Tiểu luận "Những thành tựu của CNXH và nguyên nhân lâm vào khủng hoảng trong thời gian vừa qua"

Chia sẻ: Nguyễn Tuấn | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:3

2
1.381
lượt xem
219
download

Tiểu luận "Những thành tựu của CNXH và nguyên nhân lâm vào khủng hoảng trong thời gian vừa qua"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giớí ra đờì cho đến nay đã gần 90 năm (1917-2006). Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô và các nước XHCN ở bên cạnh đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, có ý nghĩa lịch sử và có ý nghĩa quốc tế thì còn có một số khuyết, nhược điểm chậm được phát hiện và khắc phục cho nên đã gây ra sự trì trệ về kinh tế - xã hội rồi sau đó dẫn đến khủng hoảng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận "Những thành tựu của CNXH và nguyên nhân lâm vào khủng hoảng trong thời gian vừa qua"

  1. U bi Đề bài: Những thành tựu của CNXH và nguyên nhân làm cho CNXH lâm vào khủng hoảng trong thời gian vừa qua? Làm bài: Không những trên lĩnh vực kinh tế mà ở lĩnh vực văn hoá, khoa học công nghệ các Chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giớí ra nước XHCN cũng đã đạt được nhiều thành đờì cho đến nay đã gần 90 năm (1917-2006). tựu to lớn đáng tự hào. Trước khi cách mạng Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội XHCN thành công thì hầu hết các nước này (CNXH) ở Liên Xô và các nước XHCN ở bên trình độ học vấn của nhân dân còn rất thấp cạnh đạt được những thành tựu to lớn về nhiều kém, số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn (nước mặt, có ý nghĩa lịch sử và có ý nghĩa quốc tế thì Nga trước cách mạng tháng Mười có đến trên còn có một số khuyết, nhược điểm chậm được 75% số người mù chữ) thế mà sau một thời phát hiện và khắc phục cho nên đã gây ra sự trì gian xây dựng CNXH trình độ học vấn của trệ về kinh tế - xã hội rồi sau đó dẫn đến khủng người dân các nước XHCN tương đối cao và hoảng đồng đều (năm 1987 Liên Xô có 154 triệu Thành tựu nổi bật của các nước xã hội người có trình độ học vấn từ trung học phổ chủ nghĩa (XHCN) là xoá bỏ chế độ người bóc thông trở nên). Trong lĩnh vực khoa học công lột người, đưa nhân dân lao động lên làm chủ đất nghệ Liên Xô và một số nước XHCN cũng nước, quản lý xã hội. Chính vì lẽ đó, Hồ Chí đạt được một số thành tựu đáng trân trọng. Ở Minh đã từng khẳng định nước Nga có chuyện lạ giai đoạn đầu Liên Xô luôn là nước đi đầu đời, đem người nô lệ thành người tự do. Đi cùng trong việc nghiên cứu, chinh phục vũ trụ. Năm với việc xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp, 1957 Liên Xô phóng thành công Vệ tinh nhân CNXH còn thiết lập 1 quan hệ quốc tế bình đẳng tạo, năm 1961 có người bay vào vũ trụ trên tàu giữa các quốc gia, dân tộc. Điều này, hoàn toàn Phương Đông I. Một sự kiện đáng ghi nhớ vào xa lạ với việc dân tộc này áp bức, bóc lột dân tộc ngày 4/3/1961 lần đầu tiên trên thế giới Liên khác như trước đây. Quan hệ quốc tế trước Xô đã dùng tên lửa V1000 bắn trúng tên lửa ở XHCN luôn luôn là cá lớn nuốt cá bé; nước tầng bình lưu. Điều đó chứng tỏ kỹ thuật máy mạnh, nước lớn thống trị nước nhỏ, nước yếu. tính của Liên Xô lúc đó rất khá. Sự kiện này CNXH ra đời đã xây dựng một mối quan hệ quốc phải mất mấy chục năm sau Mỹ mới đạt tế hoàn toàn mới, tốt đẹp, tạo điều kiện cho các được. quốc gia, dân tộc giúp đỡ lẫn nhau để cùng phát Không chỉ thu được nhiều thành tựu triển. trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội mà ngày Bên cạnh đó, trong khoảng giữa những trên lĩnh vực quân sự, quôc phòng các nước năm 50 và 60 của thế kỉ XX mặc dầu phải trải XHCN cũng gặt hái được nhiều kết quả to qua chiến tranh thế giới thứ II , chịu hậu quả lớn. Nhờ vậy các nước XHCN đã bảo vệ nặng nề nhưng các nước XHCN nhờ bản chất được thành quả của cách mạng, bảo vệ được chế độ xã hội tốt đẹp lại động viên được tinh nền hoà bình thế giới, chỗ dựa cho phong trào thần hăng say của nhân dân lao động nên đã đạt cách mạng thế giới. được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế. Những thành tựu to lớn mà các nước Trong vòng 20 năm đó tốc độ tăng trưởng kinh tế XHCN giành được trong thời gian qua là hết của các nước XHCN đạt được mức trung bình sức đáng trân trọng, đáng ghi nhận, có ý nghĩa trên 7%/năm. Trong khoảng 30 năm gần đây, lịch sử và ý nghĩa quốc tế. Tuy nhiên, bên Trung Quốc luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cạnh đó, trong quá trình xây dựng CNXH ở kinh tế xấp xỉ 9%/năm (Năm 1993 đạt 13.4%), Liên Xô và các nước XHCN khác vẫn còn một Việt Nam được xem là nước phát triển cao thứ số yếu khuyết, nhược điểm chậm được phát hai Châu Á (sau Trung Quốc) đã gần 20 năm nay hiện và khắc phục cho nên đã gây ra sự trì trệ giữ tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 8%/năm.
  2. về kinh tế, xã hội rồi sau đó dẫn đến khủng sản phẩm tiêu dùng CNXH công bằng, hợp lý hoảng trong thời gian trước đây. hơn CNTB nên sự cách biệt giàu nghèo trong Trước hết, các nước XHCN đã thực hiện CNXH có nhưng không lớn. Tuy nhiên, một sự sự tấp trung quá mức cần thiết: tập trung quan công bằng, hợp lý vượt quá giới hạn cần thiết liêu. Điều đầu tiên cần phải khẳng định rằng thì sẽ dẫn đến chủ nghĩa bình quân. Chủ nghĩa CNXH muốn tồn tại, phát triển thì cần phải có bình quân trong CNXH gây ra hậu quả: làm sự tập trung ở mức độ nhất định, mức độ cần cho người lao động không quan tâm đến sản thiết. Những sai lầm của CNXH đã thực hiện sự xuất, biến người lao động tích cực trở thành tập trung quan liêu. Chính điều này dấn tới kẻ chây lười ăn bám xã hội. Chủ nghĩa bình những hậu quả tai hại cho sự nghiệp xây dựng quân và hậu quả của nó được thấy rõ nhất khi CNXH. Hậu quả đầu tiên là làm cho bộ máy nhà chúng ta hoàn thành sự nghiệp giải phóng nước cồng kềnh, đồ sộ thì hiệu lực quản lý của miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi nó sẽ kém hiệu quả, vì nó chồng chéo nhau, dẫn vào xây dựng CNXH nhưng ở các hợp tác xã đạp lên nhau. Để thấy mức độ cồng kềnh của bộ nông nghiệp vẫn thực thi nguyên tắc phân máy nhà nước ở các nước XHCN, chúng tôi xin phối lương thực: tối thiểu 13 kg thóc tối đa 18 đưa ra số liệu sau (theo Ban tổ chức chính phủ kg thóc. năm 1999): Nếu ở Mỹ bộ máy hành chính tính Khuyết, nhược điểm thứ ba mà các trung bình 1 cán bộ/100 dân, ở Singapo 1 cán nước XHCN trước đây đã mắc phải là chậm bộ/500 dân thì ở Việt Nam 1 cán bộ/63 dân, ở trễ trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Trung Quốc 1 cán bộ/45 dân. Hậu quả thứ hai Vào những năm 70 của thế kỷ XX, lúc đó thế của sự tập trung quan liêu là nhà nước kiểm soát giới lâm vào 1 cuộc khủng hoảng kinh tế - xã quá mức cần thiết đối với các đơn vị sản xuất, hội. Đứng trước cuộc khủng hoảng thiếu này kinh doanh. Sự kiểm soát đó được thể hiện thông CNTB (nhất là các nước TBCN phát triển cao) qua chỉ tiêu kế hoạch nhà nước. Một xã hội hiện đã nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu sản xuất: đại muốn tồn tại và phát triển vững chắc thì cần phát triển các ngành tiêu tốn ít nguyên,nhiên, phải có kế hoạch. Nhưng sai lầm của CNXH là ở vật liệu; phát triển sản xuất theo chiều sâu chỗ: trước đây chúng ta xây dựng kế hoạch từ ý (đầu tư đổi mới công nghệ, sử dụng công muốn chủ quan, kế hoạch đó lại được ấn từ trên nghệ tiên tiến hiện đại). Chính vì lẽ đó CNTB xuống. Cho nên có nhiều trường hợp càng hoàn dần hồi phục và phát triển. Trong khi đó các thành vượt mức kế hoạch bao nhiêu thì hậu quả nước XHCN ít chịu ảnh hưởng của cuộc kinh tế càng kém bấy nhiêu, thậm chí gây ra khủng hoảng, thậm chí còn được lợi (điển những hậu quả xấu khó lường cho xã hội. Ở hình là Liên Xô thu được món lợi nhuận Trung Quốc có thời bắt nông dân phải sản xuất khổng lồ 60 tỷ USD nhờ giá dầu mỏ tăng trên gang thép với chỉ tiêu kế hoạch rất cao. Cho nên thị trường thế giới). Hơn nữa, lúc đó các nước nông dân không có điều kiện, thời gian để sản XHCN lại quan niệm sản xuất lớn là quy mô xuất lương thực nên nạn đói đã xảy ra trên diện phải to (nhà máy, công xưởng đồ sộ; số lượng rộng, thời gian dài gây nên cảnh hàng chục triệu công nhân đông hàng vạn người). Bởi vậy, các người chết đói. Sự tập trung quan liêu đó đã tạo nước XHCN ngày càng ra sức phát triển sản điều kiện cho cán bộ lạm dụng chức quyền nên xuất theo chiều rộng, trong khi các nước TB ra dẫn đến tệ đặc quyền đặc lợi. Hậu quả này ở sức phát triển theo chiều sâu cho nên kết cục các nước XHCN nào cũng có nhưng nó rõ nét tất yếu dẫn tới trình độ khoa học công nghệ nhất là ở Rumani thời XêauXêcu cầm quyền. của các nước XHCN ngày càng tụt hậu so vơí Khuyết, nhược điểm thứ hai mà các nước CNTB. Năm 1985 trình độ khoa học kỹ thuật XHCN mắc phải là việc thực hiện chủ nghĩa của Liên Xô lạc hậu 15 năm so với các nước bình quân trên thực tế. Chủ nghĩa bình quân trong phương Tây, còn các nước XHCN khác chắc CNXH nó được nảy sinh, hình thành từ mặt tốt chắn khoảng cách đó sẽ còn lớn hơn nhiều. của CNXH. Trước đây, trong lĩnh vực phân phối Một khi trình độ khoa học công nghệ của các nước XHCN lạc hậu hơn so với các nước 2
  3. TBCN thì các nước XHCN sẽ không có năng - Hình thức sở hữu thiếu đa dạng, phong suất cao, chất lượng hàng hoá tốt, giá cả hạ phú. được. Vì lẽ đó, tính cạnh tranh của nền kinh tế - Phủ nhận hoặc coi nhẹ nền kinh tế các nước XHCN yếu kém so với CNTB. Có hàng hoá, thị trường. người xem đây là cội nguồn của sự khủng hoảng say này. - Cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu. Cuối cùng sự trì trệ, khủng hoảng về kinh tế-xã hội của các nước XHCN thời gian qua - Hệ thống chính trị cũng tập trung quan còn do sự duy ý chí, cứng nhắc, chủ quan. Biểu liêu. hiện của vấn đề này đó là việc các nước XHCN Cho nên đã làm suy yếu nền dân chủ đã tự đề ra quy luật rồi buộc quá trình xây dựng XHCN, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng CNXH phải tuân thủ; việc tất cả các nước đều Cộng sản cầm quyền với nhân dân. Một nguy xây dựng theo mô hình duy nhất: mô hình Liên cơ mà trước đây Lênin đã từng cảnh tỉnh các Xô. Năm 1957 đại diện 12 Đảng Cộng sản cầm Đảng Cộng sản. quyền đã có Hội nghị tại Matxcova. Tại Hội nghị đó các Đảng Cộng sản đã tự đề ra 9 quy luật và Việc nhận thức đúng, đầy đủ những bắt buộc sự nghiệp xây dựng CNXH phải tuân thành tựu của các nước XHCN cũng như thủ. Điều này làm hạn chế sự nghiệp xây dựng những nguyên nhân làm cho CNXH lâm vào trì CNXH. Tất cả các nước XHCN trước đây còn trệ, khủng hoảng về kinh tế - xã hội trong xây dựng theo một mô hình duy nhất, mô hình thời gian trước đây là hết sức cần thiết. Thấy Liên Xô. Trước hết phải thấy rằng mô hình này rõ những thành tựu của CNXH để ta thấy nó đúng cho Liên Xô nhưng đúng trong giai đoạn được mặt tốt, bản chất ưu việt của CNXH lịch sử nhất định. Việc duy trì mô hình này quá nhưng đồng thời phải thấy cả những mặt kìm lâu ở Liên Xô, hơn nữa nó lại được áp dụng y hãm, những khuyết nhược điểm của CNXH nguyên vào các nước XHCN trong 1 thời gian dài, để chúng ta không bao giờ ngủ quên trước bất chấp điều kiện lịch sử cụ thể của các nước thực tế, không say sưa với thắng lợi. Thấy rõ, khác nhau. Chính điều này đã làm cho những hạn thấy đầy đủ cả mặt tốt và mặt hạn chế để chế của mô hình Liên Xô càng có điều kiện bộc chúng ta xác định rõ hơn, đúng đắn hơn con lộ, làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp xây đường đi tới cho CNXH. Chỉ trên cơ sở phát dựng CNXH ở các nước. Đánh giá về mô hình huy các thành các thành tựu đã có; sửa chữa, Liên Xô người ta thấy nó có 5 hạn chế sau: khắc phục những khuyết nhược điểm đã mắc phải CNXH tự hoàn thiện mình trong quá trình - Cải tạo XHCN nóng vội, đốt cháy giai phát triển đó là con đường giúp CNXH không đoạn. ngừng lớn mạnh. 3

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản