TIỂU LUẬN: Phân tích tình hình tài chính trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng

Chia sẻ: chipchip1122

Điều kiện và tình hình sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến động theo địa bàn và giai đoạn thi công. Cụ thể là trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phẩm của ngành này thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành khác. các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Phân tích tình hình tài chính trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng

TIỂU LUẬN:

Phân tích tình hình tài chính

trong việc nâng cao hiệu quả

quản lý tài chính và năng lực đấu

thầu của doanh nghiệp xây dựng
Chương I
Lý luận cơ bản về phân tích tình hình tài chính trong việc nâng cao hiệu quả
quản lý tài chính và năng lực
đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng


1.1. Vai trò của phân tích tình hình tài chính trong quản lý tài chính tại
các doanh nghiệp xây dựng

1.1.1. Đặc điểm kinh doanh xây dựng

Kinh doanh xây dựng có đặc điểm chính là:

Điều kiện và tình hình sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến
động theo địa bàn và giai đoạn thi công. Cụ thể là trong xây dựng, con người và
công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn
sản phẩm của ngành này thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm
thấy ở các ngành khác. các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản
xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng . Đặc điểm này
gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, làm phát sinh nhiều chi phí cho khâu di
chuyển lực lượng sản xuất, đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chu ý tính cơ động,
linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, đội ngũ lao động
cũng như các yếu tố đầu vào khác.

Chu kỳ sản xuất (thời gian thi công công trình xây dựng) thường rất dài
chịu ảnh hưởng rất lớn về khí hậu, thời tiết. Điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng
công trình và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu dài tại
công trình đang được xây dựng. Các tổ chức xây dựng thường dễ gặp phải rủi ro
ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vôhình do tiến
bộ của khoa học công nghệ.

Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp cụ
thể thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi trúng thầu vì sản phẩm xây dựng
rất đa dạng có tính cá biệt cao, chi phí lớn. Điều này có nghĩa quá trình mua bán
xảy ra trước lúc bắt đầu sản xuất .
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng rất lớn của lợi nhuận chênh lệch do điều
kiện của địa điểm xây dựng đem lại. Cùng một loại xây dựng nhưng nếu nó được
đặt ở nơi có sản nguồn nguyên liệu, nhân công thì người nhận thầu có nhiều cơ hội
giảm bớt chi phi sản xuất và thu được lợi nhuận cao hơn.

Việc tiêu thụ sản phẩm xây dựng được tién hành trực tiếp giữa người mua
và người bán không qua khâu trung gian.

Quá trình cung và cầu xây dựng xảy ra tương đối không liên tục như các
ngành khác. Thị trường xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường đầu tư, nhất là
lãi suất tín dụng để đầu tư và vào mức thu lợi đạt được của đầu tư.

Trong xây dựng không có giá cả thống nhất cho sản phẩm toàn vẹn. Chính
sách và chiến lược giá cả của chủ thầu xây dựng thường khó linh hoạt. Từ những
đặc điểm kinh doanh sản phẩm xây dựng như trên , công tác tổ chức kinh doanh
xây dựng cũng có những nét riêng biệt so với ngành khác cụ thể là:

Các giải pháp tổ chức kinh doanh xây dựng có tính cá biệt cao và luôn biến
đổi linh hoạt. Sau mỗi lần nhận được công trình mới cần phải một lần thay đổi cơ
cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp kèm theo các biện pháp điều hành cho
phù hợp với địa điểm xây dựng mới.

Các giải pháp tổ chức kinh doanh rất phức tạp và phạm vi ảnh hưởng rộng
lớn về không gian và thời gian. Bộ máy quản lý xây lắp có thể trải rộng trên lãnh
thổ, nhất là công trình trải rộng trên các tuyến dài. Thời gian xây dựng một công
trình kéo dài qua nhiều năm. Việc phối hợp giữa các đơn vị thi công đòi hỏi trình
độ quản lý cao.

Quá trình tổ chức quản lý kinh doanh dễ bị gián đoạn do khoảng cách lớn,
do thời tiết, do nhận thầu công trình không liên tục, do suy thoái kinh tế. Việc duy
trì lực lượng lao động trong thời gian không có việc làm là một điều khó khăn.

Công tác quản lý sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào chủ đầu tư, vào
khả năng thắng thầu và khó chủ động hơn các ngành khác.

Sự vận động của các quy luật kinh tế thị trường trong xây dựng cơ bản có
một số đặc điểm khác với các ngành khác nên chiến lược marketing về sản phẩm,
về giá, vệ tiêu thụ, cạnh tranh , chiến lược thị trường cũng có những đặc điểm
riêng biệt.

1.1.2. Yêu cầu quản lý tài chính trong doanh nghiệp xây dựng

Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ
động , thậm chí có thể là tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ thuộc vào khả
năng, trình độ của người quản lý, sau nữa nó phụ thuộc vào môi trường kinh
doanh, vào cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.

Để sử dụng tốt công cụ tài chính, phát huy vai trò tích cực của chúng
trong sản xuất kinh doanh, cần thiết phải tổ chức quản lý tài chính. Tổ chức quản
lý tài chính là việc hoạch định chiến lược về sử dụng tài chính và hệ thống các
biện pháp để thực hiện chiến lược đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp
trong các doanh nghiệp xây lắp phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất: quản lý tài chính trong doanh nghiệp xây dựng phải tôn trọng
luật pháp. Trong nền kinh tế thị trường mục tiên chung của mọi doanh
nghidn’deeuf hưóng tới lợi nhuận tối đa. Một mặt, đây là động lực mạnh mẽ để
thúc đẩy cạnh tranh tăng trưởng kinh tế . Mặt khác, để đạt được lợi nhuận tối đa,
các doanh nghiệp có thể bất chấp tất cả thậm chí điều đó có thể phương hại đến lợi
ích quốc gia, lợi ích của doanh nghiệp khác. Từ đó dẫn đến sự hỗn loạn trật tự xã
hội và đó cũng chính là dấu hiệu của suy thoái kinh tế. Vì vậy song song với “bàn
tay vô hình ” của nền kinh tế thị trường dứt khoát phải có một “bàn tay hữu hình”
của Nhà nước diều chính nền kinh tế. Một nền kinh tế hoàn hảo cần thiết phải tồn
tại cả hai cơ chế: thị trường và sự quản lý của Nhà nước , cũng ví như tiêng vỗ tay
thì không thể thiếu một bàn tay.

Thứ hai: quản lý tài chính trong doanh nghiệp xây lắp cần tôn trọng
nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng
nhất, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Hạch
toán kinh doanh chỉ có thể phát huy được tác dụng trong môi trường đích thực của
nó là nền sản xuất hàng hoá mà dỉnh cao là kinh tế thị trường. Sở dĩ như vậy là vì
yêu cầu tối cao của nguyên tắc này (lấy thu bù chi) đã hoàn toàn trùng hợp với
mục tiêu của các doanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa. Do có
sự thống nhất đó nên trong nền kinh tế thị trường hạch toán kinh doanh không chỉ
có điều kiện để thực hiẹn mà còn là yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thực
hiện nếu như không muốn mình bị phá sản. Để thực hiện dược yêu cầu lấy thu bù
chi và có lãi của nguyên tắc này, việc quản lý tài chính của doanh nghiệp phải
hướng vào hàng loạt các biện pháp như chủ động tận dụng, khai thác các nguồn
vốn , bảo toàn và phát huy có hiệu quả đồng vốn, việc đầu tư vốn phải bám sát nhu
cầu thị trường ... tất cả những biện pháp đó đều nhằm thực hiện một mục đích
xuyên suốt quá trình kinh doanh là kinh doanh phải có hiệu quả .

Thứ ba: quản lý tài chính doanh nghiệp xây dựng phải đảm bảo thu hút
các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của doanh nghiệp . Để
thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có
một yếu tố tiền đề đó là vốn điều kiện. ở nước ta, chuyển sang nền kinh tế thị
trường đa thành phần, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn là một bộ phận cùng
song song cùng tồn tại trong cạnh tranh... Việc thu hút vốn cho đầu tư phát triển
những ngành nghề mới nhằm thu lợi nhuận cao trở thành động lực và đòi hỏi bức
bách đối với doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường khi đã có nhu cầu vốn tất
yếu nảy sinh cung ứng vốn. Thị trường vốn tất yếu được hình thành và quy luật
cung cầu về vốn sẽ có môi trường để hoạt động. Trong điều kiện đó các doanh
nghiệp có đầy đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác, thu hút các nguồn
vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và phát triển của
mình. Vấn đề ở đây là người quản lý phải xác nhận chính xác nhu cầu vốn, cấn
nhắc, lựa chọn các phương án đầu tư sao cho có hiệu quả cao, lựa chọn các hình
thức thu hút thích hợp, sử ụng các đòn bẩy kinh tế như lãi suất vay, lợi tức cổ
phần...để đủ sức huy động vốn kinh hoạt, sử dụng các nguồn vốn và cân dối khả
năng thanh toán...

Thứ tư: quản lý tài chính trong xây dựng phải giữ vững nguyên tắc tiết
kiệm và hiệu quả. Cũng như đảm bảo vốn, việc tổ chức và sử dụng vốn một cách
tiết kiệm và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triên của doanh nghiệp.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt
ra trước mối doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khăt khe: sản xuất theo giá
thị trường, bán nhữg sản phẩm (bao gồm hàng hoá và dịch vụ) mà thị trường cần
và chấp nhận được, chứ không thể bán cái mà doanh nghiệp không có. Để đáp ứng
được điều đó, người quản lý một mặt phải bảo toàn được số vốn bảo ra mặt khác
phải sử dụng các biện pháp nhằm tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả
năng sinh lời của vốn. Để thực hiện yêu cầu này, cán bộ quản lý tài chính doanh
nghiệp phải sử dụng cả hai chức năng phân phối và chức năng giám đốc của tài
chính.

Thứ năm: quản lý tài chính cần phải giữ đảm bảo an toàn phòng ngừa rủi
ro bát trắc. Đảm bảo an toàn đề phòng những rủi ro, bất chắc được coi là một trong
những nguyên tắc kinh doanh nói chung, trong quản lý tài chính doanh nghiệp nói
riêng. Đảm bảo an toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu kinh
doanh có hiệu quả.

Nguyên tắc an toàn cần được quán triệt trong mọi khâu của quá trình quản
lý: an toàn trong việc chọn nguồn vốn, an toàn trong góp vốn đầu tư liên doanh, an
toàn trong sử dụng vốn. Để đảm bảo an toàn, trước khi ra một quyết định tài chính
cần cân nhắc, xem xét trên nhiều phương án, góc độ khác nhau.

Thứ sáu: quản lý tài chính doanh nghiệp luôn phải giữ “chữ tín”. Đây là
một tiêu chuẩn đạo đức, thể hiện văn hoá trong kinh doanh và là tiêu chuẩn
nghiêm ngặt trong quản lý tài chính. Trong thực tế đã cho thấy kẻ làm mất chữ tín,
chỉ tham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng xa lánh. Đó là một nguy cơ dẫn tới phá sản.
Trong quản lý tài chính doanh nghiệp, để giữ chữ tín cần nghiêm túc, tôn trọng kỷ
luật thanh toán, các điều khoản trong hợp đồng kinh tế, các cam kết trong liên
doanh góp vốn và phân chia lợi nhuận.

1.1.3. Vai trò của phân tích tình hình tài chính trong quản lý tài chính
tại các doanh nghiệp xây dựng

Tài chính doanh nghiệp: là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc
huy động, tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh.

Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối
chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ. Qua đó người sử dụng
thông tin có thế đánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp , nắm vững
tiềm năng, xác định chính xác hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong
tương lai và triển vọng của doanh nghiệp .

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp không những cho biết tình hình
tài chính doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấy kết quả hoạt động
mà đạt được trong hoàn cảnh đó. Mục đích của phân tích tình hình tài chính giúp
cho người sử dụng thông tin đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh
lời và triển vọng của doanh nghiệp. Do đó phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như ban giám đốc, hội
đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ động, các chủ nợ, các khách hàng chính,
người cho vay, các ngân hàng, các nhà quản lý, các nhà bảo hiểm, các đại lý... kể
cả các cơ quan Nhà nước và bản thân người lao động .

Tuy nhiên trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước hiện nay, các doanh nghiệp xây lắp cũng như các doanh
nghiệp ở Việt Nam khác đều bình đẳng trong kinh doanh. Tình hình tài chính của
doanh nghiệp xây dựng không chỉ là mối quan tâm đặc biệt của chủ đầu tư mà còn
là quan tâm của nhiều đối tượng khác. Sự quan tâm này dưới nhiều góc độ khác
nhau, song nhìn chung đều tập trung vào khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả
năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa, mức độ rủi ro trong
kinh doanh của doanh nghiệp.... Bởi vậy phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp phải đạt được các mục tiêu chính sau:

Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp và các chủ doanh nghiệp mối quan
tâm của họ là lợi nhuận và khả năng thanh toán, việc phân tích tình hình tài chính
phải cung cấp đầy đủ các thông tin nhằm đánh gá tình hình tài chính đã qua, thực
hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi rủi ro và dự đoán tình hình
tài chính nhằm đề ra quyết định đúng đắn.

Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng mối q uan tâm của
họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp . Họ đặc biệt chú ý đến
lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thanh tiền nhanh, từ đó so sánh
với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng chú ý tới l ượng
vốn chủ sở hữu, bởi vốn chủ sở hữu là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp
doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sắn sàng cho vay nếu các thông tin cho
thấy người vay không đảm bảo chắc chắn rằng khoản vay đó co thể và sẽ được
thanh toán ngay khi đến hạn.

Đối với các nhà cung cấp vật tư, thết bị hanhg hoá, dịch vụ họ phải quyết
định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hay không. Phân tích
tình hình tài chính cho thấy khả năng thanh toán hiện tại và sắp tới của khách
hàng. Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâp của họ hướng vào các yếu tố như sự
rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi , khả năng thanh toán vốn của doanh
nghiệp , mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn
vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn, khả năng điều hành và hiệu quả công
tác quản lý. Phân tích tình hình tài chính cung cấp thông tin về điều kiện tài chính,
tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh
nghiệp nhằm đảm bảo sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư.

Ngoài ra tình hình tài chính doanh nghiệp cũng thu hút sự quan tâm của
các cơ quan quản lý Nhà nước như thuế, tài chính, thống kế, chủ quản ... bởi nó
cũng liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của họ trong việc hướng dẫn, tư vấn,
kiểm tra việc thực hiện các thể lệ, chế độ chính sách do họ đề ra đối với doanh
nghiệp .

Như vậy, vai trò quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp là giúp những người ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu
và đánh giá chính xác thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp .

1.2. Nội dung phân tích tình hình tài chính với việc nâng cao hiệu quả
quản lý tài chính của doanh nghiệp xây dựng

1.2.1.Thu thập thông tin trong phân tích tình tình tài chính

Trong phân tích tình hình tài chính cần phải thu thập và sử dụng mọi
nguồn thông tin từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên
ngoài , từ những thông tin số lượng đến những thông tin giá trị. Tuy nhiên để
đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính doanh nghiệp có thể sử dụng thông
tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là nguồn thông tin quan trọng hàng đầu.
Thông tin kế toán được phản ánh tương đối đầy đủ trong báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính: là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và hế độ
kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính
chủ yếu của đơn vị. (Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên
tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính).

Hệ thống báo cáo tài chính được tổng hợp và trình bầy một cách tổng quát
và toàn diện tình hình tài sản, công nợ nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp trong một kỳ hạch toán.

Thông tin do báo cáo tài chính cung cấp cho phép đánh giá thực trạng tài
chính của doanh nghiệp xây lắp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong
tương lai. Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra các
quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào
các doanh nghiệp xây dựng của các chủ doanh nghiệp , chủ sở hữu, các nhà đầu tư
, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp .

Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ban hành
theo Quyết định sô 167/2000/QĐ-BTC ngày 25 tháng 10 năm 2000 của Bộ trưởng
bộ Tài chính gồm:

Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển
tiền tệ. Nội dung và kết cấu cụ thể như sau:

* Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng hợp
quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị và nguồn hình thành tài sản ở
một thời điểm nhất định. Như vậy Bảng cân đối kế toán phản ánh mối quan hệ cân
đối tổng thể giữa “tài sản” và “nguồn vốn” của doanh nghiệp, thể hiện phương
trình kế toán cơ bản :

Tài sản = nợ phải trả + nguồn vốn chủ sở hữu

Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị tài sản và nguồn vốn tại một thời
điểm . Thời điểm đó thường vào ngày cuối cùng của kỳ hạch toán . Tuy vậy so
sánh số liệu giữa hai thời điểm trên bảng cân đối kế toán cũng co thể thấy được
một cách khái quát sự biến động của tài sản , nguồn vốn của doanh nghiệp trong
kỳ. Bảng cân dối kế toán là tài liệu quan trọng phản ánh một cách tổng quát năng
lực tài chính, tình hình phân bổ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như triển
vọng kinh tế tài chính trong tương lai.

Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài
khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân đối kế
toán được chia làm hai phần (có thể kết cấu theo kiểu hai bên hoặc một bên) là
phần “tài sản” và phần ”nguồn vốn”.

Phần tài sản: phản ánh toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp đến cuối
kỳ hạch toán đang tồn tại dưới các hình thái và trong tất cả các giai đoạn, các khâu
của quá trình kinh doanh. Các chỉ tiêu phản ánh trong phần tài sản được sắp theo
nội dung kinh tế của các loại tài sản của doanh nghiệp trong quá trình tái sản xuất .

Về mặt kinh tế: Các chỉ tiêu phản ánh bên có thể hiện giá trị tài sản theo
kết cấu hiện có tại doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo như tài sản (TSCĐ, vật
liệu, hàng hoá, ...), tiền tệ (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng,...) các khoản đầu
tư tài chính hoặc dưới hình thức nợ phải thu ở tất cả các khâu, các giai đoạn trong
quá trình sản xuất, kinh doanh (thu mua, tiêu thụ, ...) Căn cứ vào nguồn số liệu
này, trên cơ sở tổng số tài sản và kết cấu tài sản hiện có mà đánh giá một cách tổng
quát quy mô tài sản, năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Về mặt pháp lý: Các chỉ tiêu bên Tài sản phản ánh toàn bộ số tài sản hiện
có đang thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng của doanh nghiệp.

Phần “Nguồn vốn” phản ánh “nguồn hình thành” các loại tài sản của
doanh nghiệp đến cuối kỳ hạch toán. Các chỉ tiêu ở phần nguồn cốn được sắp xếp
theo từng nguồn hình thành tài sản của đơn vị (nguồn vốn của bản thân doanh
nghiệp - vốn chủ sở hữu), nguồn đi vay, nguốn vốn chiếm dụng,... Tỷ lệ và kết cấu
của từng nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động,
thực trạng tài chính của doanh nghiệp.

Về mặt kinh tế: Số liệu phần “Nguồn vốn” của Bảng Cân đối kế toán thể
hiện quy mô, nội dung, thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý: Số liệu của các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý của
doanh nghiệp về số tài sản đang quản lý, sử dụng đối với Nhà nước, với cấp trên
(về nguồn vốn của Nhà nước) với các nhà đầu tư, với cổ đông, với liên doanh, với
ngân hàng, tổ chức tín dụng (về các khoản vốn vay) với khách hàng, với các đơn vị
kinh tế khác.

ở cả hai phần ngoài cột chỉ tiêu còn có các cột phản ánh mã số của chỉ
tiêu, cột số đầu năm và số cuối kỳ.

* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Báo cáo ”Kết quả hoạt động kinh doanh “là một báo cáo kế toán tài
chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Ngoài ra báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của
doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế giá trị gia tăng bán hàng
nội địa trong một kỳ kế toán.

“Báo cáo kết quả kinh doanh”cũng là báo cáo tài chính quan trọng cho
nhiều đối tượng khác nhau nhằm phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và
khả năng sinh lãi của doanh nghiệp.

Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, có thể kiểm tra được
tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về
các khoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng phát triển
của doanh nghiệp qua các ký khác nhau.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:
- Phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi
kỳ hoạt động (Phần I: Lãi lỗ) phần này có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu,
chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập
chi phí của từng hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu thuộc phần
này đều được theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và quý kể từ đầu năm.
- Phần phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà
nước gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản
phải nộp khác (Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước). Các chỉ
tiêu ở phần này cũng được chi tiết thành số còn phải nộp kỳ tr ước, số phải nộp kỳ
này, số đã nộp trong kỳ này và số còn phải nộp đến cuối kỳ này cùng với số phải
nộp, số đã nộp luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo.

- Phần phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại,
được giảm và thuế giá trị gia tăng bán hàng nội địa (Phần III “Thuế giá trị gia
tăng được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng được hoàn lại, thuế GTGTđược giảm,
thuế GTGT bán hàng nội địa’). Phần này chi tiết các chỉ tiêu liên quan đến thuế
GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, đã hoàn lại, được giảm, đã giảm và số thuế
giá trị gia tăng còn được khấu trừ, còn được hoàn lại, còn được giảm cuối kỳ...

* Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành
và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Thông tin về
lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ
sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đó
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo Chuẩn mực kế toán Việt nam số 24 - “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”
trên bao gồm tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn,
còn các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng
kể từ ngày mua khoản đầu tư đó), có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một
lượng tiền nhất định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đến thành tiền (Kỳ
phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi...). Doanh nghiệp được
trình bày các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động
tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.

* Thuyết minh báo cáo tài chính.

Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành của hệ thống
thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung
về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà
các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được.

Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của
doanh nghiệp; nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn đế áp
dụng; tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan
trọng; phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh
nghiệp.

Mặc dù mỗi loại báo cáo tài chính cung cấp những thông tin khác nhau,
nhưng không báo cáo nào chỉ phục vụ cho một mục đích hoặc cung cấp thông tin
cần thiết để đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng. Mỗi báo cáo trong hệ thống báo cáo tài
chính có mối liên hệ tương hỗ lẫn nhau, chúng phản ánh những khía cạnh khác
nhau của cùng một nghiệp vụ, cùng một sự kiện. Vì vậy để đánh giá đúng đắn về
thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp phải xem xét các báo cáo tài chính
trong một hệ thống và thực hiện phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thông
qua các báo cáo tài chính của nó.

1.2.2. Hiệu quả quản lý tài chính

Để hiểu khái niệm hiệu quả quản lý tài chính trước hết cần xem xét khái
niệm hiệu quả.

Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các
mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong
những điều kiện nhất định. Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau
nên hình thành nhiều khái niệm khác nhau như hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh
tế, hiệu quả chính trị xã hội, hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tương
đối, hiệu quả tuyệt đối...Xét theo góc độ chủ thể nhận được kết quả (lợi ích) và bỏ
ra chi phí để có được kết quả có khái niệm hiệu quả quản lý tài chính.

Hiệu quả quản lý tài chính: phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế
mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra , trình độ sử
dụng các nguồn lực để có được lợi ích kinh tế. Hiệu quả quản lý tài chính là mối
quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp , các nhà đầu tư. Hiệu quả quản lý tài
chính chỉ liên quan đến việc thu chi có liên quan trực tiếp.

1.2.3. Đánh giá khái quát tình hình tài chính

Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định chung về
tình hình tài chính doanh nghiệp. Công việc này sẽ cung cấp cho người sử dụng
thông tin biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp có khả quan hay
không.Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp được thực hiện
thông qua các chỉ tiêu.

1.2.3.1. Phân tích tình hình biến động của tài sản và nguồn vốn của
doanh nghiệp

* Phân tích tình hình biến động về quy mô tài sản và nguồn vốn

Để đánh giá trước hết tiến hành so sánh tổng số nguồn vốn, tổng tài sản
của kỳ so với đầu năm cho thấy quy mô của tài sản cũng như khả năng huy động
vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra cần xem xét biến động từng khoản mục trong tổng
tài sản hoặc nguồn vốn để thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình kinh doanh.
Có thể lập bảng phân tích theo mẫu sau:




Bảng 1.1 Phân tích tình hình biến động quy mô tài sản
Tăng giảm
Tài sản Số đầu năm Số cuối năm Số tuyệt đối Số tương
đối (%)
A. Tài sản lưu động
và đầu tư ngắn hạn
(100=110+120+130+1
40+150+160)
I. Tiền
II Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn
III Các khoản phải thu
IV Hàng tồn kho
.
V Tài sản lưu động khác
VI Chi sự nghiệp
B. Tài sản cố định và
đầu tư dài hạn
(200=210+220+230+2
40+241)
I Tài sản cố định
II Các khoản đầu tư tài
chính dài hạn
III Chi phí xây dựng cơ
bản dở dang
IV Các khoản ký quỹ, ký
. cược dài hạn
Tổng cộng tài sản
(250=100+200)




Bảng 1.2 : Phân tích tình hình biến động quy mô nguồn vốn
Tăng giảm
nguồn vốn Số đầu năm Số cuối năm Số tuyệt đối Số tương
đối (%)
A. Nợ phải trả
(300=310+320+330)
I. Nợ ngắn hạn
II Nợ dài hạn
III Nợ khác
B.Nguồn vốn chủ sở
hữu (400=410+420)
I. Nguồn vốn , qũy
II Nguồn kinh phí, qũy
khác
Tổng cộng nguồn vốn
(430=300+400)




1.2.3.2. Phân tích quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

Trên lý thuyết, nguồn vốn của một doanh nghiệp luôn bảo đảm đầy đủ cho mọi
hoạt động có nghĩa là:

Tài sản lưu động + Tài sản cố định = Nguồn vốn chủ sở hữu

Nếu lấy ký hiệu trên bảng cân đối kế toán ta có :

(I + IV + V + VI)A tài sản + IB tài sản = B nguồn vốn chủ sở hữu

Trong thực tế hiếm có doanh nghiệp nào được như vậy mà thường chỉ xảy ra một
trong hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: (I + IV + V + VI)A tài sản + IB tài sản > B nguồn vốn chủ sở hữu
Thể hiện doanh nghiệp thiếu vốn để trang trải cho tài sản của mình. Để hoạt động
kinh doanh bình thường , doanh nghiệp phải huy động thêm vốn từ các khoản vay
hoặc đi chiếm dụng vốn từ đơn vị khác.

Trường hợp 2: (I + IV + V + VI)A tài sản + IB tài sản < B nguồn vốn chủ sở hữu

Trường hợp này vốn chủ sở hữu không sử dụng hết cho tài sản, nên đã bị các đối
tượng và doanh nghiệp khác chiếm dụng hoặc số vốn thừa được doanh nghiệp đầu
tư cho các hoạt động khác ngoài sản xuất .

1.2.3.3. Vốn luân chuyển thuần (hoạt động thuần) là chỉ tiêu phản ánh
phần chênh lệch giữa tổng giá trị thuần của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
với tổng số nợ ngắn hạn.Một doanh nghiệp muốn hoạt động không bị gián đoạn thì
cần thiết phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để thỏa mãn các khoản nợ
ngắn hạn, dự trữ hàng tồn kho đầy đủ. Vốn hoạt động thuần càng lớn thì khả năng
thanh toán của doanh nghiệp càng cao. Tuy nhiên nếu vốn hoạt động thuần quá
cao sẽ làm giảm hiệu quả đầu tử vì lượng tài sản lưu động quá nhiều so với nhu
cầu và vì phần dư này không làm tăng thêm thu nhập doanh nghiệp.
Tổng giá trị thuần của Tổng số nợ
Vốn hoạt động = -
TSLĐ và đầu tư ngắn hạn ngắn hạn
thuần



1.2.4. Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình bảo đảm nguồn vốn

cho hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2.4.1. Phân tích cơ cấu nguồn vốn:

Phân tích cơ cấu nguồn vốn là việc xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn
chiếm tổng số nguồn vốn cũng như xu hướng biểu tượng của từng nguồn vốn cụ
thể. Qua đó đánh giá sự biến động về mặt tài chính cũng như mức độ độc lập về tài
chính của doanh nghiệp. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng
số nguồn vốn thì doanh nghiệp đủ khả năng tự chủ về mặt tài chính và mức độ độc
lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ (Ngân hàng, nhà cung cấp) là cao. Ngược
lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn (cả về số tuyệt
đối và tương đối) thì khả năng đảm bảovề mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp.
Khi phân tích cơ cấu nguồn vốn cần tính ra và so sánh tỷ trọng của từng
nguồn vốn chiếm trong tổng số giữa cuối kỳ so với đầu năm, giữa kỳ phân tích so
với kỳ gốc, dựa vào xu hướng báo động về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn
để nhận xét về mức độ bảo đảm và độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp.
Đồng thời so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc cả về số tuyệt đối
và tương đối theo từng nguồn vốn cụ thể để nhận xét.

Cũng qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà phân tích nắm được các chỉ
tiêu liên quan đến tình hình tài chính doanh nghiệp. Từ đó giúp các nhà phân tích
có cơ sở để xác định đúng tính hợp lý về cơ cấu nguồn vốn và xu hướng hoạt động
của cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Có thể sử dụng bảng phân tích theo bảng
1.3 như sau:

Bảng 1.3: Mẫu phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Số đầu kỳ Số cuối kỳ
nguồn vốn Số tuyệt Tỷ trọng Số tuyệt Tỷ
đối (%) đối trọng(%)
A Nợ phải trả
I Nợ ngắn hạn
II Nợ dài hạn
III Nợ khác
B Nguỗn vốn chủ sở hữu
I Nguỗn vốn qũy
II Nguồn kinh phí, quỹ khác
Tổng cộng nguồn vốn

(tài liệu sử dụng để phân tích là Bảng cân đối kế toán phần “nguồn vốn”

1.2.4.2. Phân tích tình hình biến động về cơ cấu tài sản
Phân tích cơ cấu về tài sản là chỉ tiêu hết sức có ý nghĩa. Một doanh nghiệp
có cơ cấu tài sản hợp lý không những sử dụng hiệu quả mà còn tiết kiệm được vốn
trong kinh doanh. Việc phân tích thông qua lập bảng theo mẫu sau:
Bảng 1.4: Mẫu phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp


Số đầu kỳ Số cuối kỳ
tài sản Số tuyệt Tỷ trọng Số tuyệt Tỷ
đối (%) đối trọng(%)
A Tài sản lưu động
I Vốn bằng tiền
II Đầu tư ngắn hạn
III Các khoản phải thu
IV Hàng tồn kho
V Tài sản lưu động khác
B Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tổng cộng tài sản

(tài liệu sử dụng để phân tích là Bảng cân đối kế toán phần “tài sản”
1.2.4.3. Phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh.

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có
tài sản. Các tài sản này được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn
vay - nợ. Việc cung ứng đầy đủ nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh liên tục và có hiệu quả.
Do vậy cần phải tập hợp các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động và
hình thành nguồn vốn.

Có thể phân loại nguồn vốn (nguồn tài trợ) tài sản dùng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành 02 loại:

- Nguồn tài trợ thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử
dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Nguồn tài trợ thường
xuyên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay - nợ dài hạn , trung hạn (
trừ vay, nợ quá hạn ).

- Nguồn tài trợ tạm thời: là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng
vào hoạt động kinh doanh trong khoảng thời gian ngắn. Nguồn tài trợ tạm thời bao
gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay - nợ quá hạn kể cả các
khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người mua, của người lao động...

Các nguồn vốn bảo đảm cho hoạt động sản xuất - kinh doanh (nguồn tài
trợ tài sản) của doanh nghiệp được thể hiện khái quát qua bảng 1.5:

Bảng 1.5 : Các nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp

TSCĐ - TSCĐ hữu hình Vốn chủ sở hữu
- TSCĐ vô hình
Tổng Thường Nguồ
- Vay dài hạn trong hạn
xuyên
số tài n tài
-TSCĐ thuê mua
- Nợ dài hạn, trung hạn
sản trợ
- Đầu tư dài hạn.
TSLĐ - Tiền - Vay ngắn hạn

- Nợ - Nợ ngắn hạn

- Đầu tư ngắn hạn - Chiếm dụng bất hợp Tạm thời
pháp
- Hàng tồn kho

-VV



Để phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, trước hết cần liệt kê tất cả các nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong
thời kỳ (kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo) để biết được tình hình biến động của nguồn
vốn trên. Từ đó đánh giá tình hình bảo đảm nguồn vốn trên cho hoạt động sản xuất
kinh doanh và đánh giá được tính hợp lý của sự biến động về nguồn vốn. Đối với
các khoản chiếm dụng bất hợp pháp, trong bất kỳ trường hợp nào cũng cho thấy
hoạt động tài chính của doanh nghiệp là bất thường.

Tiếp theo, so sánh tổng nhu cầu về tài sản (tài sản cố định và tài sản lưu
động) với nguồn vốn chủ sở hữu hiện có đủ hoặc lớn hơn tổng số nhu cầu về tài
sản thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này một cách hợp lý (đầu tư vào tài sản
lao động, tài sản cố định, hoạt động kinh doanh, trả nợ vay...) tránh bị chiếm dụng
vốn. Ngược lại, khi nguồn vốn không đáp ứng đủ nhu cầu về tài sản thì doanh
nghiệp có biện pháp huy động và sử dụng phù hợp (huy động nguồn tài trợ tạm
thời hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư tránh đi chiếm dụng vốn bất hợp pháp.
1.2.5. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán

1.2.5.1. Phân tích tình hình thanh toán

Tình hình thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng hoạt
động tài chính của doanh nghiệp. Nếu hoạt động tài chính có hiệu quả, doanh
nghiệp sẽ ít công nợ, ít bị chiếm dụng vốn, ít đi chiếm dụng vốn và ngược lại.

Tình hình thanh toán của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả (%):

Tổng số khoản phải
Tỷ lệ các khoản phải thu so
thu
= x 100%
với các khoản nợ phải trả
Tổng số khoản phải trả

Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng so với các
khoản đi chiếm dụng. Nếu tỷ lệ này lớn hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp bị
chiếm dụng vốn, còn nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp đi chiếm
dụng vốn của doanh nghiệp khác.

- Tỷ suất nợ phải trả tổng quát (%)

Tổng số nợ phải trả
Tỷ suất nợ phải trả tổng
= x 100%
Tổng nguồn vốn (Tổng tài
quát
sản)

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn công ty bỏ ra thì có bao nhiêu
đồng nợ phải trả. Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng quát tình hình công nợ của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công nợ của công ty càng lớn. Quản trị
công ty cần xác định rõ nguyên nhân khê đọng các khoản phải trả nhằm sớm có
biện pháp xử lý công nợ, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính.

- Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (%)

Tổng số nợ phải trả
Tỷ suất nợ phải trả tổng
x 100%
=
quát Vốn chủ sở hữu
Để có nhận xét , đánh giá đúng đắn về tình hình thanh toán của doanh
nghiệp, khi phân tích còn phải sử dụng các tài liệu hạch toán hàng ngày nhằm:

- Xác định tính chất , thời gian và nguyên nhân các khoản phải thu, phải
trả;

- Các biên pháp mà đơn vị áp dụng để thu hồi nợ và thanh toán nợ;

- Nguyên nhân dẫn đến các khoản tranh chấp nợ phải thu , phải trả

Có thể lập bảng phân tích theo mẫu sau:

Bảng 1.6: Bảng phân tích tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu
và nợ phải trả


Tổng số còn phải thu hay
Số nợ quá hạn
phải trả
Đầu Cuối Cuối kỳ so Đầu Cuối Cuối kỳ so
Chỉ tiêu kỳ kỳ với đầu kỳ kỳ kỳ với đầu năm

 
Tỷ lệ Tỷ lệ

1 2 3 4 5 6 7 8 9
I.Các khoản phải thu
- Phải thu từ khách hàng
- Trả trước cho người bán
- Cho vay
- Phải thu tạm ứng
- Phải thu nội bộ
- Phải thu khác
II.Các khoản phải trả
2.1. Nợ dài hạn
- Vay dài hạn
- Nợ dài hạn
2.2. Nợ ngắn hạn
- Vay ngắn hạn
- Phải trả cho người bán
- Người mua trả trước
.- Doanh thu nhận trước
- Phải trả công nhân viên
- Thuế và các khoản nộp Nhà
nước
- Phải trả nội bộ
- Phải trả khác
Tổng cộng



1.2.5.2. Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán

Nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp là cơ sở đánh giá tình
hình thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và triển vọng trong tương lai. Để phân
tích đầu tiên cần tính ra và so sánh số đầu kỳ, số cuối kỳ các chỉ tiêu phản ánh khả
năng thanh toán như:

- Hệ số thanh toán tổng hợp

- Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn

- Hệ số thanh toán của tài sản lưu động

- Hệ số thanh toán nhanh

Trong đó quan trọng là hai chỉ tiêu hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh
toán tổng hợp. Sau đó dựa vào các tài liệu hạch toán liên quan, tiến hành thu thập
số liệu liên quan đến các khoản có thể dùng để thanh toán với các khoản phải
thanh toán của doanh nghiệp và sắp sếp các chỉ tiêu này vào bảng phân tích theo
trình tự nhất định. Tiêu chí sắp xếp của các chỉ tiêu nhu cầu thanh toán là mức độ
khẩn trương của việc thanh toán, còn với chỉ tiêu khả năng thanh toán là khả năng
huy động. Doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán trong từng giai đoạn
nếu các khoản có thể dùng để thanh toán lớn hơn các khoản phải thanh toán còn
nếu ngược lại các nhà quản lý phải tìm kế sách huy động nguồn tài chính đảm bảo
cho việc thanh toán nếu không muốn bị rơi vào tình trạng phá sản. Bảng phân tích
có dạng như bảng 1.7.

Đồng thời trên cơ sở bảng phân tích trên cần tính ra chỉ tiêu “hệ số khả
năng thanh toán tổng hợp (Hk)” và “hệ số thanh toán nhanh (Hn)” như sau:

- Hệ số khả năng thanh toán tổng hợp (Hk)

Khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán tổng
=
hợp (Hk) Nhu cầu thanh toán

Chỉ tiêu này có thể tính cho cả thời kỳ hoặc cho từng giai đoạn (hiện thời,
tháng tới , quý tới...). Nếu Hk >1 chứng tỏ doanh nghiệp bảo đảm khả năng thanh
toán và tình hình tài chính bình thường hoặc khả quan. Nếu Hk 1 và càng lớn hơn 1 bao nhiêu hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty càng có hiệu quả bấy nhiêu. Không những công
ty có thể hoàn trả vốn vay mà có thể trả cả lãi vay.

Nếu hệ số thanh toán lãi vay < 1 và càng nhỏ bao nhiêu thì rủi ro về tài
chính của công ty càng lớn. Công ty cần có biện pháp khắc phục nếu không muốn
bị phá sản.

1.2.6.2. Phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động (vốn lưu
động)

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không
ngừng, thường xuyên qua các quá trình tái sản xuất. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển
của vốn lưu động sẽ góp phần giả quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn. Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động thể hiện qua các
chỉ tiêu sau:

- Số lần luân chuyển của của vốn lưu động:

Tổng số vốn luân chuyển thuần
Số lần luân chuyển của
=
vốn lưu động Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh, số vốn l ưu động quay được
được mấy lần . Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và
ngược lại.

- Độ dài bình quân một lần luân chuyển:
Độ dài bình quân một lần Thời gian của kỳ phân tích
luân chuyển vốn lưu động =
Số lần luân chuyển của vốn lưu
(ngày)
động

Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để cho vồn lưu động quay được
một vòng. Thời gian một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng
lớn và ngược lại. Do đó công ty sẽ tiết kiệm được vốn lưu động.

1.3 Năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng

1.3.1 Khái niệm đấu thầu và năng lực đấu thầu của doanh nghiệp

Thuật ngữ “đấu thầu ” đã trở nên quen thuộc ở nước ta trong hơn một thập
kỷ qua, nó xuất hiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Có nhiều khái niệm khác nhau về đấu thầu:

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (do Trung tâm biên soạn Từ điển bách
khoa biên soạn , xuất bản năm 1995 ) thì “đấu thầu là phương thức giao dịch đặc
biệt , người muốn xây dựng công trình (người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu
và điều kiện xây dựng công trình để người nhận xây dựng công trình (người dự
thầu ) công bố giá mà mình muốn nhận. Người gọi thầu sẽ lựa chọn người dự thầu
nào phù hợp với điều kiện của mình với giá thấp hơn. Phương thức đấu thầu được
áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua sắm tài sản và xây dựng các công trình
tư nhân và Nhà nước”.

Trong lĩnh vực xây lắp ở Việt Nam, khái niệm đấu thầu được nêu tại
khoản 1 điều 3 “quy chế đấu thầu” ban hành theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP
ngày 01/09/1999 thì “đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của
bên mời thầu” .

Như vậy đấu thầu có các đặc điểm sau:

- Đấu thầu là hoạt động mua bán

- Đấu thầu chỉ tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường khi có sự
tồn tại và phát triển của cạnh tranh.
Trong đấu thầu xây lắp ta thấy tồn tại ba quan hệ cạnh tranh : cạnh tranh
giữa chủ đầu tư với các nhà thầu; cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau và cạnh
tranh giữa nhà thầu với người cung cấp. Nổi bật nhất là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp dự thầu. Để đạt thành công trong đấu thầu thì các nhà thầu buộc phải phát
huy tối đa năng lực của mình đáp ứng yêu cầu mời thầu.

Khi nói về năng lực đấu thầu (hay năng lực cạnh tranh trong đấu thầu) của
doanh nghiệp là nói đến các nội lực bên trong như năng lực về tài chính, kỹ thuật,
công nghệ, quảng cáo, tổ chức quản lý, đội ngũ nhân viên ...của doanh nghiệp và
việc sử dụng các nội lực đó để phục vụ cho các cuộc đấu thầu khác nhau tạo ra lợi
thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về
năng lực đấu thầu của doanh nghiệp nhưng tựu chung lại đều đề cập tới hai vấn đề
cơ bản là chiếm lĩnh thị trường và thu lợi nhuận. Như vậy năng lực đấu thầu (hay
năng lực cạnh tranh trong đấu thầu) của doanh nghiệp là toàn bộ năng lực và việc
sử dụng các năng lực đó để tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ
khác nhằm duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thị trường và thu được hiệu quả
cao nhất trong kinh doanh.

Thực tế trong nền kinh tế thị trường , hoạt động đấu thầu ngày càng sôi
động , cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày gay gắt . Để đứng vững và mở rộng
thị phần đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải không ngừng nâng cao năng lực
đầu thầu.

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng

1.3.2.1. Nhân tố khách quan

* Nhà nước và chính trị

Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của tất cả các
doanh nghiệp trong nền kinh tế. Hoạt động của doanh nghiệp bị chi phối bởi tất cả
các điều luật, các quy định do Nhà nước đặt ra. Hiện nay trên thị trường xây dựng
hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng dựa theo Luật xây dựng, các nghị định
và văn bản hướng dẫn đặc thù, ngoài ra còn có các quy định về khung giá, mức
giá, những quy định về thuê mướn, thuế, cho vay, quảng cáo, bảo vệ môi trường. .
. các chế tài bắt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ

Chính sách của Nhà nước hoặc của Chính phủ có thể tạo cơ hội hoặc gây
bất lợi cho doanh nghiệp. Chẳng hạn Luật xây dựng tại điều 100 khoản 2 , quy
định đấu thầu hạn chế trong hoạt động xây dựng : “Đối với dự án đầu tư xây dựng
công trình, công trình sử dụng vốn nhà nước thì không cho phép 2 doanh nghiệp
trở lên thuộc cùng một tổng công ty, tổng công ty với công ty thành viên, công ty
mẹ và công ty con, doanh nghiệp liên doanh với một bên góp vốn trong liên doanh
cung tham gia đấu thầu một gói thầu”, quy định này nhằm làm hạn chế các doanh
nghiệp khi dự thầu. Hoặc quy chế đấu thầu ban hành kèm Nghị định 88/1999/NĐ-
CP ngày 01/09/1999 tại điều 10 - Quy định điều kiện đấu thầu quốc tế và ưu đãi
nhà thầu: “Nhà thầu nước ngoài khi tham gia dự đấu thầu quốc tế tại Việt Nam
hoặc phải liên doanh với nhà thầu Việt Nam hoặc phải cam kết sử dụng thầu phụ
Việt Nam”.... tức là tạo thêm ưu đãi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia
đấu thầu quốc tế.

Những bộ phận của nhân tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp và hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà
nước. Hoạt động của các cơ quan Chính phủ và Luật pháp có tác động trực tiếp
đến tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các Nhà
quản lý doanh nghiệp phải quan tâm, nắm vững thông tin Luật pháp , các thủ tục
hành chính và các quy định khác của Chính phủ trong kinh doanh và đấu thầu.

Tuy vậy nếu chỉ tuân thủ các quy định hiện hành vẫn chưa đủ mà doanh
nghiệp cần phải tính đến việc phản hồi thông tin, kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ
sung hoặc đưa ra các quy định mới phù hợp, tự mình gây ảnh hưởng đối với các
quy định có thể được ban hành. Hơn nữa, việc tự mình đặt ra và làm theo các quy
định còn cần thiết hơn so với các quy định của Nhà nước.

* Những đối thủ cạnh tranh

Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh
nghiệp do nhiều nguyên nhân. Các đối thủ cạnh tranh nhau quyết định tính chất và
mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành ưu thế trên thị trường. Mức độ cạnh tranh
phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia
cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định hoặc chi phí dự
trữ chiếm tỷ trọng lớn, sự đa dạng hóa của các đối thủ cạnh tranh, hàng rào cản trở
rút lui.

Hiện nay trên thị trường xây dựng có rất nhiều doanh nghiệp cả trong và
ngoài nước cùng tham gia, làm tăng tính chất và quy mô cạnh tranh trong ngành,
làm giảm mức lợi nhuận doanh nghiệp. Nếu trên thị trường có một số doanh
nghiệp dẫn đầu thì cạnh tranh gay gắt chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp yếu thế
hơn. Trong đấu thầu xây dựng , các doanh nghiệp có năng lực đấu thầu cao ( các
doanh nghiệp ở vị trí dẫn đầu ) thường sử dụng phương thức cạnh tranh bằng giá
dự thầu, chất lượng công trình, tiến độ thi công để giành được hợp đồng.

* Quyền lực của nhà cung cấp

Trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp có quan hệ với các tổ chức
cung cấp các nguồn hàng khác nhau như vật tư, thiết bị, tài chính, nguồn nhân lực
...Giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào giá cả
của các đầu vào này. Đặc biệt trong đấu thầu , doanh nghiệp quyết định hạ giá dự
thầu phần lớn dựa trên cơ sở giá cả hàng hóa mà nhà cung cấp cam kết bán cho
doanh nghiệp nếu trúng thầu.

Những ưu thế và đặc quyền của nhà cung cấp cho phép họ có ảnh h ưởng
nhất định đối với doanh nghiệp. Họ có thể tạo ra áp lực đối với doanh nghiệp . Có
rất nhiều cách để họ có thể tác động vào khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Họ có thể tăng giá, giảm chất lượng những loại vật tư kỹ thuật mà họ cung ứng,
không đảm bảo tiến độ theo yêu cầu của doanh nghiệp... Các nhà cung ứng có thế
lực mạnh khi:

- Là nhà độc quyền cung ứng một loại vật tư thiết yếu cho doanh nghiệp

- Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp

- Loại vật tư, hàng hóa cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định
lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc đến chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Trên thị trường xây dựng, danh tiếng của nhà cung cấp có ảnh hưởng rất
lớn đến chủ đầu tư do có sự liên quan đến chất lượng công trình. Tạo được mối
quan hệ tốt với các nhà cung cấp có danh tiếng sẽ là lợi thế mạnh của doanh
nghiệp.

* Quyền lực của chủ đầu tư

Chủ đầu tư là tổ chức được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và thực hiện
dự án. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về quá trình lựa chọn nhà thầu do vậy chủ đầu
tư có ảnh hưởng rát lớn đến các doanh nghiệp tham gia đấu thầu . Hiện nay ở nước
ta quy chế đấu thầu qua nhiều lần sửa đổi vẫn còn nhiều hạn chế. Khả năng thắng
thầu của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào chủ đầu tư, họ là người trực tiếp
quyết định và lựa chọn hồ sơ dự thầu của doanh nghiệp. Quy chế đấu thầu ban
hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP mặc dù quy định rất rõ về điều khoản
ưu đãi cho các nhà thầu Việt Nam. Nhưng trên thực tế , do nguồn gốc vốn đầu tư
nên nhiều khi việc đấu thầu bị chi phối hoàn toàn từ bên cho vay. Trong trường
hợp này nhà thầu Việt Nam phải chịu chấp nhận theo ý chủ quan của Chủ đầu tư.

Hơn nữa chủ đầu tư cũng là người lựa chọn tư vấn để đánh giá hồ sơ dự
thầu, do vậy cùng với chủ đầu tư đơn vị tư vấn cũng có vai trò quyết định đến
khả năng trúng thầu của doanh nghiệp. Tạo mối quan hệ thân tín với các nhà tư
vấn nhằm học hỏi kinh nghiệm , trình độ và tác động đến việc chấm điểm hồ sơ
thầu là rất cần thiết.

1.3.2.2. Nhân tố chủ quan

* Nguồn nhân lực

Con người là nhân tố cơ bản của sản xuất - kinh doanh. Đánh giá nguồn
nhân lực của doanh nghiệp, chủ đầu tư đặc biệt chú trọng đế cấp độ sau:

- Lãnh đạo : Ban Giám đốc doanh nghiệp

Lãnh đạo và Ban Giám đốc doanh nghiệp là những cán bộ ở cấp quản lý
cao nhất trong doanh nghiệp, quyết định đến sự thành công hay thất bại của đơn
vị trong kinh doanh. Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo người ta thường quan tâm
đến các tiêu thức như kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ, các hoạt động của doanh
nghiệp, phẩm chất kinh doanh và các mối quan hệ... Sâu xa hơn nữa là tinh
thần đoàn kết, đồng lòng của nhân viên, của ekip lãnh đạo, uy tín của Ban lãnh
đạo trong và ngoài doanh nghiệp , điều này làm tăng sức mạnh của chính doanh
nghiệp và tạo sự tín nhiệm đối chủ đầu tư.

- Chức năng: Cán bộ quản lý cấp doanh nghiệp

Để đánh giá điểm mạnh , điểm yếu của đội ngũ cán bộ quản lý chủ đầu tư thường
tiếp cận trên các khía cạnh:

+ Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, tác phong làm việc, sự am
hiểu về kinh doanh và pháp luật của từng thành viên trong ekip quản lý.

+ Cơ cấu về các chuyên nghành đào tạo phân theo trình độ sẽ cho biết khả
năng chuyên môn hóa cũng như khả năng đa dạng hóa của doanh nghiệp. Thông
thường , cơ cấu cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân lành nghề có chuyên
môn vê lĩnh vực chính mà doanh nghiệp đang kinh doanh phải chiếm ít nhất 60%
tổng số lao động, bởi điều này liên quan đến chất lượng và kỹ thuật công trình.

- Thực hiện: cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân

Đây là đội ngũ lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh
nghiệp trên các khía cạnh như chất lượng công trình và tiến độ thi công. Người
phụ trách đơn vị phải có trình độ quản lý (tổ chức điều phối lao động, thiết bị hợp
lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận nhưng phải đảm bảo chất
lượng), am hiểu sâu về công việc mà đơn vị đang thực hiện, biết chăm lo quyền lợi
cho người lao động... mới tạo ra sự ủng hộ, lòng nhiệt thành từ phía người lao
động. Tuy nhiên , lãnh đạo đơn vị giỏi cũng chưa đủ mà cần có đội ngũ lao động
tay nghề chuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực, có trách nhiệm trong công
việc. Bởi đây chính là những người trực tiếp thực hiện những ý tưởng, chiến lược
và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất
lượng công trình và năng lực đấu thầu cho doanh nghiệp.

* Tài chính

Năng lực tài chính có vai trò quyết định đối sức cạnh tranh của doanh
nghiệp. Năng lực tài chính thể hiện ở quy mô tài sản nguồn vốn tự có, khả năng
huy động tài sản nguốn vốn khác nhau , hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản nguồn
vốn cho sản xuất kinh doanh. Mặt khác , để đánh giá khả năng tài chính của doanh
nghiệp xây dựng cần xem xét cơ cấu vốn cố định, vốn lưu động với yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ thi công.

Với khả năng tài chính dồi dào , doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu
nhiều công trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tư trang thiết bị thi công nhằm
đáp ứng kịp thời quy trình công nghệ hiện đại, đồng thời sẽ tạo được niềm tin với
các tổ chức tài chính tín dụng và nhà cung cấp vật tư hàng hóa.

Năng lực tài chính mạnh tác dụng tích cực đến quá trình đấu thầu. Trước
hết , nó giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong điều
kiện giới hạn về vốn. Thứ hai nó tạo niềm tin nơi chủ đầu tư về khả năng quản lý
hiệu quả đồng vốn được giao. Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là yếu tố
quyết định đến khả năng huy động các nguồn tài chính từ bên ngoài cho quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy , trong đấu thầu quốc tế nếu xét trên phương diện tài
chính , các doanh nghiệp trong nước thường mất ưu thế so với các doanh nghiệp
nước ngoài. Nguyên nhân do bản thân các doanh nghiệp nước ta thường có quy
mô không lớn, công tác tổ chức , bộ máy quản lý cồng kềnh, không hiệu quả, tình
trạng nợ chồng chéo phổ biến, tạo ra sự mất cân đối về vốn cho doanh nghiệp.
Hơn nữa nhiều công trình sử dụng vốn ngân sách, Nhà nước không đáp ứng đủ
vốn theo đúng tiến độ kế hoạch , chậm thanh toán làm cho một số doanh nghiệp
phải chịu lãi ngân hàng số tiền rất lớn thậm chí có nguy cơ phá sản. Điều đó cho
thấy tiềm lực tài chính có vai trò rất lớn , không thể thiếu trong kinh doanh.

* Máy móc thiết bị công nghệ thi công

Thiết bị máy móc là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố định của
doanh nghiệp. Nó đại diện cho trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hiện có, giúp
doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Mức độ cơ giới hóa trong xây dựng được chủ đầu tư đánh giá cao, bởi nó
liên quan rất nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công công trình. ưu thế về máy
móc thiết bị và công nghệ thể hiện qua các đặc tính: tính hiện đại; tính đồng bộ;
tính hiệu quả; tính đổi mới. Năng lực máy móc thiết bị và trình độ công nghệ ảnh
hưởng rất nhiều đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Yếu tố kỹ thuật này
quyết định việc lựa chọn tính toán các giải pháp hợp lý trong tổ chức thi công, bố
trí con người và thiết bị một cách hài hòa, đạt tiêu chuẩn về chất lượng, rút ngắn
tiến độ thi công, tiết kiệm chi phí xây dựng, hạ giá thành công trình , góp phần
nâng cao năng lực đấu thầu của doanh nghiệp.

* Hoạt động quảng cáo tiếp thị

Trong nền kinh tế thị trường để bán được hàng hóa không thể thiếu khâu
quảng cáo tiếp thị . Không giống như các doanh nghiệp công nghiệp đưa sản phẩm
của mình ra thị thường để khách hàng chọn. Doanh nghiệp xây dựng phải dựa vào
danh tiếng của mình để khiến cho khách hàng tìm đến để yêu câu sản xuất sản
phẩm cần thiết. Do vậy danh tiếng là nhân tố quyết định năng lực đấu thầu của
doanh nghiệp xây dựng.

Danh tiếng thành tích, kinh nghiệm thi công của doanh nghiệp có tác dụng
rất lớn đến khả năng trúng thầu dự án bởi mối quan tâm hàng đầu của chủ đầu tư
là chất lượng và tiến độ công trình. Hoạt động quảng cáo tạo ra hình ảnh tốt đẹp,
giúp doanh nghiệp phát triển thị trường, khẳng định phạm vi ảnh hưởng của mình
đến sự lựa chọn của các chủ đầu tư.

Có thể tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng


Những nhân tố ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp xây dựng



Nhân tố khách Nhân tố chủ
quan
quan ngoài




Máy
Quyề
1.3.3. Các tiêu thức đánh giá năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây
dựng

1.3.3. 1. Các chỉ tiêu chung

Các chỉ tiêu đánh giá khái quát năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây
dựng gồm:

- Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu
- Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh
- Hệ số vay nợ
- Khả năng thanh toán lãi vay
- Khả năng thanh toán nhanh
- Khả năng thanh toán tức thời
Nội dung ý nghĩa và phương pháp tính toán các chỉ tiêu trên đã được nêu trong các
phần trước của luận văn.
1.3.3. 2.Các chỉ tiêu riêng
- Giá trị trúng thầu và số lượng công trình thắng thầu: chỉ tiêu này cho
biết một cách khái quát tình hình kết quả dự thầu của doanh nghiệp. Qua đó có thể
đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và quy mô của
các công trình đã trúng thầu từ đó cho thấy tiềm lực của doanh nghiệp.
- Xác xuất trúng thầu (%):
+ Tính theo số hợp đồng:

Số hợp đồng trúng thầu
Xác suất trúng thầu theo số
x 100%
=
hợp đồng Số hợp đồng tham dự thầu

+ Tính theo giá trị hợp đồng:
Xác suất trúng thầu theo = Giá trị hợp đồng trúng thầu
x 100%
giá trị hợp đồng Giá trị hợp đồng tham dự thầu

- Uy tín của doanh nghiệp: chỉ tiêu này liên quan tới tất cả các chỉ tiêu
trên và các yếu tố khác như: chất lượng công trình, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức
các dự án thi công, hoạt động marketing...
Trên đây là toàn bộ nội dung của chương I, trên cơ sở đó thực tiễn phân tích
tình hình tài chính của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 sẽ được đề
cập ở chương II.
Chương II
Thực trạng phân tích tình hình tài chính và
năng lực đấu thầu của
Tổng Công ty Xây dựng Công trình giaothông I


2.1 Khái quát chung về Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông
I - Bộ giao thông vận tải

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty xây
dựng Công trình giao thông I

Được thành lập vào ngày 3 tháng 8 năm 1964, ra đời trong chiến tranh, trải
qua hơn 40 năm liên tục phấn đấu đặc biệt trong 10 năm đất nước thực hiện đổi
mới , Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 1 (gọi tắt là CIENCO 1 ) luôn
ổn định , tăng trưởng vững chắc, đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển cơ sở
hạ tầng và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

CIENCO 1 là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải
có chức năng chính là xây dựng các công trình giao thông , xây dựng một số công
trình dân dụng và công nghiệp, sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng kết cấu
bê tông đúc sẵn, sửa chữa phương tiện và thiết bị thi công, nâng cấp các công
trình cầu đường, tư vấn, khảo sát thiết kế công trình, đào tạo cung ứng nhân lực
quốc tế, dịch vụ thương mại xuất nhập khẩu... và các công việc khác. Tiền thân
của Tổng công ty là Ban xây dựng Miền Tây làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông
chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Trải qua nhiều năm trong chiến tranh và xây
dựng CNXH ở Miền bắc , Tổng công ty đã nhiều lần đổi tên cho phù hợp với tình
hình như Cục công trình 2, Xí nghiệp Liên hợp công trình 2...Đến tháng 5/1995
cùng với chủ trương sắp xếp và củng cố lại doanh nghiệp Nhà nước, Tổng công ty
xây dựng công trình giao thông 1 được thành lập lại theo Quyết định 90/TTg của
Thủ tướng Chính phủ.

CIENCO 1 được Nhà nước giao vốn, tài sản và các nguồn lực khác , thực
hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ trong kinh doanh, chịu trách nhiện hữu hạn
đối với các hoạt động kinh doanh trước pháp luật trong phạm vi vốn của Tổng
công ty. Qua 41 năm hoạt động Tổng công ty đã vươn lên phát triển trở thành
doanh nghiệp Nhà nước hàng đầu về xây dựng giao thông, đạt hiệu quả cao trong
sản xuất kinh doanh, đời sống người lao động đảm bảo , uy tín và thị phần được
mở rộng trong và ngoài nước.

Hệ thống tổ chức của Tổng công ty gồm các đơn vị thành viên hạch toán
phụ thuộc và độc lập có quan hệ chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính
công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị. Ban lãnh đạo Tổng công ty
gồm Hội đồng quản trị , Tổng giám đốc, các phó Tổng giám đốc. Hiện nay ngoài
các phòng chức năng và ban điều hành dự án, Tổng công ty có 40 đơn vị thành
viên được chia thành 5 khối chuyên ngành theo lĩnh vực chuyên sâu . Sơ đồ cơ cấu
tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 được
trình bày ở trang bên.

2.1.2. Đặc điểm kinh doanh của Tổng Công ty xây dựng Công trình
giao thông I

Với chức năng chính là xây dựng các công trình giao thông như cầu, cống,
sân bay, bến cảng, đường sắt, nhà máy khu công nghiệp, thủy lợi...nên sản phẩm
chủ yếu của CIENCO 1 vẫn là sản phẩm xây dựng - sản phẩm có đặc điểm sau:

- Sản phẩm xây dựng có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi
tiêu thụ sản sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất , thủy văn, khí
hậu.

- Có quy mô lớn kết cấu phức tạp

- Có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quyết
định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác

- Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành, vùng, địa phương

- Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế , văn hóa
nghệ thuật , xã hội và quốc phòng

- Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, riêng lẻ
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng đã quyết định đặc điểm hoạt động sản
xuất kinh doanh của Tổng công ty. Chu kỳ sản xuất thường kéo dài làm cho công
tác thanh quyết toán gặp nhiều khó khăn, đọng vốn nhiều, vòng quay vốn chậm,
đòi hỏi sự linh hoạt trong huy động và sử dụng các nguồn vốn khác nhau cho công
trình. Đồng thời kiến nghị , đề xuất với chủ đầu tư các phương thức thanh toán
linh hoạt để giải ngân cho công trình

Hoạt động xây dựng chủ yếu tiến hành ngoài trời , chịu ảnh hưởng rất lớn
của các yếu tố tự nhiên, điều kiện làm việc nặng nhọc gây gián đoạn quá trình thi
công . Nhiều công trình của Tổng công ty năm ở khu vực miền núi , điều kiện sản
xuất hết sức vất vả, hoạt động xây dựng chủ yếu diễn ra sôi động vào mùa khô,
còn mùa mưa thì lại chờ việc. Tuy vậy Tổng công ty luôn cố gắng đảm bảo chế độ
cho người lao động, phụ cấp cho công nhân đi xa. Tổng công ty thành lập các Ban
điều hành theo từng dự án nhằm quản lý, theo dõi sát sao việc thi công, cập nhật số
liệu kịp thời , hạch toán chính xác giá thành công trình.

Địa bàn thi công công trình thường xuyên thay đổi gây gián đoạn thời gian
thi công và làm phát sinh chi phí cho việc di chuyển máy móc con người, thiết bị
thi công. ý thức được điều này nên ngay từ khi lập dự toán dự thầu Tổng công ty
đã tính toán đưa chi phí vận chuyển vào giá dự thầu, khi đi vào thi công các ban
điều hành lập tiến độ sát sao và có kế hoạch điều chuyển con người, thiết bị hợp lý
tận dụng lao động phổ thông sẵn có tại địa bàn thi công.

Hoạt động xây dựng mang tính riêng lẻ, việc thi công thường yêu cầu kỹ
thuật công nghệ cao. Trong những năm qua, Tổng công ty đã không ngừng tìm
kiếm nguồn tài trợ để đổi mới trang thiết bị máy móc hiện đại . CIENCO 1 là đơn
vị có tổng giá trị thiết bị lớn nhất trong 5 Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông của Việt Nam (năm 2004 tổng giá trị đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị
là 134 tỷ đồng).

Phương thức tìm kiếm hợp đồng hiện nay chủ yếu bằng đấu thầu , trên thị
trường xây dựng ở Việt Nam Tổng công ty có nhiều đối thủ cạnh tranh do vậy xác
suất trượt thầu là không tránh khỏi. Nhưng khi trúng thầu công tác tổ chức quá
trình thi công cũng rất phức tạp, khó khăn. Điều này do chính đặc điểm vốn có của
sản phẩm xây dựng quyết định. Tổng công ty luôn nỗ lực phấn đấu thi công đạt
chất lượng tiến độ khẳng định thương hiệu trên thị trường.

2.1.3. Đặc điểm quản lý tài chính Tổng Công ty xây dựng Công
trình giao thông I

Căn cứ đặc điểm tổ chức, quy mô Tổng công ty, quy chế tài chính và quy

chế phân cấp quản lý giữa Tổng công ty và các đơn vị thành viên, tính chất và mức
độ phức tạp của công tác tài chính kế toán, Mô hình tổ chức bộ máy kế toán Tổng
công ty áp dụng là mô hình tổ chức kế toán phân tán, bộ máy tổ chức được phân
thành cấp : kế toán trung tâm và kế toán trực thuộc .Kế toán trung tâm của Tổng
công ty được xây dựng gồm bộ máy kế toán tại trụ sở chính Tổng công ty chịu
trách nhiệm hạch toán kế toán phần Văn phòng Tổng công ty; hướng dẫn chỉ đạo
và tổng hợp Báo cáo tài chính của các đơn vị thành viên để lập báo cáo tài chính
Tổng công ty, chịu trách nhiệm cuối cùng về toàn bộ hoạt động của đơn vị cơ sở
trực thuộc. Kế toán cơ sở trực thuộc là bộ máy kế toán của các đơn vị thành viên
hạch toán độc lập, phụ thuộc chịu trách nhiệm mở sổ sách kế toán, thực hiện toàn
bộ khối lượng công tác kế toán tại cơ sở và báo cáo lên Tổng công ty theo quy
định. Bộ máy kế toán của Tổng công ty gồm kế toán tại Văn phòng Tổng công ty
gồm 9 người và kế toán các đơn vị thành viên được bố trí theo sơ đồ 2.1.

Cũng như các doanh nghiệp khác, Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 1 là đơn vị thực hiện chế độ hạch toán độc lập , tự chủ tài chính . Tổng công
ty tự cân đối các khoản thu chi , thực hiện kiểm tra giám sát các quan hệ tài chính
trong doanh nghiệp. Tổng công ty thực hiện phân cấp quyết định về tài chính các
đơn vị thành viên, giao vốn và tài sản cho doanh nghiệp thành viên quản lý và sử
dụng . Các công ty thành viên được Tổng công ty giao quyền quản lý vốn kinh
doanh, được hình thành bộ phận quản lý để điều hành toàn bộ hoạt động kinh
doanh tại cơ sở. Tổng công ty chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tài chính của
các cơ quan Quản lý Nhà nước .
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy kế toán của Tổng công ty xây dựng

công trình giao thông 1



Kế toán trưởng tổng công ty




Phó Kế toán Phó Kế toán
trưởng phụ trách trưởng phụ trách
thanh toán, tổng đầu tư, XDCB
hợp




Kế toán
Kế toán Kế toán
tổng
thanh ngân Thủ quỹ
hợp
toán hàng


Các đơn vị thành viên



Kế toán trưởng đơn vị thành viên




Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán
phần phần phần phần
hành hành hành
hành
Kế toán
Xuất phát từ đặc thù của sản phẩm và hoạt động kinh doanh xây dựng,
hoạt động quản lý tài chính của Tổng công ty cũng có những nét khác biệt . Do sản
phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc, kết cấu đa dạng, phức tạp , giá trị lớn nên
Tổng công ty và các đơn vị thành viên cần thiết phải lên kế hoạch chuẩn bị lượng
vốn lớn đáp ứng yêu cầu đảm bảo quá trình sản xuất tiến hành liên tục không bị
gián đoạn. Do việc sản xuất xây dựng thường diễn ra trong thời gian tương đối dài
, yêu cầu kỹ thuật cao do vậy việc theo dõi, quản lý tài chính của từng dự án đòi
hỏi cập nhật thường xuyên, chính xác. Chi tiêu hợp lý tránh lãng phí. Đồng thời
Tổng công ty trước khi bắt tay vào thi công đều phải đầu tư một khoản tiền lớn để
mua sắm , sửa chữa máy móc thiết bị , mua nguyên vật liệu , trong khi đó chỉ thu
hồi vốn khi có khối lượng hoàn thành được chủ đầu tư chấp nhận thanh toán. Cho
nên quá trình thu hối vốn của Tổng công ty cũng như các doanh nghiệp thành viên
thường chậm, đôi khi còn phải chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp. Để trang trải
vốn Tổng công ty đã huy động linh hoạt từ nguồn khác nhau từ Ngân sách, từ ngân
hàng, vốn vay cá nhân, vay của cán bộ công nhân viên ... Do vậy công tác tập hợp
chi phí và tính giá thành sản phẩm xây dựng, tính giá trị hàng tồn kho và xác định
giá trị sản lượng trong kỳ kế toán phức tạp. Thông tin kế toán có thể không đồng
nhất do dựa trên các tiêu thức khác nhau để thu thập số liệu hạch toán.

Doanh thu của Tổng công ty không đồng đều trong năm. Tùy thuộc vào
quy định và hình thức quản lý dự án đầu từ cuả từng dự án chủ đầu tư tạm ứng
hoặc thanh toán vốn theo từng đợt, thông thường doanh thu thường tăng cao vào
những tháng cuối năm, Tổng công ty luôn xem xét phân bổ chi phí hợp lý, mua
sắm vật tư tài sản nhằm sử dụng vốn tiết kiệm, giảm lãi vay. Tuy vậy việc điều hòa
vốn giữa các đơn vị thành viên trong Tổng công ty từ đơn vị thừa sang đơn vị
thiếu còn nhiều hạn chế mặc dù điều này đã được nêu rất rất rõ trong quy chế quản
lý tài chính của Tổng công ty.

2.1.4. Vai trò của phân tích tình hình tài chính trong quản lý tài
chính Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông I

Thông tin tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị doanh
nghiệp, chủ đầu tư và những người quan tâm. Tài liệu chủ yếu để sử dụng để phân
tích tình hình tài chính của CIENCO 1 là hệ thống báo cáo tài chính của toàn Tổng
công ty và các đơn vị thành viên được lập theo Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC
ngày 25/10/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và từ năm 2003 đến nay được sửa
đổi bổ sung theo thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 9/10/2002 và Thông tư số
105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phù hợp với
các chuẩn mực kế toán Việt nam và quốc tế. Ngoài ra còn có các tài liệu kế toán
khác có liên quan theo yêu cầu của người sử dụng . Trong lĩnh vực xây dựng thông
tin tài chính có vai đặc biệt quan trọng đối với chủ đầu tư, nhất là trong qua trình
sơ tuyển và lựa chọn đơn vị trúng thầu. Có thể so sánh năng lực tài chính của Tổng
công ty xây dựng công trình giao thông 1 với một số Tổng công ty khác như sau:

Bảng 2.1: Tài sản của các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông
thời điểm 31/12/2004


Đơn vị tính: triệu đồng

Tên Tổng công ty Tổng tài sản

Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 1.774.981

Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 1.495.718

Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 1.132.019

Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6 1.166.505
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 1.242.806

Tổng công ty xây dựng Thăng Long 1.252.457

Tổng công ty xây dựng Trường Sơn 798.906

Tổng công ty xây dựng Sông Đà 1.570.492
Nguồn: báo cáo tài chính của các Tổng Công ty năm 2004

Bảng 2.1 cho thấy CIENCO 1 là Tổng công ty có quy mô tổng tài sản lớn
nhất so với các Tổng công ty xây dựng công trình khác , thể hiện tiềm lực về tài
chính của đơn vị. Tuy nhiên để phân tích sâu hơn cần căn cứ vào nhiều chỉ tiêu
khác.

Tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1, công tác phân tích
tình hình tài chính có vai trò quan trọng là để phục vụ trực tiếp cho yêu cầu quản
lý kinh tế tài chính và yêu cầu chỉ đạo điều hành chung của toàn Tổng công ty.
Các số liệu được cập nhật kịp thời phục vụ cho công tác lập báo cáo tài chính.
Tổng công ty thường xuyên tổ chức tốt khâu kiểm toán nội bộ nhằm chấn chỉnh
kịp thời những sai sót tồn tại trong công tác tài chính đưa ra những nhận định
chính xác về tình hình tài chính của đơn vị.

Hiện nay việc lập báo cáo tài chính còn nhiều bất cập về chế độ chính sách
và của bản thân doanh nghiệp gây thiếu thông tin hoặc một số thông tin chưa đủ
độ tin cậy cho công tác phân tích tài chính. Ví như hiện nay Tổng công ty chưa lập
được báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất toàn Tổng công ty do các đơn vị thành
viên thiết lập báo cáo này chưa đồng bộ; thuyết minh báo cáo tài chính còn sơ sài
thiếu một số yếu tố như chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố, thu nhập của
người lao động, các khoản phải thu và nợ phải trả...bảng cân đối kế toán có một số
chỉ tiêu trùng lặp chưa loại trừ được các khoản cho vay phải thu phải trả nội bộ
giữa các đơn vị thành viên. Do vậy việc phân tích tình hình tài chính hiện tại mới
chỉ dừng lại ở việc đánh giá một số chỉ tiêu cơ bản , đơn giản phục vụ cho cán bộ
lãnh đạo Tổng công ty, cơ quan quản lý Nhà nước và ngân hàng.

2.2. Thực trạng phân tích tình hình tài chính với việc quản lý tài chính
của Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông I
Nhiệm vụ công tác quản lý tài chính của Tổng công ty

Xuất phát đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty, công
tác tài chính kế toán đề ra nhiệm vụ chung cho toàn hệ thống. Nhiệm vụ xuyên
suốt là chủ động xây dựng kế hoạch thu chi tài chính bằng các nguồn vốn trung,
dài và ngắn hạn; thường xuyên giám sát, hướng dẫn bộ máy tài chính kế toán tại
các đơn vị thành viên, ban điều hành, chi nhánh trực thuộc cập nhật , thực hiện
theo Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các quy định khác của Nhà nước; chi tiêu
tài chính đúng chế độ, đảm bảo tiết kiệm , hiệu quả, chống thất thoát. Trong thời
gian qua công tác quản lý tài chính được triển khai trên các khía cạnh sau:

- Phân tích bảo toàn, phát triển vốn của Tổng công ty

- Tăng cường công tác quản lý vốn, tài sản doanh nghiệp. Thành lập đoàn
kiểm tra đánh giá lại tài sản chuẩn bị cho công tác cổ phần hoá các đơn vị
thành viên, đánh giá lại giá trị hiện tại của tài sản, phân rõ nguồn hình
thành; phát huy hiệu quả sử dụng vốn cố định, vốn lưu động, tích cực thu
hồi nợ của chủ đầu tư.

- Thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh doanh, ghi chép và theo dõi tài
chính, phân phối lợi nhuận, chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ thu nộp ngân
sách của Nhà nước.

- Tăng cường công tác kiểm soát, quản lý thu chi ở các ban điều hành, ban
dự án... Thực hiện công khai tài chính theo luật định.

- Kiểm tra, đôn đốc việc thanh quyết toán công nợ kịp thời đối với các nhà
thầu phụ, nhà cung cấp vật liệu, tín dụng, tránh xảy ra khiếu kiện.

- Chủ động tham mưu đề xuất với Hội đông quản trị, Ban giám đốc xây
dựng định mức kinh tế kỹ thuật, xây dựng quỹ tiền lương. Tổ chức tập
huấn phổ biến chế độ kế toán mới nhằm nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ
kế toán .

- Thực hiện công tác báo cáo tài chính phục vụ công tác quản lý của Tổng
công ty.
Qua xem xét thực tế việc sử dụng báo cáo tài chính trong phân tích tình hình
tài chính phục vụ công tác quản lý tài chính , Tổng công ty xây dựng công trình
giao thông 1 đã thực hiện công tác phân tích tình hình tài chính thể hiện trên các
mặt sau:

2.2.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính với việc quản lý tài
chính của Tổng công ty

Để đánh giá khái quát tình hình tài chính , thông qua số liệu hàng năm thể
hiện trên báo cáo tài chính Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 đã thực
hiện xác định việc tăng giảm của tổng tài sản, nguồn vốn và việc tăng giảm của
từng loại tài sản, nguồn vốn cụ thể. So sánh mức tăng, giảm của tổng tài sản ,
nguồn vốn bằng số tuyệt đối và bằng tỷ lệ cuối kỳ và có nhận xét về quy mô của
Tổng công ty tăng hay giảm. Trên cơ sở tính toán tỷ trọng của từng loại tài sản ,
nguồn vốn với tổng số đưa ra nhận xét về vị trí của từng loại tài sản đối với doanh
nghiệp giúp cho Tổng công ty thấy được mức độ tự chủ về tài chính.

Trên cơ sở số liệu của bảng cân đối kế toán, Tổng công ty tiến hành phân
tích tình hình cân đối giữa tài sản và nguồn vốn như sau:

Nguồn vốn chủ sở hữu < tiền + hàng tồn kho + chi phí trả trước +chi phí chờ kết
chuyển + chi sự nghiệp + tài sản cố định

Năm 2003:

168.105.023.172< 489.959.219.019 = 94.335.206.786 +2.292.855.807 +
19.393.544.372 + 39.307.046.239 + 70.000.305 + 334.560.566.230

Năm 2004:

183.417.598.387 < 550.742.091.725 = 111830412826 + 6854104098 +
12289947117 + 48202432931 + 70000305 + 371495194448

Qua số liệu phân tích , Tổng công ty đưa ra nhận xét , CIENCO 1 có sự
thiếu hụt trầm trọng nguồn vốn chủ sở hữu để trang trải cho những tài sản cần thiết
cho sản xuất kinh doanh. Để có nguồn tài trợ cho sự thiếu hụt này Tổng công ty
phải huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ mọi kênh khác nhau: ngân
hàng, cán bộ công nhân viên thậm chí phải chiếm dụng vốn của một số doanh
nghiệp khác...

Về tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn hiện nay, Tổng công ty thường
phân tích cả về số biến động tương đối và tuyệt đối của từng loại tài sản, nguồn
vốn. Chẳng hạn có thể xem xét sự biến động của tài sản ở Tổng công ty qua bảng
2.2 và 2.3 . Sau khi tính toán các số liệu trên, phòng Kế toán Tổng công ty đã đưa
ra nhận xét:

Quy mô tài sản của Tổng công ty có chiều hướng tăng nhanh, trong đó tài
sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng nhanh hơn tài sản cố định. Tài sản lưu động
vầ đầu tư ngắn hạn tăng chủ yếu do tăng các khoản phải thu (cuối năm 2004 tăng
83,54% so với đầu năm 2004) chứng tỏ Tổng công ty đã mở rộng chính sách cung
cấp tín dụng cho các khách hàng và đối tác, rủi ro tài chính trong khâu thanh toán
tăng, công tác thu hồi nợ của Tổng công ty chưa hiệu quả. Nguyên nhân do các
công trình thi công của Tổng công ty phần lớn sử dụng nguồn vốn ngân sách, thời
gian thi công kéo dài, công tác thanh quyết toán gặp nhiều khó khăn.

Trong năm 2004 hàng tồn kho của Tổng công ty đầu năm tăng 22,27% bằng
51.517 triệu đồng so với đầu năm , điều này do các công trình thi công kéo dài qua
nhiều năm , các chi phí bỏ ra để thi công chưa thể quyết toán mà treo ở khoản mục
chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang và các
khoản đầu tư tài chính dài hạn tăng cao ( cuối năm 2004 đầu tư tài chính dài hạn
tăng 70,92% bằng 773 triệu đồng so với đầu năm 2004 , chi phí xây dựng cơ bản
dở dang tăng 91,59% bằng 1.874 triệu đồng so với đầu năm ) chứng tỏ Tổng công
ty vừa tập trung góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn nhằm đa dạng hoá , phân tán
rủi ro kinh doanh đồng thời chú trọng xây dựng nhà xưởng, văn phòng mua sắm
tài sản cố định phục vụ thi công phát triển sản xuất theo chiều sâu.
Bảng 2.2 Phân tích tình hình biến động quy mô tài sản của Tổng công ty xây
dựng công trình giao thông 1 năm 2004
Số đầu Số cuối Tăng giảm
Tài sản Mã năm năm
số (triệu (triệu Số tuyệt đối Số tương
đồng) đồng) (triệu đồng) đối (%)
1 2 3 4 5 6=5-4 7=6/4
A. Tài sản lưu động 100 913.109 1.395.128 482.019 52,79%
và đầu tư ngắn hạn
(100=110+120+130+1
40+150+160)
I. Tiền 110 94.335 111.830 17.495 18,55%
II Các khoản đầu tư tài 120 18 18 0 0,00%
chính ngắn hạn
III Các khoản phải thu 130 487.610 894.974 407.364 83,54%
IV Hàng tồn kho 140 231.279 282.796 51.517 22,27%
.
V Tài sản lưu động khác 150 99.795 105.438 5.643 5,65%
VI Chi sự nghiệp 160 72 72 0 0,00%
B. Tài sản cố định và 200 338.402 379.852 41.450 12,25%
đầu tư dài hạn
(200=210+220+230+2
40+241)
I Tài sản cố định 210 334.962 371.496 36.534 10,91%
II Các khoản đầu tư tài 220 1.090 1.863 773 70,92%
chính dài hạn
III Chi phí xây dựng cơ 230 2.046 3.920 1.874 91,59%
bản dở dang
IV Các khoản ký quỹ, ký 240 304 2.573 2.269 746,38%
. cược dài hạn
Tổng cộng tài sản 250 1.251.511 1.774.980 523.469 41,83%
(250=100+200)
Nguồn: báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 1
Bảng 2.3 : Phân tích tình hình biến động quy mô nguồn vốn của Tổng công ty
xây dựng công trình giao thông 1 năm 2004


Số đầu Số cuối Tăng giảm
nguồn vốn Mã năm năm
số (triệu (triệu Số tuyệt đối Số tương
đồng) đồng) (triệu đồng) đối (%)
1 2 3 4 5 6=5-4 7=6/4
A. Nợ phải trả 300 1.083.406 1.591.564 508.158 46,90%
(300=310+320+330)

I. Nợ ngắn hạn 310 940.558 1.411.566 471.008 50,08%
II Nợ dài hạn 320 124.161 160.285 36.124 29,09%

III Nợ khác 330 18.687 19.713 1.026 5,49%
B.Nguồn vốn chủ sở 400 168.105 183.417 15.312 9,11%
hữu (400=410+420)
I. Nguồn vốn , qũy 410 167.696 183.400 15.704 9,36%
II Nguồn kinh phí, qũy 420 409 17 -392 -95,84%
khác
Tổng cộng nguồn vốn 430 1.251.511 1.774.981 523.470 41,83%
(430=300+400)
Nguồn: báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 1



2.2.2.Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình bảo đảm nguồn vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh với việc quản lý tài chính của Tổng công ty
Để xem xét khả năng kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp đối với việc
thoản mãn các khoản nợ vay dài hạn cần phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình
bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và có hiệu
quả. Việc phân tích cho phép trả lời những câu hỏi sau:

Cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp thế nào, có lợi về mặt tài chính
cho doanh nghiệp không ?

- Doanh nghiệp có thể huy động vốn từ đâu ?

- Trong điệu kiện nào doanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay mượn vào
kinh doanh để lại lợi ích cho chủ sở hữu ?

- Khả năng, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp.

Thực tế khảo sát cho thấy đa số doanh nghiệp không quan tâm đến việc
phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nhưng Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 là một
trong những doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề này. Bảng 2.4 sau đây là dẫn
chứng cho việc phân tích cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản của Tổng công ty xây
dựng công trình giao thông 1.

Bảng 2.4 : Bố trí cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn 2004


Số đầu kỳ Số cuối kỳ
Tỷ
TT Chỉ tiêu Số tuyệt đối Tỷ trọng Số tuyệt đối
trọng
(tr.đồng) (%) (tr.đồng)
(%)
A Nguồn vốn
I Nợ phải trả 1.083.406 86,57% 1.591.564 89,67%

II Nguồn vốn chủ sở hữu 168.105 13,43% 183.417 10,33%

Tổng nguồn vốn 1.251.511 1.774.981

B Tài sản
I Tài sản lưu động và 913.109 72,96% 1.395.128 78,60%
đầu tư ngắn hạn
II Tài sản cố định và đầu 338.402 27,04% 379.853 21,40%
tư dài hạn
Tổng tài sản 1.251.511 1.774.981

Nguồn: báo cáo tài chính Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1


Căn cứ số liệu tại bảng 2.4 đội ngũ phân tích tài chính của Tổng công ty
nhận xét:

Cơ cấu tài sản cố định nằm trong khoảng từ 20 đến 30% là phù hợp với
đặc thù của ngành xây dựng . Năm 2004 có sự sụt giảm trong cơ cấu tài sản cố
định và đầu tư dài hạn từ 27,04% xuống còn 21,40 do thiếu vốn để đầu tư mua
sắm mới TSCĐ. Tỷ trọng tài sản cố định giảm do một số TSCĐ thanh lý khi hết
thời hạn sử dụng, cơ cấu tài sản lưu động tăng ó xu hướng giảm có thể gây bất lợi
cho Tổng công ty trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường. Một số đơn vị thành
viên của Tổng công ty mua sắm tài sản cố định bằng nguồn vốn vay ngắn hạn đáp
ứng nhu cầu bức thiết của hoạt động sản xuất. Đây thực sự là nguồn tài trợ hết sức
mạo hiểm , có thể làm cho các doanh nghiệp này dẫn đến tình trạng không có khả
năng thanh toán các món nợ đến hạn.

Tỷ trọng nợ phải trả chiếm đa số trong tổng nguồn vốn của Tổng công ty
và có xu hướng tăng lên : đầu kỳ nợ phải trả chiếm 86,57% tổng nguồn vốn đến
cuối kỳ chiếm 89,67% tổng nguồn vốn , trong khi đó vốn chủ sở hữu lại chiếm tỷ
lệ quá nhỏ bé so với nhu cầu vốn của đơn vị, chứng tỏ khả năng độc lập về tài
chính thấp. Bên cạnh đó với số nợ lớn như vậy hàng tháng Tổng công ty còn phải
lãi lớn, khả năng vay nợ thêm gặp nhiều khó khăn chi phí sản xuất kinh doanh
tăng lên. Từ đây các cán bộ phân tích kiến nghị Tổng công ty cải thiện các chỉ tiêu
này bằng cách cần đẩy nhanh tốc độ thanh quyết toán công trình nhằm thu hồi
vốn đầu tư, tăng khả năng vay vốn ngân hàng đáp ứng nhu cầu sản xuất.

2.2.3. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán với việc quản lý tài
chính của Tổng công ty
Tình hình và khả năng thanh toán các khoản phải thu và các khoản phải trả
là một chỉ tiêu khá sát thực đánh giá chất lượng hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp có hoạt động tài chính tốt, lành mạnh là doanh nghiệp
thanh toán kịp thời các khoản nợ phải trả và thu kịp thời các khoản nợ phải thu,
tránh được tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau cũng như tình trạng công nợ dây
dưa kéo dài, tình trạng tranh chấp mất khả năng thanh toán. Hiện nay Tổng công ty
đã tính toán một số chỉ tiểu phản ánh tình hình công nợ và khả năng thanh toán
trong thuyết mình báo cáo tài chính, so sánh cuối kỳ so với đầu kỳ để biết tình
hình tăng giảm và đưa ra nhận xét khái quát về khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Việc tính toán các chỉ tiêu đánh giá tình hình và khả năng thanh toán được
phòng kế toán Tổng công ty lập thể hiện qua bảng 2.5.

Dựa vào bảng 2.5 các cán bộ kế toán Tổng công ty cho ý kiến:

Hệ số thanh toán tổng hợp qua 2 năm 2003 , 2004 đều > 1 chứng tỏ Tổng
công ty có khả năng thanh toán hết mọi công nợ. Hệ số thanh toán nhanh giảm rõ
rệt từ 0,1003 vào năm 2003 xuống còn 0,0792 đây là một chiều hướng xấu chứng
tỏ lượng tiền của Tổng công ty đang bị ứ đọng tại các công trình dở dang chưa
quyết toán.

Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu lại ở mức cao năm 2004 là 8,6773 . Điều này
có nghĩa với 1 đồng vốn sở hữu bỏ ra thì Tổng công ty cần đến 6,5 đồng vốn vay
để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu điều này còn tiếp diễn nguy cơ
giảm khả năng thanh toán thậm chí mất khả năng thanh toán ở một số đơn vị thành
viên có thể xảy ra.

Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả năm 2003 là
0,4501 trong khi sang năm 2004 tăng lên 0,5623 chứng tỏ các khoản nợ phải trả và
các khoản nợ phải thu của Tổng công ty đều tăng lên, các khoản nợ phải trả nhiều
hơn, Tổng công ty thiếu vốn lưu động và phải đi chiếm dụng vốn của khách hàng.

Bảng 2.5 : Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của Tổng công ty xây
dựng công trình giao thông 1

TT Chỉ tiêu Đơn vị Mã số 31/12/200 31/12/200 Tăng
3 4 giảm

1 Tổng số nợ phải trả tr.đồng 1.083.406 1.591.564 508.158
300

2 Tổng tài sản tr.đồng 1.251.511 1.774.981 523.470
250

3 Tài sản lưu động và đầu tư ngắn tr.đồng 913.109 1.395.128 482.019
100
hạn

4 Tổng nợ phải thu tr.đồng 487.610 894.974 407.364
130

5 Nợ ngắn hạn tr.đồng 940.558 1.411.566 471.008
310

6 Nguồn vốn chủ sở hữu tr.đồng 168.105 183.417 15.312
400

7 Tiền và các khoản đầu tư tài chính tr.đồng 110+12 94.353 111.848 17.495
ngắn hạn 0

8 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh
toán

Tỷ suất nợ phải trả tổng quát 0,8657 0,8967 0,0310
(300/250)

Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu 6,4448 8,6773 2,2325
(300/400)

Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải 0,4501 0,5623 0,1123
trả (130/300)

9 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh
toán

Hệ số thanh toán nhanh 0,1003 0,0792 -0,0211
((110+120)/310)

Hệ số khả năng thanh toán tổng hợp 1,1552 1,1152 1,0301
(250/300)
Nguồn: báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng công trình giao
thông 1

Cuối cùng phòng kế toán Tổng công ty kết luận mặc dù khả năng thanh
toán của Tổng công ty có tăng lên, song nợ phải trả cũng tăng nhiều hơn , mức chủ
động về tài chính bị giảm đi. Do vậy Tổng công ty đang tìm mọi biện pháp đòi nợ,
thúc đẩy thanh toán nợ đúng hạn, tăng thời gian luân chuyển vốn , hạn chế các
khoản phải thu khó đòi , tránh phải đi chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác.

2.2.4.Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh với việc quản lý tài
chính của Tổng công ty

* Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng quát

Căn cứ số liệu trên báo cáo tài chính và số liệu tập hợp đến hết quý II năm
2005 phòng Tài chính Tổng công ty đã lập bảng phân tích đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh tổng hợp của CIENCO 1 qua bảng 2.6:

Bảng 2.6: Hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của Tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 1


TT Chỉ tiêu Đơn vị 31/12/2004 30/06/2005 Tăng giảm

1 Doanh thu tr.đồng 1.341.166 645.101

2 Tổng chi phí tr.đồng 1.296.471 692.448

3 Hiệu quả sản xuất kinh 1,0345 0,9316 -0,1029
doanh tổng hợp (1/2)


Từ số liệu của bảng 2.6 Tổng công ty nhận xét năm 2004 cứ một đồng chi
phí đầu vào bỏ ra trong kỳ tạo ra 1,0345 đồng doanh thu . Sáu tháng đầu năm 2005
một đồng doanh thu chỉ tạo ra 0,9316 đồng lợi nhuận, nguyên nhân do đầu năm
Tổng công ty tập trung vốn đầu tư vào thi công một số công trình lớn nên chi phí
sản xuất kinh doanh dở dang tăng cao chưa thu hồi được trong khi công tác thanh
quyết toán tập trung chủ yếu vào dịp cuối năm.

* Phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung phản ánh trình độ sử dụng vốn của
doanh nghiệp nói riêng. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
được thể hiện qua các chỉ tiêu lợi nhuận, doanh thu, giá trị sản lượng, còn việc
xem xét hiệu quả sử dụng vốn của đơn vị dưới 2 góc độ tài sản và nguồn vốn thể
hiện ở bảng 2.7. Điều này chứng tỏ Tổng công ty đã có sự hiểu biết đúng đắn về
khái niệm hiệu quả , trong khi hiện nay một số doanh nghiệp còn nhầm lẫn giữa
các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh .

Bảng 2.7: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1


TT Chỉ tiêu Đơn vị Mã số 31/12/200 31/12/200 Tăng
3 4 giảm

1 Nguồn vốn chủ sở hữu tr.đồng 168.105 183.417 15.312
400

2 Tổng tài sản tr.đồng 1.251.511 1.774.981 523.470
250

3 Doanh thu tr.đồng 1.114.221 1.341.166 226.945
01

4 Lợi nhuận trước thuế tr.đồng 18.902 21.757 2.855
60

5 Lợi nhuận sau thuế tr.đồng 14.916 17.772 2.856
80

6 Lãi tiền vay tr.đồng 11.939 19.256 7.317
31

7 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu 0,0170 0,0162 -0,0007
(60/01)

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trê n doanh thu 0,0134 0,0133 -0,0001
(80/01)

0,0000
9 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài
sản

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên trên tổng 0,0151 0,0123 -0,0028
tài sản (60/250)

Tỷ suất lợi sau thuế trên tổng tài sản 0,0119 0,0100 -0,0019
(80/250)

0,0887 0,0969 0,0082
10 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên nguồn vốn chủ
sở hữu (80/400)
Nguồn: báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng công trình giao
thông 1

Từ bảng 2.7 các cán bộ phân tích Tổng công ty cho ý kiến:

Doanh thu và lợi nhuận 2004 đều tăng so với 2003 nhưng do tốc độ tăng
không đồng đều cho nên tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm 2004 giảm so với
2003 (tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu 2004 là 0,0162 và năm 2003 là
0,017). Tình hình tương tự đối với tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản.

Đáng chú ý là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên nguồn vốn chủ sở hữu n ăm
2004 tăng 0,0082 so với năm 2003 do Tổng công ty đã có cố gắng trong việc thực
hành tiết kiệm tự bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu, xây dựng và phát triển các quỹ
phát triển kinh doanh, quỹ dự trữ tăng cường khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản 2004 giảm so với năm 2003 , năm 2003
một đồng tài sản tạo ra 0,0151 đồng lợi nhuận, năm 2004 con số này là 0,0123
đồng , hiệu quả sử dụng tài sản đã giảm đi.

Cơ cấu vốn vay chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn của Tổng công ty ,
do vậy phân tích khả năng thanh toán lãi vay là mối quan tâm của doanh nghiệp ,
các nhà đầu tư và các ngân hàng. Trong thời gian qua, chỉ tiêu này được Tổng
công ty phân tích như sau:

Bảng 2.8 : Phân tích khả năng thanh toán lãi vay


TT Chỉ tiêu Đơn vị 31/12/2003 31/12/2004 Tăng giảm

1 Lợi nhuận trước thuế tr.đồng 18.902 21.757 2.855

2 Lãi vay tr.đồng 11.046 15.020 3.974

Hệ số thanh toán lãi vay
3 2,711 2,449 -0,263
((1+2)/2

Từ số liệu của bảng 2.8 các cán bộ phân tích Tổng công ty nhận xét hệ số
thanh toán lãi vay từ 2,449 đến 2,711 là chỉ tiêu chấp nhận được. Mặc dù cơ cấu
nợ chiếm trên 80% tổng nguồn vốn , với hệ số thanh toán như trên chủ nợ có thể
yên tâm về các khoản tiền đầu tư vào CIENCO 1. Hệ số thanh toán lãi vay 2004
thấp hơn 2003 song vẫn ở mức cao điều đó còn chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Tổng công ty không những làm ăn có lãi mà có khả năng hoàn trả lãi
vay.



Với các kết quả phân tích như trên, báo cáo tài chính của Tổng công ty
xây dựng công trình giao thông 1 đã nhận định vốn chủ sở hữu quá nhỏ bé so với
nhu cầu sản xuất kinh doanh của Tổng công ty phải huy động vốn vay và phải đi
chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác. Tính tự chủ trong tài chính thấp, tình hình
công nợ tương đối cao, khả năng thanh toán thấp. Doanh thu tăng lên nhưng hệ số
lợi nhuận giảm, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Do vậy Tổng công ty cần có biện
pháp thu hồi nợ, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Việc tổ chức phân tích tài chính đã được quan tâm và đi vào nền nếp. Mặc
dầu vậy hoạt động này cần được tiến hành thường xuyên, nâng cao chất lượng
phân tích đáp ứng yêu cầu thông tin cho các đối tượng quan tâm. Điều này đòi hỏi
cần tiến hành đồng bộ từ nhiều khâu từ nhận thức từ các nhà quản lý, nâng cao
trình độ cán bộ chuyên môn và trang bị thông tin, cơ chế và cơ sở vật chất cho
công tác phân tích tài chính. Vấn đề này sẽ được đề cập kỹ hơn ở chương sau.

2.3 Thực trạng năng lực đấu thầu của Tổng Công ty xây dựng Công
trình giao thông I

2.3.1.Kết quả đấu thầu của doanh nghiệp trong thời gian gần đây

Từ thập kỷ 90 trở lại đây, nước ta phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng mở rộng thị trường, nhưng cũng là thách
thức để đứng vững trước sự cạnh tranh gay gắt không những với các đối thủ trong
nước mà cả với các tập đoàn xây dựng quốc tế. Trong hoàn cảnh đó Tổng công ty
xây dựng công trình giao thông 1 đã vươn lên mạnh mẽ trở thành một Tổng công
ty mạnh có uy tín trên thị trường , kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng
công ty được thể hiện qua bảng 2.9 .
Nhìn vào kết quả kinh doanh của Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 1 trong thời gian qua cho thấy Tổng công ty mặc dù gặp nhiều khó khăn
nhưng sản lượng, doanh thu hàng năm vẫn tăng trưởng tốc độ tương đối đều dặn.
Thu nhập người lao động ở mức trung bình . Sự chênh lệch giữa sản lượng và
doanh thu trong năm tương đối lớn chứng tỏ tốc độ thanh quyết toán chậm chễ.
Tổng công ty cần có biện pháp thu hồi vốn tránh bị đọng vốn trong khi vẫn phải
vay lãi ngân hàng để thi công.

Với những nỗ lực vươn lên trong cơ chế thị trường, trong những năm qua
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 không ngừng đầu tư, đổi mới thiết
bị, máy móc, dây chuyền công nghệ đồng bộ, tăng cường công tác điều hành quản
lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân kỹ
thuật lành nghề...Tổng công ty đã tổ chức tốt công tác thông tin thị trường, công
tác tổ chức quản lý và tổ chức thi công chắc chắn, có bài bản . Do vậy Tổng công
ty đã liên tục thắng thầu trong nhiều dự án lớn cả trong nước và quốc tế.

Bảng 2.9: Tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty

xây dựng công trình giao thông 1



TT Chỉ tiêu Đơn vị 31/12/2001 31/12/200 31/12/200 31/12/20
2 3 04
1.751.00
1 Tổng sản lượng tr.đồng 846.340 1.208.000 1.500.000
0
1.341.16
2 Doanh thu tr.đồng 719.661 829.500 1.114.221
6
3 Lợi nhuận trước thuế tr.đồng 14.825 15.926 18.902 21.757
4 Lợi nhuận sau thuế tr.đồng 11.712 12.422 14.916 17.772
Thu nhập bình quân 1.462.00
5 tr.đồng 1.076.617 1.205.303 1.310.000
VNĐ/người/ tháng 0
6 Tốc độ tăng sản lượng % 42,73% 24,17% 16,73%
Nguồn: báo cáo tài chính, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty xây
dựng công trình giao thông 1



Từ việc hoàn thành các dự án đấu thầu quốc tế uy tín của Tổng công ty
ngày càng nâng cao trên thị trường xây dựng. Hiện nay Tổng công ty ngoài xây
dựng công trình giao thông là chủ yếu Tổng công ty đã vươn sang thắng thầu và
thi công nhiều công trình hạ tầng như sân bay, bến cảng, cầu đường, xây dựng dân
dụng công nghiệp ... Các công trình trúng thầu có mặt ở nhiều địa phương trên cả
nước và vượt ra cả ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Để thấy rõ hiệu quả công tác đấu thầu có thể xem xét bảng 2.10. Theo
bảng cho thấy giá trị bình quân một dự án trúng thầu là 42,296 tỷ đồng, xác suất
trúng thầu về mặt số lượng là 33% chiếm 31% giá trị các dự án tham gia đấu thầu.
Đây là số liệu khả quan bởi thực tế hiện nay đối thủ cạnh tranh của Tổng công ty
ngoài trên dưới 10 Tổng công ty xây dựng Việt Nam còn có hàng chục côn g ty,
tập đoàn nước ngoài với thế mạnh về trình độ công nghệ, trình độ quản lý và khả
năng tài chính mạnh cũng tham gia đấu thầu.




Bảng 2.10: Kết quả đấu thầu xây dựng của Tổng công ty xây dựng công trình
giao thông 1( 2002-2005)
Xác suất trúng
Công trình dự thầu Công trình thắng thầu Giá trị trung
thầu
bình 1 CT
Số Số
thắng thầu
Số lượng Giá trị Giá trị Giá trị
lượng lượng
triệu đồng triệu đồng triệu đồng % %
196 8.922.910 65 2.749.257 42.296 33 31
Nguồn: báo cáo kết quả đấu thầu của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông
1



Việc ngày càng có nhiều nhà thầu cùng tham gia cạnh tranh làm cơ hội
thắng thầu ngày thêm khó khăn. Xu hướng chung hiện nay mà Tổng công ty lựa
chọn để cạnh tranh là hạ giá bỏ thầu. Do vậy khi tham gia một dự án đòi hỏi cần
cân nhắc kỹ lưỡng giữa đơn giá dự thầu với việc bảo đảm chất lượng công trình .
Tránh việc vào thầu bằng mọi giá, bởi đây chính là con dao hai lưỡi , khi thi công
không đảm bảo chất lượng vừa tốn tiền sửa chữa , bảo hành lại ảnh hưởng đến uy
tín của doanh nghiệp.

2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đấu thầu của Tổng công ty
xây dựng công trình giao thông 1

2.3.2.1. Nhân tố khách quan

* Nhà nước và chính trị

Trước nhu cầu phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng giao thông ở Việt
Nam mà số lượng các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia lĩnh
vực này ngày một đông đảo, cuộc cạnh tranh trên thị trường ngày càng quyết liệt
hơn. Nhằm đưa hoạt động xây dựng vào khuôn khổ Nhà nước ta đã đang và sẽ ban
hành cơ chế chính sách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh và cạnh
tranh lành mạnh .

Trong khoảng gần 10 năm trở lại đây do tính phức tạp trong việc quản lý
mà các văn bản pháp luật liên tục được ban hành và thay đổi liên tục ảnh hưởng
lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành. Hệ
thống văn bản quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thay đổi nhiều lần từ Nghị định
42/CP đến Nghị định 52/CP, sửa đổi số 12/CP, 07/CP và được nâng lên thành Luật
Xây dựng, còn Quy chế đấu thầu bắt đầu từ Nghị định 43/CP đến Nghị định
88/CP, sửa đổi 14/CP, 66/CP và hiện nay Quốc hội đang thảo luận để ban hành
Luật Đấu thầu trong năm 2006. Ngoài ra còn có hệ thống các Quyết định, thông tư
hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn trong việc lập dự toán, quy trình xây
dựng...

Việc thường xuyên thay đổi chính sách đã gây không ít khó khăn không
chỉ cho các chủ đầu tư mà còn ảnh hưởng rất lớn đển năng lực đấu thầu và hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn định mức xây dựng cơ bản
24/2005 do Bộ Xây dựng mới ban hành ngày 29/7/2005 thay thế cho định mức
1242/1998 trước đây có nhiều bất cập khi áp dụng. Đơn cử việc quy định định
mức thi công đào nền đường mở rộng bằng 1,15 và 1,05 định mức nhân công và
máy của định mức đào nền đường mới là chưa hợp lý bởi tác nghiệp của nhà thầu
bị ảnh hưởng do có lưu lượng xe qua lại làm năng suất giảm hơn so với việc mở
đường mới. Do vậy khi đấu thầu có công việc như vậy đơn giá sẽ thấp nhưng lại
phải đảm bảo chất lượng thi công, hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao.

Phải thừa nhận một thực tế là Nhà nước ta thông qua các quy định trong
các văn bản cụ thể đã thể hiện sự ưu đãi, bảo hộ đối với các doanh nghiệp nhà
nước khi tham gia đấu thầu quốc tế. Điều đó tác động trực tiếp đến năng lực đấu
thấu của các doanh nghiệp trong đó có Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 1. Mặt khác các thủ tục hành chính phức tạp và sự chậm chễ trong giải ngân
vốn dự án, sự phân quyền rắc rối , khó hiểu giữa cơ quan ra quyết định đầu tư và
cơ quan thực hiện đầu tư là kẽ hở tạo điều kiện cho việc thất thoát xây dựng cơ
bản và gây khó khăn về thanh quyết toán vốn cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
xây dựng luôn ở thế bị động về vốn khi thi công công trình do phụ thuộc vào chủ
đầu tư . Nguyên nhân chủ quan do sự quan liêu tham nhũng cửa quyền của một số
cán bộ công chức, nguyên nhân khách quan bởi vì các công trình giao thông
thường có giá trị lớn, thời gian thi công dài, trong khi đó kinh phí cho dự án
thường hạn hẹp , nhỏ giọt . Do vậy việc thiếu vốn ảnh hưởng không nhỏ đến khả
năng sản xuất của Tổng công ty.

Đứng trước những tồn tại bức xúc như vậy đòi hỏi Nhà nước và các cơ
quan liên quan tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý đầu tư, chính sách đấu thầu
cho phù hợp thực tế, đồng thời có phương án huy động vốn khả thi cho mỗi dự án
đầu tư tránh để thiệt thòi cho các doanh nghiệp xây dựng.
* Những đối thủ cạnh tranh

Nắm bắt tìm hiểu kỹ về đối thủ cạnh tranh có vai trò quan trọng đối với
vấn đề thắng thầu của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1. Ngoài
nguồn vốn trong nước cho xây dựng hạ tầng, hiện nay nước ta còn nhận được
nhiều khoản viện trợ, khoản vay từ các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng
thế giới, Ngân hàng phát triển Châu á, Viện trợ phát triển chính thức... Do vậy
Việt Nam đã mở cửa cho các nhà thầu nước ngoài vào Việt Nam. Hiện nay trên thị
trường xây dựng giao thông , những đối thủ cạnh tranh của CIENCO 1 chia thành
2 nhóm là các doanh nghiệp xây dựng trong nước và các doanh nghiệp nước
ngoài.

Thuộc nhóm đối thủ cạnh tranh trong nước nổi bật là các Tổng công ty
xây dựng lớn : CIENCO 4 , CIENCO 5 ,CIENCO 6 , CIENCO 8, Thăng Long,
Sông Đà, Trường Sơn, Licogi... các doanh nghiệp này đã và đang tạo ra sức cạnh
tranh quyết liệt và phức tạp trên thị trường xây dựng Việt Nam. Mỗi Tổng công ty
có lợi thế riêng về địa bàn hoạt động hoặc chuyên sâu về một lĩnh vực riêng. Qua
khảo sát thực tế CIENCO 1 vẫn có thế mạnh hơn về năng lực đấu thầu trên các
mặt trình độ máy móc thiết bị, tài sản, vốn , nhân lực do vậy sản lượng hàng năm
của CIENCO 1 luôn cao hơn các doanh nghiệp nói trên, tuy nhiên CIENCO 1 vẫn
chưa có nhân tố nổi bật hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Ngoài những Tổng công
ty lớn nêu trên còn có các doanh nghiệp độc lập, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
các địa phương. Các doanh nghiệp này quy mô nhỏ, năng lực đấu thầu yếu, nhưng
họ lại có quan hệ mật thiết với chính quyền các địa phương, khả năng quyết định
nhanh chóng, di chuyển cơ động, am hiểu thị trường giá cả khu vực do vậy họ có
thể thắng thấu ở nhiều công trình nhỏ mà thị phần của CIENCO 1 còn bỏ ngỏ. Đối
với các công trình quy mô lớn các doanh nghiệp này chưa đủ năng lực để tham
gia, nhưng không vì thế mà coi thường đối thủ vì họ có thể liên kết với các đối thủ
của CIENCO 1 để dự thầu

Thuộc nhóm đối thủ cạnh tranh nước ngoài của CIENCO 1 là hơn 300 nhà
thầu nước ngoài đến từ 29 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đến năm 2004 đã thực hiện
503 công trình và hạng mục công trình trên lãnh thổ Việt Nam với vai trò là tổng
thầu hoặc nhà thầu chính. Các nhà thầu này, đặc biệt là các tập đoàn xây dựng đến
từ Nhật Bản có ưu thế về trình độ tổ chức quản lý, năng lực tài chính và đặc biệt
có kinh nghiệm và công nghệ hiện đại . Hơn nữa họ còn được sự hậu thuẫn của
Chính phủ của họ - những nước tài trợ hoặc cho Việt Nam vay vốn thực hiện dự
án.

Từ thực tế trên đòi hỏi CIENCO 1 phải phải xây dựng chiến lược thị
trường , chiến lược đầu tư và kinh doanh đúng đắn để đáp ứng được những cạnh
tranh sôi động của thị trường. Trong điều kiện như vậy việc liên kết với các nhà
thầu trong và ngoài nước trong đấu thầu cũng là một giải pháp tạo sức mạnh tổng
hợp.

* Quyền lực của nhà cung cấp

Các nhà cung cấp hiển nhiên có ảnh hưởng lớn đến năng lực đấu thầu của
doanh nghiệp bởi chi phí nguyên vật liệu và máy chiếm từ 70-80% giá trị công
trình. Đối với CIENCO 1 hai nhà cung cấp quan trọng nhất là tài chính và nguyên
vật liệu.

Do đặc thù của hoạt động kinh doanh xây dựng là thời gian kéo dài , giá trị
lớn , trong khi đó vốn của Tổng công ty lại phải phân bổ để thực hiện nhiều dự án ,
vốn chủ sở hữu nhỏ nên để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh CIENCO 1 phải tìm
nguồn tài trợ từ các ngân hàng. Nhờ năng lực và uy tín của mình mà CIENCO 1 đã
có mối quan hệ thường xuyên lâu dài có thể đảm bảo cho vay vốn kịp thời khi cần
thiết với nhà tài chính hàng đầu của Việt nam hiện nay như: Ngân hàng Công
Thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển, Ngân hàng ANZ, CITY bank. Tuy nhiên khi thi công các dự án ở xa
Tổng công ty còn gặp khó khăn khi đặt vấn đề cung cấp tín dụng đối với các tổ
chức tín dụng ở địa phương bởi khả năng cấp vốn của các tổ chức này không đáp
ứng được đòi hỏi của những dự án lớn.

CIENCO 1 đã thiết lập và duy trì mối quan hệ lâu dài với các nhà cung
cấp vật liệu xây dựng như thép, xi măng, cát, đá, sỏi, nhựa đường ... những vật liệu
chủ yếu để xây dựng công trình. Điều này giúp Tổng công ty giảm bớt phần nào
áp lực về vốn khi nhu cầu vật liệu tăng cao, luôn được bạn hàng cung cấp vật liệu
tốt đảm bảo thi công công trình đạt chất lượng.

Để chủ động cung ứng vật liệu và giảm chi phí đầu vào cho sản xuất,
CIENCO 1 đã thành lập các xí nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu như mỏ đá
Yên Cư, Xí nghiệp đá Quốc lộ 1A, đồng thời thành lập các trạm trộn bê tông nhựa
tại nhiều địa phương ...Những đơn vị này giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng
vật liệu cho các dự án lớn góp phần giảm giá thành tạo thêm sức cạnh tranh cho
Tổng công ty.

Do ảnh hưởng của tình hình kinh tế trong nước và thế giới mà thời gian
qua giá nguyên vật liệu không ngừng tăng cao, do vậy khi lập giá dự thầu
CIENCO 1 cần tính toán kỹ lưỡng để tránh rủi ro khi đấu thầu. Việc giữ ổn định
giá cả có vai trò quan trọng từ hoạt động điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

* Quyền lực của chủ đầu tư

Chủ đầu tư của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 chính là
các khách hàng của đơn vị bao gồm chủ đầu tư trong nước và ngoài nước. Họ có
tác động rất lớn đến năng lực đấu thầu của Tổng công ty.

Chủ đầu tư trong nước chính là các cơ quan quản lý do nhà nước giao
quyền hạn nhất định trong lĩnh vực thực hiện đầu tư. Trong những năm qua , nhờ
việc hoàn thành suất sắc những công trình trọng điểm của nhà nước như Quộc Lộ
5, Quốc lộ 1A, Đường ôtô Bắc Thăng Long - Nội Bài, Cảng Cái Lân, Sân bay
Quốc tế Nội Bài... mà CIENCO 1 đã tạo được uy tín , gây được thiện cảm của Nhà
nước và các ban quản lý.

Chủ đầu tư nước ngoài được xem là những khách hàng “khó tính” bởi họ
có kinh nghiệm tham gia quản lý dự án quốc tế, yêu cầu gắt gao về chất l ượng,
tiến độ , biện pháp thi công, tài chính ... nhưng giá cả phải thấp nhất. Các dự án mà
CIENCO 1 tham gia với chủ đầu tư nước ngoài không những đều đáp ứng tốt các
đòi hỏi của chủ chủ đầu tư mà còn đề xuất và thực hiện thành công nhiều sáng
kiến trong thi công như dùng công nghệ bấc thấm xử lý nền đất yếu, công nghệ
đúc hãng trong thi công cầu... Những sáng kiến đó góp phần giảm chi phí, đẩy
nhanh tiến độ thi công nên đã tạo sự tín nhiệm lớn đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, tạo ưu thế nổi bật so với các doanh nghiệp cạnh tranh.

2.3.2.2. Nhân tố chủ quan

* Nguồn nhân lực

Là một doanh nghiệp nhà nước ra đời và phát triển qua nhiều giai đoạn
của đất nước, CIENCO 1 được đánh giá là doanh nghiệp mạnh về tổ chức quản lý
với đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân kỹ thuật tính
đến tháng 7/2005 như sau:

Tiến sĩ, thạc sỹ: 6 người

Kỹ sư, cử nhân: 1739 người

Cao đẳng, trung cấp: 442 người

Công nhân kỹ thuật: 6912 người

Tổng cộng: 9099 người chiếm 68,48 % tổng số lao động trong Tổng công
ty, trong khi đó tỷ lệ này ở CIENCO 8 là 55,3% và ở Binh đoàn Trường Sơn là
49,2%.

Đây là lực lượng chính tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp được Tổng
công ty luôn quan tâm bồi dưỡng. Ngoài ra Tổng công ty có quan hệ mật thiết với
các trung tâm khoa học kỹ thuật lớn của đất nước như : trường Đại học Giao thông
vận tải, Đại học xây dựng, Tổng công ty Tư vấn Giao thông Vận tải, Viện Khoa
học Công nghệ Giao thông vận tải ... nhằm phối hợp giải quyết những vấn đề kỹ
thuật đặt ra, thu hút bổ sung vào lực lượng của mình những sinh viên tốt nghiệp
suất sắc. Trường kỹ thuật nghiệp vụ công trình của Tổng công ty đã đào tạo cho
Tổng công ty và ngành giao thông vận tải hàng chục n gàn công nhân có tay nghề
cao, phẩm chất đạo đức tốt để tham gia xây dựng công trình. Tuy vậy giữa Tổng
công ty và các đơn vị thành viên chưa có sự điều phối nguồn nhân lực từ nơi thiếu
sang nơi thừa nhằm sử dụng có hiệu quả hơn đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật
do sự độc lập, thiếu quan hệ thông tin giữa các doanh nghiệp.
CIENCO 1 có hệ thống chính trị vững chắc, mô hình tổ chức quản lý chắc
chắn khá bài bản, nhiều năm liền được đánh giá là lá cờ đầu của ngành giao thông
vận tải. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Tổng công ty và các đơn vị thành viên là
những người có kinh nghiệm , có bản lĩnh, năng động sáng tạo xây dựng được nội
bộ đoàn kết thống nhất chặt chẽ tạo uy tín lớn trên thị trường.

Mô hình tổ chức Tổng công ty vẫn dựa trên mô hình quản lý trực tuyến -
chức năng, cơ quan Tổng công ty đã có nhiều hoạt động gắn với quyền lợi, kết quả
kinh doanh của các đơn vị thành viên song quan hệ vẫn mang nặng tính cấp trên.
Sự phối hợp giữa cơ quan Tổng công ty với các bàn điều hành quản lý dự án của
các đơn vị thành viên chưa chặt chẽ. Quan hệ giữa Tổng công ty với các đơn vị
thành viên chưa phải là quan hệ của hai pháp nhân kinh tế , các công ty thành viên
chưa thực sự chủ động. CIENCO 1 cần sắp xếp lại các đơn vị thành viên và tìm
kiếm một mô hình quản lý thích hợp hơn vươn lên phát triển ngang tầm khu vực.

* Tài chính

CIENCO 1 có nền tài chính lành mạnh. Điều đó có ý nghĩa lớn trong việc
tạo dựng lòng tin với chủ đầu tư và lợi thế với đói thủ cạnh tranh khi tham gia đấu
thấu. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn chủ sở hữu không những được
bảo toàn mà còn liên tục tăng trưởng. Tổng sản lượng hàng năm, lợi nhuận và nộp
ngân sách, đầu tư tài sản cố định tăng, thu nhập của người lao động được bảo đảm.
Bảng 2.11 minh họa nhận định trên.

Bảng 2.11: So sánh năng lực tài chính của một số

Tổng công ty xây dựng Việt Nam (31/12/2004)

Đơn vị: triệu đồng

Tổng sản Vốn chủ sở
TT Tổng công ty Tổng tài sản Tổng nợ
lượng hữu

1 CIENCO 1 1.774.981 1.751.000 183.417 894.974

2 CIENCO 4 1.495.718 1.220.135 80.168 1.129.976
3 CIENCO 5 1.132.019 1.270.088 112.212 873.919

4 CIENCO 6 1.166.505 1.151.382 140.300 942.536

5 CIENCO 8 1.242.806 1.433.913 179.763 1.154.567

6 Trường sơn 798.906 1.539.543 128.314 689.456

Nguồn: hồ sơ năng lực dự thầu của các Tổng công
ty



Qua bảng trên cho thấy so với các Tổng công ty khác, CIENCO 1 có quy
mô tài chính lớn hơn, sản lượng hàng năm cũng nhiều hơn các đối thủ cạnh tranh
trong nước. Tuy nhiên như đã phân tích kỹ tình hình tài chính của CIENCO 1 ở
phần trên , thực tế năng lực tài chính của Tổng công ty còn những tồn tại, đó cũng
là khó khăn chung của các doanh nghiệp xây dựng hiện nay như: nguồn vốn chủ
sở hữu còn nhỏ bé so với nhu cầu sản xuất kinh doanh do vậy khả năng thanh toán
còn bị hạn chế, mức độ tự chủ về tài chính chưa cao; việc thanh quyết toán công
trình kéo dài gây đọng vốn khiến Tổng công ty thiếu vốn để tái sản xuất phải đi
chiếm dụng vốn của các đơn vị khác hoặc phải đi vay lãi ngân hàng đẩy chi phí
sản xuất lên cao , hiệu quả kinh doanh thấp . Một số doanh nghiệp thành viên
trong Tổng công ty đang gặp khó khăn về tài chính như Công ty xây dựng Công
trình 136, Công ty Công trình giao thông 128, Công ty Cầu 12.

Hiện nay tình trạng thiếu vốn hoạt động trong các doanh nghiệp xây dựng
là rất phổ biến, CIENCO 1 cũng không nằm ngoài. Nguyên nhân nội tại do Tổng
công ty được thành lập trên cơ sở con số cộng các doanh nghiệp thành viên, vốn
của Tổng công ty là tài sản của các thành viên cộng lại chưa phải là vốn tài chính,
nên việc điều tiết , điều hòa vốn còn gặp nhiều khó khăn.

Như vậy với sự gia tăng của các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam, CIENCO 1 cần có một chiến lược nâng cao năng lực đấu thầu đặc biệt là
năng lực tài chính lên ngang tầm khu vực để giữ vững và phát triển thị trường
trong tương lai.
* Máy móc thiết bị công nghệ thi công

Năng lực thiết bị công nghệ là yếu tố đầu vào của sản xuất, đặc biệt đối
với ngành xây dựng với yêu cầu kỹ thuật thi công hiện đại ngày nay . Thông
thường trong mỗi hồ sơ mời thầu điểm cho giải pháp kỹ thuật thường chiếm 30%
tổng số điểm trúng thầu, trong đó chủ đầu tư thường xem xét rất kỹ số lượng máy
móc thiết bị mà nhà thầu có khả năng huy động để đưa vào thi công. Năng lực
máy móc thiết bị quyết định lớn đến chất lượng và tiến độ công trình. ý thức được
điều này CIENCO 1 đã không ngừng đổi mới công nghệ và thiết bị thi công cả về
số lượng và chất lượng.

So với các Tổng công ty khác , CIENCO 1 có hệ thống trang thiết bị tương
đối hoàn chỉnh, đầy đủ chủng loại . Hiện nay Tổng công ty đã thay thế dần các
thiết bị lạc hậu bằng các thiết bị đồng bộ hiện đại phục vụ cho các công nghệ thi
công mới , đồng thời cử cán bộ kỹ thuật công nhân đào tạo nhanh chóng làm chủ
công nghệ mới. Đây là lợi thế lớn của đơn vị khi tham gia các dự án đòi hỏi tiêu
chuẩn kỹ thuật cao.

Mặc dù vậy hiện nay CIENCO 1 vẫn còn thiếu một số thiết bị chuyên
dùng như chưa có cần trục sức nâng 150T, các thiết bị đào tự động, các dàn khoan
cọc nhồi hiện đại, tàu hút bùn để thi công nạo vét cảng sông... để tiếp cận với các
lĩnh vực xây dựng cơ bản như thủy điện, thủy lợi. Khu vực sản xuất kết cấu thép
và cơ khí, vật liệu xây dựng thiết bị còn lạc hậu, hạm đội thi công trên mặt nước
chưa mạnh. Ngoài ra còn một số trang thiết bị cũ không sửa chữa được chưa thanh
lý gây đọng vốn, lãng phí .

* Hoạt động quảng cáo tiếp thị

Uy tín được xem như tài sản vô hình quan trọng của doanh nghiệp khi
tham gia thị trường. Không phải doanh nghiệp nào khi mới hình thành đều có ngay
uy tín. Để tạo dựng được thương hiệu của mình CIENCO 1 đã trải qua hơn 40 năm
phấn đấu và phát triển không ngừng, là sự cố gắng lớn của tập thể lao động , sự tác
động của các yếu tố khách quan và chủ quan trong và ngoài đơn vị.
Hoạt động tiếp thị quảng cáo có vai trò quan trọng trong kinh doanh.
Làm gia tăng uy tín, góp phần không nhỏ vào kết quả sản xuất kinh doanh và năng
lực đấu thầu của các doanh nghiệp. Thực tế hiện nay các doanh nghiệp xây dựng
chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động này. CIENCO 1 chưa có bộ phận chuyên
môn hóa làm công tác tiếp thị quảng cáo , hoạt động này thường là một phần trong
nhiệm vụ của phòng Thông tin thị trường. Hoạt động quảng cáo cũng chưa mang
tính thường xuyên, chưa có một chiến lược quảng cáo tiếp thị lâu dài nhằm nâng
cao tên tuổi của CIENCO 1.

Cho nên với bề dầy thành tích và kinh nghiệm hơn các doanh nghiệp xây
dựng khác song CIENCO 1 mới chỉ được biết tới ở trong nước, các nhà thầu và
khách hàng nước ngoài vẫn còn thiếu thông tin về Tổng công ty . Điều này gây
khó khăn cho doanh nghiệp khi tham gia đấu thầu quốc tế. Trong thời gian ti
CIENCO 1 dự định có một chiến lược toàn diện nâng cao năng lực tài chính, công
nghệ, tăng cường chất lượng thi công , liên doanh liên kết với các doanh nghiệp
xây dựng trong và ngoài nước nhằm quảng bá thương hiệu mở rộng thị trường.

2.2.3. Đánh giá năng lực đấu thầu của Tổng công ty xây dựng công
trình giao thông 1

Qua việc phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến
năng lực đấu thầu của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 trên các
khía cạnh sau:

* ưu điểm: thể hiện ở những điểm sau:

Đối với các nhân tố khách quan:

CIENCO 1 là một doanh nghiệp nhà nước do vậy nhận hưởng chính sách
ưu đãi của Nhà nước khi tham gia cạnh tranh quốc tế, được cấp phát bổ sung vốn
hàng năm , được giao quyền sử dụng hoặc cho thuê đất dài hạn để phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh. Nhưng đối với hoạt động đấu thầu trong nước ,
CIENCO 1 cũng bình đẳng trong một sân chơi chung với các doanh nghiệp khác.

Với uy tín và kinh nghiệm lâu năm trong ngành xây dựng , CIENCO 1 tạo
được uy tín với chủ đầu tư và các nhà cung cấp. Nhờ vậy CIENCO 1 có thuận lợi
trong việc huy động vốn vay cho sản xuất kinh doanh. So với các đối thủ cạnh
tranh cùng nhóm CIENCO 1 luôn được chủ đầu tư đánh giá cao hơn về kinh
nghiệm và năng lực tài chính, nhân lực, công nghệ.

Đối với các nhân tố chủ quan:

CIENCO 1 có nguồn nhân lực hùng hậu gồm các cán bộ quản lý và cán bộ
, công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn mạnh về trình độ khoa học công nghệ
. Có hệ thống chính trị vững chắc, nội bộ đoàn kết thống nhất, cán bộ lãnh đạo có
uy tín cao có kinh nghiệm và năng lực trong điều hành quản lý thích ứng với cơ
chế thị trường. Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm bài thầu của Tổng công ty có sự
trưởng thành về nhiều mặt , chất lượng làm bài thầu của Tổng công ty được đánh
giá tương đối tốt.

Quy mô tài chính của Tổng công ty lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh,
tình hình tài chính ổn định tạo ưu thế lớn trong đấu thầu. Đặc biệt chất lượng hoạt
động của bộ phận kiểm tra kiểm soát tài chính nội bộ nhanh chóng phát hiện sai
sót lãng phí góp phần tiết kiệm chi phí hạ giá thành công trình, nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh.

Tổng công ty có số lượng máy móc thiết bị công nghệ lớn đáp ứng yêu cầu
thi công hiện đại. Hàng năm Tổng công ty luôn giành tỷ lệ lớn trong nguồn vốn
kinh doanh để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị mới nhằm nâng cao chất lượng ,
giảm thời gian thi công đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư.

* Nhược điểm:

- Đối với các nhân tố khách quan:

Việc các nguồn vốn đầu tư , vốn vay ODA của chính phủ và các tổ chức
phi chính phủ vào nước ta và việc gia nhập thị trường xây dựng của các tập đoàn
quốc tế với tiềm lực hùng mạnh thực sự là những bất lợi đối với các Tổng công ty
xây dựng trong đó có CIENCO 1. Tổng công ty sẽ có thêm những khách hàng
nước ngoài nhưng cũng có thêm nhiều đối thủ lớn chia sẻ thị phần xây dựng của
mình.

- Đối với các nhân tố chủ quan:
Về mặt nhân lực và tổ chức, tuy có một khối lượng nhân lực đông đảo
song vẫn còn một bộ phận cán bộ còn mang nặng tính bao cấp ch ưa thích hợp với
cơ chế thị trường ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh chung. Đội ngũ
cán bộ trực tiếp làm bài thầu thì số cán bộ có kinh nghiệm nhưng trình độ ngoại
ngữ vi tính còn nhiều hạn chế, nhìn chung khi tham gia đấu thầu quốc tế còn
nhiều lúng túng khi lập dự toán, xác định phương án thi công do vậy chất lượng
bài thầu chưa thật hoàn chỉnh. Quan hệ giữa Tổng công ty và các đơn vị thành
viên còn gò bó, một số lĩnh vực các doanh nghiệp thành viên chưa được độc lập tự
chủ hoàn toàn.

Về năng lực kỹ thuật máy móc, Tổng công ty còn tồn tại nhiều máy móc
cũ lạc hậu. Chưa có thiết bị thi công hiện đại ở một số ngành như xây dựng cầu
hầm, thủy lợi... nên chưa có điều kiện mở rộng thị phần ở những ngành này. Công
tác quản lý thiết bị máy móc thi công chưa thu về quản lý thống nhất mà nằm rải
rác ở các bộ phận khác nhau , chưa có sự liên kết điều chuyển máy móc thiết bị
hợp lý , hiệu quả sử dụng chưa cao.

Năng lực tài chính của Tổng công ty góp phần quan trọng trong đánh giá
năng lực đấu thầu của doanh nghiệp. Như đã phân tích ở trên ,CIENCO 1 có vốn
chủ sở hữu nhỏ do vậy chưa có khả năng tự chủ tài chính, nguồn vốn sản xuất kinh
doanh chủ yếu đi vay , số tiền trả lãi lớn , dự án thực hiện kéo dài công tác thanh
quyết toán chậm gây đọng vốn.

2.4 Đánh giá chung về thực trạng phân tích tình hình tài chính của
Tổng Công ty xây dựng Công trình giao thông I

Qua xem xét thực tế tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 có
thể rút ra một số nhận xét chung về công tác phân tích tình hình tài chính của đơn
vị như sau:

Trong thời gian gần đây Tổng công ty đã có sự quan tâm nhất định đến
công tác phân tích tình hình tài chính phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và các
đối tượng quan tâm ngoài doanh nghiệp. Việc phân tích dựa trên các thông tin trên
báo cáo tài chính nhằm đưa ra các thông số và đánh giá chung về tình hình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tổng công ty mới chỉ so sánh một số chỉ tiêu
đơn giản về tổng tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, công nợ... chưa so sánh các chỉ
tiêu cần tính với chỉ tiêu chung của ngành. Do vậy Tổng công ty chưa có cơ sở để
nhận xét về tình hình của mình so với ngành đang hoạt động.

Việc phân tích chủ yếu theo định kỳ theo quý, năm kết thúc niên độ kế
toán và thường được lồng ghép vào báo cáo tài chính năm hoặc phân tích theo sự
vụ cần thiết. Công tác phân tích tình hình tài chính chưa trở thành một hoạt động
thường xuyên phục vụ cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh. Thông tin thu
được từ việc phân tích chủ yếu sử dụng cho ban lãnh đạo Tổng công ty , Hội đồng
quản trị để đánh giá , tổng kết hoạt động tài chính của một kỳ theo quy định và để
báo cáo trong các hội nghị tổng kết. Đôi khi việc phân tích cũng để phục vụ xem
xét đánh giá một số vấn đề tài chính để đưa ra quyết định kinh doanh mới phục vụ
cho các đối tượng cho vay khi Tổng công ty hoặc các doanh nghiệp thành viên có
nhu cầu vay vốn, hoặc các đối tượng liên doanh , liên kết khi doanh nghiệp có nhu
cầu đầu tư. Do vậy việc phân tích tài chính thường không được tiến hành thường
xuyên mà theo thời điểm phát sinh nhu cầu. Số liệu phân tích tập hợp chậm, nội
dung phân tích đơn giản, đại khái, ý nghĩa của thông tin thu được chưa cao.
Phương pháp phân tích chủ yếu là so sánh, đối chiếu giản đơn, hầu như chưa có sự
liên hệ so sánh các chỉ tiêu để tìm ra nguyên nhân tổng quát ảnh hưởng đến một sự
việc, chưa tìm ra bản chất của đối tượng phân tích.

Các chỉ tiêu sử dụng phân tích là các chỉ tiêu theo quy định chung thể hiện
ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính cụ thể là theo mẫu số B09-DN ban hành theo
Quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 và các thông tư hướng dẫn bổ
sung theo các chuẩn mực kế toán. Cho nên các số lượng các chỉ tiêu này so yêu
cầu của quá trình phân tích còn thiếu quá nhiều. Nội dung kinh tế của các chỉ tiêu
chưa thống nhất . Việc thu thập số liệu đòi hỏi trong thời gian ngắn , thiếu sự kiểm
tra đối chiếu cho nên thông tin thu được chưa chính xác ảnh hưởng đến kết luận
chung của quá trình phân tích.

Tổng công ty chưa tính toán phân tích cơ cấu , tỷ trọng chi tiết cụ thể của
từng loại vốn khác nhau trong tổng các loại nguồn vốn để thấy sự biến động của
chúng trong năm tài chính, chưa phân tích để tìm ra mối liên hệ , nhân tố tác động
đến sự biến động đó. Số liệu tính toán chưa có sự liên hệ chặt chẽ với nhau để thấy
một bức tranh toàn cảnh về tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Dưới góc độ hiệu quả sản xuất kinh doanh Tổng công ty mới chỉ đưa ra phân tích
các chỉ tiêu tổng quát, đơn giản như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh
thu, tổng tài sản và nguồn vốn chủ sở hữu chưa đi sâu phân tích tốc độ luân
chuyển của các loại vốn trong doanh nghiệp, vòng quay vốn...

Tình hình xem xét các báo cáo kết quả kinh doanh cũng diễn ra tương tự.
Tổng công ty mới chỉ xem so sánh các thông số tuyệt đối và tương đối trên báo
cáo kết quả kinh doanh. Thông thường đầu năm Tổng công ty thường xây dựng
một hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch về doanh thu , sản lượng, thu nhập người lao
động...sau đó so sánh với thực tế để biết mức độ hoàn thành kế hoạch. Doanh
nghiệp mới chỉ so sánh mức độ tăng giảm lợi nhuận của từ bộ phận và tổng thể
nhưng chưa có sự liên hệ so sánh giữa các chỉ tiêu với nhau về mức độ tăng giảm,
chưa xác định nguyên nhân nội tại của việc tăng giảm lợi nhuận là do tăng doanh
thu hay giảm chi phí hay nguyên nhân khác. Khi phân tích cũng chưa thấy mức độ
ảnh hưởng lớn hay nhỏ của từng nhân tố đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung.
Phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa quan tâm đến việc theo dõi lưu chuyển
của các dòng tiền tệ cũng như hoạt động đầu tư tài chính (trừ ngành ngân hàng, tài
chính) nhằm đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh.

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng
khốc liệt, điều này có thể dẫn tới một số doanh nghiệp sẽ bị phá sản, giải thể, hoặc
sát nhập. Việc phân tích rủi ro đối với các doanh nghiệp là cần thiết vì thông qua
việc phân tích có thể có các biện pháp dự phòng tài chính để đối phó với các tổn
thất có thể xảy ra do ảnh hưởng của các nguyên nhân khách quan , chủ quan. Tuy
nhiên việc phân tích rủi ro trong sản xuất kinh doanh hiện nay vẫn chưa thực sự
được quan tâm chú ý.

Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do Tổng công ty ch ưa có bộ
phận chuyên trách làm công tác phân tích nghiên cứu dự báo tài chính. Hơn nữa
bản thân cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp cũng chưa ý thức được vai trò quan
trọng của công tác này đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với một số đơn
vị thành viên không phải giám đốc nào cũng có thể hiểu hết được các chỉ tiêu
trong báo cáo tài chính. Việc nâng cao trình độ nhận thức và trình độ chuyên môn
cho cán bộ các doanh nghiệp quyết định chất lượng của công tác phân tích tình
hình tài chính Tổng công ty.

Với sự bùng nổ và phát triển của thị trường xây dựng, CIENCO 1 có thêm
nhiều đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước. Hiện nay Tổng công ty được đánh
giá có năng lực đấu thầu khá so với các đối thủ cạnh tranh và có uy tín đối với các
chủ đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên với đặc thù của ngành Tổng công ty
cũng có những khó khăn chung về vốn, thiết bị và con người.

Để đứng vững trong cơ chế thị trường hiện nay hoạt động tài chính có vai
trò không nhỏ. Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp giúp
các nhà quản lý điều hành công việc kịp thời và có hiệu quả. Hiện nay chất lượng
phân tích tình hình tài chính chưa được như mong đợi. Cho nên hoàn thiện công
tác phân tích tình hình tài chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và góp
phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp là rất cần thiết.
Chương III
Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phân tích
tình hình tài chính với việc nâng cao hiệu quả quản lý
tài chính và năng lực đấu thầu của Tổng Công ty Xây dựng
Công trình giao thông I


3.1 Chiến lược phát triển của Cienco I đến năm 2020

Sau hơn 10 năm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới toàn diện nước ta
đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa .
Văn kiện Đại hội đảng VIII chỉ rõ : “Mục tiêu của công nghiệp hóa hiện đại hóa là
xây dựng cơ sở vật chật kỹ thuật hiện đại ; cơ cấu kinh tế hợp lý; quan hệ sản xuất
tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; đời sống vật chất
và tinh thần cao; quốc phòng, an ninh vững chắc; dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ và văn minh. Từ nay đến năm 2020 , toàn Đảng toàn dân nỗ
lực phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp. Để đạt mục tiêu trên .
Nhiệm vụ của ngành giao thông vận tải là phải xây dựng được hệ thống giao thông
vận tải ngang tầm với hệ thống giao thông vận tải của các nước công nghiệp ở
mức thấp, thỏa mãn nhu cầu vận tải của xã hội với chất lượng ngày càng cao, giá
thành hợp lý, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, đảm bảo an
toàn giao thông và bảo vệ môi trường.

Với hạ tầng giao thông như nước ta hiện nay để đạt mục tiêu đề ra vốn đầu
tư cần có hàng tỷ USD cho phát triển , điều đó cho thấy thị trường giao thông
nước ta đầy tiềm năng. Nó mở ra nhiều cơ hội và cả thách thức cho các doanh
nghiệp xây dựng giao thông trong đó có Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 1. Trước tình hình thực tế của đất nước và của ngành , CIENCO 1 đã xây
dựng chiến lược phát triển đến năm 2020 là “đa dạng hóa ngành nghề và sản phẩm
để trở thành tập đoàn kinh tế lớn trong nước và khu vực”.

Quan điểm phát triển của Tổng công ty là:
- Củng cố và phát triển , hoàn thiện khối xây dựng công trình, phục vụ
kịp thời các yêu cầu phát triển giao thông vận tải trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước. Lấy xây dựng cơ bản làm mũi nhọn để phát triển Tổng

công ty.

- Tăng cường tiềm năng mọi mặt , xây dựng và phát triển khối thương
mại, dịch vụ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh, đưa Tổng công ty thành
Tổng công ty Nhà nước vững mạnh, toàn diện, hoạt động đa hình thức sở hữu, đa
ngành nghề và sản phẩm, tạo cơ sở để từ năm 2010 trở đi hình thành tập đoàn
kinh tế.

- Vừa có các công ty chuyên ngành mạnh (cầu đường, tài chính...) vừa có
các công ty kinh doanh tổng hợp ( xây dựng hỗn hợp, khách sạn - du lịch - siêu
thị - taxi...) sẵn sàng điều chỉnh sản xuất kinh doanh, tập trung vào những ngành
, những mặt hàng lợi nhuận cao, siêu lợi nhuận.

- Hiện đại, dân tộc , đại chúng

Phương châm phát triển sản xuất kinh doanh của CIENCO 1 đến năm
2020: thận trọng, khẩn trương, táo bạo

- Thận trọng : đối với các ngành nghề sản phẩm mới tránh những tổn thất
không đáng có , nhất là các ngành nghề sản phẩm cần nhiều vốn đầu tư. Đối với
các ngành nghề sản phẩm này nếu thua lỗ sẽ làm cho toàn Tổng công ty bị thụt
lùi nghiêm trọng. Muốn thận trọng, công tác khảo sát, lập dự án tiền khả thi và
khả thi phải làm tốt, do các lực lượng chuyên nghiệp thực hiện.

- Khẩn trương không bao giờ là thừa , vì thời gian chính là lực lượng vật
chất. Đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước ta bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hóa ở điểm xuất phát thấp, chậm chạp đi liền với nguy cơ bị đào thải.
Đứng trước một ngành nghề sản phẩm mới sau khi đã thận trọng xem xét dự án
tiền khả thi và khả thi cần quyết tâm và nhanh chóng tập trung lực l ượng tổng thể
thực hiện. Khẩn trương nhưng không ẩu, không đốt cháy giai đoạn, phá vỡ các
nguyên tắc cần thiết.
- Táo bạo là đức tính cần có, không phải chỉ ở nhà doanh nghiệp. Táo
bạo trên cơ sở có khoa học - kỹ thuật , có thực tiễn. Táo bạo không đồng nghĩa
với liều lĩnh.

Mục tiêu của chiến lược : từ nay đến năm 2010 phấn đấu trở thành Tổng
công ty Nhà nước vững mạnh, toàn diện, đa hình thức sở hữu, đa ngành nghề và
sản phẩm. Đến năm 2020 trở thành tập đoàn kinh tế mạnh ngang tầm khu vực,
không những sản xuất kinh doanh xây dựng, thương mại và dịch vụ mà còn có
công ty tài chính, kinh doanh phần mềm máy tính điện tử. Tỷ trọng ngành nghề
truyền thống và lĩnh vực thương mại và dịch vụ là 30-70% tổng giá trị sản lượng.

Nội dung của chiến lược phát triển đến năm 2020 cụ thể như sau:

Đối với khối kinh doanh sản phẩm xây dựng: đến năm 2007 tiếp tục phấn
đấu vì một nền tài chính lành mạnh toàn Tổng công ty, các đơn vị thành viên phải
làm ăn có lãi, riêng Công ty Cầu 12 giữ vị trí số 1 về xây dựng cầu quốc gia. Phát
triển các mặt hàng mới về xây dựng như thi công hầm và thi công các công trình
đầu mối thủy lợi - thủy điện . Củng cố và phát triển các công ty xây dựng cầu
đường, xây dựng hỗn hợp, tư vấn, thí nghiệm, sản xuất vật liệu xây dựng, đưa một
số công ty lên hàng đầu quốc gia như Công ty Cầu 14, Công ty Thí nghiệm, Công
ty cổ phần Tư vấn đầu tư và xây dựng Việt Nam, Công ty Đường 122, 118...

Đối với khối thương mại dịch vụ: hiện tại Tổng công ty đã có sẵn một số
cơ sở và doanh nghiệp thương mại dịch vụ. trong thời gian tới Tổng công ty có kế
hoạch điều chỉnh tập trung vốn cho khu vực này vì nó hứa hẹn mang lại hiệu quả
kinh tế cao.

Đối với khối kinh doanh bất động sản và xây dựng đô thị: Nhà nước ta chủ
trương đẩy nhanh việc quy hoạch và phát triển đô thị, xây dựng kết cầu hạ tầng
theo hướng văn minh hiện đại, tăng cường công tác quản lý thực hiện quy hoạch.
Nắm bắt được xu thế đó CIENCO 1 dự định trong tương lai sẽ chuyển Ban đầu tư
xây dựng kinh doanh nhà đất và đô thị trở thành một công ty thành viên hạch toán
độc lập nhằm phát triển dịch vụ kinh doanh bất động sản và đô thị có khả năng thu
lợi nhuận cao .
Để có thể thực hiện thắng lợi chiến lược đề ra, một trong những nhiệm vụ
cấp thiết của Tổng công ty trong các năm tới là không ngừng củng cố và hoàn
thiện nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, làm cho hoạt động này
trở nên thường xuyên để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính toàn doanh nghiệp.
Đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty phát triển thị phần ,
quản lý hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt nhất.

3.2 Sự cần thiết và yêu cầu hoàn thiện công tác phân tích tình tình tài
chính tại Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1

3.2.1. Sự cần thiết hoàn thiện công tác phân tích tình tình tài chính

Xã hội càng phát triển nhu cầu thông tin càng trở nên đa dạng và cần thiết.
Thông tin từ phân tích tình hình tài chính được xem là nhân tố quan trọng trong
việc ra quyết định của các nhà lãnh đạo , nhà quản và nhà đầu tư...Đặc biệt trong
điều kiện hiện nay khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu
vực và quốc tế, nhu cầu thông tin tài chính trở nên cấp bách khi các doanh nghiệp
đặt trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các nhà quản lý phải xử lý nhanh chóng
và linh hoạt các tình huống trong kinh doanh. Do đó thông tin phân tích tài chính
nhằm mục đích sau:

*Phản ánh trung thực tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hoạt động tài chính có quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tình hình tài chính tốt hay xấu có tác dụng thúc đẩy hoặc
kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó doanh nghiệp kiểm soát
chặt chẽ hoạt động sản xuất kinh doanh bằng việc sử dụng các công cụ quản lý tài
chính.Điều này giúp cho doanh nghiệp sớm phát hiện những tồn tại hay những ưu
điểm trong đầu tư kinh doanh từ đó kịp thời hành động để khắc phục những tồn tại
hay phát huy thế mạnh của mình.

Kết quả và tình hình các mặt hoạt động của doanh nghiệp được phản ánh
thông qua chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính như tài sản nguồn vốn, kết quả doanh
thu, lợi nhuận, chi phí, công nợ...Để đánh giá trung thực hiệu quả sản xuất kinh
doanh phải dựa trên việc phân tích mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu trên.
Các nhà chuyên môn đã thiết lập các chỉ tiêu biểu thị ý nghĩa của các mối quan hệ
và phản ánh các khuynh hướng của nó trong tương lai. Người sử dụng thông tin
phân tích chỉ cần so sánh các chỉ tiêu phân tích của doanh nghiệp đối với các tiêu
tiêu chuẩn sẵn có hoặc của các doanh nghiệp khác phục vụ cho việc ra quyết định.

* Giúp các doanh nghiệp có cơ sở xây dựng chiến lược phát triển kinh
doanh

Mỗi doanh nghiệp muốn đứng vững và tồn tại lâu dài đều cần xây dựng

cho mình một chiến lược phát triển. Chiến lược kinh doanh tập trung khai thác các
thế mạnh, khắc phục nhược điểm nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương
trường. Trong khi xây dựng chiến lược cần xác định phạm vi, mục tiêu và những
điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh. Xác định phạm vi
kinh doanh đòi hỏi chiến lược kinh doanh phải đảm bảo không sử dụng dàn trải
nguồn lực, sử dụng không hết nguồn lực.

Các chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở tình hình phát triển
chung của ngành của đất nước và quan trọng nhất là thực tế của doanh
nghiệp.Tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp thể hiện qua hệ
thống báo cáo tài chính và việc sử dụng hệ thống báo cáo tài chính để phân tích
tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh. Do vậy muốn có cơ sở cho việc phát
triển chiến lược, muốn có kế hoạch sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì số liệu báo
cáo tài chính phải phản ánh trung thực khách quan từ đó đưa ra những nhận xét
đánh giá đúng đắn cụ thể về tình hình tài chính thực tế và dự đoán xu thế phát triển
trong tương lai của doanh nghiệp.

* Giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan kiểm toán, ngân hàng,
các nhà đầu tư nắm được thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp thể hiện qua sự vận động của vốn,
tài sản , công nợ , liên quan mật thiết đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Việc phân tích tính hình tài chính doanh nghiệp, kết hợp với việc
đánh giá thực trạng và phương hướng sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho cơ quan
quản lý nhà nước, cơ quan kiển toán, ngân hàng, các nhà đầu tư nhìn nhận khái
quát và ra quyết định đúng đắn đối với doanh nghiệp.

3.2.2. Yêu cầu hoàn thiện công tác phân tích tình tình tài chính

Để phục vụ mục đích trên, hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp phải đảm bảo sao cho các chỉ tiêu phân tích phản ánh tổng hợp
và trình bày một cách tổng quát , toàn diện tình hình tài sản , công nợ, nguồn vốn,
tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Các chỉ tiêu phân tích phải cung cấp những thông tin kinh tế tài chính chủ yếu ,
giúp cho việc đánh giá tình hình và kết quả mọi hoạt động sản xuất kinh doanh,
thực trạng tài chính doanh nghiệp kỳ trước và dự đoán trong tương lai. Thông tin
do phân tích cung cấp là căn cứ quan trọng cho việc ra quyết định quản lý điều
hành hoặc quyết định của các chủ nợ, các nhà đầu tư.

Cần có sự thống nhất trong nội dung, phương pháp tính toán và hình thức
trình bày các chỉ tiêu. Giữa các số liệu trình bầy cần có sự liên hệ bổ sung cho
nhau nhằm phản ánh trung thực tình tình tài chính doanh nghiệp. Việc hoàn thiện
các chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp phải thoả mãn các yêu cầu định tính
cơ bản là dễ hiểu, phù hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được.

3.3 Nội dung hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính với việc
nâng cao hiệu quả quản lý tài chính doanh nghiệp và năng lực đấu thầu tại
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 1

3.3.1 Một số giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính, nhằm đánh giá thực trạng sản xuất
kinh doanh , Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 cần tiếp tục hoàn
thiện công tác phân tích tình hình tài chính theo các giải pháp sau:

3.3.1.1. Xây dựng và ban hành quy định tổ chức phân tích tài chính:

Để công tác phân tích tình hình tài chính được tiến hành có bài bản và hệ
thống Tổng công ty cần đặt ra một quy định rõ ràng và cụ thể cho công tác này.
Quy định cần nêu rõ công tác phân tích tình hình tài chính phải được tiến hành
thường xuyên và báo cáo định kỳ tại doanh nghiệp. Quy định cụ thể về quyền hạn
và trách nhiệm của cán bộ phân tích tài chính, cũng như trách nhiệm của các
phòng ban chức năng có liên quan trong việc kiểm tra đánh giá chất lượng phân
tích và có chế độ khen thưởng kỷ luật đối với những người làm công tác phân tích.

3.3.1.2. Hoàn thiện đội ngũ cán bộ phân tích tài chính

Như đã nêu ở thực trạng công tác phân tích tài chính tại Tổn g công ty xây
dựng công trình giao thông 1, hiện công tác phân tích tài chính do cán bộ phòng kế
toán kiêm nhiệm. Vì vậy để nâng cao hiệu quả công tác phân tích thì cần bổ sung
thêm cán bộ chuyên trách hoặc tách các cán bộ khỏi công việc của kế toán và
chuyển sang đảm nhận việc phân tích tài chính.

Công tác phân tích tình hình tài chính tuy cần thiết nhưng còn khá mới mẻ
ở nước ta, do vậy cho dù có bổ sung thêm nhân sự hay tách hẳn đội ngũ cán bộ cũ
thì cũng cần phải đào tạo bồi dưỡng , nâng cao nghiệp vụ cho những người này.
Có thể cử họ đi học các khóa đào tạo ngắn hạn, hoặc mời chuyên gia về phổ biến
kiến thức mới . Trong các khóa học này cũng cần có sự tham gia của các cán bộ
lãnh đạo các doanh nghiệp thành viên để nâng cao nhận thức của họ về tầm quan
trọng của thông tin phân tích tài chính đối với đơn vị mình.

Con người là nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp. Vì vậy Tổng
công ty cần có chính sách thu hút và đãi ngộ thỏa đáng với đội ngũ làm công tác
phân tích tài chính , làm cho họ yên tâm công tác và phấn đấu cho sự phát triển
chung của doanh nghiệp.

3.3.1.3. Hoàn thiện nguồn thông tin phục vụ cho phân tích tài chính

Để có kết luận chính xác, việc phân tích phải dựa trên một dãy số liệu ít
nhất là ở ba thời điểm khác nhau. Thông tin tài chính thực sự có hiệu quả khi phân
tích cần kiểm tra các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính nhằm đảm bảo các chỉ tiêu
phản ánh đúng tình tình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận... của
doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Muốn các chỉ tiêu phản ánh khách quan
thì cần kiểm tra sự liên quan chặt chẽ của chúng với nhau.

Thông tin kế toán hữu ích phải đảm hai yêu cầu là phù hợp và tin cậy. Tuy
vậy báo cáo tài chính hiện tại của Tổng công ty mới cung cấp thông tin đáng tin
cậy nhưng thiếu tính phù hợp. Nguyên nhân do nguyên tắc giá gốc chi phối việc
trình bày báo cáo tài chính. Theo nguyên tắc này thì tất cả tài sản và công nợ phải
được phản ánh theo giá trị hình thành ban đầu chứ không phản ánh theo giá thị
trường. Cho nên đối với người sử dụng số liệu trên báo tài chính là đáng tin cậy,
nhưng cái họ cần hơn là các thông tin phù hợp, hữu ích về giá trị thị trường của
các tài sản , công nợ đó. Yêu cầu đặt ra đối với kế toán là phải phản ánh thông tin
tài chính theo giá trị thị trường. Vì vậy nên chăng báo cáo tài chính có thể được
trình bày thành ba cột: cột thứ nhất phản ánh theo giá trị gốc ban đầu, cột thứ hai
phản ánh những thay đổi do phản ánh theo giá thị trường và cột thứ 3 là số liệu
tổng cộng của cột một và hai. Bên cạnh đó khi lập các báo cáo kế toán , Tổng công
ty cũng nên cung cấp thông tin về tỷ lệ giữa phần số liệu ước tính và số liệu thực
tế đạt được, Điều này giúp cho thông tin mang tính khách quan đối với người sử
dụng, đồng thời giúp cho doanh nghiệp đánh giá hiệu quả quản lý , đánh giá tính
chính xác của các ước lượng.

Bên cạnh đó các thông tin ngoài báo cáo tài chính cũng có vai trò quan
trọng trong việc phân tích tài chính của Tổng công ty. Các thông tin về tình hình
giá cả thị trường, các chính sách của nhà nước hoặc của đối thủ cạnh tranh cũng
góp phần đáng kể trong việc nhận định tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Ví như trong thời gian qua tình hình giá xăng dầu và giá cả nguyên vật
liệu tăng mạnh làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận của Tổng công ty. Vì vậy các
thông tin trên phải thường xuyên cập nhật để kết hợp với các chỉ tiêu tài chính lý
giải cho tình hình tài chính hiện tại và có kế hoạch kinh doanh trong t ương lai. Có
được như vậy kết quả của công tác phân tích tài chính mới thực sự chính xác và có
ý nghĩa thiết thực đối với các đối tượng quan tâm .

Tổng công ty cần xây dựng báo cáo lưu chuyển tiền tệ toàn doanh nghiệp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đã trở thành báo cáo tài chính bắt buộc trong những
năm gần đây và được quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 - Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ. Nội dung báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin
hữu ích về thực trạng dòng tiền và khả năng tạo tiền của Tổng công ty trong một
thời kỳ nhất định.
Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể tính toán được chỉ tiêu hệ số
tiền ròng từ hoạt động kinh doanh so với tổng dòng tiền ròng; hệ số tiền ròng từ
hoạt động tài chính so với tổng dòng tiền ròng và hệ số tiền ròng từ hoạt động
khác so với tổng dòng tiền ròng. Qua các chỉ tiêu này ta có thể xem xét dòng tiền
từ các hoạt động trên chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng số tiền thu vào kỳ báo cáo
nhờ đó đánh giá hiệu quả và vai trò của các hoạt động sản xuất, hoạt động đầu tư
tài chính và hoạt động khác trong việc tạo ra nguồn thu của doanh nghiệp.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng cho phép Tổng công ty biết và cân đối
khả năng chi trả của mình. Trên cơ sở dòng tiền nhập và xuất quỹ có thể cân đối
ngân qũy với số dư đầu kỳ để xác định số dư cuối kỳ, từ đó thiết lập mức quỹ dự
phòng tối thiểu đảm bảo khả năng chi trả cần thiết. Để lập được báo cáo lưu
chuyển tiền tệ, cần có sự thống nhất trong việc ghi chép số liệu tài chính giữa
Tổng công ty và các đơn vị thành viên, để làm được điều này cần có một số thay
đổi trong việc áp dụng hình thức và nội dung ghi sổ kế toán, ban đầu có thể có một
số khó khăn cho các đơn vị đã quen với cách ghi chép cũ song về lâu dài sẽ tạo sự
thống nhất, thông tin tài chính đáng tin cậy hơn.

3.3.1.4. Xây dựng tổ chức kế toán CIENCO 1 theo mô hình công ty mẹ -
công ty con.

Để đổi mới và phát triển các Tổng công ty nhà nước , phù hợp với xu
hướng phát triển của kinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước ta cố chủ trương củng ,
sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước và thành lập các Tổng công ty, tập đoàn kinh
tế lớn theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Tổng công ty xây dựng công trình
giao thông 1 đã có sự chuẩn bị để hoà nhập với xu thế chung của đất nước. Quan
hệ kinh tế giữa công ty mẹ và các công ty con là quan hệ kinh tế giữa các pháp
nhân bình đẳng, tự nguyện, không tồn tại chế độ trích nộp phí quản lý tổng công ty
, không áp đặt theo kiểu điều lệ mẫu . Kế toán với vai trò là công cụ quan trọng
phục vụ cho quản trị và điều hành doanh nghiệp, thiết kế hệ thống thông tin kinh
tế tài chính phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp chịu
ảnh hưởng của cơ chế chính sách quản lý tài chính và bị chi phối bởi mô hình tổ
chức của tập đoàn. Để phù hợp với mô hình tổ chức quản lý công ty mẹ - công ty
con trong thời gian tới tổ chức kế toán tại Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 1 cần xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu sau:

- Xây dựng tổ chức kế toán phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế, hội nhập kế
toán quốc tế và các nguyên tắc , chuẩn mực quốc tế về kế toán.

- Tổ chức kế toán theo mô hình công ty mẹ - công ty con phải tuân thủ pháp luật,
cơ chế chính sách của Việt Nam, phù hợp với đặc điểm tổ chức, đặc điểm hoạt
động và yêu cầu quản lý cũng như khả năng và trình độ quản lý của doanh
nghiệp.

- Tổ chức công tác kế toán kết hợp hài hoà , đáp ứng yêu cầu quản trị của doanh
nghiệp và yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước.

- Đảm bảo tính hiệu quả và kinh tế của hoạt động kế toán.

3.3.1.4. Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình tài chính

* Hoàn thiện phân tích khái quát tình hình tài chính

- Quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn : thực tế cho thấy khi phân tích các
doanh nghiệp thường tiến hành phân tích tách biệt các chỉ tiêu về tài sản riêng , chỉ
tiêu về nguồn vốn riêng. Nhưng tài sản và nguồn hình thành tài sản có mối quan
hệ gắn bó mật thiết với nhau. Việc xem xét nguồn vốn cho thấy tài sản của doanh
nghiệp hình thành do đâu, phần tài sản cho thấy nguồn vốn này được sử dụng ra
sao, từ đó cho thấy tài sản doanh nghiệp có được hình thành trên nền tảng vững
chắc hay không, có cần phải cân đối lại cơ cầu nguồn vốn cho phù hợp và chủ
động . Đối với Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 qua phân tích báo
cáo tài chính cho thấy: nếu chỉ xem riêng từng phần thì trong năm 2004 quy mô tài
sản và nguồn vốn đều tăng tương đối nhanh ( tổng tài sản cuối năm 2004 tăng
41,83% so với đầu năm 2004) . Nếu xét trong mối quan hệ giữa nguồn vốn và tài
sản thì ta thấy nguồn vốn tăng nhanh chủ yếu do nợ phải trả , trong khi tỷ trọng
vốn chủ sở hữu có tỷ trọng giảm dần. Do vậy Tổng công ty cần bổ sung thêm
nguồn vốn chủ sở hữu nhằm tăng khả năng độc lập về tài chính trong kinh doanh.

- Khi phân tính tình hình tăng giảm vốn chủ sở hữu Tổng công ty cần xác
định tỷ trọng chi tiết của từng loại để biết tác động của từng nguồn vốn đến sự
thay đổi của nguồn vốn chủ sở hữu, ví dụ tại bảng 3.1 cho thấy cuối năm 2004 vốn
chủ sở hữu đã tăng 2,72% so với đầu năm 2004, phần tăng chủ yếu do vốn ngân
sách nhà nước cấp và doanh nghiệp tự bổ sung, điều này cho thấy Tổng công ty đã
có ý thức tiết kiệm, thu hút mọi nguồn tài trợ tăng cường vốn tự có cho sản xuất
kinh doanh. Chi tiết thể hiện tại bảng 3.1.




Bảng 3.1: Tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu năm 2004


Số đầu kỳ Số cuối kỳ Tăng giảm
Số tuyệt đối Số Số tuyệt Số Số Số
chỉ tiêu (triệu đồng) tương đối (triệu tương tuyệt tương
đối (%) đồng) đối (%) đối đối (%)
(triệu
đồng)
I Nguồn vốn kinh doanh 155.220 89,69% 160.454 90,26% 5.234 3,37%
1 Vốn ngân sách cấp 56.327 32,55% 57.328 32,25% 1.001 1,78%
2 Vốn tự bổ sung 98.893 57,14% 103.126 58,01% 4.233 4,28%
II Các quỹ 17.394 10,05% 16.864 9,49% -530 -3,05%
1 Qũy phát triển kinh 8.640 4,99% 7.918 4,45% -722 -8,36%
doanh
2 Quỹ dự trữ + trợ cấp 4.604 2,66% 5.279 2,97% 675 14,66%
mất việc làm
3 Quỹ khen thưởng + 3.772 2,18% 3.667 2,06% -105 -2,78%
phúc lợi
4 Quỹ quản lý cấp trên 378 0,22% 0,00% -378 -
100,00
%
III Nguồn vốn đầu tư 450 0,26% 449 0,25% -1 -0,22%
XDCB
1 Vốn ngân sách cấp 173 0,10% 172 0,10% -1 -0,58%

2 Vốn tự bổ sung 277 0,16% 277 0,16% 0 0,00%

Tổng cộng 173.064 177.767 4.703 2,72%

Trong đó:

*Nguồn vốn kinh doanh 168.915 0 174.101 5.186

- Vốn ngân sách 56.501 57.501 1.000

- Vốn tự bổ sung 112.414 116.600 4.186

*Các qũy 4.151 3.667 -484

Nguồn: báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng công trình giao
thông 1



Việc phân tích các chỉ tiêu tài chính của Tổng công ty cần so với mặt bằng
chung của ngành và của các doanh nghiệp khác để đánh giá khách quan hơn khả
năng tài chính của doanh nghiệp. Ví như theo kết quả phân tích cho thấy tỷ suất tự
tài trợ của Tổng công ty năm 2003 là 0,134 và năm 2004 là 0,103 so với con số
của ngành giao thông vận tải tương ứng là 0,12 cho thấy tình hình thanh toán của
Tổng công ty sáng sủa hơn các đơn vị cùng ngành. Nhưng so với các nhà thầu
quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam với tỷ suất tự tài trợ từ 0,42 đến 0,77 cho
thấy năng lực tài chính của Tổng công ty còn yếu . Điều này có thể làm Tổng công
ty bị mất điểm khi tham gia đấu thầu quốc tế.

* Hoàn thiện phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình bảo đảm nguồn
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh:

Trong điều kiện khó khăn chung của ngành giao thông , việc đảm bảo đủ
nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh là thách thức lớn đối với mỗi doanh nghiệp.
Khi phân tích các chỉ tiêu tài chính liên quan đến nguồn vốn, Tổng công ty đã có
chú trọng phân tích cơ cấu của những nguồn vốn chính đảm bảo cho hoạt động và
sự tăng giảm của nó qua các kỳ , song chưa tiến hành phân loại, liên hệ các nguồn
vốn với nhau trong việc tạo nên tài sản của doanh nghiệp. Việc phân nhóm nhằm
xác định vai trò của từng loại nguồn vốn là cơ sở cho việc định hướng, tổ chức ,
khai thác, sử dụng nguồn vốn hợp lý hơn. Bảng 3.2 minh họa điều này.

Kết quả phân tích cho thấy tỷ trọng nguồn tài trợ thường xuyên của doanh
nghiệp giảm từ 23,35% xuống còn 19,36%, nguồn vốn tài trợ tạm thời của Tổng
công ty tăng từ 76, 65% lên 80,64%. Hiệu số giữa tài sản cố định và nguồn tài trợ
thường xuyên đầu năm là -46.136 triệu động và cuối năm là -36.150 triệu đồng
chứng tỏ Tổng công ty không đủ vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản cố định, do vậy
có thể thấy ngay là doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư vào tài
sản , điều này lý giải cho nguyên nhân của việc tăng mạnh các khoản vay ngắn hạn
để thanh toán cho các khoản nợ đến hạn. Điều đáng mừng là cuối năm tuy hiệu số
này vẫn mang số âm nhưng con số này đã giảm đáng kể chứng tỏ Tổng công ty đã
cố gắng giảm thiểu rủi ro bằng biện pháp chiếm dụng vốn hoặc vay vốn ngắn hạn.




Bảng 3.2: Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình đảm bảo nguồn vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 1 năm 2004


Số đầu kỳ Số cuối kỳ
chỉ tiêu Số tuyệt Tỷ trọng Số tuyệt Tỷ
đối (triệu (%) đối (triệu trọng(%)
đồng) đồng)
I Nguồn vốn
1 Nguồn tài trợ thường xuyên 292.266 23,35% 343.703 19,36%
a Vốn chủ sở hữu 168.105 13,43% 183.417 10,33%
- Nguốn vốn kinh doanh 155.220 12,40% 160.455 9,04%
- Các quỹ và nguồn vốn khác 12.885 1,03% 22.962 1,29%
b Vay và nợ dài hạn 124.161 9,92% 160.286 9,03%
2 Nguồn tài trợ tạm thời 959.245 76,65% 1.431.278 80,64%
a Vay ngắn hạn 940.558 75,15% 1.411.564 79,53%
b Các khoản phải thanh toán 18.687 1,49% 19.714 1,11%
Tổng cộng nguồn vốn 1.251.511 1.774.981
II tài sản
1 Tài sản lưu động 913.109 72,96% 1.395.128 78,60%
a Vốn bằng tiền 94.335 7,54% 111.830 6,30%
0,00% 0,00%
b Đầu tư ngắn hạn 19 19
38,96% 50,42%
c Các khoản phải thu 487.611 894.974
d Hàng tồn kho 231.279 18,48% 282.796 15,93%
e Tài sản lưu động khác 99.865 7,98% 105.509 5,94%
2 Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 338.402 27,04% 379.853 21,40%
Tổng cộng tài sản 1.251.511 1.774.981
So sánh nhu cầu về TSCĐ với nguồn -46.136 -36.150
tài trợ thường xuyên (I1-II2)
So sánh nhu cầu về vốn lưu động với -221.668 -233.794
nguồn tài trợ tạm thời (II1c+II1d-
I2a)
Nguồn: báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông
1

Bảng 3.2 cũng cho thấy kết quả so sánh hiệu số giữa nguồn tài trợ tạm thời
với hàng tồn kho và các khoản phải thu đầu năm là -221.668 triệu đồng chứng tỏ
các khoản nợ ngắn hạn đã dư thừa rất lớn để tài trợ cho tài sản lưu động, đến cuối
năm tình hình chuyển biến theo chiếu hướng xấu số âm lớn hơn -233.794 . Qua sự
phân tích nêu trên có thể thấy tình hình bảo đảm cho tài sản cố định chưa được tài
trợ vững chắc, quy mô vay nợ ngắn hạn cao, Tổng công ty còn sử dụng nhiều
nguồn vốn tạm thời và bị chiếm dụng vốn lớn. Doanh nghiệp cần có biện pháp tích
cực thu hồi công nợ và tìm nguồn vốn ổn định lâu dài cho sản xuất kinh doanh.

* Hoàn thiện phân tích tình hình và khả năng thanh toán

Nghiên cứu thực tế phân tích tình hình và khả năng thanh toán của Tổng
công ty xây dựng công trình giao thông 1 ở chương II cho thấy: chỉ tiêu phân tích
chưa đầy đủ, số liệu phân tích còn xơ xài, chưa đi xâu phân tích quan hệ bên trong
, nguyên nhân căn bản nhằm đánh giá chính xác khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Để hoàn thiện nội dung này, trước hết cần tính toán và phân tích các chỉ
tiêu như lý thuyết đã trình bày ở chương I . Đồng thời cần tiến hành so sánh số liệu
phân tích của kỳ này so với kỳ trước về từng chỉ tiêu , kết hợp với việc xem xét
mức độ biến động của các khoản phải thu, phải trả , mức chi tiêu cho từng đối
tượng , tìm ra nguyên nhân của các khoản nợ khó đòi, các khoản nợ chưa trả. Tổng
công ty cần chú ý đến khả năng tạo tiền, nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tăng giảm
các khoản phải thu và hàng tồn kho. Trong nhiều trường hợp , đây là nguyên nhân
của những khó khăn về khả năng thanh toán mà áp lực của của các khoản nợ đến
hạn trả làm nhu cầu tiền của doanh nghiệp căng thẳng hơn. Lúc này mục tiêu khả
năng thanh toán là quan trọng nhất đối với doanh nghiệp chứ không phải là lợi
nhuận.

Tình hình công nợ của CIENCO 1 quý 2 năm 2005 chi tiết thể hiện ở bảng
3.3, theo đó các khoản phải thu cuối kỳ tăng so với đầu kỳ là 513.126 triệu đồng
với tỷ lệ tăng là 57,33%. Nguyên nhân của việc gia tăng mạnh các khoản phải thu
chủ yếu do phải thu từ khách hàng chiếm quy mô lớn nhất và các khoản phải thu
nội bộ trong Tổng công ty tăng đột biến (100,15%). Chứng tỏ vốn của Tổng công
ty hiện đang bị nợ đọng rất lớn từ khách hàng chính là các chủ đầu tư, đồng thời
vốn của Tổng công ty hiện cũng đang bị các doanh nghiệp thành viên chiếm dụng.
Đây là phản ứng dây chuyền do các doanh nghiệp thành viên hiện cũng đang chưa
thu hồi được vốn đầu tư thi công từ các Chủ đầu tư. Cùng với đó các khoản phải
trả của Tổng công ty cuối kỳ cũng tăng 38,50% so với đầu kỳ phần lớn do vay
ngắn hạn và phải trả nội bộ. Điều này chứng tỏ Tổng công ty đang gặp khó khăn
trong thanh toán phải dùng vốn vay ngắn hạn để trang trải cho hoạt động sản xuất
kinh doanh, khả năng tự chủ thanh toán của doanh nghiệp không cao. Trong tình
hình như vậy nhưng chỉ tiêu phải trả công nhân viên vẫn tăng cao 58,15%, còn
tình hình nộp ngân sách Nhà nước giảm 46,90% chứng tỏ Tổng công ty luôn bảo
đảm đời sống cho người lao động và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Bảng 3.3: Chi tiết tình hình công nợ đến hết quý 2/2005


Số đầu kỳ Số cuối kỳ Tăng giảm
chỉ tiêu Số tuyệt đối Số tuyệt đối Số tuyệt Số tương
(triệu đồng) (triệu đồng) đối (triệu đối (%)
đồng)
I Các khoản phải thu 894.974 1.408.100 513.126 57,33%

1 Phải thu của khách hàng 625.593 948.780 323.187 51,66%

2 Trả trước cho người bán 31.524 38.753 7.229 22,93%

3 Thuế GTGT đợc khấu trừ 24.772 30.690 5.918 23,89%

4 Phải thu nội bộ 170.383 341.024 170.641 100,15%

5 Các khoản phải thu khác 41.973 48.124 6.151 14,65%

6 Dự phòng các khoản phải thu khó 729 729 0 0,00%
đòi
II Các khoản phải trả 1.411.562 1.955.060 543.498 38,50%

1 Vay ngắn hạn 634.949 943.417 308.468 48,58%

2 Nợ dài hạn đến hạn trả 2.552 2.754 201,5 7,90%

3 Phải trả cho người bán 257.022 299.474 42.452 16,52%

4 Người mua trả tiền trước 216.430 227.067 10.637 4,91%

5 Phải nộp ngân sách nhà nước 14.986 7.958 -7.028 -46,90%

6 Phải trả công nhân viên 12.174 19.253 7.079 58,15%

7 Phải trả nội bộ 215.149 395.510 180.361 83,83%

8 Các khoản phải trả, phải nộp khác 58.300 59.628 1.328 2,28%




Khi phân tích chỉ tiêu “hệ số thanh toán nhanh” cần chú ý đến khoản nợ
ngắn hạn phải trả phải bao gồm nợ khác vì trong nợ khác có cả nợ ngắn hạn và nợ
dài hạn. Nhưng trong khoản mục nợ ngắn hạn không có nợ khác. Vì vậy doanh
nghiệp cần tính toán lại chỉ tiêu này để đánh giá đúng khả năng thanh toán của
mình. Việc không tính thêm nợ khác vào nợ ngắn hạn sẽ làm cho hệ số thanh toán
nhanh của doanh nghiệp tăng lên , khả năng thanh toán khả quan hơn, chính xác
hơn.

* Hoàn thiện phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần
phân tích hệ thống chỉ tiêu quả sử dụng vốn phù hợp và thống nhất với công thức
đánh giá hiệu quả chung. Thực trạng phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông dừng lại ở các chỉ tiêu chung trên
báo cáo tài chính phản ánh kết quả kinh doanh của đơn vị . Để hoàn thiện phân
tích hiệu quả sản xuất kinh doanh cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn lưu động và
vốn cố định theo các chỉ tiêu ở bảng 3.4.

Bảng 3.4: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động

Tăng
TT Chỉ tiêu Đơn vị 31/12/2003 31/12/2004
giảm
1 Vốn cố định tr.đồng 338.402 379.852 41.450
2 Vốn lưu động tr.đồng 913.109 1.395.128 482.019
3 Doanh thu tr.đồng 1.114.221 1.341.166 226.945
4 Hiệu quả sử dụng vốn cố định (3/1) 3,293 3,531 0,238
Hiệu quả sử dụng vốn sản lưu động
5 1,220 0,961 -0,259
(3/2)
Nguồn: báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 1

Theo bảng 3.4 thì trong năm 2004 hiệu quả sử dụng vốn cố định tốt hơn
vón lưu động, một đồng vốn lưu động bỏ ra chỉ tạo được 0,961 đồng doanh thu,
việc sử dụng vốn lưu động chưa hiệu quả. Điều này cho thấy cơ cấu vốn lưu động
của Tổng công ty sử dụng chưa hợp lý, Tổng công ty cần có biện pháp đẩy nhanh
tốc độ thanh quyết toán thu hồi công nợ nâng cao hiệu quả kinh doanh. Điều này
có thể thấy rõ hơn qua việc phân tích chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn
lưu động ở bảng 3.5 sau đây:

Bảng 3.5: Phân tích tốc độ luân chuyển vốn lưu động


Tăng
TT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2003 Năm 2004
giảm
1 Vốn lưu động tr.đồng 913.109 1.395.128 482.019
2 Giá vốn hàng bán tr.đồng 1.021.146 1.200.653 179.507
3 Số lần luân chuyển vốn lưu động (2/1) lần 1,12 0,86 -0,26
4 Độ dài bình quân của một lần luân ngày 326 424 98
chuyển vốn lưu động (365/3)



Theo bảng 3.5 thời gian luân chuyển vốn của Tổng công ty tương đối dài
trong năm 2003 vốn luân chuyển đạt 326 ngày, sang năm 2004 do các công trình
cũ chưa hoàn thành nhưng Tổng công ty đã trúng thầu thêm nhiều dự án trọng
điểm quốc gia như cầu Thanh Trì, quốc lộ 1, quốc lộ 5... yêu cầu đầu tư dàn trải,
đồng thời Tổng công ty đã bỏ một lượng vốn khá lớn vào các dự án quan trọng trải
qua nhiều năm chưa quyết toán được.

Như vậy có thể thấy là mặc dù tình hình thanh toán và công nợ của Tổng
công ty gặp khó khăn song khả năng sinh lợi của tài sản cố định vẫn tăng lên,
nhưng thời gian luân chuyển vốn lại chậm đi chứng tỏ vốn bị ứ đọng nhiều. Doanh
nghiệp cần có biện pháp giảm chi phí, giảm lượng hàng tồn kho tăng nhanh vòng
quay của vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian tới

3.3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực đấu thầu

* Thiết lập liên doanh sản xuất vật liệu xây dựng khu vực Miền trung
Chủ trương của Nhà nước phát triển kinh tế và hạ tầng của Miền Trung

ngang bằng với hai đầu đất nước, do vậy từ cuối năm 2000 số lượng các dự án hạ
tầng tại khu vực này có xu hướng tăng lên. Đồng thời với chính sách ưu đãi đầu tư
cho thấy Miền Trung trong tương lai sẽ là trọng điểm của thị trường xây dựng.

Miền Trung là “sân nhà” của CIENCO 4 đối thủ cạnh tranh của CIENCO
1, do vậy để thâm nhập thị trường này đối với CIENCO 1 tương đối khó khăn.
Nếu nhận được công trình tại miền Trung, CIENCO 1 gặp nhiều yếu tố bất lợi như
phải vận chuyển máy móc, thiết bị , thông tin giá cả nguyên vật liệu còn hạn
chế...Đặc biệt các mỏ đất đá thuộc quyền sở hữu của các doanh nghiệp địa
phương. Cho nên khi lập giá đấu thầu chi phí nguyên vật liệu đẩy giá dự thầu lên
cao. Để tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực đấu thầu so với các đối thủ cạnh tranh
tại khu vực CIENCO 1 phải liên doanh với với doanh nghiệp có sẵn mỏ đá ở Miền
Trung . Hiện tại đa phần các doanh nghiệp xây dựng ở Miền Trung đều sở hữu
những mỏ đá lớn chưa có cơ hội khai thác hết. Việc liên doanh với CIENCO 1 sẽ
tạo lợi ích chung cho cả hai bên.

* Tập trung đầu tư thiết bị đặc chủng hiện đại

Để mở rộng đấu thầu sang một số lĩnh vực mới và đón đầu một số dự án
lớn trong tương lai gần CIENCO 1 cần đầu tư các thiết bị tiên tiến đồng bộ đáp
ứng yêu cầu. Trong năm 2004 Tổng công ty đã đầu tư mua mới thiết bị tổng giá
trị lên đến 53, 862 tỷ đồng, trong đó Tổng công ty trực tiếp mua 6, 569 tỷ , bảo
lãnh để các đơn vị vay mua 47,293 tỷ. Số lượng thiết bị đầu tư lớn , nhưng số
lượng thiết bị đặc chủng còn thiếu vẫn phải đi thuê làm giảm tính chủ động trong
điều hành sản xuất, chậm tiến độ, tăng chi phí sản xuất kinh doanh. Tổng công ty
đặc biệt thiếu thiết bị và công nghệ thi công hầm, do vậy khi thi công phải liên
doanh với các đối tác có thiết bị, khi phân chia lợi nhuận có nhiều khó khăn.
Trong thời gian tới Tổng công ty dự định sẽ mua thêm một số dàn khoan cỡ EPC
350 phục vụ thi công hầm phục vụ các dự án hầm giao thông và xe điện ngầm tại
các thành phố lớn.

* Hoàn thiện mô hình tổ chức của các ban quản lý điều hành dự án

Ban điều hành dự án là bộ phận theo dõi, quản lý trực tiếp mỗi dự án. Tổ
chức tốt ban điều hành dự án sẽ tạo điều kiện giảm chi phí , nâng cao hiệu quả và
chất lượng công trình. Hiện tại các ban điều hành dự án của CIENCO 1 tổ chức
mô hình quản lý phân theo chức năng chuyên môn: ngoài giám đốc điều hành và
phó giám đốc điều hành nhân sự còn lại tổ chức theo các phòng như phòng nhân
sự, phòng kỹ thuật, phòng kế toán, phòng kế hoạch...

Ưu điểm của mô hình này là có thể linh hoạt sử dụng nhân viên. Mỗi bộ
phận làm một chức năng chuyên môn riêng trong đó các nhân viên có thể củng cố,
trau dồi và phát triển chuyên môn riêng, việc theo dõi từng phần trong dự án được
thực hiện liên tục, toàn diện từ đầu đến khi kết thúc. Nhược điểm của mô hình là
các bộ phận chuyên môn vận động riêng lẻ theo mục tiêu riêng, hầu như không có
sự liên hệ ràng buộc lẫn nhau dồng thời cũng không có quan hệ với các ban điều
hành khác do vậy việc điều hòa nhân lực, thiết bị giữa các dự án còn hạn chế. Cơ
hội giảm chi phí không thực hiện được làm giảm ưu thế cạnh tranh khi đấu thầu.

Đối với doanh nghiệp khi cùng một lúc phải thực hiện nhiều công trình
trên cùng một địa bàn và trên các địa bàn khác nhau sử dụng mô hình quản lý sau
sẽ mang lại nhiều lợi thế.

Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức ban quản lý điều hành dự án


Giám đốc điều
hành




Phòng Phòng Phòng Phòng
Ban chỉ huy
nhân sự kỹ thuật kế toán kế
trưởng hoạch


Dự án
1




Dự án
2




Dự án
3




Đặc điểm của mô hình trên là mỗi người ( tại mỗi điểm giao của hàng, cột)
cùng chịu sự quản lý của hai thủ trưởng chuyên môn và theo dự án. Nhờ vậy cùng
một lúc ban điều hành có thể quản lý nhiều dự án gần nhau, không phải thành lập
nhiều ban quản lý dự án tiết kiệm nhân lực , chi phí , tài sản, đặc biệt chi phí
chung giảm đáng kể. Nhờ quản lý các dự án mà ban điều hành nắm rõ thông tin về
tiến độ, chất lượng và nhu cầu nhân lực thiết bị, tài chính của các công trình từ đó
có kế hoạch sử dụng điều chuyển hợp lý tối đa các nguồn lực đó, hiệu quả sản xuất
kinh doanh nâng lên rõ rệt, đặc biệt khi có đội ngũ cán bộ năng động nhạy bén
trong công việc. Tuy vậy mô hình này có thể gây chồng chéo trong cách phân
quyền quản lý và không thể áp dụng cho các công trình cự ly cách xa nhau .

3.4 Các điều kiện để thực hiện giải pháp

3.4.1 Điều kiện từ phía doanh nghiệp

Để thực thi thành công các giảỉ pháp nêu trên , Tổng công ty phải xuất phát
từ phân tích đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại và triển vọng trong
tương lai của doanh nghiệp. Từ đó nghiên cứu và lựa chọn chỉ tiêu phân tích tài
chính phù hợp. Muốn vậy cần không ngừng nâng cao và bồi dưỡng trình độ cho
đội ngũ cán bộ và đội ngũ công nhân nói chung, đội ngũ cán bộ phân tích tài chính
nói riêng . Đặc biệt Tổng công ty cần có kế hoạch chọn lọc và tuyển lựa đối với
các cán bộ làm công tác quản lý , công tác đấu thầu và tìm kiếm thị trường , họ
nhất thiết phải là những người am hiểu về công tác quản lý tài chính cũng nh ư đặc
thù cuả ngành, đồng thời có sự năng động, nhanh nhạy với thị trường .

3.4.2 Kiến nghị đối với Nhà nước

Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán và các
văn bản hướng dẫn sao cho hệ thống kế toán Việt Nam ngày một hoàn thiện và
phù hợp với chuẩn mực quốc tế phù hợp với xu thế mở cửa và hội nhập của nước
ta hiện nay. Các cơ quan chức năng cần hoàn thiện hệ thống chế độ kế toán tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo báo đầy đủ cung cấp thông
tin chính xác trung thực phục vụ cho các đối tượng quan tâm.

Nhà nước cần có sự ưu đãi và hỗ trợ thiết thực đối với các nhà thầu trong
nước về vốn như đơn giản các quy định về thủ tục vay vốn, bảo lãnh, thế chấp. .
Có chính sách hỗ trợ lãi suất, tăng thời gian cho vay đối với các dự án tăng cường
năng lưc thiết bị , tài chính của các Tổng công ty xây dựng. Chính phủ cần tạo
điều kiện thanh toán vốn xây dựng cơ bản cho các doanh nghiệp giao thông thực
hiện những công trình trọng điểm, công trình phát triển kinh tế vùng khó khăn
nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp.
Nhà nước cần hoàn thiện các chỉ tiêu trung bình trong ngành xây dựng.
Hiện tại phần lớn các ngành nghề trong đó có ngành xây dựng đều có các chỉ tiêu
nhưng chưa đầy đủ và chính xác. Hệ thống các chỉ tiêu của ngành là căn cứ quan
trọng giúp cho các doanh nghiệp trong ngành đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của mình. Nếu không có hệ thống này đội ngũ phân tích tài chính sẽ gặp
khó khăn trong việc rút ra kết luận về tình hình tài chính của đơn vị mình phục vụ
cho công tác quản lý doanh nghiệp. Do vậy Nhà nước sớm có những quy định cụ
thể hơn trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu trung bình của ngành.

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản