Tiểu luận "Ô nhiễm nước"

Chia sẻ: spring_0990

Nước là nguồn tài nguyên quý báu và hết sức thiết yếu đối với sự sống trên trái đất. Thực tiễn chỉ ra rằng quốc gia nào quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, trong đó có việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước, thường xuyên bảo đảm cho nguồn nước trong sạch, thì hạn chế được nhiều dịch bệnh, chất lượng cuộc sống được nâng lên. Bởi vậy, ở nước ta, một mặt khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất, xây dựng, nhưng mặt khác cần coi trọng việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt sạch. ...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận "Ô nhiễm nước"

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Thùy Dung (532389)

Nguyễn Thị Thúy Hà (532400)

Nguyễn Thị Thanh Huyền (532422)

Võ Thị Thu Hoài (532417)

A / Đặt vấn đề

Nước là nguồn tài nguyên quý báu và hết sức thiết yếu đối với sự sống trên trái đất.
Thực tiễn chỉ ra rằng quốc gia nào quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, trong đó
có việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước, thường xuyên bảo đảm cho nguồn
nước trong sạch, thì hạn chế được nhiều dịch bệnh, chất lượng cuộc sống được nâng
lên. Bởi vậy, ở nước ta, một mặt khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất, xây dựng,
nhưng mặt khác cần coi trọng việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt sạch. Nhà nước có
chiến lược phát triển bền vững nguồn nước, nhưng mỗi tổ chức, cá nhân trong cộng
đồng cần nâng cao ý thức sử dụng hợp lý và bảo vệ, giữ gìn sự trong sạch của nguồn
nước sinh hoạt, hạn chế tình trạng nguồn nước bị nhiễm bẩn không đáng có. Ðối với
người dân vùng lũ lụt, sau nước rút, môi trường sống, nhất là nguồn nước bị ô nhiễm
nặng. Ði liền với công tác vệ sinh, dọn sạch bùn đất, ngành y tế cung ứng đủ Clo-ra-
min B cho các hộ gia đình diệt khuẩn, bảo đảm có nguồn nước sinh hoạt. Ðiều đó
cũng có nghĩa góp phần loại trừ các loại dịch bệnh nguy hiểm, bảo vệ và nâng cao sức
khỏe người dân.

Vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nước nói riêng luôn là vấn đề nhức
nhối của toàn thế giới,mặc dù đã có nhiều biện pháp, nhiều chương trình hành động
nhưng thực sự vẫn chưa đạt được nhiều kết quả. Là những sinh viên khoa tài nguyên
môi trường chúng em lựa chon tìm hiểu về vấn đề này mong sẽ có thu thập thêm được
nhiều thông tin bổ ích, tích lũy thêm kiến thức cho bản thân và giúp mọi người hiểu
nhiều hơn về sự ô nhiễm nguồn nước hiện nay.

B / GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm ... bị các
hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc
sống các sinh vật trong tự nhiên.

Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các
sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí... Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của
nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống
các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng
tránh từ đầu.

Cơ chế và ảnh hưởng của ô nhiễm nước thì được biết rõ. Chủng loại các
loại ô nhiễm, cách tác động sinh học của chúng đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên,
vấn đề là những chất rắn có thể hoà tan hay lơ lững trong nước sẽ được mang đi xa
nguồn thải. Do sự đồng nhất của môi trường nước, các chất gây ô nhiễm gây tác động
lên toàn bộ sinh vật ở dưới dòng, đôi khi cả đến vùng ven bờ và vùng khơi của biển.
Vấn đề đặc biệt nữa là nước là dung môi của nhiều chất, nước chảy qua những địa
hình thấp và vùng nghèo O2 hoà tan. Nhiệt độ càng cao thì O2 hòa tan càng ít.



Nhiệt Nồng độ O2 bão hòa trong nước Trongnước biển
độ ngọt (2%NaCl)
Thể Trọng
tích( cm3/l) lượng(mg/l) (thể tích)cm3/l
o
0C 10,24 14,16 7,97
5oC 8,98 12,37 7,07
10oC 7,96 10,92 6,35
15oC 7,15 9,76 5,79
20oC 6,50 8,84 5,31
25oC 5,95 8,11 4,86
30oC 5,48 7,53 4,46

Ðiều này chứng tỏ rằng O2 là nhân tố hạn chế trong môi trường nước.

Từ đó ta thấy:
- Ðộng vật thuỷ sinh phải có sự trao đổi khí qua mang rất mạnh, dễ bị ảnh hưởng của
ô nhiễm hoá học.

- Chúng có thể thiếu O2 khi nhiệt độ gia tăng, nhất là vào mùa hè, lưu lượng nước
sông ít, nhiệt độ cao.

- Dao động nhiệt của nước sông ít, đa số sinh vật là hẹp nhiệt.

Các đặc điểm trên cho thấy là môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các ô nhiễm từ đất,
không khí đều có thể làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người và
các sinh vật khác.

1. Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới

Ô nhiễm nước đang là vấn đề đáng báo động trên thế giới hiện nay. Đặc biệt là các
nước phát triển.cùng với sự phát triển thì các khu công nghiệp.nhà máy…đã thải ra
môi trường hang loạt các lượng chất thải độc hại.làm cho nguồn nước ở đây bị ô
nhiễm trầm trọng. Đây là một số ví dụ điển hình:


Tại Sukinda, Ấn Độ, các nữ công nhân
phải tiếp xúc với nước nhiễm bẩn cực
nặng. Hậu quả của nó là tình trạng
vô sinh, thai nhi bị dị tật và chết lưu.



Hàm lượng thủy ngân trong nước ngầm ở Vapi, Ấn Độ, cao
gấp 96 lần so với tiêu chuẩn sức khỏe do Tổ chức Y
tế Thế giới quy định.

\Những nơi ô nhiễm nhất trên thế giới
Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tai công ty
Aurul ( Rumani) đã thải ra 50-100 tấn xianu và kim
loại nặng (như đồng) vào dòng sông gần Baia Mare
( thuộc vùng Đông- Bắc). Sự nhiễm độc này đã khiến
các loài thuỷ sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ
thực vật và làm bẩn nguồn nước sạch, ảnh hưởng
đến cuộc sống của 2,5 triệu người.

Năm 1984, Bhopal (Ấn Độ) là nơi đã xảy ra một tai
nạn kinh hoàng khi nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu
Union Carbide India. thải ra ngoài môi trường 40 tấn
izoxianat và metila. Theo viiện Blacksmith, chính
lượng khí độc hại này đã gây ảnh hưởng không nhỏ
đến sức khoẻ của hàng trăm nghìn người dân và khiến
15.000 người tử vong. Thật đáng lo ngại khi vấn đề ô
nhiễm ở khu vực này vẫn chưa được giải quyết một
cách triệt để. Người ta nghi ngờ rằng các mạch nước
ngầm đã bị nhiễm độc.
Nằm tại khu vực chính giữa đất nước Trung Quốc,
dòng sông Huai dài 1978 km được coi
như nơi ô nhiễm nhất của nước này do các chất thải
công nghiệp, động vật và nông nghiệp, Mức độ mắc
các bệnh cao bất thường của cộng đồng dân cư sống
gần lưu vực sông đã khiến chính phủ phải xếp nguồn
nước của con sông ở mức độ ô nhiễm độc hại nhất.
Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc hiện đang cùng với
Ngân hàng thế giới nỗ lực giải quyết tình trạng này.
Marilao( Philipine) Hệ thống các sông gần vùng
ngoại ô tỉnh Bulacan ở Philipines là nơi lưu thông hàng
hoá cho các khu vực thuộc da, tinh chế kim loại, đúc
chì. Các chất ô nhiễm gây ra các vấn đề về sức khoẻ
cho cư dân trong vùng và xa hơn nó còn gây hại tới
2. Tình trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam :

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc
thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm
nước là vấn đề rất đáng lo ngại.

Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày
càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều
đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và
chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô
nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm
nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may,
ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11;
chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến
700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần giới hạn cho
phép.

Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S
vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm
nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.

Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập
trung là rất lớn.

Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm
bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày
từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công
nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác
than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm
khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm
lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó
chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc
Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm
nguồn nước và môi trường trong khu vực.

Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh. ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập
trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất
nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn
chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không
thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức
độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.

ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 -400.000 m3/
ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng
nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh
hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ,
kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các
sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh
thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý
nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.

Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng,
Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý
độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép
(TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-
10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.

Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay
Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc
hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm
xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và
vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng
ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu.

Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn
nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước
và sức khoẻ nhân dân.

Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng
thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu
quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới
môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất
trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho
môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây
bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở
một số vùng ven biển Việt Nam.

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường
nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ
sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn
chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường.
Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách
nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô
nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó
khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa
có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn
nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa
đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy
hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ
lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ
môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ
môi trường nước.
Vấn đề môi trường đặc biệt là nguồn nước ở thế giới nói chung cũng như ở Việt
Nam nói riêng đang ở mức đáng báo động.Đang cần kêu goi các tổ chức cá nhân chung
tay góp sức cần có những biện pháp giảm thiểu hạn chế…….

II/ Nguyên nhân gây ô nhiễm nước

II.1 / Ô nhiễm do hoạt động tự nhiên

Là sự ô nhiễm do mưa, tuyết tan, gió, bão, lũ lụt. Ô nhiễm này còn được gọi là ô
nhiễm không xác định nguồn gốc.

Nguyên nhân nguồn nước nhiễm bẩn là do thảm thực vật phục hồi sau khi rừng tự
nhiên bị chặt phá chưa đủ để giảm thiểu tác động của dòng chảy do nước mưa, dẫn
đến đất bị xói mòn, rửa trôi làm tăng độ đục của sông chảy qua địa bàn dân cư ảnh
hưởng đến công trình nước tự chảy cung cấp cho người dân.
II.2 /Ô nhiễm do hoạt động nhân tạo

Là sự thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng. Chủ yếu do xả nước thải từ các
vùng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,
phân bón trong nông nghiệp

II.2.1 / Ô nhiễm nước do hoạt động của các khu công nghiệp

Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra sông làm ô nhiễm
nước mặt, nước ngầm và các vùng cửa sông, bồ biển

Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm
giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.

Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như muối sắt,
mangan, clor tự do, hydro sulfur, phènol... làm cho nước có vị không bình thường. Các
chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ. Thanh tảo làm nước có mùi bùn,
một số sinh vật đơn bào làm nước có mùi tanh của cá.
Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều có nước
thải chứa protein. Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng bị phân hủy cho ra
acid amin, acid béo, acid thơm, H2S, nhiều chất chứa S và P, có tính độc và mùi khó
chịu. Mùi hôi của phân và nước cống chủ yếu là do indol và dẫn xuất chứa methyl của
nó là skatol.

Các nhà máy giấy thải ra nước có chứa nhiều glucid dễ dậy men. Một nhà máy trung
bình làm nhiễm bẩn nước tương đươngvới một thành phố 500.000 dân.

II.2.2 / Ô nhiễm nước do nước thải từ các khu dân cư

Sự ô nhiễm này là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được: sự thải sinh hoạt
hoặc kỹ nghệ có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu.

Cuộc sống của nhân dân được cải thiện, nhu cầu xả rác cũng không ngừng tăng, trong
khi đó, ý thức vệ sinh công cộng của bộ phận dân chưa thực sự tốt, cơ sở hạ tầng
yếu kém, dịch vụ môi trường chưa phát triển nên khả năng xử lý ô nhiễm môi trường
hạn chế.

Theo số liệu thống kê tại Hà Nội, tổng lượng nước thải ngày đêm lên tới (350 – 45)
ngàn m3, trong đó lượng nước thải công nghiệp là (85 – 90) ngàn m3. Tổng khối
lượng chất thải sinh hoạt từ (1.800 – 2.000) m3/ngày đêm, trong khi đó lượng thu gom
chỉ được 850 m3/ngày, phần còn lại được xả vào các khu đất ven các hồ, kênh mương
trong nội thành, nói chung các chất thải đều không qua xử lý nên gây ô nhiễm; chỉ số
oxy sinh hoá (BOD); oxy hoà tan; các chất NH4; NO2; NO3; vượt quá quy định nhiều
lần. nước ở các sông nội thành như Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ, sông Kim Ngưu có
màu đen và hôi thối. Sông Nhuệ chịu ảnh hưởng nước thải của thành phố Hà Nội có
các loại độc chất như: phenol hàm lượng cao gấp 10 lần so với tiêu chuẩn nước ăn
uống sinh hoạt; hàm lượng chất hữu cơ, có vi khuẩn gây bệnh cao; oxy hoà tan thấp...
Có thể nói nước sông Nhuệ đoạn thuộc Hà Nội – Hà Tây là không bảo đảm chất
lượng cấp nước cho ăn uống sinh hoạt.

II.2.3 / Ô nhiêm nước do các hoạt động nông nghiệp
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng lo ngại. Khi
phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất cây trồng và chất
lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt. Nhưng các cây trồng chỉ sử dụng
được khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt
hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí ở các lớp
nước ở dưới.

Sự sử dụng nông dược để trừ dịch hại, nhất là phun thuốc bằng máy bay làm ô nhiễm
những vùng rộng lớn. Các chất này thường tồn tại lâu dài trongmôi trường, gây hại
cho nhiều sinh vật có ích, đến sức khỏe con người. Một số dịch hại có hiện tượng
quen thuốc, phải dùng nhiều hơn và đa dạng hơn các thuốc trừ sâu.

Ngoài ra các hợp chất hữu cơ khác cũng có nhiều tính độc hại. Nhiều chất thải độc
hại có chứa các hợp chất hữu cơ như phenol, thải vào nước làm chết vi khuẩn, cá và
các động vật khác, làm giảm O2 tăng hoạt động vi khuẩn yếm khí, tạo ra sản phẩm
độc và có mùi khó chịu như CH4, NH3, H2S...

II.2.4 / Ô nhiễm do khai thác khoáng sản

Các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg là
những chất độc cho thủy sinh vật.

Khai thác tài nguyên dẫn đến môi trường nước bị ô nhiễm và cạn kiệt

Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản (HĐKS) phát
triển một cách ồ ạt, gây những tác động tiêu cực tới môi trường, đặc biệt gây ô nhiễm
và suy thoái nguồn nước sản xuất nông nghiệp.

Trong HĐKS, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho hầu hết công đoạn sản
xuất. Quá trình sản xuất, tháo khô mỏ, đổ thải, v.v..., đã gây những tác động tiêu cực
tới nguồn nước sản xuất nông nghiệp ở khu vực xung quanh khai trường.

Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan
nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất
đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải
không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy
tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên,... là những tác động hoá học làm thay đổi tính
chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ.

Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng cao các ion kim loại nặng, á kim, các hợp
chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ... cao hơn so với nước mặt và nước biển khu
vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần. Đặc biệt là khu vực từ Quảng Yên đến
Cửa Ông. Sự biến đổi chất lượng nguồn nước, tải lượng một số chất thải trong nước
tháo khô các mỏ than.

Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục nước
bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng.

Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, CN-...; ngoài
ra, các nguyên tố kim loại nặng cộng sinh như asen, antimoan, các loại quặng sunfua,
có thể rửa lũa hoà tan vào nước.

II.2.5 Ô nhiễm nước do các hoạt động giao thông vận tải

Hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu
là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước. ước tính khoảng 1 tỷ tấn
dầu được chở bằng đường biển mỗi năm. Một phần của khối lượng này, khoảng 0,1 -
0,3% được ném ra biển một cách tương đối hợp pháp: đó là sự rửa các tàu dầu bằng
nước biển. Các tai nạn đắm tàu chở dầu là tương đối thường xuyên. Ðã có 129 tai nạn
tàu dầu từ 1973 - 1975, làm ô nhiễm biển bởi 340.000 tấn dầu (Ramade, 1989). Ước
tính có khoảng 3.6 triệu tấn dầu thô thải ra biển hàng năm (Baker,1983). Một tấn dầu
loang rộng 12 km2 trên mặt biển, do đó biển luôn luôn có một lớp mỏng dầu trên mặt
(Furon,1962).Sự thải dầu nhớt xe tàu, hoặc là do vô ý làm rơi vãi xăng dầu. Tốc độ
thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm.
Khoảng 1,6 triệu tấn hydrocarbon do các con sông của các quốc gia kỹ nghệ hóa thải
ra vùng bờ biển
Từ những nguyên nhân trên ta thấy ý thức của con người là nguyên nhân chính
dẫn đến sự ô nhiễm môi trường nước. Tài nguyên không phải là vô tận, với sự khai
thác một cánh bừa bãi, tràn lan, chạy theo lợi ích kinh tế thị trường không có những
biện pháp xử lý thích hợp như hiên nay thì việc nguồn nước bị ô nhiễm ngày một trầm
trọng là điều tất yếu xảy ra. . Nếu con người không nhận thức được tầm quan trọng
của nguồn nước đối với cuộc sống thì trong một tương lai không xa nguồn tài nguyên
này sẽ cạn kiệt

III. HẬU QUẢ CỦA Ô NHIỄM NƯỚC

1.Do chất thải giàu chất dinh dưỡng

a. Ở các vực nước chảy

-Sự thải các chất hữu cơ sẽ gây một sự xáo trộn toàn bộ hệ sinh thái với sự xuất hiện
4 vùng dọc theo dòng nước.

- Vùng pha trộn giữa nước sông và nước thải.

- Vùng phân hủy tích cực, ở đó nấm và vi khuẩn sinh sôi và phân huỷ chất hữu cơ.
Nếu tất cả O2 được sử dụng hết, vùng này sẽ trở nên hôi thối.

- Kế đến sẽ là vùng phục hồi, nước sẽ được làm giảm lượng chất ô nhiễm.

- Vùng nước sạch trở lại sau khi phục hồi.

Người ta có thể xem sự ô nhiễm một con sông với một hệ thống dậy men liên tục
với khả năng tự thanh lọc. Sự thanh lọc này được hiểu theo nghĩa loại trừ các chất
hữu cơ ở dạng sinh hoạt hay hoà tan.

b. Các vực nước đứng (hồ, ao, đầm lầy...)

Thường bị lấp đầy nhanh chóng do sự phát triển mau lẹ của thực vật và các sinh vật
khác. Sự việc gọi là phú dưỡng hoá (eutrophisation), do sự gia tăng độ phì nhiêu của
nước bởi các nhân tố dinh dưỡng nhất là nitrat, phosphat làm sinh sôi nảy nở các phiêu
sinh thực vật và các sinh vật thuỷ sinh. Quá trình làm sự trầm tích tăng nhanh: hồ hẹp
lại dần và cạn đi.

2. Do chất thải độc hại

a. Ðộc tố của ô nhiễm hoá học chính

Sự sử dụng nông dược để trừ dịch hại, nhất là phun thuốc bằng máy bay làm ô nhiễm
những vùng rộng lớn. Các chất này thường tồn tại lâu dài trongmôi trường, gây hại
cho nhiều sinh vật có ích, đến sức khỏe con người. Một số dịch hại có hiện tượng
quen thuốc, phải dùng nhiều hơn và đa dạng hơn các thuốc trừ sâu.

Ngoài ra các hợp chất hữu cơ khác cũng có nhiều tính độc hại. Nhiều chất thải độc
hại có chứa các hợp chất hữu cơ như phenol, thải vào nước làm chết vi khuẩn, cá và
các động vật khác, làm giảm O2 tăng hoạt động vi khuẩn yếm khí, tạo ra sản phẩm
độc và có mùi khó chịu như CH4, NH3, H2S...

Thuốc tẩy rữa tổng hợp rất độc cho người và vi khuẩn nước.

b. Nông dược

Muối đồng, các chromates rất độc cho tảo với nồng độ nhỏ ở mức ppm. Thuốc
trừ cỏ rất độc với phiêu sinh thực vật. Thuốc trừ cỏ gốc urê (Monuron, Diuron) cản
ngăn sự tăng trưởng của Phytoflagellata ở nồng độ thấp ở mức ppb.

Ðáïng ngạc nhiên là thuốc sát trùng cũng độc đối với phiêu sinh thực vật. DDT và các
thuốc trừ sâu khác ngăn cản quang hợp của phiêu sinh thực vật và sự nẫy mầm của
các tiếp hợp bào tử (zygospores) của tảo lục Chlorophyceae.

Các thuốc sát trùng thường có độc tố cao đối với động vật có xương sống máu lạnh
và các động vật không xương sống. Thuốc sát trùng thường đôcü hơn thuốc diệt
cỏ và thuốc trừ nấm trong lĩnh vực này.
Các nông dược sử dụng để trừ muỗi và xịt trong ruộng lúa có nồng độ sử dụng cao
hơn CL 50 nhiều lần.

Nông dược còn làm xáo trộn sự tạo phôi và phát triển hậu phôi của động vật
có xương sống thủy sinh. Lindane và Fenthion cản trở sự biến thái của nòng nọc ếch.
Thuốc trừ cỏ có vẻ vô hại như Aminotriazole ảnh hưởng lên tuyến sinh dục và làm
bất thụ cá. Parathion gây tổn thương noãn sào cá nước ngọt.

Các thông số dùng để xác định ảnh hưởng một chất ô nhiễm đối với động vật
thuỷ sinh thường là CL 50, CL 100 (concentration létale, nồng độ gây chết), CI 50
(concentration d'immobilisation, nồng độ gây bất động), TLm và TL 50 (temps létal,
thời gian gây chết).

c. Các Hydrocarbons

Gây tổn thất cao cho các quần xã sinh vật. Tai nạn đấm tàu dầu "Torrey-Canyon"
và "Amoco-Cadiz" là những thì dụ đáng giá cho kiểu tai hoạ cho sinh vật biển bởi sản
phẩm dầu. Cá, tôm, cua, balanes chết hầu hết. Chim biển là nhũng nạn nhân đầu tiên
và dễ thấy của tai nạn dầu.

Sau khi bốc hơi, các phần dễ bốc hơi dầu tràn ở trên sẽ bị phân hủy sinh học bởi vi
khuẩn và nấm. Sau đó, chúng sẽ đóng thành viên 0,1- 10cm và dạt vào bờ.

Ngày nay, biển và đại dương đầy những cặn bã trên.

d. Thủy ngân (Hg)

Là chất ít có trong tự nhiên, nhưng ô nhiễm thủy ngân rất đáng sợ. Thủy ngân ít
bị phân hủy sinh học nên có khuynh hướng tích tụ trong sinh vật thông qua chuỗi và
lưới thức ăn. Rong biển có thể tích tụ lượng thủy ngân hơn 100 lần trong nước; cá thu
có thể chứa đến 120 ppm Hg/kg.

Bệnh Minamata, Nhật, do một xí nghiệp thải ra vịnh Minamata chất CH3Hg là độc
cho sinh vật và người. Người và gia súc ăn cá và hải sản đánh bắt ở vùng này trở thành
nạn nhân của ô nhiễn do công nghệ hiện đại. Ðã có hàng trăm người chết, và hàng
ngàn người bị thương tật suốt đời (Ramade, 1987).

Việt Nam: Một báo cáo toàn cầu mới được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố cho
thấy, mỗi năm Việt Nam có hơn 20.000 người tử vong do điều kiện nước sạch và vệ
sinh nghèo nàn và thấp kém. Còn theo thống kê của Bộ Y tế, hơn 80% các bệnh truyền
nhiễm ở nước ta liên quan đến nguồn nước. Người dân ở cả nông thôn và thành thị
đang phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do môi trường nước đang ngày một ô nhiễm
trầm trọng.

Nguồn nước ô nhiễm nặng.

Hiện nay, trong tổng số 134 khu công nghiệp, khu chế xuất đã đi vào hoạt động
ở nước ta mới chỉ có 1/3 khu công nghiệp, chế xuất có hệ thống xử lý nước thải.
Nhiều nhà máy vẫn dùng công nghệ cũ, có khu công nghiệp thải ra 500.000 m3 nước
thải mỗi ngày chưa qua xử lý. Chất lượng nước thải công nghiệp đều vượt quá nhiều
lần giới hạn cho phép. Đặc biệt là nước thải các ngành công nghiệp nhộm, thuộc da,
chế biến thực phẩm, hóa chất có hàm lượng các chất gây ô nhiễm cao, không được xử
lý thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước đã làm cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng.

Còn tại các khu đô thị, trung bình mỗi ngày thải ra 20.000 tấn chất thải rắn nhưng chỉ
thu gom và đưa ra các bãi rác được trên 60% tổng lượng chất thải nên đã gây ô nhiễm
nguồn nước. Theo kết quả xét nghiệm mẫu nước tại bãi rác Nam Sơn (Hà Nội) và
một bãi rác ở tỉnh Lạng Sơn cho thấy, tất cả các mẫu nước thải từ bãi rác đều có vi
khuẩn Coliform cao gấp hàng trăm lần tiêu chuẩn cho phép.

Có tới 97,5% mẫu nước ăn uống của người dân khu vực lân cận 2 bãi rác trên không
đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Ngoài chất thải từ đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, chất
thải bệnh viện đa phần chưa được xử lý, thải trực tiếp ra môi trường cũng gây ô
nhiễm nguồn nước trầm trọng.
Hiện cả nước có khoảng 1.047 bệnh viện, hơn 10.000 trạm y tế thải ra 400 tấn chất
thải y tế mỗi ngày. Tuy nhiên, đến nay chưa có bệnh viện nào triển khai hoàn chỉnh
từ khu thu gom, phân loại và xử lý toàn bộ chất thải và nước thải.

Trong khi đó, nước thải bệnh viện chứa nhiều loại vi trùng, virut và các mầm bệnh
sinh học khác có trong máu, mủ, dịch đờm của người bệnh, có thể gây nguy hiểm cho
người tiếp xúc. Bên cạnh chất thải bệnh viện, chất thải nông nghiệp như thuốc trừ
sâu, hóa chất bảo vệ thực vật cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặn và
nước ngầm.

Gia tăng bệnh tật liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm.

Nguồn nước bị ô nhiễm nhưng hiện vẫn còn trên 50% dân số nông thôn nước ta chưa
được sử dụng nước sạch. Tỷ lệ người dân nông thôn được tiếp cận với các dịch vụ
vệ sinh thấp. Kết quả điều tra vệ sinh môi trường nông thôn của 8 vùng sinh thái trên
cả nước cho thấy, tình trạng vệ sinh môi trường và cá nhân còn kém, chỉ có 18% hộ
gia đình, 12% trường mẫu giáo, mầm non, tiểu học và trung học cơ sở, gần 37% trạm
y tế xã có nhà tiêu hợp vệ sinh.

Trong khi đó, theo kết quả điều tra toàn quốc về thực trạng nước và vệ sinh môi
trường nông thôn, tỷ lệ nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt ở vùng nông thôn đạt
tiêu chuẩn vệ sinh chỉ chiếm 15,5%. Rất nhiều nguồn nước ở các giếng khơi, nước
bề mặt và nước giếng khoan của người dân bị nhiễm vi sinh vật.

Đây là một trong những nguyên nhân, dịch bệnh vẫn tiếp tục lưu hành và diễn biến
phức tạp tại nhiều địa phương. TS Jean-Marc Olivé, Trưởng đại diện WHO tại Việt
Nam cho biết, trong số hơn 20.000 người tử vong tại Việt Nam do điều kiện nước
sạch và vệ sinh kém, có gần một nửa do các bệnh tiêu chảy gây ra.

Chúng ta có thể ngăn ngừa được gần một phần mười gánh nặng bệnh tật toàn cầu
thông qua việc cải thiện cấp nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân. Theo Thạc
sỹ Trương Đình Bắc, Trưởng phòng Sức khỏe môi trường cộng và cộng đồng, Cục Y
tế Dự phòng và Môi trường (Bộ Y tế), nước là môi trường trung gian truyền bệnh. Vì
thế, sử dụng nước không hợp vệ sinh chắc chắn sẽ mắc bệnh.

Các tác nhân có thể tồn tại trong nước và gây bệnh cho người tiếp xúc là do vi sinh
vật và các chất hóa học. Thời gian gần đây, tình hình mắc một số bệnh liên quan đến
nguồn nước đã gia tăng như tiêu chảy, tả. Chỉ tính riêng bệnh tiêu chảy cấp nguy
hiểm, từ đầu năm đến nay, cả nước có gần 3.400 người mắc bệnh, trong đó có 497
trường hợp mắc tả.

Theo các chuyên gia môi trường, nguồn nước gồm cả nước ngầm, nước sinh hoạt sẽ
bị ô nhiễm nghiêm trọng hơn và tiếp tục ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân nếu
các chất thải từ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt của người dân …không
được xử lý trước khi thải ra môi trường.

1,4 tỷ người trên thế giới chịu cảnh thiếu nước sạch và thường xuyên. Đến năm 2050,
có 2,25 tỷ người. Theo TS Jean-Marc Oliv, 10% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu có
thể phòng ngừa được bằng cách cải thiện chất lượng nước uống và điều kiện vệ
sinh. Tại Việt Nam, ước tính tổng nhu cầu nước vào năm 2010 khoảng 70 tỷ m3 nước.

IV .Chương trình hành động hiện nay

1.Các phương pháp sinh học:
· Ưu điểm:
_ Có thể xử lý nước thải có phổ nhiễm bẩn các chất hữu cơ tương đối rộng.
_ Hệ thống có thể tự điều chỉnh theo phổ các chất nhiễm bẩn và nồng độ của chúng.
_ Thiết kế và trang thiết bị đơn giản.
· Nhược điểm:
_ Đầu tư cơ bản cho việc xây dựng khá tốn kém.
_ Phải có chế độ công nghệ làm sạch đồng bộ và hoàn chỉnh.
_ Các chất hữu cơ khó phân hủy cũng như các chất vô cơ có độc tính ảnh hưởng đến
thời gian và hiệu quả làm sạch. Các chất có độc tính tác động đến quần thể sinh vật
nói chung và trong bùn hoạt tính làm giảm hiệu suất xử lý của quá trình.
_ Có thể phải làm loãng nước thải có nồng độ chất bẩn cao, như vậy sẽ làm tăng
lượng nước thải và cần diện tích mặt bằng rộng.
1.1. Các phương pháp hiếu khí:
- Kỹ thuật bùn hoạt tính:
Nước thải được đưa ra bộ phận chắn rác, loại rác, chất rắn được lắng, bùn được tiêu
hủy và làm khô. Một dạng cải tiến của phương pháp bùn hoạt tính là phương pháp
“thông khí tăng cường” gần đây được sử dụng tại nhiều nước phát triển dưới tên gọi
là “mương oxy hóa”.

- Ao ổn định nước thải:
Phương pháp xử lý sinh học đơn giản nhất là kỹ thuật “ổn định nước thải”. Đó là một
loại ao chứa nước trong nhiều ngày phụ thuộc vào nhiệt độ, oxy được tạo ra qua hoạt
động tự nhiên của tảo trong ao

1.2. Các phương pháp thiếu khí ( anoxic ):
Trong điều kiện thiếu oxy hòa tan việc khử nitrit hóa sẽ xảy ra. Oxy được giải phóng
từ nitrat sẽ oxy hóa chất hữu cơ và nitơ sẽ được tạo thành.
NO3 Vi sinh NO2 + O2
O2 Chất hữu cơ N2 + CO2 +H2O
1.3. Các phương pháp kỵ khí:
Phương pháp xử lý kỵ khí dùng để loại bỏ các chất hữu cơ có trong phần cặn của
nước thải bằng vi sinh vật tùy nghi và vi sinh vật kỵ khí .Các phương pháp kỵ khí
thường được dùng để xử lý nước thải công nghiệp và chất thải từ chuồng trại chăn
nuôi.

1.4. Xử lý vi sinh vật trong nước bằng ánh sáng mặt trời:(Kí hiệu:SODIS)

Các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cũng như các thử nghiệm thực tế cho
thấy sau khi phơi sáu giờ dưới ánh sáng mặt trời, các chai nước phơi theo phương
pháp SODIS có khả năng tiêu diệt 99% các mầm bệnh trong nước là vi khuẩn, virus và
95% các mầm bệnh là động vật đơn bào và ký sinh trùng.

* Ưu điểm:
_ Thứ nhất là áp dụng nên từ người lớn đến trẻ em, ai cũng có thể thực hiện được.



_ Thứ hai là ít tốn kém vì SODIS sử dụng nguồn năng lượng vô tận là ánh sáng mặt trời



_ Thứ ba, phương pháp này giảm tối đa nguy cơ tái nhiễm khuẩn.



._ Thứ tư, phương pháp này rất thân thiện với môi trường



• Hạn chế
• _ Thứ nhất, phương pháp này chỉ có tác dụng xử lý vi sinh chứ không có tác
dụng đối với các hợp chất hoà tan như nước cứng, nước bị nhiễm mặn hay bị
nhiễm hoá chất từ sản xuất nông nghiệp hay công nghiệp.
• _ Thứ hai, đây là phương pháp phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, nghĩa là phải
có ánh nắng mặt trời mới thực hiện được. Tác dụng tiêu diệt vi sinh chỉ đạt
hiệu quả trong điều kiện trời nắng to hoặc mưa không liên tục
• ._ Thứ ba, lượng nước có thể xử lý tương đối thấp.
• - Thứ tư là yêu cầu lượng nước đầu vào phải tương đối trong

2. Các phương pháp hóa lý:

2.1. Lọc qua song chắn rác ( xử lý sơ bộ ):
Người ta dùng lưới làm bằng các thanh kim loại được đặt nghiêng một góc 60÷750.
Rác thải được lấy ra bằng cào cơ giới. Đối với rác có kích cỡ nhỏ hơn người ta có thể
dùng rây.
2.2. Lắng tụ:
Được dùng để lắng các tạp chất tan thô ra khỏi nước thải ( sinh hoạt và công
nghiệp ). Lắng tụ diễn ra dưới tác dụng của trọng lực. Để lắng người ta sử dụng bể
lắng cát, bể lắng và bể lắng trong.
2.3. Lọc:
Lọc được dùng để xử lý nước thải, để tách các loại tạp chất nhỏ ra khỏi nước thải
mà bể lắng không lắng được.
2.4. Đông tụ và keo tụ:
a. Đông tụ:
Việc loại các chất này nhờ các chất đông tụ là tạo thành muối từ các chất kiềm và axit
yếu. Chất đông tụ trong nước tạo thành các bông hydroxit kim loại, lắng nhanh trong
trường trọng lực
b. Keo tụ:
Keo tụ là quá trình kết hợp các hạt lơ lửng khi cho các hợp chất cao phân tử vào
nước.khi keo tụ sự kết hợp diễn ra không chỉ do tiếp xúc trực tiếp mà còn do tương
tác lẫn nhau giữa các phân tử chất keo tụ bị hấp phụ trên các hạt lơ lửng.
2.5. Tuyển nổi:
Có nhiều phương pháp tuyển nổi để xử lý nước thải: Tuyển nổi từ sự tách không khí
từ dung dịch; Tuyển nổi với sự phân tán không khí bằng cơ giới; .Tuyển nổi nhờ các
tấm xốp; Tuyển nổi bằng phương pháp tách phân đoạn bọt; Tuyển nổi hóa học, sinh
học và ion; Tuyển nổi điện.

2.6. Hấp phụ:
Trong xử lý nước thải công nghiệp, hấp phụ được ứng dụng để khử độc nước thải
khỏi thuốc diệt cỏ, phenol, thuốc sát trùng, các hợp chất hữu cơ vòng thơm, chất hoạt
động bề mặt, thuốc nhuộm, màu hoạt tính .Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả
cao, có khả năng xử lý nhiều chất trong nước thải và có thể thu hồi các chất này.
2.7. Trao đổi ion:
Phương pháp này được ứng dụng để làm sạch nước hoặc nước thải khỏi các kim loại
như: Zn, Cu, Cr, Pb, Ni, Hg, Cd, V, Mn,…, cũng như các hợp chất của asen, photpho,
xyanua và các chất phóng xạ, khử muối trong nước cấp, cho phép thu hồi các chất có
giá trị và đạt mức độ làm sạch cao. Vì vậy, nó được ứng dụng rộng rãi để tách muối
trong xử lý nước và nước thải.
2.8. Thẩm thấu ngược:
· Ưu điểm:
_ Không có pha chuyển tiếp trong tách tạp chất cho phép tiến hành quá trình với chi
phí năng lượng thấp.
_ Có thể tiến hành quá trình ở nhiệt độ phòng không có bổ sung hoặc bổ sung ít hóa
chất.
_ Đơn giản trong kết cấu
· Nhược điểm:
_ Năng suất, hiệu quả làm sạch và thời gian làm việc của màng lọc giảm khi nồng độ
chất tan trên bề mặt màng lọc tăng
_ Quá trình hoạt động dưới áp suất cao, do đó cần có vật liệu đặc biệt làm kín thiết
bị.
Những năm gần đây, phương pháp này được sử dụng để làm sạch một số nước thải
công nghiệp và đô thị
Lưu ý: Ở các phương pháp hoá lý còn có nhiều biện pháp khác, nhưng trên đây là
những biện pháp điển hình.


3. Các phương pháp hóa học:
gồm có: trung hòa, oxy hóa và khử, tất cả các phương pháp này đều dùng các tác nhân
hóa học nên là phương pháp đắt tiền. Người ta sử dụng các phương pháp hóa học để
khử các chất hòa tan và trong các hệ thống cấp nước khép kín.

4. Phương pháp hóa sinh:
Phương pháp hóa sinh xử lí nước thải dựa trên khả năng của vi sinh sử dụng đối với
các chất này làm chất dinh dưỡng trong hoạt động sống - các chất hữu cơ đối với vi
sinh là nguồn cacbon. Phương pháp vi sinh được ứng dụng để loại các chất hữu cơ
hoà tan và một số hữu cơ ra khỏi nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp.
4.1. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên:
Các quá trình xử lý sinh học có thể diễn ra trong điều kiện tự nhiên và trong các công
trình nhân tạo. Trong điều kiện tự nhiên việc xử lý xảy ra trên các cánh đồng tưới,
cánh đồng lọc và các ao sinh học. Các công trình nhân tạo là các bể thông khí
(aerotank) và các thiết bị lọc sinh học. Kiểu công trình xử lý được chọn phụ thuộc vào
vị trí nhà máy, điều kiện khí hậu, nguồn cấp nước, thể tích nước thải công nghiệp và
sinh hoạt, thành phần và nồng độ chất ô nhiễm. Trong các công trình nhân tạo, các quá
trình xử lý xảy ra lớn hơn trong điều kiện tự nhiên.
VD: Cánh đồng tưới: Đó là khu đất được chuẩn bị riêng biệt để sử dụng đồng thời hai
mục đích: Xử lý nước thải và gieo trồng. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên
diễn ra dưới tác dụng của hệ vi thực vật dưới đất, mặt trời, không khí và dưới ảnh
hưởng của thực vật. Cánh đồng tưới có các ưu điểm sau : Giảm chi phí đầu tư và vận
hành. Không thải nước ra ngoài phạm vi diện tích tưới. Bảo đảm được mùa cây nông
nghiệp lớn và bền. Phục hồi đất bạc màu..
4.2. Xử lý nước thải trong công trình nhân tạo:
a) Xử lý trong bể thông khí:
Các quá trình sinh học được xảy ra trong aerotank được chia thành 2 giai đoạn:
1. Hấp thụ các chất hữu cơ trên bề mặt bùn hoạt tính và khoáng hoá các chất dễ bị
oxy hoá với sự tiêu thụ mãnh liệt oxy.
2.Oxy hóa bổ sung các chất khó bị oxy hóa, tái sinh bùn hoạt tính. Ở giai đoạn này oxy
hóa tiêu thụ chậm.
c) Phương pháp yếm khí:
Phương pháp này được ứng dụng để lên men cặn tạo thành trong xử lý hóa sinh nước
thải sản xuất và xử lý bậc một nước thải đậm đặc (BODtp = 4 – 5 g/l), chứa các chất
hữu cơ bị phân huỷ bởi các vi sinh yếm khí. Tuỳ thuộc vào sản phẩm cuối mà được
chia thành các dạng lên men: cồn, axit, sữa, mêtan…
5 . Các công trình xử lý phụ khác:
5.1 Khử trùng nước thải:
5.1.1. Khử trùng bằng phương pháp vật lý:
- Phương pháp nhiệt:
- Khử trùng bằng tia cực tím:
5.1.2. Khử trùng bằng phương pháp hóa học:
- Sát trùng nước bằng clo và các hợp chất của clo:
- Khử khuẩn bằng ozon:
- Khử khuẩn bằng iod:
- Khử khuẩn bằng KMnO4:
5.2 Khử mùi và vị:
Mục đích là khử các mùi hôi và vị gây nên bởi các chất khác nhau có mặt trong nước
đôi khi với lượng không xác định được qua phân tích.
5.3. Loại chất phóng xạ:
Trong nước tự nhiên có chứa các chất phóng xạ có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo.
Có thể khử hoạt tính của nước bằng hai cách:
_ Giữ nước trước khi đưa đi sử dụng một khoảng thời gian đủ để phân hủy các đồng
vị có thời gian sống ngắn.
_ Loại các chất phóng xạ lơ lửng. Loại các chất phóng xạ trong nước bằng cách
chưng cất, để lắng, lọc, keo tụ, hấp phụ ( bằng đất sét, than hoạt tính, các chất hấp
phụ kim loại và các chất khác ) trao đổi ion và kết hợp giữa các phương pháp trên
Trong ngành công nghiệp xử lý các chất phóng xạ từ trước đến nay người ta thường
chôn chúng trong các hố khoan sâu trong lòng đất ở các nơi hoang vắng, cách xa các
khu dân cư. Đối với các chất thải phóng xạ có cường độ thấp người ta thường pha
loãng rồi đổ xuống biển hay đại dương. Trong một số trường hợp nguy hiểm người ta
trộn bả thải khô với một số chất phụ gia rồi nấu chảy thành thủy tinh sau đó cất giữ
các khối thủy tinh rắn này vào trong các hầm chứa đặc biệt. Hiện nay, người ta cho
rằng đây là phương pháp bảo quản chất thải phóng xạ bảo đảm nhất và an toàn nhất

C . KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Về phương diện khoa học, môi trường là một lĩnh vực liên ngành, đa ngành; còn
về phạm vi ảnh hưởng của nó là một trong những đối tượng mang tính toàn cầu rõ rệt
nhất. Nếu sự ô nhiễm môi trường là một tai họa thì “ tai họa này không phải của riêng
ai “, mà là chung của tất cả các quốc gia, của toàn nhân loại. Ô nhiễm môi trường nói
chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêng đang là một vấn đề đáng quan tâm hiện nay.

Ngày nay, với sự phát triển công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số đã làm cho
nguồn nước tự nhiên bị hao kiệt và ô nhiễm dần. Vì thế, con người phải biết xử lý các
nguồn nước cấp để có đủ số lượng và đảm bảo đạt chất lượng cho mọi nhu cầu sản
xuất công nghiệp và sinh hoạt, cho chính mình và giải quyết hậu quả của chính mình.
Để có được nguồn nước sạch để sinh hoạt và sản xuất, thì các nguồn nước thải nói
chung cần phải được xử lý qua các công đoạn khác nhau đảm bảo không bị ô nhiễm
trước khi đổ vào nguồn. Hiện nay có rất nhiều các phương pháp xử lý khác nhau. Mỗi
phương pháp đều có ưu điểm của nó, tùy theo nguồn nước thải mà ta sử dụng phương
pháp thích hợp.

Là những người sinh viên năng động , sáng tạo, là thế hệ trẻ của đất nước chúng ta
phải là những ngừơi đi đầu, tuyên truyền, phổ biến cho mọi người về tầm quan trọng
của nguồn tài nguyên nước. Từ đó đưa ra những biện pháp, những chương trình hành
động thích hợp chẳng hạn như việc tổ chức các buổi hành động vì một môi trường
xanh sạch đẹp, tham gia vớt rác ở các hồ, nhặt rác ở các bờ biển, hay là các cuộc thi
tìm hiểu về môi trường….Chúng em tin rằng môi trường của chúng ta sẽ ngày một
trong lành. Nào chúng ta hãy cùng chung tay góp sức hành động môi trường không còn
sự ô nhiễm.

Đề tài không mới

Số liệu cũ không nhiều

Copy nhiều tài liệu mà không sửa đổi

7.5-0,5 (copy) -0.5 (dài)=6.5
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản