Tiểu luận: Phân tích biến động lãi suất

Chia sẻ: nth_221

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận: phân tích biến động lãi suất', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tiểu luận: Phân tích biến động lãi suất

Tiểu luận

Đề tài: “Phân tích những biến
động Lãi suất thị trường
trong năm 2010”
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế hiện đại, chính sách tiền tệ của chính phủ sử dụng lãi suất
như một công cụ quan trọng để tác động vào nền kinh tế, kiểm soát lượng tiền cung
ứng. Lãi suất là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa ngư ời cho vay và
người đ i vay, phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền tệ, thực trạng kinh tế
của một nước. Thông qua sự biến động của lãi suất, người ta có thể dự đoán nền
kinh tế đang phát triển hay đang suy thoái.
Lãi su ất là một trong những vấn đề trung tâm của nền kinh tế, vì nó tác động
đến chi phí đầu tư, do đó nó là yếu tố quan trọng quyết định tổng mức đầu tư và
tổng mức cầu về tiền tệ (GNP). Sau cuộc khủng h oảng kinh tế toàn cầu 2007 - 2008
Việt Nam đã p hần nào khắc phục được hậu q uả và đang tiếp tục ổn định nền kinh tế
vĩ mô để thúc đẩy n ền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Cho đến nay công cụ
Lãi suất đã phần nào khẳng định được vai trò của nó trong việc điều hành chính
sách kinh tế của Nhà Nước. Điểm nổi bật về lãi suất huy động cũng như lãi suất cho
vay trong năm 2010 là ngày càng tiến gần đ ến tự do của nó, tức là ngày càng phù
hợp hơn với cung cầu về vốn trên thị trường. Tuy nhiên, đ ể tăng hiệu quả hoạt động
của hệ thống ngân hàng thương m ại và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục đổi mới hơn nữa cơ chế
điều h ành Lãi suất trong thời gian tới.
Xu ất phát từ nhu cầu thực tiễn n ày em xin chọn đề tài “Phân tích những biến
động Lãi suất thị trường trong năm 2010” làm bài tiểu luận của mình. Do còn hạn
ch ế trong việc hiểu biết về lĩnh vực tài chính kinh tế, n ên bài tiểu luận của em
không tránh khỏi những thiếu xót. Kính mong thầy cô giúp đỡ, góp ý đ ể em hoàn
thành bài tiểu luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!




2
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính




MỤC LỤC
A- MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
B- NỘI DUNG ................................................................ ......................................4
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI
SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ........................................................................ 4
Khái niệm ..................................................................................... 4
1.
Các phép đo lãi su ất................................................................ ...... 4
2.
Các nhân tố tác động đến lãi suất ................................ .................. 5
3.
Vai trò và tác động của lãi su ất ..................................................... 6
4.
II. CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT, BIẾN ĐỘNG VỀ LÃI SUẤT
TRONG NĂM 2010........................................................................................... 7
Cơ chế điều h ành lãi suất của NHNN và bến động lãi suất............ 7
1.
Nh ận xét cá nhân – Kiến nghị ......................................................30
2.
C- K ẾT LUẬN ................................................................................................ .....35
Tài liệu tham khảo ............................................................................................... 35




3
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính




A- NỘI DUNG
Bố cục gồm 2 phần chính:
Phần I: Lý lu ận chung về lãi suất và vai trò của lãi su ất trong nền kinh tế.
Phần II: Chính sách lãi suất cùng sự b iến động lãi suất trong năm 2010.


I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT
TRONG N ỀN KINH TẾ.
1 . Khái niệm
Lãi su ất là một công cụ nhạy cảm trong điều hành chính sách tiền tệ của mọi
Ngân hàng trung ương, cũng là mối quan tâm của mọi người, mọi doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đã có rất nhiều khái niệm về Lãi su ất được
đưa ra như sau:
 Lãi suất là tỷ số giữa tổng số lợi tức hàng năm và tổng số vốn đ ã bỏ ra cho
vay trong năm. Nói cách khác đi, Lãi suất là giá cả mà con nợ phải trả cho chủ nợ
để sử dụng khoản tiền vay trong một kỳ hạn nhất định.
 Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất bằng tiền trên các tài sản bằng tiền.
 Lãi suất thực: là lãi su ất danh nghĩa đ ược chỉnh lại cho đúng theo những
thay đ ổi dự tính về mức giá, thể hiện mức lãi theo số lượng hàng hóa và d ịch vụ.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi su ất thực được Fisher phát biểu
thông qua phương trình mang tên ông như sau:
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự tính
Công thức xác định lãi suất thực này được sử dụng phổ biến hiện nay. Tuy
nhiên, công thức n ày không chú ý đến tổng lãi thu đ ược phải chịu thuế thu nh ập.
Nếu tính đến yếu tố thuế thì:
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – Thuế thu nhập biên thực tế – Tỷ lệ lạm phát
dự tính
Ngoài ra còn có các loại lãi suất thông dụng như: Lãi su ất trả trước khi vay, lãi
suất trả sau cùng với vốn, lãi suất trả dần cùng với vốn theo định kỳ và lãi su ất trả
bằng phiếu lợi tức.
2 . Các phép đo lãi suất
Phép đo chính xác nh ất là lãi su ất hoàn vốn. Nó là lãi suất làm cân b ằng giá
hiện tại của khoản tiền trả trong tương lai với giá trị hôm nay cuả nó. Vì khái n iệm
tiềm ẩn trong việc tính lãi su ất hoàn vốn có ý nghĩa tốt về mặt kinh tế.
2.1. Vay đơn:


4
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Fn =P (1+ i)n
Fn: số tiền vay và lãi thu về trong tương lai.
P, n , i: số tiền vay ban đầu, thời hạn vay tín dụng và lãi suất đ ơn.
2.2. Vay hoàn trả cố định:



TV: toàn bộ món tiền vay
FP: số tiền trả cố định h àng năm.
N: số năm cho tới mãn h ạn
2.3. Trái khoán coupon:



Pb: giá trái khoán
C : Tiền coupon hàng năm
F : Mệnh giá trái khoán
n : số năm tới ngày mãn hạn.
2.4. Trái khoán giảm giá.



F: m ệnh giá của trái khoán giảm giá
Pd: Giá hiện thời của trái khoán.
3 . Các nhân tố tác động đến lãi suất
Lãi su ất luôn luôn biến động do những nhân tố sau:
a ) Sự thay đổi của tổng cầu (GNP):
Khi GNP tăng lên, nền kinh tế đòi hỏi phải tăng khối tiền cung ứng (Nếu tốc
độ lưu thông tiền tệ không thay đổi) để đảm bảo cung cầu tương ứng. Nếu trong
điều kiện đó, khối lượng cung ứng tiền (M1 ho ặc M2) tăng quá cầu thì MV > PQ,
cung vốn đầu tư lớn hơn cầu vốn đầu tư làm cho lãi su ất giảm. Ngược lại, khi GNP
giảm thì khối lượng tiền cung ứng thực tế cũng giảm theo, nếu tốc độ lưu thông tiền
tệ không thay đổi m à giảm khối cung ứng tiền tệ xuống quá thấp sẽ đưa đến tình
trạng MV < PQ. Lúc đó, cung vốn đầu tư nhỏ hơn cầu vốn đầu tư thì lãi suất sẽ
tăng.
b ) Sự chi tiêu của chính phủ:
Trong khi lượng cung ứng tiền tệ (M1 hay M2) không thay đổi mà chính ph ủ
chi tiêu nhiều h ơn sẽ làm giảm bớt nhu cầu chi cho đầu tư và tiêu dùng của cá nhân,



5
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


nhu cầu tiền của nhân d ân trở n ên khan hiếm, nguồn cung ứng vốn nhỏ hơn nhu cầu
vốn, lãi suất sẽ tăng lên.
c) Chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ của chính phủ ban hành là nhằm mục đích kiểm soát lượng
cung ứng tiền tệ, kiểm soát tình trạng lạm phát và các tác động đến lãi suất để thực
hiện các mục tiêu đã đ ịnh.
d ) Nhu cầu tiêu dùng và đầu tư:
Trong thực tế khi nhu cầu tiêu dùng tăng thì kéo theo lãi suất tăng và ngược
lại khi nhu cầu này giảm đi th ì sẽ làm giảm lãi suất. Cũng như khi nhu cầu về đầu
tư, người ta đổ xô vào đầu tư kinh doanh kiếm lợi nhuận thì nhu cầu về tiền, tài sản
là rất lớn sẽ dẫn tới lãi suất tăng.
4 . Vai trò và tác động của lãi suất
Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó là trung tâm trong chính
sách tiền tệ của chính phủ.
o Đối với sự phân bổ các nguồn lực thì lãi suất là một loại giá cả, nó có vai
trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội và là yếu tố cần thiết ban
đầu trước khi đi đến quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, một dự án hay một
tài sản nào đó…
o Đối với thu nhập: Thu nhập của các hộ gia đình thường được chia làm hai
bộ phận: Tiêu dùng và tiết kiệm, tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố
như thu nhập, tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của việc tiết kiệm trong đó tiền tệ và lãi
suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố khác. Vì vậy trong tiêu dùng và tiết kiệm
lãi suất cũng có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh thu nhập của kinh tế gia
đình.
o Đối với các hoạt động đầu tư: do ch ịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố nh ư thu
nhập, chi phí trong kinh doanh… nên khi lãi suất cao, thì sẽ có ít khoản đầu tư vào
vốn hiện vật sẽ mang lại thu nhập nhiều hơn chi phí trả lãi cho các khoản đi vay, do
vậy chi tiêu cho đầu tư giảm, ngược lại khi lãi su ất thấp các doanh nghiệp sẽ quyết
định đầu tư cho vốn hiện vật nhiều hơn, chi tiêu đầu tư sẽ tăng.
o Lãi suất với lạm phát: Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi su ất sẽ cho phép hệ
thống ngân h àng có thể thu hút phần lớn số tiền có nhiều trong lưu thông khiến cho
đồng tiền trong lưu thông giảm, lượng tiền cung ứng cũng sẽ giảm và lạm phát được
kiềm chế. Như vậy, lãi su ất cũng góp phần chống lạm phát.
o Vai trò của Lãi suất đến việc huy động vốn: Lãi suất là chi phí huy đ ộng
vốn của doanh nghiệp và ngân hàng. Các doanh nghiệp phải xem xét khả năng lợi
nhuận thu được với chi phí huy động vốn bỏ ra để quyết định huy động vốn từ
nguồn nào và đầu tư vào đâu đ ể có lợi cho doanh nghiệp nhất. Còn ngân hàng phải
xem xét giữa LSHĐ với khả năng cho vay ở mức lãi suất cao hơn để đưa ra phương
hướng hoạt động đảm bảo mục tiêu của ngân hàng tồn tại và phát triển.
o Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu: Tỷ giá chịu ảnh
hưởng của sự thay đổi lãi su ất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ. Sự thay đổi lãi suất tiền
gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa.

6
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng (lãi suất thực không đổi)
thì tỷ giá giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi su ất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phát
không đổi) thì tỷ giá tăng. khi tỷ giá đồng ngoại tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ
giá giảm) và ngược lại.
+ Vai trò của lãi suất trong nư ớc với quá trình Xu ất Nhập Khẩu: khi lãi suất
thực tế tăng lên làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên. Tỷ giá hối đoái cao hơn làm h àng
hóa của nước đó ở nư ớc ngo ài trở nên đắt hơn lên và hàng hóa nước ngoài ở nước
đó sẽ trở nên rẻ hơn, d ẫn đến giảm xuất khẩu ròng
+ Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng: Khi lãi su ất tiền gửi
bằng ngoại tệ tăng lên, đư ờng lợi tức dự tính của đồng ngoại tệ dịch chuyển sang
phải làm giảm tỷ giá hối đoái. Hàng xuất khẩu trở n ên rẻ hơn so với các quốc gia
khác.
o Lãi suất vai trò của nó đối với Ngân Hàng Thương mại: NHTM với hai
nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình là huy động vốn và sử dụng
vốn đã phản ánh quy mô hoạt động của các NHTM.
Với phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huy động vốn tạm thời nhàn
rỗi trong các doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế và các nhu cầu
tiêu dùng khác của nhân dân. Để huy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phải
xác đ ịnh lãi su ất tiền gửi và lãi su ất tiền vay một cách hợp lý. Nếu lãi suất huy đ ộng
tiền gửi quá thấp thì không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào,
dẫn đến NHTM không đủ vốn cho vay để đáp ứng yêu cầu khách hàng.
Lãi su ất Ngân h àng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh
doanh của NHTM và khách hàng, với lãi su ất hợp lý sẽ là đòn b ẩy quan trọng thúc
đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển và ngược lại. Bởi vậy lãi suất Ngân hàng
vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ điều hành vi mô đối với
các NHTM. Khi huy đ ộng tiền gửi mà với lãi suất thấp thì không khuyến khích
doanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, sẽ dẫn đến hậu quả là
NHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng. Ngược
lại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có lãi
hoặc lãi quá th ấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi vốn vào ngân
hàng.
Do vậy Lãi suất ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào và NHNN đ ã sử
dụng công cụ lãi suất để thực hiện chính sách mục tiêu của Chính phủ ra sao chúng
ta cùng tìm hiểu trong phần sau.
II. CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT, BIẾN ĐỘNG VỀ LÃI SUẤT TRONG
NĂM 2010
1 . Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN và bến động lã i suất:
 Quý I năm 2010:
Năm 2010, trong xu thế phục hồi chung của nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt
Nam đ ã có những chuyển biến tích cực. Điều đáng nói là những chuyển biến này
chủ yếu bắt nguồn từ các chính sách vĩ mô nới lỏng của Chính phủ, trong đó có
chính sách tiền tệ.


7
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Từ tháng 6/2002, NHNN đ ã cho phép áp dụng cơ ch ế lãi su ất thỏa thuận
trong cả huy động và cho vay vốn. Song, từ năm 2008, khi kinh tế trong nước và
quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, NHNN đã khống chế trần lãi suất cho vay và sau đó khống ch ế cả trần
LSHĐ. Nh ững vướng mắc trong việc áp dụng cơ ch ế trần lãi suất đã xu ất hiện. Đó
là hiện tượng các NHTM rất e ngại trong việc cho vay trung và dài hạn vì các khoản
vay này được thực hiện trong thời gian dài, chi phí đ ầu vào cao mà lãi su ất cũng
không thể cao hơn lãi su ất các khoản vay ngắn hạn, cao nhất chỉ bằng 150% lãi suất
cơ bản.
Cụ thể Quyết định 134/QĐ-NHNN ngày 25/01/2010 của Thống đốc NHNN
về việc tiếp tục áp dụng mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 8%/năm đã làm
cho các NHTM tiếp tục rơi vào trạng thái khó khăn. Hầu h ết người gửi tiền cả đáo
hạn và gửi mới đều chọn gửi kỳ hạn ngắn trong khi đó việc huy động vốn trung dài
hạn rất khó khăn khi LSHĐ các kỳ hạn đều ở cùng một mức trong khoản từ 10 -
11%/năm, điều này làm nguồn vốn trung dài hạn của các ngân hàng giảm dần trong
khi tỷ lệ lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng bị giảm từ 40% xuống còn
30%.
Hiện tại, chênh lệch lãi suất cho vay và huy động đã quá sít lại gần nhau,
đồng nghĩa với lợi nhuận của các NHTM bị thu hẹp đáng kể. Bởi khoảng ch ênh
lệch 1,5% không thể b ù đ ắp cho những chi phí phát sinh trong hoạt động ngân hàng.
Các NHTM phải tìm mọi biện pháp để tăng thu lợi nhuận, m à tín dụng lại chiếm từ
65 - 70% lợi nhuận cho ngân hàng. Do hạn chế về lãi suất đầu ra nên các ngân hàng
hoặc là đ ã cộng thêm các loại phí để nâng lãi suất của các món vay trung d ài h ạn,
hoặc là hạn chế cho vay. Áp dụng các hình thức khuyến mãi đ ể huy động vốn là vấn
đề bình thường nhưng hiện tại giá trị khuyến mãi tính ra chiếm đến 30 - 40% lãi
suất đang niêm yết là vấn đề không bình thường nữa.
Việc duy trì trần lãi su ất 12 %/năm khiến ngân hàng không thể phân loại
khách hàng trong việc cho vay theo mức rủi ro đồng thời việc đánh đồng lãi suất
cho vay sẽ khuyến khích những khách h àng có độ rủi ro cao đi vay nhiều h ơn, điều
này rất dễ gây m ất an toàn thanh khoản cho hệ thống ngân h àng. Thêm vào đó, việc
mà huy đ ộng vốn và cho vay v ới mức lãi suất gần bằng nhau khiến cho b ản thân các
ngân hàng dùng nhiều thủ thuật để có thể cho vay với lãi suất cao hơn, điều n ày làm
mất tính minh bạch trong hoạt đ ộng cho vay của các ngân h àng. Lúc này cầu đã
vượt quá mức cung trong khi lãi suất đầu ra vẫn b ị hạn chế ở mức trần lãi suất. Điều
đó làm “méo mó” đi đường cong của lãi suất.
Nếu điều này kéo dài trong nh ững tháng đầu năm 2010 sẽ gây ảnh h ưởng
không tốt cho hệ thống các ngân hàng vì kinh doanh không có hiệu quả mà xa hơn
nó còn ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế vĩ mô; đồng nghĩa với việc nhiều
doanh nghiệp khó tiếp cập vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất – kinh doanh,
tạo việc làm cho ngư ời lao động và nộp thuế vào ngân sách nhà nước.
Để giải quyết vấn đề n ày, ngày 26/2/2010, NHNN đã ban hành thông tư
07/2010/TT - NHNN, chính th ức quy định về cho vay bằng VND theo lãi su ất thỏa
thu ận của các TCTD đối với khách h àng. Theo đó, các TCTD được cho vay bằng
VND theo lãi su ất thỏa thuận đối với khách hàng phù hợp với quy định của pháp


8
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


luật về việc cho vay của TCTD đối với khách hàng trên cơ sở cung - cầu vốn thị
trường và m ức độ tín nhiệm của khách hàng vay.
Quy đ ịnh n ày áp dụng cho vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển; cho vay ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân, hộ
gia đình của khách h àng vay, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ
tín dụng.
Nhóm đối tượng cho vay cá nhân bao gồm: cho vay để sửa chữa nh à và mua
nhà để ở mà nguồn trả nợ bằng tiền lương của khách hàng vay; cho vay để mua
phương tiện đi lại; cho vay để trả chi phí học tập và chữa bệnh; cho vay để mua đồ
dùng và thiết bị gia đình; cho vay để chi cho hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch;
cho vay theo phương th ức thấu chi tài khoản cá nhân; cho vay thông qua nghiệp vụ
phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Như vậy, hiện tại việc thực hiện cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận đã
giải quyết được những vướng mắc của ngân hàng về cơ ch ế trần lãi su ất, tạo điều
kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn nhanh hơn. Cho vay theo lãi suất thỏa thuận
đồng nghĩa với việc ngân h àng có th ể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi
suất cao h ơn lãi su ất trần. Đây cũng là m ột quyết định cần thiết trong việc tiến tới tự
do hóa lãi suất. Tự do hóa lãi suất sẽ giúp cân bằng cung - cầu vốn, không còn b ị
“méo mó’’ như đã phân tích ở trên; cung - cầu vốn về một mức lãi suất hợp lý và
phản ánh đúng diễn biến của thị trường tiền tệ.
Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế n ày một cách đầy đủ và linh ho ạt đòi hỏi
Việt Nam phải có một nền tảng về kinh tế vĩ mô ổn định và cơ ch ế quản lý - giám
sát hiệu quả. Nếu không làm đư ợc điều n ày, tình trạng cho vay “nặng lãi” ngay
trong hệ thống ngân hàng rất dễ xảy ra và các rủi ro liên quan đ ến vấn đề tín dụng
có thể sẽ tăng lên đáng kể. Bởi lẽ việc cho vay theo thỏa thuận sẽ không tránh khỏi
trường hợp doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao và mỗi doanh nghiệp có mức lãi
suất khác nhau do ngân hàng sẽ dựa trên mối quan hệ của doanh nghiệp với ngân
hàng thế nào và tiềm năng phát triển ra sao để đưa ra mức lãi suất phù hợp. Ngoài
ra, đối tượng thực hiện lãi suất cho vay mở rộng thì việc kiểm soát mục đích các
khoản vay phải hết sức nghiêm ngặt để tránh trường hợp dòng vốn chảy ồ ạt vào các
thị trư ờng bất động sản, thị trường chứng khoán chứ không đư ợc đưa vào sản xuất
kinh doanh.
Vì cơ ch ế lãi su ất thỏa thuận vẫn chưa được thực hiện với các khoản vay
ngắn hạn nên việc cho vay của các ngân hàng vẫn chưa thực sự thông thoáng, vẫn
phải “luồn lách” để nâng lãi suất khi cho vay các khoản vay ngắn hạn m à trần lãi
suất vẫn là 12%/năm. Lý do là lãi suất đầu vào của ngân h àng bị chặn ở mức cao
nhất là 10 .5% cộng với các hình thức khuyến mãi thì đã tăng đến xung quanh mức
12%/năm nên không thể cho vay ngang với mức huy động này m à phải cộng thêm
rất nhiều loại phí để nâng lãi suất này lên cao. Đây cũng là thực trạng chung của hầu
hết các NHTM trong hai tháng đầu năm.
Bước sang tháng 3, khi mà cơ chế lãi suất thỏa thuận chính thức được áp
dụng, điều này góp phần đảm bảo cho lợi nhuận của các ngân hàng đồng thời giúp



9
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay dễ dàng hơn, tiếp tụ c đầu tư mở
rộng sản suất. Tuy nhiên một vướng mắc lúc này đ ã dần xuất hiện:
 Đối với các NHTM: là việc huy đ ộng vốn trong dân chúng rất khó khăn.
Hiện tại, ngân hàng ch ỉ còn cách chạy đua về mặt sản phẩm, khuyến m ãi… để thu
hút nguồn tiền từ trong dân.
Trong năm nay, ngân hàng nào cũng đều đặt mục tiêu phải tăng trưởng
nguồn vốn huy động cao ít nhất cũng là 30 - 40%. Tuy nhiên, lãi su ất th ì không thể
cạnh tranh được với nhau vì ngân hàng nào cũng đã đưa lãi suất kỳ hạn từ 1 - 12
tháng ở mức 10,49%/năm. Vì th ế, các ngân h àng gần đây liên tụ c tung ra những sản
phẩm tiết kiệm với đủ loại tên để thu hút khách.
Chẳng h ạn NHTM cổ phần Sài Gòn (SCB) từ đầu tháng 2 đến giờ đ ã đ ưa ra
đến tám chương trình ch ăm sóc khách hàng, như tăng lãi suất, tung ra sản phẩm mới
với nhiều ưu đãi... Trong tháng 3, SCB đ ã cho ra m ắt chương trình khu yến mãi
“Rước lộc quà tặng” từ 15/3 đến 29/4 áp dụng đối với khách hàng cá nhân gửi tiết
kiệm bằng tiền đồng hoặc đô la Mỹ kỳ hạn từ 1 đến 60 tháng. Tham gia ch ương
trình, khách hàng có th ể nhận đến ba ưu đãi tặng thêm tiền mặt, bao gồm: tặng ngay
tiền mặt với tỷ lệ lên đến 0,6%/năm (trên số dư bằng tiền đồng) và 0,24%/năm (trên
số dư bằng đô la), tặng tiền mặt cho khách h àng đ ã giao dịch ít nhất một lần ở SCB,
và tặng tiền mặt khi khách hàng duy trì đúng hạn.
Ngoài các ưu đãi tặng tiền mặt nêu trên, khi gửi 2 tỉ đồng hoặc 120.000 đô la
Mỹ với kỳ hạn từ ba tháng trở lên, khách hàng còn được tặng ngay một chỉ vàng
SJC. Ngân hàng cũng mua vàng với giá cao hơn giá niêm yết cho các khách h àng
muốn bán vàng lấy tiền đồng để gửi tiết kiệm và còn rất nhiều các NHTM vẫn áp
dụng “chiêu bài khuyến mãi” đ ể có thể huy động được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân chúng. Bên cạnh huy động tiền đồng, các ngân hàng còn chạy đua tăng
LSHĐ đô la Mỹ lên để hút tiền gửi đô la Mỹ v à khuyến khích doanh nghiệp chuyển
sang vay đô la Mỹ với lãi suất thấp hơn, phần nào giảm bớt áp lực vay tiền đồng.
Lãi suất vay đô la Mỹ h iện chỉ khoảng 6 - 7%/năm. Vì thế, tăng trưởng tín dụng
bằng ngoại tệ của các ngân hàng trong quý I tăng mạnh đến 7,2% so với cuối năm
2009, trong khi cho vay bằng đồng Việt Nam lại giảm 1,81%.
Để giải quyết các nhu cầu thanh khoản của một số NHTM trong ngắn hạn
nên các NHTM cũng tập trung vào thu hút các nguồn vốn ngắn hạn. Trong khi lãi
suất cho vay đã từng bước được tự do hóa thì trần LSHĐ vẫn chưa được tháo gỡ.
Với trần LSHĐ 10,5% thì hiện tại các khách hàng gửi tiền cá nhân sẽ không mấy
mặn m à với việc gửi tiền vào ngân hàng, nguyên nhân là do tâm lý lo lắng lạm phát
của người gửi tiền nên tập trung vốn vào các kênh đ ầu tư khác. Do đó, tăng trưởng
huy động vốn tính cho tới thời điểm này vẫn còn chậm, đây cũng là nguyên nhân
giải thích cho xu hướng biến động lình xình trong thời gian qua của thị trường
chứng khoán. Theo NHNN sang quý I/2010, tổng phương tiện thanh toán và tín
dụng có xu hướng tăng dần, tín dụng tăng 3,34%. Huy động vốn đến cuối tháng 3
tăng 3,8% so với cuối năm 2009 .
 Đối với các doanh nghiệp: Các NHTM cổ phần gặp khó khăn trong việc
huy động vốn ngắn h ạn kéo theo các doanh nghiệp cũng rất khó tiếp cận được vốn
ngân hàng và kể cả các NHTM nhà nước cũng đang hạn chế cho vay. Hiện tại,


10
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


nhiều ngân h àng đã đưa lãi suất cho vay trung dài hạn lên đến mức 18 - 19%/năm,
trong khi cho vay ngắn hạn với lãi su ất 12% th ì rất nhỏ giọt, làm cho khó có doanh
nghiệp nào chấp nhận được và điều n ày khiến cho nhiều doanh nghiệp không muốn
vay. Tình hình lúc này là các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng rất khó khăn,
vay ngân hàng không được các doanh nghiệp chỉ còn phải huy đ ộng hết nguồn vốn
bên ngoài như người thân, bạn bè… đ ể chống đỡ, nhưng nếu Chính phủ không làm
gì đ ể cải thiện tình trạng lãi suất hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ trở nên
điêu đứng.
Các ngân hàng hiện đang chờ đợi NHNN cho phép thực hiện lãi suất thỏa
thu ận đối với các khoản vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam, nhưng như vậy chắc
ch ắn lãi su ất cho vay ngắn hạn sẽ tăng cao, phần nào ảnh hưởng đến mục tiêu kiềm
ch ế lạm phát năm nay ở mức 7% của Chính phủ. Ch ỉ số giá tiêu dùng tháng 3 vừa
được công bố tăng 0,75% so với tháng 2, và là tháng tăng thứ ba liên tiếp của chỉ số
này, kéo ch ỉ số CPI của cả quý 1 tăng 4,12% so với tháng 12 /2009 và tăng 9,46% so
với cùng kỳ năm 2009.
Do đó trong thời gian tới NHNN cần có những thay đổi trong cơ chế quản lý
về lãi suất, đ ưa nó về đúng với mức kỳ vọng của thị trường, góp phần ổn định nền
kinh tế vĩ m ô khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất nhiều hơn. Trong thời
gian tới có thể đưa hai kịch bản về quản lý như sau: Thứ nhất, lợi suất trái phiếu kỳ
hạn d ài giảm có thể sẽ khiến các cá nhân gửi tiền chấp nhận mức lãi suất thấp và sẽ
gửi tiền vào ngân hàng. Thứ hai, NHNN có th ể nâng trần LSHĐ hoặc b ãi bỏ mà
không cần nâng lãi su ất cơ bản để từ đó giúp giải quyết vấn đề tăng trưởng huy
động vốn. Và kịch bản như thế nào chúng ta sẽ cùng nghiên cứu trong quý II của
năm 2010.
 Bảng lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại
phổ biến như sau: (tính đến cuối quý I năm 2010)
Lãi suất Không 1 tuần – 1 Trên 12
Loại tiền 3 tháng 6 tháng 12 tháng
kỳ hạn tháng tháng
huy động

10,4- 10,4-
VND 2,4–3,0 8,0-9,0 10-10,2 10-10,3
10,49 10,49

USD
Nhóm
0,2-0,3 1,0 1,0 1,0 1,0
(áp dụng đối với
NHTMNN TCKT)

USD
0,2-0,3 2,3-2,8 2,6-3,2 3,0-4,0 3,4-4,0
(áp dụng đ/v cá nhân)

10,0- 10,3- 10,3- 10,4- 10,4-
VND 2,4-4,2
10,49 10,499 10,499 10,499 10,499

Nhóm USD
0,2-0,5 1,0 1,0 1,0 1,0
NHTMCP (áp dụng đối với
TCKT)

USD 0,25-1,0 3,3-4,0 3,5-4,2 3,6-4,5 3,8-4,8



11
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


(áp dụng đ/v cá nhân)

Loại tiền Ngắn hạn Trung,dài hạn
Lãi suất cho vay

VND 12,0 14,0-15,0
Nhóm
NHTMNN USD 5,5-6,0 6,0-7,0

VND 12,0 15,0-17,0
Nhóm
NHTMCP USD 6,0-8,0 6,5-8,0

(Nguồn: Thông cáo báo chí - Thông tin hoạt động ngân hàng của Ngân
hàng Nhà nước)
 Quý II năm 2010:
Những tuần đầu tháng 4 mặt bằng lãi suất trên thị trường vẫn chưa có nhiều
thay đ ổi đáng kể, bình quân LSHĐ của các ngân hàng là 13 - 14%/năm cho nên lãi
suất cho vay của ngân hàng đa số là 18%, cá biệt có ngân hàng 20%, còn 16%/năm
thì rất ít ngân hàng cho vay. Muốn trả được lãi suất trên thì doanh nghiệp phải có lợi
nhuận từ 25%/năm trở lên, và ngành sản xuất thì không thể đảm bảo được mức lợi
nhuận đó. Trong buổi họp ngày 10/4/2010 giữa Thống đốc NHNN Nguyễn Văn
Giàu cùng một số ngân h àng lớn đ ã đồng thuận giảm lãi suất xuống phổ biến chỉ
còn 14 - 15%/năm, tương đương m ức lãi suất năm 2007. Mức trên dù vẫn còn cao
nhưng đ ã phần nào thấp hơn so với mức lãi su ất từ 16% - 18% mà doanh nghiệp
đang gánh hiện nay.
 Một số ngân hàng và các mức lãi suất cam kết cho vay đã báo cáo với
NHNN:
Mức lãi suất cho vay
Ngân hàng
Tối đa Xuất khẩu
Nông dân

Agribank 14,5% 13,2% 14%

VietinBank 14% 13,5% 13,5%

Vietcombank 14% - 14,5%

BIDV 14% 13% 12%

Hàng Hải 15% - 12%

Sacombank 15% 13,8% 14%

ACB 14%-15% 14,5% 14%

Đông Á 15,6% 15% 14,4%

VPBank 14,5% - 14%

Eximbank 15% 15% -



12
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Techcombank 18% 17,5% 16,25%

Quân Đội 13,7%-14,5% - 13,7%

Quốc tế (VIB) 15% 15% 14%

Một yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này đ ó là NHNN cần có những chính sách
phù hợp hơn để đưa lãi suất về đ úng yêu cầu của thị trường. Hiện tại vẫn chưa có
hồi kết cho câu hỏi là áp dụng cơ chế nào cho LSHĐ tín dụng ngân hàng thương
mại, theo cơ ch ế đồng thuận trần LSHĐ do Hiệp hội NHTM chủ xướng với sự đồng
tình của NHNN, hay áp dụng ngay tự do hóa lãi su ất đầu vào cho tương thích với cơ
ch ế thỏa thuận lãi suất đầu ra đã áp dụng từ đầu năm mà Ủy ban giám sát tài chính
quốc gia mới khuyến cáo?
Một thực tế đặt ra là dư ờng như cơ ch ế đồng thuận trần lãi su ất chỉ có giá trị
danh nghĩa, dễ dàng bị lách qua hoặc án binh bất động, hay chỉ thực hiện có tính
tượng trưng, hình thức bởi vô số chiêu khuyến m ãi đủ loại và ngày càng phong phú.
Bằng chứng là cả hai chiến dịch do Hiệp hội ngân hàng đưa ra về đồng thuận giảm
LSHĐ xuống 10% được phát động vào những tháng đ ầu năm 2010, và đợt đồng
thu ận hiện đang triển khai về nâng LSHĐ không quá trần 12% đ ã không có kết quả
bao nhiêu. Mức trần kéo LSHĐ xu ống 10 % đã bất khả thi, còn mức trần 12% th ì
nhanh chóng trở thành mức sàn, vì th ực tế nhiều ngân hàng đã huy động trên 13.5 -
14%, th ậm chí với mức cao hơn cho những khách gửi tiền lớn và biết trả giá. Thông
điệp của sự bất thành trong cả hai đợt đồng thuận trần LSHĐ này ph ải chăng chỉ có
một, đó là m ức trần lãi suất đồng thuận đặt ra không khả thi, hoặc nếu thực thi th ì
“lợi bất cập hại” vì không đ áp ứng cung cầu thị trư ờng tài chính trong nước ?
Trần lãi suất tồn tại trong bối cảnh chưa có cơ chế thị trường hoàn hảo và
tình hình thị trường tài chính trong nước có những biến động thất thường, với mục
tiêu kỳ vọng tiết giảm cạnh tranh không lành mạnh, các hiện tượng lừa đảo, nhằm
ổn định thị trường tài chính và n ền kinh tế vĩ mô trong n ước nói chung... Vì vậy,
cùng với việc áp dụng lãi su ất cho vay th ỏa thuận, việc b ãi bỏ cơ chế trần LSHĐ sẽ
có những tác động tích cực đến thị trường tài chính - n gân hàng nói riêng, n ền kinh
tế nói chung, cụ thể:
 Th ứ nhất, tăng huy động vốn cho đầu tư xã hội thông qua hệ thống ngân
hàng và nâng cao vị thế ngân hàng trong nền kinh tế.
Trần LSHĐ nh ất là khi bị định thấp, khiến người gửi không hào hứng với
việc gửi tiền và các NHTM gặp hạn chế trong việc huy động vốn xã hội, nhất là khi
có xu hướng gia tăng lạm phát và chậm hồi phục nền kinh tế. Điều này tạo ra sự
khan hiếm nguồn vốn hoạt động của các ngân h àng, cũng như làm giảm vai trò của
ngân hàng với tư cách nguồn cung vốn chủ yếu cho nền kinh tế, tức đồng nghĩa với
sự tắc nghẽn lưu thông tiền tệ, đ è nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế. Thực tế bán
trái phiếu chính phủ và kết quả huy động vốn của các ngân hàng trong nước thời
gian gần đây cho thấy điều đó (tăng trưởng huy động vốn ngân hàng trong 2 tháng
đầu năm 2010 giảm nhẹ 0,17% so với cuối năm 2009). Nói cách khác, bãi bỏ trần
LSHĐ cũng có nghĩa là trực tiếp tạo điều kiện thúc đẩy tăng huy động vốn cho đầu



13
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


tư xã hội thông qua hệ thống ngân hàng và nâng cao vị thế ngân h àng trong nền
kinh tế.
 Th ứ hai, gia tăng tính minh bạch và tính thị trường trong huy động và
cho vay vốn ngân hàng, cũng như trong quản lý nhà nước.
Trần LSHĐ được các NHTM làm tăng những biến tướng và bất bình thường
do tìm cách lách lu ật trong huy động vốn, như chuyển đổi cơ cấu tín dụng, làm mất
ý n ghĩa các loại lãi suất tín dụng ngắn hạn và dài h ạn, cũng như làm giảm các khoản
vốn huy động và cho vay dài h ạn trong cơ cấu vốn ngân hàng và gia tăng các hình
thức th ưởng, khuyến mãi hay là quà tặng dưới mọi hình thức khác.
Chẳng hạn như ngày 9 /3/2010, Ngân hàng thương m ại cổ phần Á Châu
(ACB) đưa ra mức LSHĐ tiền gửi tiết kiệm v à tiền gửi thanh toán linh hoạt lãi suất
thả nổi tiền đồng kỳ hạn 36 tháng từ 10.44 - 10.499%/năm. Điểm đặc biệt là khoản
tiền nhỏ từ 5 đ ến 10 tỷ đồng k ỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng đều bằng 10.499%/
năm. Cùng ngày, một ngân hàng cổ phần đẩy LSHĐ trần từ 9.6%/năm lên
10.49%/năm. Trên thực tế, với dự báo lạm phát và tỷ giá như hiện nay thì nếu tiếp
tục giữ mức trần là 10.5%, chắc chắn ngân hàng sẽ tìm cách đi đường vòng đ ể tăng
lãi suất thật lên. Điều này làm cho LSHĐ trở n ên méo mó. Mức lãi suất thự c tế mà
các ngân hàng huy động h iện tại là từ 13 - 14%/năm.
Vì vậy, b ãi bỏ trần LSHĐ sẽ không ch ỉ trực tiếp giúp gỡ bỏ, giảm nhanh nhất
và triệt để nhất những tắc nghẽn, biến dạng đó, cải thiện cơ cấu và chất lượng tín
dụng (nhất là tăng các khoản vay và cho vay trung và dài h ạn), mà còn còn thúc đẩy
cạnh tranh thị trường và cho phép các ngân hàng m ạnh và năng động triển khai các
kế hoạch kinh doanh có hiệu quả, từ đó có thêm cơ hội gia tăng mức độ chuẩn hóa
và sức cạnh tranh của m ình trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập tài chính ngày
càng đầy đủ h ơn.
Đặc biệt, bỏ trần LSHĐ sẽ giúp các cơ quan quản lý có thông tin về các động
thái, diễn biến của thị trường chính xác, minh bạch hơn và ra các quyết định quản lý
thích h ợp, hiệu quả hơn. Cơ chế thị trường sẽ sớm xác lập và hoàn thiện hơn, và do
đó tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước với các nhà đầu tư trong
nước và nước ngoài.
 Thứ ba, gia tăng cơ hội và lợi ích cho doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn
vốn ngân hàng và trong đầu tư xã hội.
Hơn nữa, việc b ãi bỏ trần LSHĐ và áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận sẽ có
lợi cho doanh nghiệp ; một mặt, các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận với
nguồn vốn ngân hàng được dồi dào hơn và có tính thanh khoản cao hơn. Mặt khác,
khi n guồn vốn dồi d ào m à các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động cho vay, thì các
doanh nghiệp có th ể nhận được lãi suất cho vay của các ngân hàng thấp dần nhờ hệ
quả của áp lực quy luật cung - cầu thị trường và áp lực cạnh tranh giữa các ngân
hàng. Thêm vào đó, việc gỡ bỏ đồng bộ trần lãi suất ngân hàng cả đầu vào và đầu ra
còn giúp loại bỏ các doanh nghiệp kinh doanh yếu kém, các dự án vay không mang
tính thị trường hay có tính đầu cơ cao. Đồng thời tăng nguồn vốn đầu tư cho những
dự án kinh doanh sản xuất hiệu quả.




14
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


 Thứ tư, gia tăng lợi ích của ng ười gửi tiền vào ngân hàng và các lợi ích
khác góp phần kiềm chế lạm phát.
Bỏ trần LSHĐ đồng nghĩa với việc người gửi tiền có cơ hội nhận được lãi
suất gửi tiền cao hơn và có lợi hơn cho các khoản tiền gửi của m ình trong n gân
hàng. Đến lượt mình, đ iều đó kích thích tiết kiệm chi tiêu xã hội, giảm lượng tiền
trong lưu thông, h ạn chế đầu cơ không có lợi vào các ho ạt động kinh doanh khác,
như chứng khoán, bất động sản, góp phần giảm lạm phát, tăng luồng vốn đổ vào
trong nước từ các nguồn vốn rẻ trên th ế giới...
Tóm lại, bãi bỏ trần LSHĐ ở mức độ và góc độ nào đó, về cơ bản, sẽ có tác
dụng và có ý nghĩa tốt cho cả ngân hàng, doanh nghiệp, người dân và Nhà nư ớc, cả
cấp vi mô và vĩ mô, cả trước mắt và lâu dài, cả trong nước và trên phạm vi quốc tế.
Tuy nhiên, việc b ãi bỏ trần LSHĐ bất chấp những điều kiện chưa chín muồi
cũng có thể gây ra những hệ quả bất lợi khó lường định, như:
 Một là thúc đẩy quá trình tái cơ cấu vốn và chuyển dịch nguồn vốn bất
thường giữa các ngân hàng gây xáo trộn kế hoạch kinh doanh của các
ngân hàng.
Về cả lý thuyết và thự c tiễn, thông thường người đi gửi tiền không phân biệt
và cũng chẳng cần quan tâm đến lãi suất cơ b ản, huy trần LSHĐ làm gì. Điều mà họ
quan tâm đó là m ức lãi suất tối đa mà họ có thể nhận được là bao nhiêu, đối với họ
ai huy động cao thì gửi, thậm chí không cần biết tư cách pháp nhân và mục tiêu huy
động vốn của người huy đ ộng. Trước sự hấp dẫn của lãi suất mới do cạnh tranh ở
các ngân h àng sau khi gỡ bỏ trần LSHĐ, có thể gia tăng các hoạt động rút tiền của
người gửi để gử i vào các ngân hàng có lãi suất cao hơn. Điều n ày là chính đáng và
dễ hiểu, nhưng nếu kiểm soát không tốt lại có thể tạo ra nhữ ng làn sóng rút tiền và
gửi tiền theo tâm lý đám đông, tạo ra vòng xoáy xáo trộn luồng vố n, cơ cấu vốn và
các kế hoạch kinh doanh của các ngân h àng, cũng như vốn đầu tư xã hội. Điều này
có thể khiến cho một ngân hàng nào đó không chịu nổi áp lực rút vốn bất thường
buộc phải tăng LSHĐ, hoặc chịu áp lực thanh khoản cao, có thể phá sản cục bộ
hoặc giải thể.
 Hai là có thể gia tăng hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, lừa đảo
và vỡ nợ tín d ụng dây chuyền mang tính xã hội
Hiện tại thì quy mô hoạt động của hệ thống NHTM còn rất khiêm tốn , vốn
điều lệ còn thấp do đó NHNN đã đưa ra lộ trình tăng vốn buộc các ngân hàng phải
tăng vốn lên 3000 tỷ vào cuối năm 2010. NHNN đã rất thận trọng trong việc quyết
định cho các NHTM tăng vốn nhằm đảm bảo được tính an toàn thanh khoản. Nếu
trần LSHĐ được bãi bõ thì áp lực cạnh tranh của các NHTM sẽ tăng lên, rủi ro
thanh khoản cũng từ đó tăng lên do phải chạy đua về LSHĐ. Do vậy, việc b ãi bỏ
trần LSHĐ có thể, trong thời gian đầu, làm gia tăng ít nhiều một số hoạt động huy
động vốn với lãi su ất cao kể cả sự gia tăng luồng vốn gián tiếp nước ngoài rẻ đổ vào
Việt Nam với những hệ lụy có thể là gây sốc vốn và rủi ro thanh khoản cho các
ngân hàng như khi bị rút vốn đột ngột…
 Và cuối cùng, tạo sức ép mới về hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước
đối với thị trường tài chính


15
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Bởi việc bãi bỏ trần LSHĐ sẽ tước đi một công cụ quản lý kinh tế - tài chính
Nhà nước trực tiếp quen thuộc của NHNN đối với các NHTM, đồng thời làm tăng
yêu cầu nhanh chóng đổi mới cách thức điều hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước trên thị trường tài chính - n gân hàng Việt Nam nhằm đáp ứng những
nhiệm vụ và bối cảnh mới cả trong nước và quốc tế.
Ngày 14/4, NHNN đã công bố thông tư 12 về cho vay theo lãi suất thỏa
thu ận, chính thức dỡ bỏ trần lãi su ất cho vay, tức cho phép áp dụng lãi suất thỏa
thu ận đối với các khoản vay ngắn và trung dài hạn. Cùng n gày, h àng lo ạt ngân h àng
công bố LSHĐ m ới, tối đa d ưới 12%/năm. Điểm khác là lãi suất có cao có thấp,
không còn gửi ngắn hay dài cùng mức lãi suất, thậm chí nhiều ngân hàng cũng bỏ
khuyến m ãi, thưởng lãi su ất. Với việc cho phép tự do hóa lãi su ất, LSHĐ của các
ngân hàng cũng xem như được tự do, không còn bị ràng buộc bởi mức trần
10,5%/năm như cam kết với Hiệp hội Ngân h àng, và ngân hàng cũng đã có thể hợp
thức hóa được mức LSHĐ cao của mình, không còn lách trần bằng các loại tiền
thưởng, hay quà như trước nữa.
Vì thế, Ngân hàng ACB trong ngày 13/4 đã trở thành ngân hàng tiên phong
đưa ra biểu LSHĐ mới vượt mức lãi suất trần huy động. Lãi suất niêm yết chính
thức của ACB hiện nay cao nhất là 11,5%/năm và sau đó hàng loạt các ngân h àng
khác cũng chính th ức niêm yết LSHĐ cao hơn xung quanh mức 11.5%/năm , không
còn ở cùng một mức 10,49%/năm như trước đây, lãi su ất cho vay thỏa thuận bình
quân từ 14 - 17%/năm, riêng lãi suất vay tiêu dùng ở các công ty tài chính khoản 25
- 30%/năm.
Giảm lãi suất ngân hàng cần thêm thêm thời gian:
Theo các NHTM, với sự định của nền kinh tế vĩ mô, sự hỗ trợ của NHNN,
cung - cầu vốn trên th ị trường th ì khả năng giảm lãi suất thị trường là hoàn toàn có
thể thực hiện được. Tuy nhiên, dù bày tỏ đồng thuận về chủ trương hạ lãi suất
nhưng các ngân hàng cũng cho rằng, với tình hình hiện nay, việc giảm lãi su ất là rất
khó thực hiện ngay và cần có thêm thời gian. Vì thế, các ngân hàng đề n ghị việc
giảm mặt bằng lãi su ất n ên có lộ trình nhất định. Trước hết tập trung vào giảm lãi
suất kỳ hạn ngắn và giảm lãi suất cho vay đối với các đối tượng khách hàng và lĩnh
vực sản xuất - kinh doanh như Chính phủ yêu cầu.
Để thuận lợi cho giảm lãi suất, các NHTM cũng đề nghị nên giải quyết mối
quan hệ phù hợp giữa lãi suất trái phiếu Chính phủ và lãi suất kinh doanh ngân
hàng, tạo điều kiện cho các NHTM có căn cứ giảm lãi su ất kinh doanh mà vẫn thu
hút được vốn từ nền kinh tế. Đáp lại đề nghị từ các ngân h àng, NHNN sẽ tiếp tục có
các biện pháp phù h ợp để hạ LSHĐ VND xuống khoảng 10%, lãi suất cho vay
VND khoảng 12% và dùng các công cụ của chính sách tiền tệ một cách linh hoạt và
chủ động để hỗ trợ các NHTM giảm mặt bằng lãi su ất kinh doanh và tăng thanh
khoản cho nền kinh tế.
Mặc dù đồng thuận và cam kết sẽ hạ dần lãi su ất, tuy nhiên, trên th ị trường
diễn biến lãi suất của các ngân hàng vẫn có dấu hiệu tăng lên. Muốn giảm lãi suất
cho vay thì các ngân hàng phải giảm LSHĐ. Tuy nhiên, trên th ực tế LSHĐ của các
ngân hàng cổ phần, đặc b iệt là những ngân hàng nhỏ, vẫn còn khá cao; nếu tính
luôn cả khuyến mãi thì thấp nhất cũng là 12%/năm, còn cao thì đến 14%/năm. Điều


16
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


đó khiến cho lãi suất cho vay không thể giảm nhanh theo lời kêu gọi của Hiệp hội
Ngân hàng. Lý do mà LSHĐ cũng như lãi suất cho vay chưa thể giảm nhanh là vì
nguồn vốn huy động của các ngân hàng chủ yếu đến từ tiết kiệm dân cư và vốn
nhàn rỗi của doanh nghiệp. Vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp hiện cũng đ ã n ằm trong
ngân hàng chứ không thể giữ ở nhà, có chăng chỉ là ch ạy từ ngân h àng này sang
ngân hàng khác nên không th ể tăng mạnh, trong khi tiền nhàn rỗi của dân cư thì
không thể tăng trong một sớm một chiều. Ngân hàng cũng không dám giảm nhanh
LSHĐ từ dân cư, cho nên lãi su ất cho vay khó lòng giảm vào lúc này.
Theo NHNN, tăng trư ởng vốn huy động của to àn ngành ngân hàng trong
tháng 5 là 2,53%, còn so với cuối năm 2009, tăng trưởng huy động vốn của các
ngân hàng đ ạt 7,8%. Trong khi đó, tăng trư ởng tín dụng tháng 5 của hệ thốn g ngân
hàng là 1,86%, và trong năm tháng đầu năm, con số n ày tăng 7,46% so với cuối
năm 2009.
 Bảng lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại
phổ biến như sau: (tính đến cuối quý II năm 2010)
Không k ỳ
Lãi suất huy Trên 12
Loại tiền 3 tháng 6 tháng 12 tháng
hạn
động niêm yết tháng

VND 2,4–3,0 11-11,5 11-11,5 11-11,5 10,5-11,5

USD
0,2-0,3 1,0 1,0 1,0 1,0
dụng đ/v
(áp
Nhóm
TCKT)
NHTMNN
USD
0,2-0,3 3,4-3,5 3,5-3,8 3,5-4,2 3,8-4,3
(áp dụng đ/v cá
nhân)

VND 2,4-4,2 11-11,5 11-11,5 11-11,5 11-11,5

USD
0,2-0,5 1,0 1,0 1,0 1,0
dụng đ/v
(áp
Nhóm
TCKT)
NHTMCP
USD
0,25-1,0 3,5-4,2 3,6-4,4 4,0-4,7 4,0-5,0
(áp dụng đ/v cá
nhân)




Lãi suất cho vay
Loại tiền Ngắn hạn Trung, dài hạn
phục vụ SX - KD

13-14 13,5-14,5
VND
Nhóm
(Trong đó đối với sx nông nghiệp, nông
NHTMNN
thôn và xuất khẩu)
12-12,5 13-13,5




17
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


USD 5,5-6,0 6,0-7,0

14-14,5 14,5-15,5
VND
(Trong đó đối với sx nông nghiệp, nông
Nhóm
thôn và xuất khẩu)
NHTMCP
12,5-13,5 13,5-14,5

USD 6,0-8,0 6,5-8,0

(Nguồn: Thông cáo báo chí - Thông tin hoạt động ngân hàng của Ngân
hàng Nhà nước)
 Quý III năm 2010:
Theo đại diện NHNN, trong sáu tháng đ ầu năm 2010, LSHĐ tại các TCTD
giảm 0,7%, trong khi lãi su ất cho vay tương ứng giảm 1%. Ở thời điểm hiện tại,
LSHĐ bình quân trên tất cả các kỳ hạn của NHTM đ ạt 11%, lãi su ất cho vay là
13,4%. Kể từ 1/7, tất cả các NHTM n hà nước và một số ngân hàng cổ phần lớn
cũng đã áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi 12 - 12,4%/năm đối với khu vực nông
nghiệp, nông thôn, cho vay phục vụ xuất nhập khẩu cũng như các doanh nghiệp vừa
và nhỏ. Các thành viên của Hiệp hội Ngân hàng cũng cam kết sẽ tiếp tục giảm lãi
suất trong quý III năm nay.
Số liệu từ NHNN TP.HCM cho biết, tăng trưởng tín dụng trong sáu tháng ch ỉ
là 6,6% trong khi đến cuối tháng 7, mức tăng n ày đã đạt đến 11,3%. Trong đó, tăng
trưởng tín dụng bằng VND đ ã tăng khá m ạnh, với mức 4% trong tháng 7/2010, đưa
mức tăng trưởng của bảy tháng đ ầu năm lên 5,7% so với cuối năm 2009. Tuy nhiên,
mức tăng này của VND vẫn thấp h ơn nhiều so với mức tăng 5,4% của tín dụng bằng
ngoại tệ, chủ yếu là đô la M ỹ. Và n ếu xem xét số liệu trong cả bảy tháng thì tăng
trưởng tín dụng ngoại tệ (28,8%) vẫn cao hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng
bằng tiền đồng.
Trong tháng 7, nhằm hỗ trợ các NHTM, NHNN cũng đã có nhiều giải pháp
bơm vốn giá rẻ nh ằm đảm bảo nguồn vốn cung cấp cho nền kinh tế. Trong hai tuần
cuối tháng 7, biểu lãi suất niêm yết của 36 ngân hàng cho th ấy, các ngân h àng đang
dần dần đưa LSHĐ VND ở hầu hết các kỳ hạn về quanh mức 11,2% với mức lãi
suất trung bình cao nhất 11,3%/năm h iện thuộc về các kỳ hạn 6 và 12 tháng. Trong
khi đó, các kỳ hạn dài hơn từ 13 - 36 tháng còn có mức lãi suất trung bình th ấp hơn
rất nhiều khoảng 10,97%/năm.
Mặt bằng LSHĐ và cho vay VND trong tháng 8/2010 có xu hướng ổn định,
trong đó LSHĐ VND dao động ở mức 10,6 - 11,2%/năm; lãi suất cho vay VND
ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 12 - 12,5%/năm đối với nhóm
NHTM n hà nước và 12,5 - 13,5%/năm đối với nhóm NHTM cổ phần, lãi suất cho
vay kinh doanh khác phổ biến ở mức 13 - 1 5%/năm. Lãi su ất cho vay kinh doanh
chứng khoán, tiêu dùng phổ biến ở mức 16 - 20%/năm.
Sau nhiều nỗ lực nhằm thiết lập mặt bằng lãi suất "vào 10 ra 12", đến thời
điểm n ày vẫn chưa có dấu hiệu cho thấy sớm đạt mục tiêu mà NHNN đ ề ra. Lý giải
về căn nguyên của tình trạng n ày sở dĩ mục tiêu giảm lãi su ất chưa đạt đư ợc là do


18
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


các giải pháp đưa ra mới chỉ giải quyết phần ngọn, trong khi gốc rễ của vấn đề về
mặt bằng lãi suất vẫn chưa được xử lý dứt điểm. Có thể căn nguyên là do hai đối
tượng sau:
Thứ nhất là các NHTM cổ phần:
 Lãi su ất là giá của đồng vốn được hình thành và tác động khách quan bởi
cung - cầu vốn trên thị trường. Ngo ài ra, biến động lãi suất có thể bị tác động do các
chính sách chủ quan của cơ quan qu ản lý.
 Các chính sách này có thể là những biện pháp hành chính ngắn hạn tác động
trực tiếp, tức thời vào lãi suất, hoặc các chính sách có tính chất định hướng d ài hạn
để tác động vào tương quan cung - cầu vốn trong tương lai và qua đó tác động vào
lãi su ất.
 Mặt bằng lãi su ất cao phản ánh tình trạng cung nhỏ h ơn cầu vốn và là hệ quả
của một quá trình tích tụ kéo dài, chứ không đ ơn thuần là do các nguyên nhân tức
thời tác động. Điều này thường tồn tại ở các nước đang phát triển.
Đối với Việt Nam, sở dĩ lãi su ất cao suốt thời gian qua là do ảnh hưởng của
tình trạng lạm phát, bất ổn kinh tế vĩ mô, sự kém hiệu quả của nền kinh tế nói chung
và thị trư ờng tài chính nói riêng, do cả các nguyên nhân khách quan và chủ quan từ
trước đó. Khi các yêu cầu, chuẩn mực về an to àn hoạt động và quản lý rủi ro được
áp dụng với các ngân hàng còn thấp, th ì có th ể dẫn đến hiện tượng các ngân hàng có
môi trường để cạnh tranh chủ yếu bằng lãi suất chứ không phải bằng chất lượng sản
phẩm, dịch vụ.
Như đã đề cập các ngân hàng Việt Nam cạnh tranh nhau chủ yếu bằng lãi suất,
nên luôn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện cuộc đua tăng LSHĐ. Trong khi các ngân hàng
lớn khá trường vốn, thì không hiếm ngân hàng yếu, mới ra đời, quy mô vừa và nhỏ
thường đối mặt với khó khăn trong đảm bảo thanh khoản. Bởi vậy, để tồn tại được,
họ thường luôn đưa ra mức LSHĐ cao nhằm huy động được vốn bằng mọi giá. Đây
có thể là một lý do quan trọng khiến mặt bằng LSHĐ luôn trong trạng thái có thể bị
phá vỡ và đ ẩy lên mức cao bất cứ lúc nào.
Thứ hai là các doanh nghiệp trong nước:
Đó là các doanh nghiệp yếu kém, tiêu tốn nhiều nguồn lực, nhưng hiệu quả
mang lại thấp; thậm chí làm ăn thua lỗ kéo dài, nhưng vẫn phải tìm đủ cách huy
động vốn để tồn tại, qua đó tác động khiến lãi suất cho vay của các ngân hàng luôn
tiềm ẩn nguy cơ bị đẩy lên cao. Căn nguyên của tình trạng n ày là do số doanh
nghiệp làm ăn yếu kém phải phá sản theo Luật Phá sản đến nay rất ít. Điều này gây
nên những tác động tiêu cực đến "sức khỏe" của nền kinh tế.
Một nền kinh tế chỉ thực sự khỏe, lành mạnh khi nó có kh ả năng đào thải một
cách có hiệu quả các doanh nghiệp hoạt động yếu kém, buộc và tạo điều kiện để các
doanh nghiệp này phá sản. Bởi chỉ như vậy thì nguồn lực từ các doanh nghiệp hoạt
động yếu kém mới đư ợc nhanh chóng chuyển hóa sang cho các doanh nghiệp có
khả năng làm ăn hiệu quả hơn. Chính vì "bộ lọc" doanh nghiệp yếu kém của nền
kinh tế có vấn đề, nên dẫn đến tình trạng để sinh tồn được, các doanh nghiệp này
tìm đủ mọi cách nhằm có vốn sản xuất - kinh doanh. Hệ quả là họ chấp nhận trả lãi



19
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


suất với mức cao miễn sao có đư ợc vốn, nên đ ã tạo ra phản ứng dây chuyền khiến
mặt bằng lãi suất cho vay tăng.
Tính đ ến ngày 16/9/2010, so với cuối năm trước, tổng phương tiện thanh
toán tăng 18,5%, vốn huy động tăng 21,5%, tín dụng đối với nền kinh tế tăng
17,81%. Khả năng thanh khoản củ a hệ thống ngân h àng được đảm bảo.
Mặt bằng LSHĐ và cho vay VND của các TCTD với khách h àng có xu
hướng giảm, trong đó LSHĐ VND dao động ở mức 10,59 - 11,2%/năm, giảm 0,2 -
0,3%/năm so với cuối Quý II/2010; lãi suất cho vay VND ngắn hạn đối với các lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa phổ
biến ở mức 12 - 12,5%/năm đối với nhóm NHTM n hà nước và 12,5 - 13,5%/năm
đối với nhóm NHTM cổ phần, các loại lãi suất cho vay khác phổ biến ở mức 13 -
15%/năm. LSHĐ bằng USD tăng khoảng 0,1 - 0,3%/năm so với cuối Quý II/2010
và lãi suất cho vay bằng USD ít biến động.
 Bảng lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại
phổ biến như sau: (tính đến cuối quý III năm 2010)
Lãi suất
kỳ 1 tháng trở
Không Trên 12
Loại tiền 3 tháng 6 tháng 12 tháng
huy động
hạn xuống tháng
niêm yết

VND 2,4–3,0 7,5-10,5 11-11,2 11-11,2 11-11,2 10,5-11,2

USD
0,2-0,3 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0
Nhóm (a/d đối với
TCKT)
NHTMNN
USD
0,2-0,3 3,5-3,7 3,6-3,9 3,8-4,2 3,5-4,5 3,8-4,5
(a/d đ/v cá
nhân)

VND 2,4-4,2 7,8-11 11-11,2 11-11,2 11-11,2 10,5-11,2

USD
0,2-0,5 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0
Nhóm (a/d đối với
TCKT)
NHTMCP
USD
0,25-1,0 3,6-4,2 3,9-4,6 4,2-5,0 4,2-5,2 4,5-5,3
(a/d đ/v cá
nhân)




20
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Lãi suất cho
Loại tiền Ngắn hạn Trung, dài hạn
vay phục vụ
SX - KD

13-14 13,5-14,5
VND
(Trong đó đối với sx nông nghiệp, nông thôn
Nhóm
và xuất khẩu)
NHTMNN
11-12,5 12,5-13,5

USD 5,5-6,0 6,0-7,0

13,5-14,5 14-15,5
VND
(Trong đó đối với sx nông nghiệp, nông thôn
Nhóm
và xuất khẩu)
NHTMCP
11,5-13 13,5-14,5

USD 5,5-6,5 6,5-8,0

(Nguồn: Thông cáo báo chí - Thông tin hoạt động ngân hàng của Ngân
hàng Nhà nước)
 Quý IV năm 2010:
Mặc dù nhu cầu vay vốn từ các doanh nghiệp thường gia tăng trong các
tháng cuối năm nhưng với những quy định sắp có hiệu lực của NHNN về an toàn
vốn lẫn thực tế làm ăn thua lỗ của doanh nghiệp n ên các ngân hàng thấy khó có tăng
trưởng tín dụng trong những tháng còn lại của năm. Chẳng hạn như là Thông tư 13
quy định về các tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động ngân h àng sẽ cản trở hoạt động
cho vay của ngân h àng. Thông tư 13 có hiệu lực vào ngày 1/10/2010 yêu cầu các
ngân hàng phải đảm bảo tỷ lệ cho vay và huy động không quá 80% mà vốn huy
động n ày không tính tiền gửi không kỳ hạn, sau khi sửa đổi được bổ sung thêm 25%
tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế (trừ TCTD) vào nguồn vốn huy động
để cấp tín dụng, vì vậy nhiều ngân h àng đang ch ạy đua thu hút tiền gửi để đảm bảo
quy định trên.
Sau khi thông tư 13 chính thức có hiệu lực vào ngày 1/10/2010. Các NHTM
đã đồng loạt giảm LSHĐ bằng tiền đồng từ cao nhất 11,2% xuống còn cao nhất
11%/năm, theo như lời kêu gọi của Hiệp hội Ngân h àng trước đó. Các ngân hàng
lớn như ACB, Vietcombank, Eximbank từ cuối tuần trước đã bắt đầu niêm yết bảng
lãi su ất tiền đồng mới với mức cao nhất là 11%/năm. Sau đó, các ngân hàng khác
đồng loạt giảm lãi suất của mình còn cao nhất chỉ là 11%/năm.
Lãi suất cho vay trung dài h ạn phổ biến ở mức 13,5 - 14,5%/năm tại các
NHTM nhà nước và 14 - 15,5% tại các NHTM cổ phần, lãi su ất cho vay lĩnh vực
phi sản xuất là 15 - 17%/năm. Một số ý kiến cho rằng, lãi suất cao là do hai yếu tố
sau: thứ nhất, các TCTD gặp khó khăn về nguồn vốn, trong đó quy định TCTD
không được vay trên thị trư ờng liên ngân hàng quá 20% vốn huy động từ dân cư và
doanh nghiệp, thứ hai là Thông tư số 13 thắt chặt các quy định an toàn.



21
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Phân tích về nguyên nhân lãi suất vẫn ở mức cao xuất phát từ
Thông tư 13 của NHNN:
Theo quy định tại Thôn g tư số 13/2010/TT - NHNN ngày 20/5/2010 của
NHNN thì TCTD chỉ đ ược sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng với điều
kiện trước và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ khả năng chi trả và các t ỷ lệ
đảm bảo an to àn khác quy định tại thông tư này và không vượt quá tỷ lệ 80% (đối
với ngân hàng, ho ặc 85% (đối với các TCTD phi ngân h àng). Nghĩa là ngân hàng
huy động được 100 tỉ đồng thì chỉ được cho vay tối đa 80 tỉ đồng, số còn lại để phục
vụ cho công tác thanh kho ản.
Trong các tỷ lệ đảm bảo an toàn khác, có tỷ lệ “an toàn vốn tối thiểu” gọi tắt
là CAR (Capital Adequacy Ratio) được nâng từ mức CAR >8% hiện hành lên mức
> 9% theo Thông tư 13. Như vậy, theo quy định này, các ngân hàng phải giảm
nguồn vốn huy động hay giảm tổng tài sản có đã được điều chỉnh theo mức độ rủi
ro (m ẫu số). Trong tài sản có rủi ro hiện nay của ngân h àng chủ yếu vẫn là tín dụng.
Nghĩa là trước đây ngân hàng có 100 tỉ đồng vốn tự có thì được huy động tối đa
1.250 tỉ đồng (gấp 12,5 lần vốn tự có) để cho vay và thực hiện các hoạt động kinh
doanh khác (100 tỉ/1.250 tỉ = 8%). Nay theo quy định mới, với 100 tỉ đồng vốn tự
có, các ngân hàng chỉ được huy động 1.110 tỉ đồng để cho vay, kinh doanh
(100/1.110 =9%) giảm 140 tỉ đồng tài sản có sinh lời. Như vậy, ngo ài rào cản kỹ
thu ật thứ nhất là các ngân hàng ch ỉ được phép sử dụng 80% vốn huy động để cấp
tín dụng, thì ở rào cản thứ hai ngân h àng phải giảm vốn huy động để cho vay.
Điều này cho thấy, khi chi phí bỏ ra quá lớn cho khoản dự phòng thanh
khoản 20 tỉ đồng (100 tỉ - 80 tỉ) không có khả năng sinh lời như phân tích trên, th ì
lãi suất cho vay khó có thể giảm. Khi lãi suất cho vay khó giảm th ì đương nhiên
LSHĐ cũng khó bớt đi. Hơn nữa, khi tỷ lệ CAR tăng từ 8% lên 9% thì ngân hàng
phải giảm huy đ ộng, giảm tài sản có sinh lời, điều đó cũng đồng nghĩa với mức tăng
trưởng tín dụng khó có thể tăng lên do ngân hàng thiếu nguồn vốn.
Rõ ràng, để đạt mục tiêu an toàn hoạt động thì ngân hàng phải cắt giảm cung
ứng tín dụng và giảm nguồn vốn huy động theo quy đ ịnh CAR... dẫn đến tăng
trưởng tín dụng giảm xuống. Ngược lại, để đạt mục tiêu giảm lãi suất thì các tỷ lệ
trên phải được nới rộng ra, trong khi theo Thông tư số 13 thì các tỷ lệ trên bị thu
hẹp lại, dẫn đến các ngân h àng buộc phải tăng lãi suất để bù đ ắp cho những chi phí
thực hiện các nghĩa vụ.
Tuy nhiên, n ếu loại trừ hai yếu tố này thì lãi suất cho vay vẫn không giảm
với bằng chứng là nguồn vốn huy động trong chín tháng đầu năm tăng 21,5% và th ị
trường đư ợc coi là dư cung vì tín dụng chỉ tăng gần 18%. Vì thế, nguyên nhân sâu
xa của lãi suất cao cần được nhìn nhận từ thực tế yếu kém của thị trường tài chính
Việt Nam, trong đó nguyên nhân trực tiếp và nổi bật là do cơ chế lãi su ất thỏa thuận
đã cho phép các TCTD có quyền điều chỉnh lãi su ất cho vay tùy theo tình hình th ị
trường và nhiều TCTD đã điều chỉnh tăng lãi su ất theo định kỳ, nhưng người vay
phải chấp nhận vô điều kiện, điển h ình là đối với cho vay tiêu dùng với lãi suất
trung dài hạn khoảng 17%/năm. Ngoài ra, giá vàng, tỷ giá giữa đồng Việt Nam với
đô la Mỹ tăng cao và lo ngại về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sẽ tăng cao trong những
tháng cuối năm cũng là những yếu tố khiến cho việc giảm LSHĐ của các TCTD


22
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


gặp khó khăn. Nguyên nhân lãi suất cao có thể do TCTD phải huy động với lãi suất
cao, nhưng chừng nào lãi su ất cho vay còn cao thì vẫn có tình trạng “tạo sự khan
hiếm tiền đồng” để trục lợi và m ặt bằng lãi suất vì thế khó giảm nếu không nói là
không thể giảm.
Trước tình hình chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2010 tăng 1,05% so với tháng
trước, tăng 7,58% so với tháng 12/2009; tăng 9,66% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ
số giá tiêu dùng bình quân mười tháng năm nay tăng 8,75% so với bình quân mười
tháng năm 2009. Theo dự đoán, tỷ lệ lạm phát đến cuối năm sẽ vượt mức 8 % như
mục tiêu đã đề ra. NHNN chính thức phát đi tín hiệu sẽ thắt chặt tiền tệ trong thời
gian tới khi ngày 5/11 cơ quan này đã ra quyết định tăng lãi suất cơ bản bằng tiền
đồng từ 8% lên 9%/năm theo chủ trương kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Việc
này sẽ góp phần đẩy lãi suất của các ngân hàng trong thời gian tới theo xu h ướng
tăng.
Mức lãi suất cơ b ản mới sẽ đư ợc chính thức áp dụng từ ngày 5/11 sau 11
tháng duy trì ở mức 8%. Bên cạnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn của NHNN
cũng được điều chỉnh tăng từ 8% lên 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu tăng từ 6% lên
7%, và lãi suất qua đ êm tăng từ 8% lên 9%/năm. Từ thực tế này, giới phân tích tài
chính bình luận rằng, rất có thể quan điểm thả nổi lãi suất được xuất phát từ một
trong nhiều lý do, trong đó có con số trong vòng nửa đ ầu tháng 10/2010, người dân
và tổ chức đ ã rút ra kho ảng 45 nghìn tỷ đồng mua USD hoặc vàng do lo ngại sự mất
giá của VND khi CPI tăng cao. Vì th ế, thả nổi lãi suất từng bước là hợp lý.
Cùng đó, động thái kiểm soát chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước cũng góp
phần tạo nên tác động kép để vừa kiềm chế lạm phát, vừa đảm bảo lợi ích cho ngư ời
nắm giữ VND, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.
Hiện tại các ngân hàng đ ều được cho vay theo lãi suất thỏa thuận tức có thể
cao hơn 150% lãi su ất cơ b ản, tuy nhiên việc tăng các loại lãi su ất khác có nghĩa là
lãi su ất cho vay của NHNN đối với các NHTM sẽ tăng lên, đồng nghĩa với việc lãi
suất đầu vào của các ngân h àng sẽ tăng, dẫn tới khả năng NHTM khó mà duy trì
hoặc giảm lãi suất cho vay như yêu cầu của NHNN. Kết quả là một số ngân hàng đã
bắt đầu nâng LSHĐ bằng tiền đồng lên 12%/năm từ ngày 6/11. Và mức 12% trở
thành mức thỏa thuận chung của hầu hết các NHTM trong Hiệp hội ngân hàng.
Nếu như ngân hàng không đưa lãi suất tiền đồng lên cao thì không huy động
được, nhưng khi lãi suất cho vay tăng cao th ì doanh nghiệp gặp khó khăn. Lãi suất
đang là bài toán khó đối với cả ngân h àng và doanh nghiệp. Tuy đã áp dụng mức
đồng thuận chung về lãi suất nhưng đứng trước tình hình khan hiếm nguồn vốn như
hiện nay thì một cuộc chạy đua về LSHĐ sẽ nổ ra. Trong những tuần cuối tháng 11,
các ngân hàng b ắt đầu tung ra nhiều sản phẩm khuyến m ãi, tặng lãi suất, tặng tiền…
khiến mặt bằng LSHĐ tăng cao. Tiêu biểu là m ột số ngân hàng đã chủ động tăn g
LSHĐ kéo theo hàng loạt các ngân h àng cũng tăng theo.
Chẳng h ạn Ngân hàng SeABank đ ã đưa ra sản phẩm tiết kiệm thông minh,
cho phép khách hàng chuyển tiền qua lại giữa tài kho ản thanh toán và tài khoản tiết
kiệm, trong đó LSHĐ không kỳ hạn đối với sản phẩm này khá h ấp dẫn là 8%/năm
đối với số tiền dưới 50 triệu đồng, và từ 50 triệu đồng trở lên sẽ hưởng lãi suất
không kỳ hạn lên đến 11%/năm.


23
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Ngân hàng Việt Á, mặc dù mức lãi suất niêm yết b ên ngoài ngân hàng cao
nhất chỉ là 12%/năm, nhưng biểu lãi suất phát cho khách hàng bên trong ngân hàng
thì cao hơn rất nhiều vì được cộng thêm nhiều loại lãi suất. Theo đó, lãi suất tiết
kiệm kỳ hạn 2 tháng của ngân h àng này là 13,5%/năm, kỳ hạn 3 tháng là 13,7%, và
từ 14% đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Lãi su ất tiền gửi của Việt Á sẽ tăng
cao hơn nếu khách h àng gửi số tiền trên 500 triệu đồng, cao nhất là 14,5%/năm cho
kỳ hạn 13 tháng với số tiền gửi trên 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, Việt Á là ngân hàng khá
công b ằng khi đưa ra các m ức lãi suất rõ ràng cho khách hàng, đ ảm bảo khách gửi
tiền cùng được hư ởng mức lãi su ất như nhau. Trong khi đó, nhiều ngân h àng khác
ch ỉ niêm yết lãi su ất quanh mức 12%/năm nhưng nếu khách h àng trả giá th ì mức
này có thể lên đến 14 - 15%/năm. Như vậy, những khách h àng gửi tiền không trả
giá sẽ bị thiệt thòi.
Ngày 17/11, Ngân hàng Á Châu (ACB) tiếp tục điều chỉnh LSHĐ VND. Cụ
thể, dù vẫn công bố lãi su ất các kỳ ngắn hạn một tuần, hai tuần, ba tuần và dài hạn
một tháng, hai tháng, ba tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng ở mức 12%, nhưng ACB
tặng cho các khách hàng 0,15% lãi suất thưởng th êm vào thời điểm đáo hạn. Nh ư
vậy, trên thực tế lãi su ất các kỳ hạn thả nổi của ACB đ ã ở m ức 12,15% một năm.
Đối với kỳ hạn 36 tháng, lãi suất thưởng thêm của ACB còn cao hơn, ở mức 0,36%
một năm. Ngoài việc đẩy lãi suất các kỳ từ 1 - 3 tu ần lên mức 11,90% một năm; các
kỳ từ 1 - 12 tháng lên mức 12%/năm.
Eximbank còn đưa ra chương trình rút thăm trúng thưởng và tặng quà hấp
dẫn. Với những khách hàng gửi từ 150 triệu đồng trở lên, Eximbank tặng quà từ
400.000 đồng đến 1,5 triệu đồng. Không những thế, Eximbank còn đưa ra các kỳ
hạn “cực ngắn” cho khách hàng cá nhân (qua đêm) một ngày, hai ngày với lãi suất
từ 4,8% đ ến 5 ,4% mỗi năm. Còn mốc lãi su ất cao nhất mà SEABank lập 13%, đã
chính thức bị SHB “xuyên thủng” trong ngày 19/11. Tại đây, mức lãi su ất bậc thang
đối với VND các kỳ hạn từ một tháng đến 13 tháng “tiến lên” từ 13 - 13,50% mỗi
tháng. Mức cao nhất tập trung từ 2 – 3 tháng, chạm mốc 13,40%/năm. Tuy vậy,
cuộc đua lãi suất có vẻ vẫn chưa dừng lại, khi mức huy động tại các NHTM vẫn
không được như ý.
Trong khi các NHTM cổ phần thi nhau tăng LSHĐ, các ngân hàng lớn lại
thận trọng đưa mức lãi suất không quá cao và gặp thiệt thòi. Ngu ồn vốn huy động
đang bị ảnh hưởng mạnh bởi các khách hàng gửi tiền đòi tăng lãi suất trong khi các
NHTM cổ phần n hà nước không thể đưa lãi suất lên cao hơn 12%/năm.
Huy đ ộng vốn trong dân cư với mức lãi suất rất cao đã thế việc NHNN tăng
lãi su ất cơ bản và phát đi tín hiệu thắt chặt tiền tệ, làm tăng m ạnh lãi suất trên th ị
trường liên ngân hàng, nơi các ngân hàng vay mư ợn lẫn nhau, đã lên đến 21%/năm.
Sau đó, NHNN buộc phải can thiệp, cho vay qua nghiệp vụ thị trường mở với kỳ
hạn d ưới 2 tuần để đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Lãi suất trên thị trường
liên ngân hàng sau đó đ ã giảm xuống quanh mức 13%, tuy nhiên, LSHĐ dân cư của
ngân hàng vẫn không giảm . Thêm vào đó NHNN còn nhấn m ạnh việc huy động vốn
quá cao thì các NHTM đã vi phạm bộ Luật Dân sự, tức cao h ơn 150% lãi suất cơ
bản. Lãi su ất cơ bản hiện nay là 9% nên các ngân hàng không thể huy động tiền
đồng cao hơn 13,5%/năm. Các ngân hàng hiện cho vay theo lãi su ất thỏa thuận
nhưng LSHĐ vẫn phải tuân theo Luật Dân sự.


24
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Cũng có thể hiểu việc tăng lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu của NHNN
thêm 1%/năm đã báo hiệu cho thị trường lãi suất tăng, tác động lên lãi suất liên
ngân hàng là điều hiển nhiên. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên 20% -
21%/năm mà vẫn có ngân hàng vay, điều n ày chứng tỏ ngân hàng đang chịu áp lực
thanh kho ản. Thế nh ưng với lãi suất cao như vậy, cả n gân hàng cho vay cũng đang
sợ mất thanh khoản nên đ ẩy lãi suất cao để dự phòng. Chính vì vậy, các mức lãi
suất này nhiều khả năng chỉ được giữ trong hạn ngắn cho đến khi tình hình thanh
khoản của ngân hàng được cải thiện.
Còn bản thân các doanh nghiệp thì cũng đau đầu vì LSHĐ tăng nhanh và
tăng cao, nên lãi su ất cho vay của ngân hàng theo đó cũng tăng lên. Hiện nay sau
khi trả lãi, ngân hàng phải trả chi phí hoạt động, trích lập các loại dự trữ, và cộng cổ
tức cho cổ đông…, ít nhất phải cộng th êm 3% vào LSHĐ đ ể cho vay. Cho nên với
mức huy động 14% thì lãi suất cho vay tiền đồng thấp nhất cũng là 17%/năm cũng
có ngân hàng hiện nay đẩy lãi suất lên đến 20 - 21%, có thể do muốn hạn chế nhu
cầu cho vay h oặc do phải huy động vốn với lãi suất quá cao. Hiện đang là thời điểm
mở rộng sản xuất kinh doanh chuẩn bị hàng Tết, nhưng nhiều doanh nghiệp đã bắt
đầu e ngại lãi suất đẩy chi phí lên cao và có thể sẽ phải thu h ẹp quy mô hoạt động.
Điều n ày dẫn đến khả năng khan hiếm hàng hóa và giá cả tăng cao vào các tháng
cuối năm.
Theo nhận định của một số chuyên gia: Việc điều chỉnh lãi suất tăng có hiệu
quả trước mắt đối với việc kiềm giữ tỷ giá, vì các doanh nghiệp giảm vay VND để
mua ngoại tệ. Các doanh nghiệp có ngoại tệ cũng ít giữ hơn vì họ cũng cần VND để
sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, về lâu dài Chính phủ và NHNN cần phối hợp các biện pháp khác
để bình ổn tỷ giá và mau chóng điều chỉnh giảm lãi suất. Bởi việc lãi suất tăng cao
làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước do chi phí tăng theo, làm ảnh
hưởng đến phục hồi kinh tế. Doanh nghiệp không dám đầu tư mua sắm thiết bị, máy
móc. Các hợp đồng kinh doanh khó thỏa thuận, khó triển khai vì giá cả không ổn
định. Nếu kéo dài, bước sang năm 2011, h àng hóa sản xuất trong nước sẽ khan
hiếm, giá cả tăng cao, lạm phát sẽ cao hơn, nhập siêu lớn hơn và lại gây bất lợi cho
điều hành tỷ giá. Do đó ngay từ bây giờ Việt Nam cần đặt ra mục tiêu kéo LSHĐ
giảm xuống dưới 12% và lãi suất cho vay xu ống dư ới 15%.
Với chỉ số giá tiêu dùng 11 tháng đầu năm lên tới 9,58% so với tháng
12/2009. Lạm phát năm nay có thể cao hơn mức 10 %, được giải thích là do giá cả
thế giới tăng quá nhanh. Ngo ài ra, thiên tai, lũ lụt diễn biến phức tạp trên diện rộng,
dịch bệnh gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng đến cung ứng hàng hóa, nh ất là lương thực,
thực phẩm. Bên cạnh đó, do nhu cầu và sức mua của người dân tăng lên, đ ặc biệt
trong dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tất cả các yếu tố trên làm cho
CPI 11 tháng 9,58 %. Do đó thì mặt bằng lãi suất trong tháng 12 sẽ có chiều hướng
tăng lên.
Ngày 2/12, một vài ngân hàng cổ phần nhỏ đã đưa lãi suất tiết kiệm kỳ hạn
ngắn lên 16% một năm. Đây là k ỷ lục mới được thiết lập sau cuộc chạy đua tăng lãi
suất tiết kiệm diễn ra h ai tu ần trước và cuộc đua lãi suất bước vào giai đoạn công
khai và quyết liệt h ơn trước. Còn nh ớ cách đây hơn 1 tháng, sau khi Chính phủ chấp


25
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


nhận tăng lãi suất để chống lạm phát, các ngân hàng đ ã đồng thuận lãi suất huy
động 12%. Nhưng sau đó, đ ồng thuận đ ã nhanh chóng bị phá vỡ và chuyện đồng
thu ận đã không đáng để các ngân h àng lưu tâm mà thay vào đó là cuộc chạy đua lãi
suất được đẩy lên m ức khủng khiếp. Lãi suất đã lần lượt qua các mốc 13 - 14%
ngay trong tháng 11, đầu tháng 12 nó nhanh chóng lên mức 15 và 16%. Thị trường
đã bắt đầu quen với việc này và tin rằng nó sẽ sớm qua khi nhiệm vụ chống lạm
phát 2010 kết thúc.
Tuy nhiên, ngày 8/12, Techcombank đã nổ một "quả bom" khi đưa lãi suất
lên 17% và cộng cả lãi suất thưởng là 17,6%. Dù đây ch ỉ là một chương trình
khuyến m ãi ngắn ngày nhưng đây thực sự là một cú sốc trên một nền lãi su ất đã quá
cao. Theo công bố của Techcombank, mức lãi suất tiết kiệm lên tới 17%/năm được
áp dụng với những khoản tiền gửi từ 100 triệu đồng trở lên và với kỳ hạn 1 tháng.
Thời gian để khách hàng gửi tiền với mức lãi suất cực khủng như trên chỉ kéo dài
trong 3 n gày từ 8 - 10/12/2010. Nếu khách hàng gửi dài hơn một tháng, n gân h àng
này chỉ áp dụng mức 17% cho kỳ đầu tiên, còn những tháng sau thì áp dụng lãi suất
niêm yết của thời kỳ đó. Khách hàng gửi với lãi suất khủng sẽ không được rút trước
hạn. Tuy nhiên, với những khách hàng gửi kỳ hạn trên 1 tháng, khi hết hạn gửi và
gia hạn th êm thì sẽ được tặng tiền mặt 50.000 đồng trên mỗi 100 triệu đồng tiền gửi
trong kỳ gia hạn đầu tiên.
Bên cạnh việc tung ra mức lãi suất gây sốc, Techcombank còn tặng 500.000
đồng cho ngư ời giới thiệu một khách hàng gửi tiền mới với số tiền từ 1 tỷ đồng trở
lên (gửi kỳ hạn tối thiểu 1 tháng). Như vậy, với những khách hàng gửi tiết kiệm lần
đầu tại ngân hàng này với số tiền 1 tỷ đồng trở lên, lãi suất mà Techcombank phải
trả tổng cộng lên tới 17,6% một năm (gồm lãi suất và tiền thư ởng cho người giới
thiệu).
Trước đó, mức lãi suất tiết kiệm được coi là khủng nhất trên thị trường thuộc
về vài ngân hàng cổ phần nhỏ với 16 % một năm cho kỳ hạn 1 tháng. Tuy nhiên, các
ngân hàng này đều không đăng thông tin công khai mức lãi suất 16%. Vì vậy, việc
Techcombank – ngân hàng thuộc diện đại gia trong giới cổ phần, công bố mức lãi
suất tiết kiệm lên tới 17% một năm là một cú sốc lớn đối với thị trường. Tuy nhiên,
khi khi nhiều ngân hàng chưa kịp phản ứng chính thức với lãi suất 17% thì th ị
trường lại dựng ngược với LSHĐ 18% của Ngân h àng Đông Nam Á (Seabank).
Điều này đồng nghĩa với việc lãi suất cho vay sẽ tăng đột biến hiện tại mứ c lãi suất
phổ biến ở mức 20 - 23%/năm.
Sau khi Chính phủ chủ trương "thả" lãi suất tăng lên để chống lạm phát th ì
lãi su ất đã ngày càng tăng và đang tăng quá đà kiểm soát. Ngân hàn g Nhà nư ớc cho
rằng, lãi su ất tăng cao trong thời gian qua là giải pháp "bất khả kháng", vì lợi ích
của cả nền kinh tế là ch ống lạm phát. Nhưng đến một lúc nào đấy nền kinh tế ổn
định rồi thì lãi su ất cạnh tranh càng ngày ph ải càng giảm xuống.
Theo đánh giá của NHNN, tình hình huy động và cho vay h iện đang ổn định,
hệ số sử dụng vốn không cao, tăng trưởng tín dụng phù hợp với mặt bằng chung của
cả nước và thanh khoản vẫn đủ đảm bảo thanh toán. Vì vậy, NHNN khẳng định
biến động lãi suất trong ngày 8/12 không xuất phát từ nguyên nhân căng th ẳng
nguồn vốn. Thực tế, lãi suất công bố của các ngân hàng hiện nay chỉ khoản dưới


26
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


15% nhưng thực chất rất nhiều ngân h àng đã thỏa thuận với nhiều khách hàng với
lãi su ất cao hơn. Việc hôm nay cũng chỉ là công khai hóa lãi su ất m à các ngân hàng
đã áp dụng.
Ngay chiều n gày 8/12 NHNN đã có công văn số 9577/NHNN - CSTT yêu
cầu Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương (Techcombank) phải kịp thời rút
kinh nghiệm trong việc điều chỉnh lãi suất huy động vốn VND, song việc tăng lãi
suất đột biến của Techcombank cũng làm xuất hiện tâm lý lo ngại trên th ị trường
tiền tệ.
Việc ngân hàng đột biến tăng lãi su ất huy động cho ta thấy hai nguyên
nhân:
 Thứ nhất do tuyên bố thả nổi lãi suất hồi đầu tháng 11. Ngày 4/11, Chủ tịch
Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã nhân danh Chính phủ nói rằng, không còn
vấn đề khống chế lãi suất nữa, lãi su ất là do th ị trường. Như vậy là m ở cửa cho sự tự
do của hệ thống ngân h àng.
 Thứ hai là trong th ị trường tài chính tiền tệ đang rất khan hiếm vốn. Vốn
nhàn rỗi trong nhân dân là do tiết kiệm trong nhân dân m à ra. Thì nh ư vậy, nó sẽ có
giới hạn của nó, mà hiện nay, cái giới hạn đó lại dùng nhiều vào đầu tư vàng, bất
động sản, chứng kho án... Cho nên số tiền nhàn rỗi để gửi ngân hàng không nhiều
nữa. Từ giờ cho đ ến cuối năm, nhu cầu về tín dụng rất cao, ngân hàng đi thu gom
tiết kiệm trong nhân dân b ằng chính sách lãi suất.
Sau khi NHNN có động thái răn đe những ngân hàng huy động vốn với 17 -
18%/năm thì ngày 10/12 hầu hết các ngân h àng đều đã niêm yết lãi suất tiết kiệm
giảm còn 14%. Tuy nhiên, khi khách hàng mang tiền đến gửi thì lãi suất thực tế cao
hơn từ 2 - 2,5% so với lãi suất do ngân hàng công bố.
Thủ tư ớng Chính phủ chủ trương yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, bảo
đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ, bình ổn giá cả, thị trư ờng trong dịp Tết
Nguyên đán Tân Mão và quý I năm 2011, để ổn định LSHĐ trên th ị trường tiền tệ
theo đề nghị của Hiệp hội Ngân h àng Việt Nam và các NHTM tại cuộc họp do
NHNN Việt Nam tổ chức. Ngày 14/12/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nư ớc Việt
Nam đ ã ban hành văn bản số 9779/NHNN-CSTT yêu cầu các TCTD ấn đ ịnh lãi
suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam (lãi suất tiền gửi, lãi suất giấy tờ có giá...)
của các tổ chức (trừ TCTD) và cá nhân, bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi
hình thức không vượt quá 14%/năm.
Mức LSHĐ vốn tối đa này đư ợc thực hiện kể từ ngày 15/12/2010 và điều
ch ỉnh giảm phù hợp với tình hình lạm phát và cung - cầu vốn thị trường. Đồng thời,
niêm yết công khai LSHĐ vốn bằng đồng Việt Nam tại các địa điểm huy đ ộng vốn
(Hội sở chính, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm...) theo quy
định của NHNN Việt Nam.
Thế nhưng một điều bất cập nữa lại xuất hiện; chiều n gày 14 /12 khi hầu hết
các ngân hàng đều đồng thuận cùng mức cam kết LSHĐ là 14% thì tranh thủ thời
gian văn bản chưa chính thức đi đ ến các NHTM thì sáng ngày 15 /12 có mộ t số n gân
hàng đã nâng mức lãi suất này cao hơn chạm mức 15 % nhằm thu hút được phần nào
lượng vốn trong dân cư. Chiều cùng ngày, rất nhiều ngân hàng để lãi suất 1 và 2


27
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


tuần đều kịch trần 14%/năm, trong khi lãi su ất d ài trên 12 tháng ch ỉ trên
11,5%/năm. Như vậy, thêm một lần nữa, trong năm nay, đường cong lãi su ất đang
ngược quy luật “gửi dài lãi suất thấp, gửi ngắn lãi su ất cao” thay vì ngược lại.
Điều đó cũng dễ hiểu tại sao mặt bằng lãi suất lãi lại đảo ngược và có xu
hướng tăng cao là do sự thiếu hụt tiền dòng tiền, khi mà lượng tiền đồng bị NHNN
rút vào khi b án đô la ra đ ể ổn định tỷ giá đang n gày càng tăng cao. Đầu tháng 12,
khi chênh lệch tỷ giá chính thức và thị trường tự do lên đỉnh trên dưới 20.000
đồng/đô la Mỹ, NHNN b án đô la ra can thiệp kết quả làm tỷ giá thị trường tự do hạ
nhiệt.
Cùng với việc trên thị trường có tin đồn là các tập đo àn, tổng công ty nhà
nước sẽ phải bán ngoại tệ đang nắm giữ trên tài kho ản tiền gửi cho ngân h àng lan
ra. Tuy đó ch ỉ là tin đồn, nhưng tin đồn này đã vô tình có tác dụng. Khi tỷ giá thị
trường tự do rớt 400 đồng/đô la Mỹ so với đỉnh, các đơn vị có ngoại tệ bắt đầu bán
cho ngân hàng.
Thế là chỉ một tin đồn cùng một hiện tượng tỷ giá sụt giảm n hẹ đã tạo nên
“tâm lý đám đông” lo sợ đồ ng đô la rớt giá n ên đã đua nhau bán đô la cho ngân
hàng. Kết quả tỷ giá giao dịch liên ngân hàng rớt từng ngày, thậm chí từng giờ, đến
cuối tuần qua đã xuống dưới 20.000 đồng/đô la Mỹ. Tốc độ lao dốc của tỷ giá thị
trường tự do và liên ngân hàng càng ngày càng m ạnh sát ngay trư ớc thời điểm “cơn
sốt” lãi suất tiền đồng bùng phát. Sau đó, khi cam kết lãi suất đư ợc thực hiện, đà
giảm chững lại.
Khi doanh nghiệp bán ngoại tệ, chuyển từ nắm giữ đô la sang tiền đồng, nhu
cầu tiền đồng tăng lên. Đúng lúc này NHNN lại hút dòng tiền về. Yếu tố thanh
khoản cuối năm và nhu cầu vay các doanh nghiệp phục vụ quá trình sản xuất chưa
được giải quyết, bây giờ cộng thêm nhu cầu tiền đồng từ sự chuyển đổi nắm giữ
ngoại tệ sang nắm giữ nội tệ của doanh nghiệp, lãi suất tiền đồng chỉ còn một con
đường là phải đi lên.
Trên thực tế, khi các ngân hàng lớn như BIDV, ACB, Eximbank niêm yết lãi
suất tiết kiệm cộng cả khuyến mãi 14%/năm, thì các ngân hàng nhỏ đã thỏa thuận
lãi suất với người gửi tiền ở mức 16 - 17%/năm. Lãi suất huy động 16-17%/năm
không công khai, nó diễn ra ngấm ngầm và cả thị trường biết điều đó.
Techcombank là ngân h àng tiên phong công khai mức lãi suất 17% , động
thái đó chỉ là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước vốn đã đầy. Tất nhiên khi cả thị
trường vận h ành với cơ chế hai tỷ giá, hai lãi suất, Techcombank lại muốn đi theo
cơ ch ế một lãi su ất thì họ lại bị cơ quan quản lý n găn chặn.
 Bảng lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại
phổ biến như sau: (tính đến ngày 10/12/2010)
Lãi suất
Không kỳ 1 tháng
L oại tiền 3 tháng 6 tháng 12 tháng
huy động
hạn trở xuống
niêm yết
Nhóm 12-13,5 12-13
VND 2,4–3,0 7,5-8,0 12-13,5
NHTMNN




28
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


USD
1,0 1,0
(áp dụng đối với 0,2-0,3 1,0 1,0
TCKT)
USD 4,0-4,5 4,4-4,8
0,2-0,3 3,5-3,7 3,7-3,9
(áp dụng đ/v cá nhân)

13,5-15 13-14
VND 2,4-4,2 12-13 13,5-15

USD
Nhóm
1,0 1,0
(áp dụng đối với 0,2-0,5 1,0 1,0
NHTMCP
TCKT)
USD 4,0-5,1 4,2-5,2
0,25-1,0 3,6-4,2 3,9-5,0
(áp dụng đ/v cá nhân)
Lãi suất
cho vay
L oại tiền Ngắn hạn Trung, dài hạn
phục vụ SX
– KD
-VND áp dụng đ/v 13-14,2 15-16
sản xuất kinh doanh
thông thường
Nhóm
NHTMNN - VND áp dụng đ/v 12-13
nông nghiệp, nông
13-14
thôn và xuất khẩu
5,5-6,0 6,0-7,0
USD
- VND áp dụng đ.v 15-16 16-18
sản xuất kinh doanh
thông thường
Nhóm
NHTMCP - VND áp dụng đ/v 13-14
nông nghiệp, nông
14-15
thôn và xuất khẩu
5,5-6,5 6,5-8,0
USD

(Nguồn: Thông cáo báo chí - Thông tin hoạt động ngân hàng của Ngân hàng
Nhà nước)
 Nhận định lã i suất trong thời gian tới:
Theo các báo cáo thống kê, trong tháng 11 ch ỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng
1,86% cao nhất trong 15 năm qua và tỷ lệ lạm phát năm 2010 được dự báo có thể
lên tới 11%, vượt xa so với mức đề ra là 7% - 8%.
Thị trường tài chính hiện tồn tại nhiều dấu hiệu bất ổn: lãi suất tiết kiệm và
cho vay cao, giá vàng biến động khó lường, tỷ giá ngoại tệ ở mức 21.350 đồng…
Tất cả cho thấy năm 2010 sẽ kết thúc với không ít sóng gió. Chúng ta có thể lường
trước điều này qua các biểu hiện của lãi su ất thị trường; lãi suất luôn biến động thất
thường tăng cao đột ngột do sự cạnh tranh của các NHTM.
Theo công bố của các Ngân h àng thương m ại, LSHĐ tối thiểu hầu hết ở mức
13% - 14%/năm. Riêng Pgbank LSHĐ các kỳ hạn ngắn đang ở mức 13,9%/năm,
một số khác phổ biến ở mức xấp xỉ 13,5% như Maritime bank, Techcombank… Và
các con số này chưa phải là mức thực tế mà các NHTM chi trả cho người gửi tiền
bởi dưới áp lực của việc huy động vốn, việc chạy đua về lãi su ất vẫn âm thầm diễn


29
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


ra. Với mức huy động đầu vào cao thì mức cho vay ra tất yếu sẽ cao hơn rất nhiều
để bù đ ắp chi phí và đảm bảo một phần lợi nhuận. Hiện mức lãi su ất cho vay tối
thiểu của các NHTM cổ phần đang ở mức 17%- 18%. Cho vay tiêu dùng một số
ngân hàng lên tới 21%/năm.
Trước đây, NHNN vẫn tác động lên lãi suất thị trường thông qua công cụ lãi
suất cơ bản – cái vẫn đ ược coi là “vòng kim cô” trói buộc các TCTD trong hoạt
động kinh doanh. Nhưng từ ngày 14/4/2010, khi NHNN ban hành thông tư số
12/2010/TT-NHNN thì gần nh ư tất cả các khoản vay đều thực hiện theo lãi suất
thỏa thuận.
LSHĐ và cho vay do đó ph ản ánh đúng cung cầu vốn trên thị trường. Và với
mức lãi suất cho vay hiện tại, chi phí sản xuất kinh doanh sẽ tăng, tất yếu kéo theo
sự gia tăng của mức giá chung. Doanh nghiệp khó vay vốn đ ã đ ành nhưng khi vay
vốn được, trong bối cảnh kinh tế hiện tại hiệu quả kinh doanh cũng chưa chắc đã
cao. Vòng quay lãi su ất – chi phí – lạm phát lại xuất hiện.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn: nguy cơ nợ xấu khu vực
EU, kinh tế Mỹ phục hồi chậm, tỷ lệ thất nghiệp dự đoán sau 5 năm mới trở về mức
trước khủng hoảng, Trung Quốc thắt chặt tiền tệ do lo ngại lạm phát cao… thì tỷ lệ
lạm phát cũng như lãi su ất thị trường của Việt Nam còn tăng cao. Và mức lãi suất
cao còn duy trì trong cả quý I/2011 trong bối cảnh các công cụ chống lạm phát đang
được NHNN triệt để thực hiện.
Tăng lãi suất là một hi sinh tất yếu để giảm lạm phát bởi mức lãi suất cao sẽ
hạn chế cung vốn ra thị trư ờng, chọn lọc đối tượng đầu tư vì chỉ những công ty kinh
doanh hiệu quả mới đủ tự tin vay vốn. Tình hình này sẽ dịu bớt vào quý II/2011 khi
các biện pháp nới lỏng tiền tệ có thể đ ược áp dụng để kích thích nền kinh tế tăng
trưởng.
2 . Nhận xét cá nhân – K iến nghị:
a. Nhận xét:
Về vấn đề tự do hóa lãi suất trên thị trường:
Vấn đề tự do hóa lãi suất được rất nhiều chuyên gia b ình luận tán th ành cũng
như là không chấp nhận; bởi lẽ họ cho rằng hệ thống NHTM nước ta còn yếu cả về
cả mặt quản lý cũng như vố n đầu tư, thêm vào đó là tình trạng nền kinh tế chưa thực
sự ổn định như: nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn, yếu tố lạm phát luôn có xu
hướng tăng cao, giá vàng, tỷ giá biến động thất thường. Do đó, họ nhận định ràng
nếu NHNN chính thức cho áp dụng mặt bằng lãi suất tự do thoả thuận sẽ hết sức
tiêu cực cho nền kinh tế, tác động làm tăng lãi suất, từ đó kéo theo sự tăng nhanh
của chỉ số giá tiêu dùng.
Đồng thời với mức lãi suất cao như vậy, h ầu hết các doanh nghiệp sẽ cẩn
thận hơn trong việc lựa chọn dự án đầu tư. Bởi lẽ với số vốn vay ít ỏi cùng chi phí
cao, thì các nhà đầu tư sẽ chỉ chọn những dự án nào thực sự h iệu quả mang lại lợi
suất cao hơn mức chi phí vốn mà họ đã bỏ ra. Số lượng dự án đầu tư ít đi do đó tác
động tiêu cực đ ến tăng trưởng kinh tế, giá cả hàng hóa tăng cao.




30
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


Tuy nhiên khi mà Việt Nam đã gia nhập WTO thì vấn đề cạnh tranh tự do
phải được đặc biệt chú trọng. Ở đây em nói đến là tự do cạnh tranh trong việc huy
động vốn cũng như là cho vay, bởi lẽ lãi suất thì phải theo thị trường, theo cung -
cầu về vốn. Việc m à NHNN áp đặt mức trần cũng như kết hợp với Hiệp hội ngân
hàng yêu cầu các thành viên cùng cam kết về mức trần huy động là 12%/năm cho
VND như hiện nay là không đúng. Chính sách quản lý của NHNN còn mang nặng
tính hành chính cũng như theo một số chuyên gia thì nó còn mang nặng tính chính
trị. Do đó, việc đồng thuận chỉ có hiệu quả là phải dựa trên cơ sở kinh tế chứ áp lực
hành chính sẽ không thể giải quyết đ ược. Bởi lẽ, theo em, tâm lý chung của người
dân đó là càng cấm đoán h ay quản lý khắc khe chừ ng n ào thì họ lại vẫn cứ làm , mà
việc họ làm là làm lén lúc, âm thầm, gây ảnh hưởng xấu không chỉ cho nền kinh tế
mà còn gây bất ổn cho xã hội.
Ở đây xét về vấn đề lãi suất, trước đâ y NHNN quy định LSHĐ cũng như cho
vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Luật ban hành vậy, quy định cũng
đề ra, và ngân hàng vẫn chấp h ành nhưng việc chấp hành lại m ang nặng tính hình
thức. Bề ngoài thì các NHTM huy động với mức 10.5 % (vào những tháng đầu năm
2010), nhưng nếu mức thị trường chấp nhận cao h ơn 10.5% thì các ngân hàng sẽ
biến tướng để có lãi su ất cao hơn thông qua khuyến mại lãi suất, tặng quà, tiền…
Điều này sẽ làm méo mó lãi suất. Méo mó ở chỗ là lãi suất công bố không phù hợp
với mức lãi suất thự c tế; bởi lẽ, nó đã được cộng h àng loạt chi phí khuyến mãi cũng
như các loại chi phí khác.
Do đó, thà mình công nh ận lãi suất thị trường, rồi tìm ra những điểm không
hợp lý để điều chỉnh còn tốt hơn để thị trường lãi suất ngầm chi phối hoạt động của
các ngân hàng. Ở đây, nếu muốn ổn định thì phải công nhận yếu tố thị trư ờng chứ
không th ể dùng m ệnh lệnh hành chính hoặc yếu tố đồng thuận có tính chính trị
được.
Việc không công khai, minh bạch về lãi suất sẽ tạo ra tiêu cực trong các ngân
hàng. Mức LSHĐ và cho vay nếu không rõ ràng thì phần chênh lệch so với lãi suất
công bố chưa chắc đã chảy vào túi ngân hàng mà có thể vào cá nhân. Điều này tạo
ra rủi ro về mặt đạo đức trong kinh doanh ngân hàng rất nguy hiểm. Ngân h àng có
thể lợi dụng về việc huy động vốn với mức cao như vậy để có thể cho vay lãi suất
cực cao . Phần chênh lệch mà ngân h àng nhận được theo em là rất lớn, bởi lẽ chỉ có
những khách hàng đến gửi tiền tương đối lớn phải thỏa thuận về lãi su ất tiền gửi thì
mới nhận được mức lãi suất cao, còn n ếu không hỏi thì phải theo biểu lãi su ất được
công bố chính thức với mức thấp hơn. Trong khi đó thì các ngân hàng trong tư thế
thượng phong là người cho vay, chính bản thân các doanh nghiệp cần vốn để mà
đầu tư, sản xuất kinh doanh nên họ rất cần ngồn vốn với chi phí rẻ, nhưng ngân
hàng đưa ra lý do là huy đ ộng vốn với mức lãi suất cao cho nên không thể cho
doanh nghiệp vay vốn với lãi suất thấp được.
Chi phí huy độ ng những khoản tiền gửi có cái cao cái thấp không đồng đều
cho tất cả cá c khoản tiền , trong khi đó mặt bằng lãi suất các khoản vay lại tương đối
đều nhau. Kết quả là chi phí đầu vào của ngân h àng chưa hẳn là đã đến mức tới hạn
nhưng hầu hết tất cả các khoản vay đều được cộng với cùng một mức chi phí huy
động là như nhau và được đẩy lên đến mứ c rất cao, do đó phần chênh lệch sẽ chảy
vào túi của các ngân h àng. Hiện nay, lãi suất cho vay trên thị trường đã lên gần 20 %


31
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


một năm đối với vay tiêu dùng và 17 % đối với vay sản xuất kinh doanh trong khi đó
LSHĐ chỉ khoản từ 13.5 – 15%/năm. Do đó, việc niêm yết công khai, m inh bạch sẽ
tránh được tình trạng méo mó của lãi suất thị trường đồng thời tránh được sự thiếu
lành m ạnh trong hoạt động kinh doanh ngân h àng.
Trước đó thì NHNN đã đặt mức trần lãi suất cho vay cũng như lãi suất huy
động. Đến khi thông tư 12 của NHNN thì trần lãi suất cho vay cho tất cả các kì hạn
đã chính thức được bãi bỏ và gần đây là ngày 4/11, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài
chính Quốc gia đã nhân danh Chính phủ nói rằng lãi suất chính thức được tự do
hóa, tức là LSHĐ không còn bị chặn bởi mức trần. Mặt dù lãi suất đã được chính
thức tự do hóa nhưng vẫn còn sự can thiệp của NHNN bởi việc ép buộc Hiệp hội
các ngân hàng yêu cầu các thành viên cùng đồng thuận về cùng mức lãi suất huy
động, cũng như là lãi suất cho vay và bắt buộc các NHTM không được huy động
vượt qua mức đó; vậy chẳng khác nào là “nói một đằng lại làm một n ẻo”.
Có thể hiểu NHNN đang quản lý h ệ thống NHTM về cơ bản vẫn theo kiểu
cấp trên, cấp dưới của thời kinh tế tập trung trước đây, các ngân hàng đ ều là đơn vị
trực thuộc; mang đậm tính hành chính rất cao thông qua việc ban hành các văn bản
ch ỉ đạo, yêu cầu, cảnh cáo, đề nghị xử lý… không mang tính thị trường, thay vì là
một cơ quan qu ản lý vĩ mô và đồng thời cũng là ngân hàng trung gian.
Vẫn có thể hiểu là NHNN vẫn chủ trương cho lãi suất được tự do thỏa thuận
thế nhưng do sự bất ổn của nền kinh tế như biến động về giá vàng, tỷ giá đô la, và
sự tăng đột biến của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thì bắt buộc NHNN phải can thiệp
bằng việc quy định mức trần LSHĐ trở lại như trước đó. Tuy nhiên, b iện pháp này
chỉ có hiệu quả trong nhất thời chứ về lâu dài thì biện pháp n ày không còn hiệu quả
nữa.
Mặt bằng lã i suất trên thị trường biến động mạnh vào những
tháng cuối năm:
Như ta đã biết hầu hết các NHTM đều được NHNN hậu thuẫn tứ c là khi bất
cứ ngân h àng nào gặp rủi ro thanh khoản đều được NHNN cấp vốn thông qua
nghiệp vụ tái cấp vốn , chiết khấu hoặc tái chiết khấu cái loại giấy tờ có giá. Do vậy,
hầu như tâm lý của người dân đều tuyệt đối tin tưởng vào mức độ an toàn về khoản
tiền gử i của m ình do đã được “bảo hiểm” bởi NHNN. Chính lý do đó rất dễ gây ra
“rủi ro đạo đức”; các NHTM do được bà mẹ là NHNN che chở nên mạnh tay huy
động vốn và cho vay với mức tối đa, kéo theo một cuộc chạy đua về lãi suất là điều
không thể tránh khỏi, điều đó rất dễ gây m ất an toàn cho hệ thống ngân h àng.
Khi mà NHNN chính thức phát đi tính hiệu là chỉ số giá tiêu dùng có xu
hướng tăng nên đã tăng lãi suất cơ b ản lên 9% (trước đó là 8 %) nhằm tác động đến
mặt bằng lãi suất trên thị trường. Lãi suất tăng, chi tiêu dùng giảm đi, tổng cầu giảm
kéo theo sự hạ nhiệt của giá cả hàng hóa, góp phần kiềm chế lạm phát. Chính tính
hiệu đó gây ra tâm lý lo n gại lạm phát, nên lãi suất tiết kiệm cũng sẽ từ đó mà tăng
lên. Thêm vào đó, cũng vào những tháng cuối năm , các doanh nghiệp tập trung đầu
tư vào sản xuất, d ịch vụ, vay tiêu dùng cũng tăng kéo theo làm tăng mặt bằng lãi
suất.
Các ngân hàng cũng tăng nhanh công tác huy động vốn để đảm bảo cung ứng
đủ lượng vốn cho các doanh nghiệp khi m à Thông tư 13 chính thức có hiệu lực đã

32
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


làm giảm nguồn vốn cho vay đi rất nhiều. Tất cả kéo theo sự biến động của mặt
bằng lãi suất tiền đồng cả về huy đ ộng lẫn cho vay theo hướng ngày càng tăng
mạnh. Mặt khác do biến động mạnh của thị trường mà điển hình là giá vàng và tỷ
giá, các kênh đầu tư khác này càng trở n ên hấp dẫn khiến cho nhiều luồng tiền tiết
kiệm trong dân chúng b ị rút ra khỏi ngân hàng. Nhưng xét cho cùng thì kênh đầu tư
vào gửi tiết kiệm ngân hàng vẫn là kênh đầu tư hiệu quả, và ít rủi ro.
Một nguyên nhân nữa cũng gây ra cơn sốt lãi suất là việc NHNN tung đô la
ra đ ể ổn định tỷ giá đang n gày càng tăng cao. Chính tâm lý đám đông lo sợ đồng đô
la mất giá kéo theo sự tung đô la để đổi lấy tiền đồng; tình trạng khan hiếm của
dòng tiền giờ lại càng nặng thêm.
Cuối cùng là do sự yếu kém trong công tác quản lý nền kinh tế của Chính
phủ; trên đà tình hình thế giới phục hồi, Chính phủ đặt hai chỉ tiêu 2010 song hành:
giữ lạm phát ở mức dưới 7% và cố đạt mức tăng trưởng 6 ,5%. Theo báo cáo Ngân
hàng Th ế giới tại Hội nghị tư vấn các nh à tài trợ (CG) năm nay, lạm phát đứng ở
mức 9,6% trong 11 tháng đầu năm và sẽ vào khoảng 11,1% trong cả năm. Như vậy
ta thấy rằng, khi mà nền kinh tế tăng trưởng chậm, thì Chính phủ dồn toàn lực ưu
tiên cho việc tăng trưởng mà không chú ý nhiều đến lạm phát, và khi khi tỷ lệ lạm
phát tăng đột biến vào các tháng cuối năm thì lại đảo chiều chính sách, tứ c là dồn
lực để kiềm chế lạm phát, giảm tốc độ tăng trưởng.
Như vậy, đáp lại trước sự "giằng co về chính sách", thị trư ờng dường như
đang mất lòng tin vào cơ chế quản lý nền kinh tế của Chính phủ; chính sách đã xoay
như chong chóng giữa tăng trưởng, ổn định rồi lại tăng trưởng dường như đã tạo
nên cú sốc trên thị trường, kết quả người dân mất phương hướng trư ớc các chuyển
biến đó. Mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô phải được duy trì thư ờng xuyên để ngư ời
dân và doanh nghiệp có thể dự đoán tương lai dễ dàng hơn để còn đầu tư và làm ăn
được.
Để kiềm chế lạm phát, NHNN đã sử dụng công cụ lãi suất để ổn định nền
kinh tế và đương nhiên công cụ này cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng của nền kinh tế.
Nền kinh tế đang bất ổn kéo theo sự bất ổn trong mặt bằng lãi suất là đ iều không thể
tránh khỏi.
Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho mặt bằng lãi suất cả huy đ ộng lẫn
cho vay ngày càng tăng cao, và chắc chắn là trong tương lai mức lãi suất cam kết sẽ
bị phá vỡ như những lần trước.
b . Kiến nghị:
Để góp phần ổn định đồng thời kéo giảm mặt bằng lãi suất trên thị trường thì
chính b ản thân NHNN, NHTM và các doanh nghiệp cũng phải cùng hợp tác với
nhau trong đó thì vai trò NHNN là trung tâm.
 Về phía NHNN:
 NHNN cần sớm đưa ra nhiều chính sách phù hợp với yêu cầu của thị trường
hơn, tạo ra mộ t môi trường đầu tư ổn định, nên đặt m ục tiêu ổn định nền kinh tế lên
hàng đầu không nên cứ chạy theo đà tăng trưởng;




33
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính


 Nên chính thức để cho lãi suất được tự do hóa, tuy là bước đầu có n hững
biến động lớn nhưng về lâu d ài thì mặt bằng lãi suất sẽ có hướng điều chỉnh giảm để
phù hợp với quy luật cung – cầu.
 Cần có sự quản lý chặt chẽ hệ thống NHTM hơn nữa, cần m ạnh tay đ ối với
những ngân hàng nào hoạt động yếu kém. Đến cuối tháng 12, n gân hàng n ào vẫn
chưa tăng đủ số vốn điều lệ lên 3000 tỉ đồng thì buộc p hải sát nhập, hoặc giải thể;
điều đó góp phần sàn lọc ra những ngân h àng yếu kém , đảm bảo cho hệ thống ngân
hàng hoạt động ngày càng tốt hơn.
 Cần sớm soạn thảo đưa ra các chuẩn mực đ ể có th ể xếp loại ngân hàng theo
hạng mức tín nhiệm ; góp phần sàn lọc, nâng cao ý thứ c trách nhiệm của các NHTM
trong việc nâng cao chất lượng hoạt động ngân hàng, có như vậy các NHTM sẽ
cạnh tranh với nhau bằng chất lượng phục vụ chứ không còn chạy đua về lãi suất
nữa.
 Cần tiếp tục soạn thảo bổ sung các văn bản Luật đặc biệt là Luật phá sản ;
Luật càng chặt chẽ sẽ góp phần loại bỏ nhữ ng doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua
lỗ, giảm bớt được nguồn vốn đầu tư lãng phí không hiệu quả, tập trung nguồn vốn
vào những doanh n ghiệp làm ăn có h iệu quả.
 Về phía NHTM:
 Các NHTM cần hết sứ c b ình tĩnh trước những biến động của thị trường để
có thể đưa ra những biện pháp phù hợp, cần hợp tác chặt chẽ hơn với các thành viên
trong Hiệp hội các ngân hàng để cùng đưa ra những biện pháp bình ổn lãi suất kịp
thời, nhanh chóng, tránh tình trạng chạy đua nhau để tăng lãi suất gây b ất ổn trong
nền kinh tế.
 Chính bản thân NHTM trước hết phải tự hoàn thiện m ình, nâng cao chất
lượng d ịch vụ ngân h àng như nhận tiền gửi và cấp vốn cho nền kinh tế.. Đây là vấn
đề cần phải thực hiện nhanh, mạnh ở nước ta; bởi lẽ các ngân hàng chủ yếu cạnh
tranh với nhau về lãi suất chứ không quan tâm nhiều đến chất lượng trong hoạt động
kinh doanh ngân h àng.
 Ngoài công tác huy đ ộng vốn và cho vay vốn đối với nền kinh tế, các
NHTM cần nâng cao công tác nghiên cứu thị trường để ngày càng đa d ạng hóa
nhiều loại h ình d ịch vụ, đưa ra nhiều chương trì nh phục vụ đ áp ứng nhu cầu của
người dân; bên cạ nh đó chính b ản thân NTHM cần phải hợp tác chặt chẽ với NHNN
và các NHTM khác đ ể cùng phát triển hệ thống thanh toán bằng chuyển khoản.
 Về phía các doanh nghiệp:
 Cần phải đánh giá thận trọng trong việc lựa chọn dự án đầu tư và chỉ chọn
những dự án đầu tư nào thật sự hiệu quả, ít rủi ro.
 Sử dụng vốn đúng và có hiệu quả tốt.
 Các doanh nghiệp cần nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm , dịch vụ
của m ình, có như vậy mới khẳng định được thương hiệu của mình trên thị trường;
làm ăn có hiệu quả thì mới có đủ cơ sở tín nhiệm để được ngân hàng cho vay v ới
nguồn vốn rẻ hơn.


34
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính




C- KẾT LUẬN
Hiện tượng lãi su ất vẫn đang biến động theo từng ngày từng giờ khắp trong
và ngoài nư ớc. Lãi suất là một trong những biến số được theo d õi ch ặt chẽ nhất
trong nền kinh tế, sự dao động của lãi suất được đ ưa trên các phương tiện thông tin
đại chúng, nó trực tiếp tác động đến các quyết định của chính phủ, doanh nghiệp,
cũng như nhiều hoạt động của các TCTD và sự thăng trầm của toàn bộ nền kinh tế.
Là một bộ phận cấu thành của chính sách tiền tệ quốc gia, là mục tiêu chính sách
tiền tệ của quốc gia, ổn định tiền tệ, đảm bảo mức lạm phát hợp lý kích thích tăng
trưởng kinh tế, đảm bảo có sự chênh lệch lãi su ất kinh doanh, sử dụng vốn hiệu quả
tăng sản phẩm xã hội chính phủ Việt Nam thông qua NHNN. Trong thời gian tới
chính sách lãi suất sẽ còn tiếp tục điều chỉnh theo hướng tự do hóa lãi suất phù hợp
với mức độ thị trư ờng tài chính khu vực và quốc tế theo chính sách thị trường quốc
tế.
Qua đ ề tài này, giúp em nhận thức và hệ thống hoá th êm phần kiến thức đã
học, hiểu được phần n ào về việc điều h ành thực thi các chính sách lãi su ất ở Việt
Nam trong thời gian qua. Tuy nhiên do trình độ nhận thức còn hạn chế, kiến thức và
thực tế còn ít và thời gian thu thập số liệu không nhiều nên không tránh kh ỏi những
thiếu sót nhất định. Em mong nhận đ ược sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của thầy cô.


Tài liệu tham khảo:

 Trang Web điện tử:  Tạ p chí:
http://www.thesaigontimes.vn  Tạp chí Ngân hàng
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan -hang.chn  Tạp chí Thông tin kinh tế
http://vneconomy.vn/p0c6/tai-chinh.htm  Thống cáo báo chí của Ngân hàng
Nhà nước qua các thời kì.
http://www.hcgf.com.vn
http://bachdanglaw.com/tin-tuc/tin -
taichinh.html  Các từ viết tắt:
http://www.saga.vn  NHNN: Ngân hàng Nhà Nước
http://diendan.laisuat.vn  NHTM: Ngân h àng Thương mại
http://vneconomy.vn
 TCTD: Tổ chức tín dụng
http://www.saga.vn/topic.aspx?id=447
 LSHĐ: Lãi suất huy động
http://www.laisuat.vn
http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/vn




35
Bộ môn: Thị trường tài chính và các định chế tài chính




36

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản