phơ thì sẽ không bao giờ được trọng dụng.
Đồng thời học sinh sẽ không tin tưởng vào giáo viên, lời nói của giáo viên sẽ không
có trọng lượng.

Tóm lại mục đích bồi dưỡng cần phải rõ ràng cụ thể, và có thể không phải là
mục đích nữa mà nên chuyển mục đích bồi dưỡng thành mục tiêu bồi dưỡng để càng
cụ thể vấn đề hơn thì sẽ càng đạt hiệu quả cao hơn.

1- Phương châm bồi dưỡng:

- Kết hợp bồi dưỡng nội dung với bồi dưỡng về phương pháp dạy học và sử dụng
thiết bị dạy học.

- Kết hợp bồi dưỡng trong hè với tự bồi dưỡng trong năm học

- Đa dạng hoá hình thức bồi dưỡng.

- Phương pháp bồi dưỡng tại các lớp bồi dưỡng tập trung phải phù hợp với nội
dung, kết hợp với các hình thức nghe giảng,thảo luận và thực hành,đảm bảo 70%
thời lượng bồi dưỡng dành cho việc trao đổi,thảo luận,thực hành soạn bài,tập
giảng,sử dụng TBDH,thiết kế kiểm tra đánh giá theo hướng đổi mới.

Hiện nay không phải ngôi trường nào cũng đều có các thiết bị dạy học đầy đủ, nhất
là ở vùng nông thôn cơ sở vật chất còn rất thiếu thốn.Do đó phương châm bồi dưỡng

-9-
không thể nào bồi dưỡng cho giáo viên biết sử dụng các thiết bị tiên tiến trong dạy học.
Điều này hoàn toàn chưa cần thiết.Vậy phương châm bồi dưỡng ở đây là gì? Phương
châm bồi dưỡng ở đây chính là bồi dưỡng về nội dung và phương pháp dạy học.Công
cụ dạy học cũng chỉ là các thiết bị hỗ trợ cho người giáo viên trong quá trình giảng dạy,
chứ nó không quyết định đến chất lượng học tập của học sinh.

Học là một sự nghiệp cả đời,cũng giống như giáo viên bồi dưỡng cũng là một quá
trình liên tục và lâu dài.Nhất là trong giai đoạn còn trẻ,khi sinh viên mới ra trường đi
dạy học thì càng phải tự học tập,tự bồi dưỡng,một mặt để lấy kinh nghiệm,một mặt để
khẳng định vị thế của bản thân trong công việc.Còn thông thường khi dạy học càng lâu
năm thì khả năng tự học,tụ bồi dưỡng để nâng cao trình độ cũng giảm đi rất nhiều.Lí do
có lẽ trong suốt quá trình bồi dưỡng của bản thân giáo viên đã có những kinh nghiệm
nhất định,và bản thân mỗi con người đều có tính cứng nhắc,bảo thủ nhất định, do đó để
làm thay đổi phương pháp dạy của giáo viên đó là rất khó.Cho nên kinh nghiệm bồi
dưỡng ở đây là: phải tận dụng sức trẻ để tự học,tự bồi dưỡng và học cách chấp nhận
hoàn cảnh để có thể thay đổi đôi chút về bản thân để thích nghi,đáp ứng yêu cầu của
việc đổi mới trong giáo dục.

Để đi đến một cái đích có rất nhiều con đường không chỉ có một con đường duy
nhất.Ở đây cũng thế có nhiều hình thức bồi dưỡng khác nhau.Mỗi hình thức đều mang
những đặc thù riêng và có những thế mạnh riêng.Do đó kinh nghiệm ở đây là cần bồi
dưỡng vấn đề gì rồi xem xét có bao nhiêu hình thức bồi dưỡng và lựa chọn cho bản thân
một hình thức bồi dưỡng phù hợp nhất.Đây có thể được cho là vấn đề quan trọng nhất
trong phương châm bồi dưỡng giáo viên.Nó giống như một kim chỉ nam cho mỗi giáo
viên để giáo viên có thể bồi dưỡng nâng cao thế mạnh của bản thân, rèn luyện các kĩ
năng còn yếu để phục vụ tốt cho nghề nghiệp sau này.Những sinh viên mới ra trường đa
số kinh nghiệm chưa hề có nhiều,các kĩ năng còn chưa thành thạo,phương pháp giảng
dạy đôi khi còn hạn chế,công tác quản lí lớp học còn chưa khoa học…điều này làm cho
các giáo viên trẻ khi ra trường thường kém tự tin trong công việc và đôi lúc có những
giáo viên còn không chịu nổi những sự đùa nghịch của học sinh đối với mình. Đã từng
- 10 -
có nhiều giáo viên phải chảy nước mắt khi mà không thể nói nổi học sinh và còn bị học
sinh quậy phá lại chính giáo viên.Do đó giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu,phương
châm bồi dưỡng là gì để đó có thể tìm được cách bồi dưỡng sao cho đạt được mục tiêu
đề ra.

Cần phải chú trọng vào vấn đề thảo luận,thực hành khi tham gia vào các lớp bồi
dưỡng.Nhiều khi cách học và cách dạy ở Việt Nam vẫn còn mang tính lí thuyết khá
cao,còn khả năng thực hành thì dường như là chưa hề có chuyên môn.Tại sao học sinh
từ cấp 1 đến học sinh cấp 3 đều không có kĩ năng thực hành? Vâng có lẽ lí do đơn giản
là vì cháy giáo án nên không có thời gian dành cho các tiết thực hành,hay một lí do
cũng khá đơn giản khác là giáo viên cũng chưa có kĩ năng thực hành cao.Ví dụ trong
các thí nghiệm hoá sinh,hoá học…cần phải có một độ chính xác nhất định vì nếu không
sẽ gây sai số rất lớn,điều này yêu cầu đòi hỏi một trình độ kĩ năng nhất định.Do đó bên
cạnh việc bbồi dưỡng chuyên môn về kiến thức cũng cần phải có bồi dưỡng chuyên
môn về thực hành.Và theo em các trường cũng nên tuyển giáo viên dạy thực hành riêng
như vậy sẽ nâng cao chất lượng giáo dục cho các em học sinh trong trường hơn.Để làm
được điều này các lớp mở bồi dưỡng sẽ phải nâng cao các giờ thực hành lên mức tối đa,
ít nhất là 70% giờ thực hành,có như vậy mới đảm bảo tốt cho rèn luyện kĩ năng.Đồng
thời thông qua các vấn đề thực hành và seminar các giáo viên cũng có thể trao đổi các
kinh nghiệm,sáng kiến cho nhau tù đó sẽ tìm ra được các biện pháp thích hợp nhất.

2- Loại hình,hình thức,phương thức bồi dưỡng.

3.1. Bồi dưỡng về nhận thức tư tưởng chính trị :

- Đối tượng : Toàn thể CBQLGD và giáo viên các cấp, bậc học.

- Nội dung,thời gian bồi dưỡng :

Các Phòng Giáo dục,các trường THPT,Chuyên nghiệp phối hợp với Ban Tuyên
giáo Quận,Huyện ủy để có kế hoạch triển khai học tập cho tất cả CBQLGD và giáo viên
thuộc phạm vi quản lý theo nội dung và kế hoạch hướng dẫn chung của Ban Tư tưởng
Văn hoá Thành ủy.
- 11 -
3.2. Bồi dưỡng về chuyên môn,nghiệp vụ.

- Tiếp tục tổ chức cho giáo viên các bộ môn ôn tập,củng cố nội dung bồi dưỡng các
chuyên đề học phần II theo tài liệu hướng dẫn của trường ĐH Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh.Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với trường ĐH Sư phạm tổ chức kiểm tra,
đánh giá kết quả bồi dưỡng của giáo viên - dự kiến vào qúi IV năm 2008.

3.3. Bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên THPT :

Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình - sách giáo khoa mới lớp 12 THPT
năm học 2008-2009 :

Đối tượng : Tất cả giáo viên đang trực tiếp giảng dạy THPT,Bổ túc THPT,giáo
viên dạy các môn văn hoá ở các trường TCCN và cán bộ phụ trách thiết bị dạy học
THPT.

Các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu các ngành học :

Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp
vụ cho CBQLGD, giáo viên thuộc các ngành học do các phòng, ban chức năng và đơn
vị trực thuộc Sở tổ chức trong tháng 7,8/2008 tùy theo đối tượng và đặc điểm từng
ngành học theo kế hoạch cụ thể đính kèm văn bản này.

3.4. Loại hình bồi dưỡng giáo dục khác :

Ngoài các loại hình bồi dưỡng chung theo chỉ đạo của Bộ và kế hoạch hướng dẫn
của Sở,các Phòng Giáo dục,trường BDGD quận,huyện; các trường THPT,trường
Chuyên nghiệp và các đơn vị trực thuộc Sở cần chú ý :

- Tiếp tục có kế hoạch bồi dưỡng sau tập huấn và bồi dưỡng trong năm học đối với
giáo viên dạy các lớp theo chương trình-sách giáo khoa mới.

- Chủ động phối hợp với các trường Sư phạm, các đơn vị chức năng để tổ chức bồi
dưỡng về tin học, ngoại ngữ; bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ khác theo các
chuyên đề phù hợp với yêu cầu của quận, huyện hoặc của trường nhằm thường xuyên


- 12 -
nâng cao kiến thức, phương pháp dạy học cho CBQLGD và giáo viên theo chủ trương
chung của ngành.

- Các trường Chuyên nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ cho CBQL, giáo viên của trường trong hè phù hợp với đặc điểm ngành
nghề đào tạo và yêu cầu cụ thể của trường trên cơ sở “Quy định về bồi dưỡng nâng cao
trình độ giáo viên trường trung cấp chuyên nghiệp” ban hành theo Quyết định số
0/2008/QĐ-BGDĐT ngày 09/01/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chú trọng bồi
dưỡng những nội dung thiết thực nhằm giúp giáo viên giải quyết những vấn đề còn
vướng mắc, tồn tại về kiến thức, phương pháp (dạy lý thuyết và thực hành) trong việc
thực hiện chương trình, môn học ở đơn vị theo tinh thần “Quy chế đào tạo trung cấp
chuyên nghiệp” ban hành theo Quyết định số 40/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/08/2007
của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chọn cử CBQL, giáo viên tham gia đầy đủ các lớp tập
huấn do Bộ, Sở tổ chức.

3.5 Hình thức bồi dưỡng giáo viên theo mô hình liên trường hoặc theo cụm
trường

Tổ chức các nhóm tự bồi dưỡng giáo viên theo mô hình liên môn và liên trường là
một trong những con đường tự bồi dưỡng thiết thực và hiệu quả
Từ 1995 đến nay, đội ngũ giáo viên phổ thông đã trải qua 3 chu kỳ bồi dưỡng thường
xuyên. Bên cạnh đó, việc bồi dưỡng thay sách, bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng nâng
cao năng lực gần như diễn ra liên tục hàng năm. Kết quả là trình độ chuyên môn và
nghiệp vụ ngày càng được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ giáo dục
trước nhiều yêu cầu mới của chương trình, sách giáo khoa nói riêng và việc đổi mới
giáo dục nói chung. Việc tự bồi dưỡng được xem là một nhu cầu tự thân của mỗi giáo
viên, được diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt cả quá trình công tác của mỗi
người. Ngoài các đợt bồi dưỡng được thực hiện theo kiểu “từ trên xuống”, việc bồi
dưỡng phải được tiến hành mọi nơi, mọi lúc theo kiểu “từ dưới lên”. Giúp nhau trong tự
bồi dưỡng là một trong những con đường có hiệu quả trong tự bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ.
- 13 -
Ngoài việc bồi dưỡng theo tổ chuyên môn, hình thức bồi dưỡng theo mô hình “liên
tổ” trong mỗi trường có tác dụng thiết thực theo từng nội dung tự bồi dưỡng. Chẳng
hạn, để nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, các giáo viên
bộ môn Tin học có nhiều ưu thế hơn trong trường. Một tổ tự nguyện giúp đỡ nhau về
công nghệ thông tin được thành lập với hạt nhân là giáo viên bộ môn Tin học sẽ có ý
nghĩa rất thiết thực, đặc biệt đối với nhiều giáo viên đang còn hạn chế về sử dụng máy
tính trong dạy học.

Hình thức bồi dưỡng “liên trường” hoặc theo “cụm trường” có tác dụng rất lớn
trong việc giúp đỡ nâng cao năng lực chuyên môn giáo viên giữa các trường. Hàng
tháng, hàng quý, các tổ “liên trường” hoặc “cụm trường” cùng tiến hành dự giờ, trao đổi
về một chủ đề chuyên môn,… Trong năm, thường xuyên trao đổi tài liệu, thông tin
chuyên môn,… Những việc làm ấy rất có ích đối với mỗi giáo viên. Các giáo viên giỏi
có điều kiện để trau dồi chuyên môn và giúp đỡ đồng nghiệp; các giáo viên khác có
điều kiện học hỏi thêm, hoặc được giải đáp bằng ý kiến thống nhất của tập thể về những
điều còn băn khoăn,…

Tự bồi dưỡng là công việc thiết yếu của từng giáo viên. Thành lập các tổ tự bồi
dưỡng liên môn, liên trường cần nhiều đến vai trò của các tổ trưởng chuyên môn. Xây
dựng các tổ bồi dưỡng “cụm trường” cần nhiều đến vai trò của hiệu trưởng. Định hướng
các chủ đề tự bồi dưỡng, hoặc sinh hoạt chuyên môn cần đến các phòng chức năng của
Sở Giáo dục và Đào tạo. Sự phối hợp có hiệu quả giữa các thành phần trên sẽ làm cho
việc tự bồi dưỡng của giáo viên ngày càng có hiệu quả hơn.

3.6 Hình thức giáo viên tự bồi dưỡng năng lực, kiến thức của bản thân.

Sự nghiệp học tập là vô cùng,Lênin đã từng nói: ‫״‬học,học nữa,học mãi”.Người
giáo viên cũng vậy,phải không ngừng học tập nâng cao kiến thức thông sách vở,các tài
liệu trên mạng,thông qua các đồng nghiệp khác…Đặc biệt với môn sinh học,là môn có
rất nhiều những thành tựu khoa học,những phát minh mới,do đó người giáo viên phải



- 14 -
biết cập nhật thông tin,đưa chúng vào trong bài giảng,làm cho bài giảng thêm sinh
động,lôi cuốn được học sinh.

3.7 Phương thức bồi dưỡng giáo viên trực tiếp

Tổ chức các lớp bồi dưỡng cho giáo viên về kiến thức,năng lực sư phạm.Các lớp
bối dưỡng này thường do sở giáo dục hay do bộ tổ chức,diễn ra vào kì nghỉ hè.Qua các
kì bồi dưỡng này,người giáo viên được trực tiếp giao lưu học hỏi,được giải đáp thắc
mắc của mình trong công tác giảng dạy. Thường các trường sẽ cắt cử một số giáo viên
đi,mỗi người sẽ được tập huấn ít nhất một lần trong năm. Thời gian tập huấn ngắn dài
tùy vào từng đợt, thường là một tháng, có khi chỉ là một tuần hay vài ngày.Phương
châm bồi dưỡng là:

- Kết hợp bồi dưỡng về nội dung với bồi dưỡng về phương pháp, sử dụng thiết bị
dạy học.

- Kết hợp bồi dưỡng trong hè và tự bồi dưỡng trong năm học.

- Đa dạng hoá hình thức bồi dưỡng, thông qua các lớp bồi dưỡng tập trung kết hợp
với các sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, hội thi giáo viên và tự bồi dưỡng của cán bộ,
giáo viên; tổ chức tham quan học tập trao đổi kinh nghiệm quản lý.

3.8. Phương thức bồi dưỡng gián tiếp.

- Cho giáo viên tự tìm hiểu sách để nghiên cứu.Có thể tổ chức theo mô hình:tổ
chức các nhóm tự bồi dưỡng giáo viên theo mô hình liên môn và liên trường là một
trong những con đường tự bồi dưỡng thiết thực và hiệu quả.Qua đó giáo viên có thể
giao lưu,học hỏi kinh nghiệm,các cách giảng dạy hay,từ đó năng cao được chuyên môn
nghiệp vụ.Theo tôi,đây là cách bồi dưỡng có hiệu quả nhất,không gì có thể bằng việc có
thể phát huy tính sáng tạo,chủ động học tập tích cực trong bản thân chính chúng ta.

- Phương thức dạy học cũ:giáo viên đọc,học sinh chép,do đó không phát huy được
khả năng tư duy,tính chủ động của học sinh.Ngày nay,phương thức dạy học truyền
thống được thay bằng cách dạy học theo cách lấy người học làm trung tâm,giáo viên chỉ

- 15 -
là người hướng dẫn cho học sinh cách học,cách lãnh hội kiến thức,người giáo viên có
nhiệm vụ định hướng,giải đáp các thắc mắc.Đây là phương thức dạy học mới và đang
được áp dụng vào trong các trường học,tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn vì giáo
viên

Kết luận: Tuy có những đặc thù riêng, nhưng giáo dục và đào tạo,bồi dưỡng năng
lực bản thân đều nằm trong quá trình học tập suốt đời của con người. Học ở trường lớp,
học trong cuộc đời là một quá trình phát triển liên tục. Có thể hiểu giáo dục được thực
hiện ở các bậc học phổ thông nhằm trang bị cho con người những kiến thức cơ bản về
tự nhiên và xã hội để nhận thức thế giới. Giáo dục là giai đoạn cần thiết để hình thành
nhân cách, tạo lập cho con người trở thành một cá nhân có ích trong cộng đồng. Đào tạo
là khâu nối tiếp của giai đoạn giáo dục, chuẩn bị cho con người những hành trang cần
thiết để lao động sáng tạo. Đào tạo trang bị cho con người những kiến thức và kỹ năng
nghề nghiệp thích hợp với mỗi cá nhân để bước vào cuộc sống. Như vậy, giáo dục và
đào tạo là một quá trình thống nhất hữu cơ. Giáo dục là nền tảng của đào tạo. Con
người phải có những kiến thức phổ thông nhất định thì đào tạo mới hiệu quả. Đến lượt
mình, đào tạo đòi hỏi giáo dục phải có những cải cách thích ứng, phục vụ cho việc trang
bị tiếp tục những kiến thức nghề nghiệp.Bồi dưỡng là khâu sau giáo dục và đào tạo,có
nhiều hình thức,phương pháp,nội dung,hình thức…bồi dưỡng khác nhau nhưng chúng
đều có mục đích duy nhât là giúp củng cố,mở rộng kiến thức cho con người,giúp nâng
cao tầm hiểu biết.

4- Thời gian và đối tượng tham gia bồi dưỡng.

- Thời gian bồi dưỡng thường mỗi năm là 1 tháng, kết hợp với các hình thức bồi
dưỡng tập trung, sinh hoạt chuyên đề và tự học có hướng dẫn.

- Đối tượng bồi dưỡng: Toàn thể cán bộ công chức, nhà giáo ngành giáo dục.

- Các cá nhân tham gia bồi dưỡng phải có thu hoạch về các nội dung trên và lưu
trong hồ sơ chuyên môn.

a- Bồi dưỡng thường xuyên.
- 16 -
- Thực hiện bồi dưỡng tập trung kết hợp với sinh hoạt chuyên môn từ 5 – 7 ngày
theo tài liệu của Bộ (tài liệu này do các trường khoa ĐHSP được giao nhiệm vụ BDGV
THPT biên soạn).

- Chương trình Bồi dưỡng về nhận thức tư tưởng chính trị.

Đối tượng: là cán bộ Quản lý Giáo Dục, Giáo viên và Công nhân viên toàn ngành.

Thời gian: được tiến hành trong hè.

- Chương trình BDTX phần chuyên môn, nghiệp vụ được thiết kế thành 4 phần:

Phần 1: Các bài giới thiệu (từ bài 1 đến bài 3).

Phần 2: Phương pháp dạy học tích cực và tương tác (từ bài 4 đến bài 9).

Phần 3: Áp dụng phương pháp dạy học tích cực và tương tác (từ bài 10 đến bài 19).

Phần 4: Thực hành và đánh giá giảng dạy (từ bài 20 đến bài 21).

Sở Giáo Dục v à Đào Tạo đã tiến hành phối hợp với trường ĐHSP Huế (Trung tâm
nghiên cứu Giáo Dục và Bồi Dưỡng Giáo Viên) tổ chức tập huấn cho đội ngũ cốt cán
các trường về nâng cao năng lực cho Giáo viên giảng dạy Chương trình thay SGK Lớp
10 (tháng 1/2007) và Lớp 11 (tháng 12/2007) Sở Giáo Dục Đào Tạo yêu cầu các trường
báo cáo về quá trình tổ chức triển khai tại Đơn vị về Sở Giáo Dục Và Đào Tạo và tiếp
tục tổ chức cho các tổ chức chuyên môn bồi dưỡng thường xuyên theo tài liệu hướng
dẫn bồi dưỡng các chuyên đề về đổi mới giáo dục THPT (đổi mới phương pháp Dạy
Học và Kiểm tra đánh giá ở THPT) trong năm học 2007 – 2008 theo tài liệu của Bộ
Giáo Dục Đào Tạo đã gửi về cho các trường từ tháng 9/2007.

- Thời gian gửi về báo cáo và kế hoạch của trường chậm nhất là 31/3/2008.

- Các trường BTTH, Trung tâm GD thường xuyên, trường TCCN (có GV dạng văn
hoá) tổ chức cho Giáo viên nghiên cứu theo Bộ môn thông qua sinh hoạt chuyên môn từ
5 – 7 ngày và hướng dẫn tự học trong thời gian còn lại HK II năm học 2007 – 2008 và
trong hè 2008 theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo Dục Đào Tạo.


- 17 -
- Phòng GDCN & TX tiến hành tập hợp kết quả Bồi dưỡng thường xuyên của Giáo
viên trung học theo chu kì III và đăng kí mua phôi giấy chứng nhận từ Bộ Giáo Dục
Đào Tạo (dự kiến cấp chứng chỉ BDTX CK III cho GV vào quý 4 năm 2008 ).

- Chương trình Bồi dưỡng các chứng chỉ sau Đại học:

Đối tượng: CBQLGD, Giáo viên THPT không có điều kiện học sau Đại học.

Môn bồi dưỡng: Văn, Toán và Ngoại ngữ.

b- Bồi dưỡng thực hiện CT-SGK mới.

* Đối với cán bộ QLGD :

- Hiệu trưởng các trường THPT tham dự hội nghị bồi dưỡng theo kế hoạch của Bộ
GD&ĐT. Phó hiệu trưởng tham gia các lớp bồi dưỡng cho giáo viên theo chuyên môn.

- Bồi dưỡng cốt cán và CBQLGD: Từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7/2008 theo lịch
cụ thể của Bộ Giáo Dục Đào Tạo.

* Đối với giáo viên :

- Sở GD&ĐT tổ chức các lớp bồi dưỡng cho giáo viên theo các môn giảng dạy ở
lớp 11 phổ thông : (theo kế hoạch cụ thể đính kèm):

Thời gian : từ 01/8 đến 17/8/2008

- Các môn : Toán, Ngữ văn, Vật lý, Hoá học, Sinh học : 7 ngày

- Các môn : Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ, Công nghệ : 6 ngày

- Các môn còn lại : 5 ngày.

- Địa điểm : Lớp đặt tại các trường THPT (theo cụm địa bàn quận, huyện)

- Đặc biệt, đối với bộ môn Hoạt động ngoài giờ lên lớp, Phó hiệu trưởng phụ trách
công tác chủ nhiệm (hoặc theo phân công của Hiệu trưởng) tham dự lớp bồi dưỡng, sau
đó về trường trực tiếp triển khai cho toàn thể giáo viên chủ nhiệm lớp 11 của trường.

- Đối với Bồi dưỡng Giáo viên dạy thay sách lớp 12 THPT năm học 2008 -2009.

- 18 -
- Đối tượng: Tất cả các Giáo viên đang trực tiếp giảng dạy THPT, Bổ túc THPT.

- Thời gian tổ chức bồi dưỡng: Từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 7 năm 2008.

* Thành phần Ban quản lý lớp bồi dưỡng :

- Sở GD&ĐT ủy nhiệm cho Hiệu trưởng trường THPT nơi có địa điểm đặt lớp
(theo kế hoạch kèm theo văn bản này) lập danh sách Ban Quản lý lớp bồi dưỡng gồm :

+ Trưởng ban và 01 Phó trưởng ban : là thành viên trong Ban giám hiệu trường.

+ Các thành viên : 03 cán bộ, nhân viên của trường phụ trách về cơ sở vật chất, về
kinh phí và các phương tiện kỹ thuật khác phục vụ cho lớp bồi dưỡng.

- Danh sách Ban quản lý lớp gởi về Sở trước ngày khai mạc lớp bồi dưỡng để Sở ra
quyết định công nhận, làm cơ sở cho việc tổ chức lớp ở đơn vị.

* Ban quản lý lớp bồi dưỡng có trách nhiệm :

- Chuẩn bị địa điểm đặt lớp, các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức lớp học, tham
gia tổ chức, quản lý các lớp bồi dưỡng đặt tại đơn vị - khai mạc lớp học, kiểm diện học
viên trong thời gian tham dự lớp gởi về Sở để làm cơ sở xác nhận cho giáo viên sau đợt
tập huấn.

- Thanh, quyết toán kinh phí tổ chức lớp (theo hướng dẫn của Phòng KHTC Sở) và
báo cáo kịp thời về Sở tình hình triển các lớp học sau đợt bồi dưỡng.

- Ngoài loại hình bồi dưỡng chung theo chỉ đạo của Bộ và kế hoạch hướng dẫn của
Sở, còn có một số các đơn vị tổ chức bồi dưỡng về Tin học, Ngoại ngữ, bồi dưỡng về
chuyên môn nghiệp vụ khác theo các chuyên đề phù hợp với yêu cầu của đơn vị nhằm
thường xuyên nâng cao kiến thức, phương pháp dạy học cho CBQLGD và Giáo viên
theo chủ trương chung của ngành.

- Đối tượng tham gia bồi dưỡng này là: những Giáo viên đang giảng dạy tại các
trường THPT và các CBQLGD.



- 19 -
- Thời gian tham gia bồi dưỡng: theo quy định mở lớp của Sở Giáo Dục Đào Tạo
và các khoá đào tạo này thường là loại hình ngắn hạn.

5. Chương trình và nội dung bồi dưỡng

Việc đầu tiên là phải tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo để có kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo.

- Tổ chức điều tra, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ nhà giáo về tình hình tư
tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy.

- Trên cơ sở kết quả điều tra, căn cứ vào chiến lược phát triển giáo dục tiến hành
xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ
nhà giáo, đảm bảo số lượng, nâng cao chất lượng, cân đối về cơ cấu đạt chuẩn, đáp ứng
yêu cầu của thời kì mới.

- Rà soát, bố trí sắp xếp lại những giáo viên không đáp ứng yêu cầu bằng các giải
pháp thích hợp như: luân chuyển, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ. Ưu tiên việc
đào tạo, bồi dưỡng giáo viên các môn học còn thiếu ở các lĩnh vực mũi nhọn hoặc có
nhu cầu cấp bách.

Chương trình, nội dung bồi dưỡng đối với giáo viên dạy CT – SGK mới:

Nâng cao chất lượng nhận thức tư tưởng chính trị, tăng cường kỉ cương nền nếp
trong quản lí giáo dục và dạy học.

Mục tiêu bồi dưỡng giáo viên:

Sau khi bồi dưỡng xong, giáo viên phải:

- Giải thích được vì sao phải đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Xác định
được các nguyên tắc và căn cứ để thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

- Chỉ ra được những kết quả đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

- Nghiên cứu kế hoạch giáo dục THPT, vấn đề phân ban ở THPT.

- 20 -
- Xác định được mục tiêu, các nguyên tắc xây dựng, cấu trúc chương trình và SGK.

- Phát hiện được những nội dung mới và khó cần được giải đáp.

- Chỉ ra được những ưu nhược điểm của chương trình SGK mới. Nghiên cứu mục
tiêu của cấu trúc nội dung từng phần trong SGK ( chuẩn và nâng cao), tìm ra những
điểm khác biệt so với chương trình SGK cũ ở điểm nào.

- Phân tích được những ưu nhược điểm của SGK mới ( tính hiện đại, cập nhật, cấu
trúc logic hợp lí, sự phong phú của kênh hình, tính định hướng đổi mới phương pháp…

- Đổi mới phương pháp và phương tiện dạy học.

- Đổi mới kiểm tra, đánh giá.

Mục tiêu dạy chương trình SGK mới:

- Mục tiêu quan trọng của đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học,
nhưng chương trình bồi dưỡng còn tập trung nhiều cho các mục tiêu giới thiệu nội dung
mới và khó của chương trình và SGK mới. Trong khi đó, nhu cầu của giáo viên lại tập
trung nhiều hơn ở việc đòi hỏi được bồi dưỡng về thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học, hình thức phân ban, phân hóa trong dạy học theo các chủ đề tự chọn còn mới mẻ,
nội dung chương trình chưa được đề cập thỏa đáng. Do đó, mục tiêu lớn nhất để dạy
chương trình SGK mới có hiệu quả đó là phải bồi dưỡng phương pháp dạy học mới cho
giáo viên của nhà trường. Đồng thời phải kết hợp sử dụng công nghệ thông tin thành
thạo, hiệu quả.

- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; thực hiện giảm tải, có cơ cấu chương
trình hợp lí vừa đảm bảo được chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, vừa tạo điều kiện để
phát triển năng lự của mỗi học sinh, nâng cao năng lực tư duy, kĩ năng thực hanh, tăng
tính thực tiễn, coi trọng kiến thức xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa
học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh và tiếp cận trình
độ giáo dục của các nước phát triển trong khu vực; quan tâm đầy đủ đến giáo dục phẩm
chất đạo đức, ý thức công dân, giáo dục sức khỏe thẩm mĩ cho học sinh.

- 21 -
Những điểm mới và nội dung tích hợp trong chương trình SGK mới:

Yêu cầu phải chú ý đến nội dung giáo dục thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân
văn do sự cân thiết phải đưa vào nhà trường một số nội dung dạy học mới, hoạt động
giáo dục gắn với hoạt động thực tiễn xã hội, kế hoạch giáo dục THPT có một số thay
đổi so với kế hoạch giáo dục THPT hiện hành. Chỉ thị 30/1998/CT- TTg của Thủ tướng
Chính phủ yêu cầu nội dung giáo dục THPT phải dựa trên cơ sở một chương trình
chuẩn và đảm bảo tính phổ thông, toàn diện, hướng nghiệp. Chênh lệch về kiến thức
của các môn học phân hóa giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao không
quá 20%. Trong thông báo số 13/2006/VPCP của Văn phòng Chính phủ về ý kiến chỉ
đạo của Thủ tướng Phan Văn Khải, chủ tịch Hội đồng Quốc gia Giáo dục về phương án
điều chỉnh phân ban ở THPT, Thủ tướng đã chỉ đạo chọn phương án phân thành ba ban:
ban KHTN ( có các môn nâng cao Tóan, lí, Hóa, Sinh ) ; ban KHXH – NV ( có các môn
nâng cao Ngữ văn, Sử, Địa, Tiếng nước ngoài ) và ban Cơ bản HS học theo chương
trình chuẩn. Đó là những căn cứ pháp lí quan trọng để xây dựng lại kế hoạch dạy học
cho cấp học này.

Một số điểm mới:

- Thể hiện sự phân bố qua bố trí thời lượng dạy học chênh lệch cho 8 môn phân
hóa: Toán, Lí, Hóa, Sinh, Sử, Địa và Tiếng nước ngoài.

- Mức độ phân hóa không quá lớn, đảm bảo theo yêu cầu từ chương trình chuẩn (
mặt bằng học vấn phổ thông ) nâng lên 20% tính cả về thời lượng và nội dung chênh
lệch của từng môn học phân hóa. Cụ thể là các môn Toán, Lí, Hóa, Sinh ở ban KHTN
và các môn Ngữ văn, Sử, Địa, Tiếng nước ngoài ở ban KHXH- NV sẽ được nâng lên
20% so với chương trình chuẩn.

- Điều chỉnh giảm số tiết so với chương trình trung học phổ thông hiện hành ở một
số môn như Ngữ văn từ 11 tiết/ tuần trong cả 3 năm học xuống còn 9.5 tiết ; Toán từ 14
tiết còn 10 tiết ; Lí từ 9 tiết còn 6 tiết ; Công nghệ từ 6 còn 5. Thay vào các tiết này là
thời lượng dành cho các môn học mới, cho dạy học tư chọn và cho hoạt động giáo dục

- 22 -
khác ( hướng nghiệp, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ) đảm bảo sự cân đối giữa
các lĩnh vực tri thức của mặt bằng học vấn phổ thông.

- Tiếp tục thực hiện nguyên tắc phân hóa trong giáo dục THPT, đáp ứng nhu cầu
rất đa dạng của người học cũng như tạo điều kiện cho chương trình giáo dục của nhà
trường được thực hiện một cách linh hoạt, gắn bó với thực tiễn địa phương phục vụ yêu
cầu chuẩn bị đội ngũ lao động tham gia phát triển kinh tế- xã hội địa phương, kế hoạch
dạy học mới dành thời lượng cho môn học tự chọn: 4 tiết/ tuần cho 3 lớp 10, 11, 12 của
ban KHTN cũng như ban KHXH; 12 tiết/ tuần cho 3 lớp của ban Cơ bản. Mục đích là
giúp cho học sinh củng cố kiến thức, kĩ năng đã được học hoặc cung cấp chủ đề nâng
cao kiến thức, kĩ năng cho học sinh hoặc đáp ứng những yêu cầu khác cho học sinh.

- Số tuần học trong 1 năm học theo quy định chung là 35 tuần mỗi tuần lễ học 6
buổi.

- Thời gian học cho các môn trong mỗi buổi không quá 5 tiết, thời lượng mỗi tiết
không quá 45 phút.

- Mỗi tuần lễ ó 2 tiết hoạt động giáo dục tập thể dành cho sinh hoạt lớp, sinh hoạt
toàn trường. Tiết hoạt đông tập thể có thể hoạt động trong hoặc ngoài phòng học, trong
hoặc ngoài trường. Mỗi tháng có 4 tiết tương đương với 1 buổi dành cho hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp.

- Thời lượng và thời gian nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ giữa kì và cuối kì theo quy đinh
chung của Bộ GD & ĐT.

- Kế hoạch giáo dục cấp THPT quy định sự phân bổ thời lượng đối với chương
trình các môn học của ban KHTN, KHXH- NV và ban Cơ bản. Ban KHTN được tổ
chức dạy học theo chương trình nâng cao đối với 4 môn: Toán, Lí, Hóa, Sinh và theo
chương trình chuẩn đối với các môn còn lại; ban KHXH- NV được tổ chức dạy học
theo chương trình nâng cao đối với 4 môn: Ngữ văn, Sử, Địa, Tiếng nước ngoài và theo
chương trình chuẩn đối với các môn còn lại. Cả 2 ban đều có 4 tiết dành cho 3 lớp 10,
11, 12 để dạy học tự chọn. Ban Cơ bản được tổ chức dạy học theo chương trình chuẩn
- 23 -
và sử dụng 4 tiết/ tuần để dạy học các chủ đề tự chọn hoặc tùy theo điều kiện cơ sở vật
chất, điều kiện giáo viên,nguyện vọng và năng lực học tập của HS có thể dạy học một
số môn trong số 8 môn phân hóa nêu trong chương trình nâng cao.

Một số điểm mới của chương trình môn học:

Nhìn chung chương trình môn học đều bám sát vào 8 yêu cầu của xây dựng
chương trình trong quá trình xác định mục tiêu, nhiệm vụ môn học, trong lựa chọn và
sắp xếp các nội dung trong văn bản chương trình.

- Nổi bật là các chương trình đều tăng thời lượng dành cho các hoạt động thực hành,
hoạt động tích cực của học sinh.

- Các nội dung lí thuyết được cân nhắc lựa chọn và đề ra các yêu cầu thực hành phù
hợp với mức độ nhận thức của học sinh.

-Các nội dung trong chương trình được sắp xếp lại đêt tăng cường ứng dụng và hỗ
trợ giữa các môn.

- Đối với các môn văn hóa, nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn được thực hiện qua
việc tăng cường tích hợp, liên hệ nội dung môn học thực tiễn cuộc sống, địa phương,
đất nước hoặc đưa những nội dung ứng dụng thực tiễn, thông tin mới về kinh tế - xã
hội vào môn học. Nhiều môn học được thực hiện tích hợp như giáo dục dân số- sức
khỏe sinh sản, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục sức khỏe. Qua đó giúp học sinh
hiểu biết thực tế cuộc sống, hiểu biết các hoạt động sản xuất của quê hương, đất
nước, góp phần định hướng nghề nghiệp, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng tham gia lao
động sản xuất.

- Ngoài ra, chương trình hoạt động hướng nghiệp còn giúp học sinh nắm được thông
tin về tình hình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, địa phương, về thị trường lao
động, về thế giới nghề nghiệp và hệ thống đào tạo lam căn cứ cho việc chọn nghề và
chuẩn bị tâm thế tham gia lao động.



- 24 -
-Chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp quy định còn có phần hướng dẫn
trường THPT tổ chức các hoạt động cho học sinh như lao động - hướng nghiệp hoạt
động theo hứng thú nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật giúp các em định
hướng nghề nghiệp của mình.

-Các nội dung tự chọn với loại chuyên đề bám sát giúp học sinh nắm vững hơn các
kiến thức cơ bản, chủ đề đáp ứng sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng
theo theo nhu cầu, nguyên vọng của học sinh, phần nào giúp học sinh có thêm hiểu
biết cần thiết để tham gia lao động xã hội ngay tại trường phổ thông.

Đổi mới phương pháp dạy học:

Đây là trọng tâm của toàn bộ chương trình bồi dưỡng. Chỉ có đổi mới phương pháp
dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể
đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối
cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

Luật giáo dục 2005, điều 28.2, đã ghi “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, ren luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh ”.Hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

Tuy nhiên, đổi mới phương pháp dạy và học không có nghĩa là gạt bỏ các phương
pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp học hiện có
theo quan điểm học tập tích cực kết hợp với các phương tiện hiện đại.

Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực:

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh: Giáo viên không
chỉ giản đơn truyền thụ tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Nội dung và phương
pháp dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các
chương trình hoạt động của công cộng.


- 25 -
- Dạy học phải chú trọng phương pháp rèn luyện phương pháp tự học: Nếu rèn cho
người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng
ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ nhân lên gấp
bội.

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:

Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng
các hoạt động cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy- trò, trò- trò, tạo nên mối
liên hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông
qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay
bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn
hiểu biết và kinh nghiệm sống của giáo viên.

Trong nhà trường phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp
hoặc trường. Được sử dngj phổ biến trong dạy học nhóm nhỏ từ 4- 6 người. Học tập
hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải tự giải quyết các vấn đề gay cấn, lúc
xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Trong hoạt động theo nhóm nhỏ không thể có hiện tượng ỉ lại; tính cách năng lực của
mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần hỗ
trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm các thành viên
quen dần với hoạt động học tập trong xã hội.

- Kết hợp đánh giá của thầy kết hợp với tự đánh giá: Từ dạy học thụ động sang dạy
học tích cực, Giáo viên không còn đóng vai trò là người truyền thụ kiến thức đơn thuần,
Giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo
nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập chủ động. Trên lớp, hoạt động
của học sinh là chính, Giáo viên có vẻ nhàn hơn nhưng thực tế giáo viên đã phải chuẩn
bị rất kĩ đầ tư công sức cũng hư thời gian rất nhiều trong việc soạn giáo án ở nhà. Giáo
viên có vai trò là là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt
động tìm tòi hao hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên cần phải có trình độ

- 26 -
chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các
hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài dự kiến của giáo viên.

Các phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường THPT

- Đổi mới phương pháp dạy và học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ
thống phương pháp dạy học quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số
phương pháp mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học của nhà trường để
giáo dục từng bước tiến lên vững chắc.

- Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề

- Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ.

- Dạy và học theo dự án.

Đổi mới việc sử dụng thiết bị dạy học:

Phương tiện, thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh thực hiện
các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm. Cơ sở vật chất của nhà trường cũng
cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp
với dạy học cá thể và dạy học hợp tác. Các yêu cầu chủ yếu như sau:

- Thiết bị đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao, tạo điều kiện đẩy
mạnh hoạt động học của học sinh trên cơ sở tự giác, tự khám phá tri thức thông qua
hoạt động thực hành, làm thí nghiệm trong quá trình học tập.

- Đảm bảo nhà trường có những thiết bị cần thiết, không thể thiếu.

- Chú trọng đến thiết bị thực hành giúp học sinh tự tiến hành các bài thực hành, thí
nghiệm.

- Khuyến khích giáo viên tự thiết kế đồ dùng dạy học, đảm bảo tính trực quan của
giờ dạy.

Đổi mới cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo quy định
của Bộ GD & ĐT.

- 27 -
- Việc kiểm tra đánh giá hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng
chương và mục tiêu giáo dục của từng môn học, ở từng cấp học. Các câu hỏi, bài tập sẽ
đo được mức độ thực hiện mục tiêu đã được xác định.

Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của
học sinh, bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa
thêm các dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri
thức của học sinh, quan tâm đến mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh
trong từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu kiến thức mới lẫn thực hành, thí nghiệm. Điều
này đòi hỏi giáo viên bộ môn cần đòi hỏi nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn.

Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hóa, đảm bảo 70%
câu hỏi, bài tập đo được mức độ chuẩn- mặt bằng về nội dung học vấn dành cho học
sinh THPT và 30 % còn lại phản ánh mức độ nâng cao- dành cho học sinh có năng lực
trí tuệ và thực hành cao hơn.

5- Phương pháp bồi dưỡng

Phương pháp bồi dưỡng là cách thức thực hiện công tác bồi dưỡng, nó là hệ thống
tác động liên tục, có kế hoạch của người dạy nhằm tổ chức các hoạt động nhận thức và
thực hành của người học để họ lĩnh hội một cách vững chắc các yếu tố của nội dung bồi
dưỡng được xác định căn cứ vào mục tiêu bồi dưỡng.

Như vậy, khi xem xét đến vấn đề phương pháp bồi dưỡng phải chú ý đến hai mặt
của quá trình bồi dưỡng. Trên thực tế, những phương pháp bồi dưỡng truyền thống vẫn
được áp dụng rộng rãi trong các khóa bồi dưỡng cán bộ. Các phương pháp bồi dưỡng
truyền thống đã tỏ ra là có nhiều hạn chế, không còn thích hợp, không còn được nhiều
học viên chấp nhận, làm giảm hiệu quả công tác bồi dưỡng. Đó là các phương pháp
giảng dạy cổ điển, độc giảng, học viên tiếp thu bài một cách thụ động kém hứng thú
chưa phát huy được tính độc lập, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu và vận dụng các kỹ
năng kiến thức trong quá trình học tập của mình.



- 28 -
Lựa chọn phương pháp bồi dưỡng có tác dụng quyết định đến chất lượng và hiệu
quả bồi dưỡng, vì vậy việc chọn lựa phương pháp cần phải đáp ứng được những yêu
cầu sau:

- Bồi dưỡng phải hướng vào đối tượng cán bộ trong thời kỳ đổi mới: năng động,
chủ động, không chỉ có kiến thức mà còn có cả kỹ năng.

- Phải hướng vào hoạt động của người học

- Hướng vào mục tiêu bồi dưỡng.

Trước kia thường đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo kiểu người giảng cứ giảng còn
người ở dưới làm gì cũng không cần quan tâm. Đó là kiểu mà chúng ta đã biết từ lâu
nhưng không ai chịu sửa. Ai cũng biết là như thế là không có chất lượng, các chủ
trương đổi mới thì đã có từ lâu nhưng mới chỉ có một số ít thực hiện được. Đối với
phương pháp giảng dậy mới ở trường phổ thông thì do áp lực từ bộ, từ sở, từ trung ương
lên ai cũng phải thực hiện còn đối với việc bồi dưỡng giáo viên thì chưa có nhiều người
đề cập đến nên vẫn còn rất nhởn nhơ. Giáo viên chính là người phải thực hiện các
phương pháp mới trong trường học nhưng họ lại không được thực hành chính các
phương pháp đổi mới đó từ phía trên. Tức là từ phía những người chịu trách nhiệm bồi
dưỡng, nâng cao trình độ cho họ như vậy thì chất lượng bồi dưỡng sẽ như thế nào?

Các đợt tập huấn bồi dưỡng trước đây thường được tiến hành theo kiểu giáo viên
thuyết trình, học viên ngối dưới ghi chép. Người giảng tranh thủ truyền đạt thông tin
càng nhiều càng tốt còn người nghe cố gắng ghi chép càng nhiều càng hay. Với tâm lý
là về trường rồi sẽ thu xếp thời gian để nghiên cứu nhưng rồi công việc cuốn hút, tài
liệu mang về cứ để đó, khi cần thì mở ra xem lại, muốn vận dụng vào thực tế thì lúng
túng. Với cách bồi dưỡng này ta thấy rằng, giáo viên không được trực tiếp thực hành
những gì mà họ phải trực tiếp thực thi sau khi đã xong các khóa tập huấn. Họ thu được
rất ít kiến thức thực tế sau khi đã hoàn thành cả một khóa học rất dài. Có thể là về lý
thuyết họ nói rõ ràng không sai một chút nào nhưng khi vận dụng thì lại rất lúng túng,
có người lại không biết phải tiến hành từ đâu. Tuy nhiên với phương pháp này thì các

- 29 -
chủ trương chính sách mới nhất về giáo dục đều được truyền đạt một cách “nguyên
vẹn”, rõ ràng cho đội ngũ giáo viên. Họ được nghe trực tiếp từ cấp cán bộ và vì vậy dù
có muốn hay không thì họ vẫn có thể tiếp một phần nào đó.

Có rất nhiều phương pháp bồi đưỡng khác nhau nhưng phương pháp tốt nhất và
hiệu quả nhất là phải làm cho đội ngũ được bồi dưỡng nâng cao khả năng tự học, tự bồi
dưỡng. Họ có thể tiến hành việc tự bồi dưỡng song song với quá trình dạy học.

Hiện nay, chúng ta đã đổi mới cách thức bồi dưỡng giáo viên theo hướng tổ chức
các hoạt động theo nhóm để mọi học viên được tham gia tích cực vào nội dung lớp học
và được tập dượt, vận dụng tại chỗ.Để đạt được hiệu quả cao thì đòi hỏi học viên phải
chủ động tham gia tích cực vào đơt tập huấn:

Trước hết, CBCC phải được rèn luyện khả năng lực học, tự nghiên cứu chính sách
mới. Tự học là phẩm chất tối cần thiết của một công dân trong xã hội thông tin rộng
mở. Để khuyến khích tinh thần tự học của CBCC, phương pháp giảng dạy cũng cần
thay đổi cho phù hợp. Thay bằng việc đưa ra những nhận định mang mặng tính thuyết
giáo- dù chính thống, thì giảng viên đòi hỏi ở học viên tinh thần tự học, tự tìm câu trả
lời cho chính mình. Khơi dậy ở họ lòng ham hiểu biết bằng cách chỉ ra cho họ rằng trí
thức là vô tận, không có giới hạn cuối cùng, và cách duy nhất để tiếp cận kho tàng trí
thức của nhân loại đó là lòng say mê học tập, phương pháp học thích hợp và một lối học
tập suốt đời. Đỉnh cao của nổ lực tự học, tự nghiên cứu đó là hoạt động nghiên cứu
khoa học. Cần khuyến khích CBCC nghiên cứu dưới nhiều hình thức: viết bài thu
hoạch, làm tiểu luận, đề án, viết bài cho các tạp chí khoa học chuyên ngành.... Mặt
khác, giảng viên cần tiếp tục đổi mới cách dạy, phát triển mạnh các hình thức dạy học
tích cực, chuyển hướng trọng tâm sang người hướng dẫn, gợi mở, khuyến khích học
viên học tập sáng tạo.

Trong học tập, bồi dưỡng, từng học viên cần đặt mục tiêu và thái độ học tập của
mình lên hàng đầu, và hãy tìm cách trả lời bằng được các câu hỏi: “Tôi đang ở đâu?”,
“Tôi muốn đi tới đâu?” và “Tôi tới đó bằng cách nào?”. Điều quan trọng là trên đường

- 30 -
đi đến mục tiêu của từng người, cá nhân luôn gặp những cản trở khách quan (môi
trường, tiềm lực, thời gian…) và chủ quan (sự sợ hãi, tức giận, thói quen an phận, để
quá khứ chi phối). Phần lớn, bạn không đạt được mục tiêu vì những cản trở chủ quan -
xuất phát từ chính bản thân mình. Có một câu chuyện được kể lại rằng, người ta làm
một thí nghiệm bằng cách bỏ một con ếch vào nồi nước đang sôi, con ếch nhảy ra và
thoát chết. Lần thứ hai người ta lại bắt con ếch đó bỏ vào nồi nước lạnh và đun từ từ,
ếch cứ nằm sâu dưới đáy tận hưởng làn nước mát ấm dần lên, đến khi phát hiện ra nước
sôi thì đã muộn. Một câu chuyện đơn giản nhưng khiến ai cũng giật mình. Sự an phận
không chỉ kìm hãm sự thay đổi để nhận thức và thích nghi với những điều mới mẻ mà
có thể mang rủi ro đến cho mỗi cá nhân - nói một cách nào đấy, đó là “một cái chết từ
từ nhưng chắc chắn!”.

Thứ hai, học viên cần được rèn luyện làm việc theo nhóm, nhằm giúp học viên làm
quen với tinh thần hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, tri thức và tổng hợp tri thức của nhiều
người, đồng thời biết thỏa hiệp và dàn xếp với nhau để đạt tới mục đích chung. Làm
việc theo nhóm còn giúp CBCC trẻ phát triển kỹ năng lãnh đạo, và có lối sống vì cộng
đồng. Trong quá trình giảng dạy nên phân lớp thành những nhóm nhỏ, học viện tự lựa
chọn lãnh đạo nhóm. Thường xuyên thay đổi lãnh đạo nhóm, tạo điều kiện cho mỗi
người đều có cơ hội làm lãnh đạo. Các nhóm tiến hành thảo luận theo chủ đề giảng viên
đưa ra dưới sự điều hành của trưởng nhóm. Đại diện cho nhóm báo cáo kết quả, thảo
luận với giảng viên và các nhóm khác. Học tập theo nhóm đã và đang áp dụng rộng rãi
ở các nước có nền giáo dục tiên tiến. Nó không những nâng cao chất lượng đào tạo mà
còn giúp hình thành tính cách (sống chung với cộng đồng) không thể thiếu đối với mỗi
người

Thứ ba, sử dụng các phương pháp mới và phương tiện hỗ trợ giảng dạy. Chúng ta
đã có chương trình đào tạo đội ngũ làm công tác giảng viên kiêm chức, được trang bị
nhiều phương pháp sư phạm hiện đại. Song phải nói rằng việc áp dụng hoàn toàn các
phương pháp sư phạm hiện đại như: lớp học với số lượng học viên 30 người; sử dụng
phương tiện hiện đại: đèn chiếu, Powerpoint; bằng các phương pháp hiện đại: đóng vai,
- 31 -
giải quyết tình huống, hỏi đáp, thuyết trình thì đến nay chưa có địa phương nào có thể
áp dụng một cách trọn gói phương pháp giảng dạy như trên. Tuy nhiên, yêu cầu đổi mới
về phương pháp tập huấn về chính sách, chế độ có liên quan là một yêu cầu tất yếu. Để
áp dụng có chọn lọc phương pháp sư phạm hiện đại trong điều kiện và tính đặc thù của
ngành thì chúng ta có thể sử dụng theo mô hình đào tạo sau: Lớp học có thể mở với số
lượng trong khoảng từ 45 đến 50 người, có cùng một nhu cầu tập huấn về một hoặc một
vài chủ đề liên quan, để mở lớp như thế tất nhiên chi phí cho hoạt động này phải tăng
gấp đôi (trước đây khoảng 100 người). Thời lượng, nội dung tập huấn phải phù hợp.
Người được cử làm công tác tập huấn, giảng dạy phải được đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn và phương pháp sư phạm và phải làm công việc này mang tính chuyên
nghiệp. Phải có các phương tiện hỗ trợ và phải sử dụng được đèn chiếu, Powerpiont.
Phải sử dụng nhiều phương pháp sư phạm như: hỏi đáp, giải quyết tình huống, thuyết
trình. Cuối mỗi đợt tập huấn phải đánh giá hiệu quả giảng bài của giảng viên và hiệu
quả tiếp thu để thực hiện được trong thực tiễn đối với người học. Trong chương trình
tập huấn, bồi dưỡng nên có ít nhất một bài tập lớn dưới dạng bài thu hoạch. Lựa chọn
những vấn đề đang có tính thời sự và là nội dung chính của chủ đề tập huấn, bồi dưỡng
yêu cầu học viên tìm tòi nghiên cứu và đưa ra ý kiến cá nhân. Bài thu hoạch có độ dài
khoảng 5-7 trang là vừa.

Kết quả học tập bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên cần được đánh giá một
cách nghiêm túc, thường xuyên trên cả ba mặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ, trong đó đặc
biệt coi trọng đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn dạy học và thái độ học
tập của học viên. Đánh giá kết quả học tập có tác dụng thúc đẩy học viên tự học một
cách tích cực, tự giác và kịp thời điều chỉnh phương pháp học tập cho phù hợp.

Khi đánh giá kết quả bồi dưỡng thường xuyên,cần dựa trên cơ sở:

- Hồ sơ,sản phẩm học tập của học viên,gồm: kế hoạch học tập kế hoạch bài học
(giáo án),phiếu dự giờ,phiếu thu hoạch,các bài tập tự đánh giá cuối mỗi bài học, phiếu
tự đánh giá kết quả học tập.


- 32 -
- Kết quả thực hiện các hoạt động học tập bồi dưỡng của học viên như lập kế
hoạch bài học,thực hành tổ chức hoạt động giáo dục nghề, giáo dục hướng nghiệp,tư
vấn hướng nghiệp,thảo luận gui,làm và sử dụng thiết bị dạy học theo nội dung bài học..

Kết quả trên phải lấy tự đánh giá là cơ sở chính nhằm giúp học viên tự điều chỉnh
việc tự học để học tập đạt kết quả vì học viên tham gia học tập bồi dưỡng thường xuyên
thực chất là tự học, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên.

7- Xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên.

Đội ngũ hướng dẫn viên cho các lớp bồi dưỡng bao gồm: giảng viên các trường sư
phạm, các chuyên gia, giáo viên giỏi các môn học, cán bộ quản lý giỏi ở địa phương,
các cốt cán bồi dưỡng cấp tỉnh ( theo quyết định của Sở Giáo dục và Đào tạo ). Hướng
dẫn viên có trách nhiệm hỗ trợ giáo viên bằng nhiều hình thức: Biên soạn tài liệu bổ trợ,
tham dự và giải quyết trực tiếp các vấn đề mà cá nhân hoặc nhóm học tập chưa giải
quyết được trong quá trình bồi dưỡng.

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục, đào tạo và chuẩn hoá đội ngũ,
bộ giáo dục đã tích cực động viên CB, giáo viên (GV) tự giác thực hiện phong trào "Tự
học tập-tự bồi dưỡng", tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và năng lực quản lý.

Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo và CB quản lý GD được tổ chức CĐ và chính
quyền đồng cấp triển khai bằng nhiều hoạt động thiết thực,như đầu tư đổi mới phương
pháp dạy học,hỗ trợ GV sử dụng công nghệ thông tin xây dựng phần mềm dạy học,
soạn giáo án điện tử,đặc biệt là đổi mới kiểm tra,đánh giá học sinh bằng việc xây dựng
các đề thi, kiểm tra theo phương pháp trắc nghiệm.Các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội
thảo, toạ đàm được triển khai thường xuyên, tạo sự chuyển biến tốt về nhận thức, xây
dựng kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho CB,GV trong giảng dạy.

Việc bồi dưỡng đó được thực hiện theo phương thức giáo viên tự học là chủ yếu
dựa vào các tài liệu bồi dưỡng do Bộ giáo dục và đào tạo biên soạn.Kết hợp với phương
thức thảo luận, tiến hành vận dụng trong nhóm,tổ chuyên môn theo đơn vị trường,cụm
- 33 -
trường với sự giúp đỡ của giáo viên cốt cán môn học được tập huấn ở trường cao đẳng
sư phạm và có sự giúp đỡ thêm của các giáo viên trường Sư phạm định kì về thăm các
trường một lần.

Việc truyền đạt những điểm cơ bản của chương trình, sách giáo khoa và những vấn
đề chung về đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện trong các lớp bồi dưỡng tập
trung thông qua đội ngũ giáo viên cấp bộ và cấp tỉnh.

Bộ dựa vào các chuyên gia xây dựng chương trình và viết sách giáo khoa mới để tổ
chức tập huấn cho các giáo viên cấp tỉnh, được chọn từ giáo viên các trường sư phạm,
cán bộ quản lí chỉ đạo chuyên môn ở sở giáo dục và đào tạo.

Giảng viên các trường sư phạm được cử đi bồi dưỡng, các chuyên gia phải về số
lượng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Với đội ngũ cán bộ giảng dạy giàu kinh
nghiệm, đội ngũ cán bộ khoa học trí tuệ, tài ba, trong đó nhiều người đang giữ vị trí là
đầu ngành của cả nước, đội ngũ cán bộ quản lý nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với nghề.

Các sở giáo dục và đào tạo dựa vào đội ngũ báo cáo viên cấp tỉnh đã được tập huấn
ở bộ để tổ chức tập huấn những vấn đề nói trên cho các cán bộ quản lí cấp huyện và cấp
trường để bồi dưỡng các giáo viên môn học. Sở giáo dục và đào tạo cho các trường đại
học sư phạm tập huấn giáo viên cốt cán môn học được chọn từ Giáo viên giỏi ở các
trường và cán bộ chỉ đạo chuyên môn ở phòng giáo dục và huyện.

Trong đợt bồi dưỡng tập chung, các báo cáo viên truyền đạt một số vấn đề chính,
các học viên, các giáo viên dự lớp tập huấn sẽ nghiên cứu tài liệu, tổ chức thảo luận các
bài mẫu trong sách giáo khoa mới, soạn bài và dạy thử một số tiết mẫu.

Thời gian tập huấn là 1 tuần/ 1 buổi trong suốt năm học được sử dụng để giáo viên
tiếp tục nghiên cứu chương trình sách giáo khoa mới, vận dụng các tài liệu bồi dưỡng
vào việc soạn bài, rút kinh nghiệm qua các giờ lên lớp theo sách giáo khoa mới, với sự
trợ giúp của giáo viên cốt cán môn học.

Giáo viên đó đã được tập huấn tại trường sư phạm giúp đỡ đồng nghiệp ở trường,
cụm trường trong việc giảng dạy.
- 34 -
Đợt tập huấn nhằm giúp cho đội ngũ giáo viên cốt cán hiểu và phân tích được
chuẩn kiến thức, kỹ năng và đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình cải cách.
Từ đó có đủ năng lực tập huấn cho đội ngũ giáo viên bộ môn trong quá trình triển khai
bồi dưỡng đại trà tại các địa phương.

Các giáo viên được chọn để đi bồi dưỡng tập huấn là:

Bồi dưỡng những vấn đề chung về chương trình, sách giáo khoa mới, đổi mới
phương pháp dạy học, người được chọn đầu tiên là Hiệu trưởng, xong đến phó hiệu
trưởng phụ trách chuyên môn, được chọn bổ xung từ các tổ chuyên môn, các giáo viên
giỏi, hoặc những giáo viên có năng lực, uy tín, chuyên môn nổi trội trong trường.

Cán bộ bồi dưỡng môn học được hoạt động trong thời gian dài hơn. Ít nhất là trong
4 năm triển khai sách giáo khoa mới.

Lãnh đạo trường cần cân nhắc lựa chọn những cán bộ, giáo viên có đủ năng lực, uy
tín về chuyên môn, có nhiệt tình với công cuộc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học
và điều kiện thuận lợi để đảm đương nhiệm vụ.

Người giáo viên được chọn đi tập huấn phải có Phẩm chất và kỹ năng sau:

- Khả năng truyền đạt tốt trên cả hai phương diện nói và viết

- Giàu tình yêu thương,đặc biệt là yêu lớp người trẻ tuổi

- Có lòng bao dung,độ lượng và trái tim nhân hậu

- Nhạy cảm,có khả năng nắm bắt tâm lý con người

- Kiên trì,nhẫn nại

- Ham học hỏi và luôn mong muốn truyền đạt lại cho người khác.

- Giao tiếp cá nhân với đồng nghiệp tốt thì mới có thể truyền đạt cho đồng nghiệp
hiệu quả được,phải có khẳ năng quan sát và đánh giá tiến trình, kết quả bồi dưỡng trong
đơn vị. Sau khi dạy xong 1 buổi phải có sự phản hồi từ phía lớp học, để từ đó có biện
pháp điều chỉnh phù hợp để cho đợt tập huấn được thành công.

- 35 -
Giáo viên tập huấn không những phải đạt chuẩn về trình độ chuyên môn sư phạm,
về trình độ nghiệp vụ sư phạm,mà còn đạt chuẩn về đạo đức tư cách người thầy. Tư
cách người thầy rất quan trọng,một nhà giáo có kiến thức sâu rộng đến đâu nhưng
không có tư cách đạo đức thì cũng bị xã hội kinh dẻ, không coi trọng.

- Phải có kĩ năng sư phạm đạt chuẩn, tức là: phải hiểu được tâm lí học sinh để biết
được học sinh có nguyện vọng gì,xem học sinh có hiểu bài hay ko?Có hứng thú với
môn học của mình ko.Phải biết tổ chức quản lý lớp học tốt.Và đã đạt danh hiệu giáo
viên dạy giỏi.

- Ngoài năng lực về sư phạm, người giáo viên chọn đi bồi dưỡng phải có kiến thức
chuyên môn vững vàng, được đào tạo ở các trường sư phạm chính quy.

- Xây dựng đội ngũ cán cốt phải đủ về số lượng. Thế mới có thể đáp ứng được với
thực trạng hiện nay,giáo viên phần lớn có trình độ chuyên môn thấp nên khi cải cách
sách giáo khoa gặp rất nhiều khó khăn.Vì thế yêu cầu phải thường xuyên có đợt tập
huấn để năng cao trình độ của giáo viên.

- Khả năng đáp ứng với yêu của xã hội cao.

- Phải có hiểu biết về tin học,để dạy cho giáo viên bộ môn bằng giáo án điện tử.
Với thời đại công nghệ công tin phát triển như hiện nay,giáo viên không những phải có
kiến thức chuyên môn vững vàng mà cũng cần phải thông thạo kiến thức về tin học,thế
mới có thể truyền tải một cách sinh động kiến thức cho học sinh.Phần lớn giáo viên
hiện nay chưa được tiếp xúc nhiều với giáo án điện tử,nên để thiết kế được một giáo án
điện tử còn rất là xa vời.Nên phải có đội ngũ hướng dẫn viên bồi dưỡng tin học nâng
cao trình độ hiểu biết tin học cho giáo viên.

8. Đánh giá kết quả bồi dưỡng

Những ưu điểm:

8.1. Về công tác chuẩn bị:



- 36 -
Các khóa bồi dưỡng giáo viên cốt cán và cán bộ quản lí giáo dục thực hiện thí
điểm phân ban THPT được chuẩn bị khá chu đáo; mục tiêu,chương trình,nội dung,
phương tiện sử dụng trong các khóa bồi dưỡng được xác định rõ ràng,cụ thể và phù hợp
với mục tiêu các lớp bồi dưỡng.

8.2. Chương trình:

Các khóa bồi dưỡng về cơ bản phù hợp với nhu cầu của thực tiễn giáo dục, phù
hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục, đáp ứng yêu cầu phân ban ở bậc THPT.

8.3. Nội dung:

Các khóa bồi dưỡng về cơ bản phù hợp và đáp ứng được mục tiêu giáo của các
khóa bồi dưỡng,vì vậy việc bồi dưỡng giáo viên cốt cán và cán bộ quản lý giáo dục
THPT phân ban là thiết thực.

8.4. Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng:

Trong cả thời kì thí điểm phân ban THPT và kế hoạch tổ chức các khóa bồi dưỡng
là chu đáo,tương đối phù hợp.Các khóa bồi dưỡng nói chung thực hiện đúng kế hoạch
đã xây dựng, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn,đặc biệt là khó khăn về tiến độ biên soạn
SGK thí điểm.

8.5. Tài liệu:

Tài liệu dùng trong khóa bồi dưỡng cơ bản đáp ứng được mục tiêu của các khóa
bồi dưỡng. Nội dung tài liệu bồi dưỡng đã nêu được những điểm mới của chương trình
và SGK THPT phân ban thí điểm. Nêu được yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp
dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT; những điểm
mới trong dạy học tự chọn; điểm mới trong quản lý giáo dục ở trường THPT phân ban.
Tài liệu bồi dưỡng cơ bản phù hợp với đối tượng sử dụng và được đánh giá là có ích
cho giáo viên và cán bộ quản lý trong dạy học và công tác.Nhiều tài liệu có phần hướng
dẫn thực hiên nêu khá đầy đủ những lưu ý về nội dung khó,phương pháp dạy học của
những chương, bài mới, những bài có nội dung, kiến thức phức tạp.

- 37 -
Nội dung của tài liệu khá thống nhất,chất lượng tài liệu tương đối tốt, được giáo
viên và học viên tham gia các lớp bồi dưỡng đánh giá tốt, một số tài liệu được đánh giá
cao. Tài liệu tập huấn về chương trình dạy học tự chọn và đổi mới đánh giá kết quả học
tập của học sinh THPT thí điểm được chuẩn bị khá công phu,đã thể hiện rõ việc đổi mới
trong phương pháp tập huấn, giúp học viên tích cực tham gia làm việc đóng góp ý kiến.

Việc tổ chức thực hiện các khóa bồi dưỡng: Nghiêm túc,tài liệu bồi dưỡng được
chuẩn bị chu đáo và đưa tới tay người tiêu dùng,điều kiện phục vụ các khóa bồi dưỡng
đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu cho phép.Việc quản lý hành chính,kế hoạch thực
hiện từng khóa bồi dưỡng tương đối hợp lý.

Về báo cáo viên: Bộ GD & ĐT đã xây dựng đội ngũ báo cáo viên các khóa bồi
dưỡng cơ bản đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, đáp ứng những nhiệm vụ của báo cáo
viên theo quy định của bộ. Báo cáo viên đã có nhiều có gắng từng bước thực hiện
phương pháp mới, sử dụng phương tiện, kĩ thuật dạy học hiện đại.

8.7 Giáo viên và cán bộ quản lý:

Nhìn chung hài lòng sau khi dự các khóa bồi dưỡng và ghi nhận những giúp ích
của tài liệu của những khóa bồi dưỡng với công việc dạy học và quản lý giáo dục.

Những hạn chế:

8.1 Về chương trình bồi dưỡng:

Mục tiêu quan trọng của đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học, nhưng
chương trình bồi dưỡng còn tập trung nhiều cho các nội dung giới thiệu nội dung mới,
khó của chương trình và SGK mới. Trong khi đó nhu cầu của giáo viên và cán bộ quản
lý giáo dục lại tập trung nhiều hơn vào việc đòi hỏi được bồi dưỡng về thực hiện đổi
mới phương pháp dạy học và đổi mới quản lý, hình thức phân ban, phân hóa trong dạy
học; dạy học theo các chủ đề tự chọn còn mới mẻ,nội dung chương trình bồi dưỡng
chưa được đề cập thỏa đáng.



- 38 -
- Thời gian thực hành ở các lớp bồi dưỡng còn rất ít, cần được tăng cường để hoc
viên có thời gian soạn thảo các bài giảng và dạy thử ngay tại lớp bồi dưỡng để trao
đổi và rút kinh nghiệm.

- Phần hướng dẫn phương pháp soạn bài theo hướng đổi mới, nhìn chung chưa thật
thuyết phục, chưa có sự thống nhất về cấu trúc nên ít có hiệu quả đối với học viên.

- Một số bộ môn những vấn đề mới, khó của chương trình SGK các lớp được tác
giả phân tích chưa thật sâu; một số bô môn chưa định hướng cụ thể cho học viên đối
với những vấn đề cơ bản trong chương trình và SGK mới.

8.2. Về tài liệu bồi dưỡng:

- Một số vấn đề về phương pháp dạy học bộ môn theo hướng tích cự được biên
soạn còn chung chung,chưa sâu và cụ thể,tỉ lệ thời lượng cho phần này còn ít so với
các phần khác của nội dung bồi dưỡng,cấn được tăng cường hơn vì đổi mới phương
pháp đang là yêu cầu quan trọng đồng thời cuang đang là điểm yếu của giáo viên
hiện nay.Đổi mới phương pháp dạy học các bộ môn còn dừng lại ở những nguyên
tắc và nội dung chung chung,ít đi sâu vào các trường hợp cụ thể của từng bộ môn,
do vậy học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng vào môn học.

- Các bài soạn minh họa với các dạng bài,các thể loại,các phân môn khác nhau còn
rất ít,cần tăng cường hơn để làm mẫu cho học viên gặp nhiều khó khăn trong việc
vận dụng vào công việc dạy học của mình.

- Tài liệu bồi dưỡng được biên soạn chủ yếu là cung cấp kiến thức,chưa thể hiện
được nhiều về đổi mới phương pháp dạy học,vận dụng phương pháp dạy học tích
cực,ít có câu hỏi,bài tập nhằm tăng cường các hoạt động của người học.

- Một số khóa bồi dưỡng,tài liệu chuyển đến tay học viên chậm nên đã ảnh hưởng
đến chất lượng và hiệu quả của khóa học.

8.3. Về tổ chức các khóa bồi dưỡng:



- 39 -
Thời điểm tổ chức một số khóa bồi dưỡng chưa thật phù hợp,có thể điều chỉnh cho
phù hợp hơn.

Một số báo cáo viên còn ít sử dụng phương pháp mới và các phương tiện kĩ thuật
dạy học trong khóa bồi dưỡng, còn nặng về thuyết trình,diễn giải.Thời gian giành cho
học viên tự làm việc còn chưa nhiều.

- Thời gian thực hành của các khóa bồi dưỡng còn ít do vậy học viên ít có các cơ
hội để rèn luyện các kĩ năng soạn bài giảng, kĩ năng dạy học theo phương pháp dạy
học tích cực.Bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học cần được đầu tư nhiều hơn,
cần có các điều kiện và thời gian thích hợp,các bài minh họa nên nhiều loại hình.

- Một số báo cáo viên còn có sai sót về nội dung,còn có những lúng túng trong
phương pháp,còn nặng về lý giải,diễn thuyết,ít vận dụng các phương pháp dạy học
tích cực.Cần có các khóa bồi dưỡng chuyên đề,đặc biệt chú ý đến phương pháp dạy
học bộ môn,dạy học theo chủ đề tự chọn,về sử dụng trang thiết bị,đồ dùng học tập.

Mức độ phù hợp của mục tiêu, nội dung chương trình của các khóa bồi dưỡng qua
khảo sát thực tế thấp hơn so với kết quả được đánh giá qua hồi cứu các tư liệu.



PHẦN KẾT LUẬN
Kết luận:
Các biện pháp quản lí trên đã góp phần xây dựng,phát triển và nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên cũng như đội ngũ cán bộ quản lí trong nhà trường phổ thông.Các biện
pháp này có mối liên hệ hữu cơ khăng khít với nhau.Biện pháp này bổ trợ cho biện
pháp kia,không hề tách rời nhau trong chức năng hoàn thành một cách tối ưu các mục
tiêu giáo dục mà nhà truờng đã đề ra.
Ngưòi quản lí trong nhà trường cần linh hoạt vận dụng các biện pháp trên cho phù
hợp với hoàn cảnh,đặc điểm và môi trường giáo dục của từng địa phương sao cho công



- 40 -
tác quản lí nhằm xây dựng,phát triển,nâng cao đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí trong
nhà trường đạt kết quả cao nhất.

Mục đích và phương châm bồi dưỡng: Mỗi một trường THPT đều phải tự xây dựng cho
trường một mục đích và phương châm bồi dưỡng riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh.
Các mục đích và phương châm bồi dưỡng phải mang tính cụ thể.

Bồi dưỡng là khâu sau giáo dục và đào tạo,có nhiều hình thức,phương pháp,nội
dung,hình thức…bồi dưỡng khác nhau nhưng chúng đều có mục đích duy nhât là giúp
củng cố,mở rộng kiến thức cho con người,giúp nâng cao tầm hiểu biết.

Kết quả trên phải lấy tự đánh giá là cơ sở chính nhằm giúp học viên tự điều chỉnh việc
tự học để học tập đạt kết quả vì học viên tham gia học tập bồi dưỡng thường xuyên thực
chất là tự học, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên.



Kiến nghị:
a.Đối với cơ quản quản lý nhà nước:
- Cần có kế hoạch giải quyết công ăn việc làm cho thanh niên nhằm giải quyết
đầu ra cho học sinh sau khi tốt nghiệp THPT,giải toả được tâm lý bế tắc về nghề
nghiệp,việc làm sau khi ra trường.
- Ban hành những văn bản pháp quy qui định trách nhiệm của các lực lượng xã
hội,gia đình trong việc quản lý,giáo dục học sinh.
- Tăng cường ngân sách đầu tư về cơ sở vật chất cho giáo dục,chế độ chính sách
cho giáo viên.
- Có chế độ giảm giờ làm cho giáo viên vì hiện nay giáo viên THPT vẫn chưa
được thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ như các ngành khác.
- Đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh chống tham nhũng,các tệ nạn và tiêu cực xã
hội nhằm xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh tạo niềm tin cho thế hệ trẻ vào
tương lai của đất nước.
b.Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo:

- 41 -
- Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo việc biên soạn và ban hành các tài liệu giáo
dục đạo đức,pháp luật cho học sinh THPT,các tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động
ngoài giờ lên lớp,tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác chủ nhiệm lớp để công tác này
sớm đi vào nề nếp
- Bộ Giáo dục và Đào tạo quy ®Þnh tăng thêm số giờ kiêm nghiệm cho GVCN,vì
hiện nay chỉ có 4 tiết/tuần thì chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ mà giáo viên phải
thực hiện.
- Sớm ban hành quy chế phối hợp giữa gia đình,nhà trường,xã hội trong công tác
giáo dục học sinh.
c.Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm,nghiệp vụ công tác chủ nhiệm cho
đội ngũ GVCN vì công tác này lâu nay vẫn bị coi nhẹ.
- Sở Giáo dục nên có bộ phận chuyên theo dõi,chỉ đạo,kiểm tra,đánh giá công tác
chủ nhiệm,công tác giáo dục đạo đức,pháp luật trong các nhà trường để kịp thời biểu
dương,tổng kết kinh nghiệm,nhân điển hình tiên tiến trong lĩnh vực này.
d.Đối với xã hội:
- Tạo môi trường giáo dục thuận lợi cho các nhà trường như: cơ sở vật chất,an
ninh trật tự,phòng chống tệ nạn xã hội để nhà trường hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Sẵn sàng tham gia và kết hợp chặt chẽ cùng nhà trường trong công tác quản
lý,giáo dục học sinh trên địa bàn.
Gia đình học sinh cần có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giáo dục đạo
đức đối với học sinh và trách nhiệm của gia đình trong vấn đề này.Gia đình học sinh
cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường,cùng với nhà trường có các giải pháp nâng cao
chất lượng giáo dục và quản lý mọi mặt hoạt đọng của con em mình.
đ.Đối với Nhà trường ;
Nhà trường cần đầu tư kinh phí cho giáo viên đi tham gia bồi dưỡng,nâng cao trình
độ chuyên môn,nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới giáo dục trong
tình hình mới.

- Các tổ chức quản lí giáo dục phải có những biện pháp kiểm tra đánh giá đúng
thực trạng trình độ của giáo viên để đưa ra các biện pháp bồi dưỡng thích hợp.

- 42 -
- Giáo viên phải có niềm đam mê với công việc và luôn tự bản thân phải bồi dưỡng
lấy kiến thức cũng như kĩ năng để nâng cao nghiệp vụ.

- Yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh,
bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm các
dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức
của học sinh, quan tâm đến mức độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong
từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu kiến thức mới lẫn thực hành, thí nghiệm




- 43 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- PGS.TS Đặng Xuân Hải – Đào Phú Quảng, “Quản lí hành chính
Nhà nước về giáo dục đào tạo”, tập bài giảng, Hà Nội 2008.

2- Bộ giáo dục và đào tạo, “Luật giáo dục năm 2005”, NXB Giáo dục,
năm 2007.

3- http://www.hed.edu.vn/

4- http://www.moet.gov.vn/

5- http://www.edu.net.vn/




- 44 -
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản