TIỂU LUẬN: Phân tích tình hình tài chính trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng

Chia sẻ: chipchip1122

Điều kiện và tình hình sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến động theo địa bàn và giai đoạn thi công. Cụ thể là trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phẩm của ngành này thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành khác. các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Phân tích tình hình tài chính trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng

 

  1. TIỂU LUẬN: Phân tích tình hình tài chính trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng
  2. Chương I Lý luận cơ bản về phân tích tình hình tài chính trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và năng lực đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng 1.1. Vai trò của phân tích tình hình tài chính trong quản lý tài chính tại các doanh nghiệp xây dựng 1.1.1. Đặc điểm kinh doanh xây dựng Kinh doanh xây dựng có đặc điểm chính là: Điều kiện và tình hình sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến động theo địa bàn và giai đoạn thi công. Cụ thể là trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phẩm của ngành này thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành khác. các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng . Đặc điểm này gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, làm phát sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất, đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chu ý tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, đội ngũ lao động cũng như các yếu tố đầu vào khác. Chu kỳ sản xuất (thời gian thi công công trình xây dựng) thường rất dài chịu ảnh hưởng rất lớn về khí hậu, thời tiết. Điều này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu dài tại công trình đang được xây dựng. Các tổ chức xây dựng thường dễ gặp phải rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vôhình do tiến bộ của khoa học công nghệ. Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp cụ thể thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi trúng thầu vì sản phẩm xây dựng rất đa dạng có tính cá biệt cao, chi phí lớn. Điều này có nghĩa quá trình mua bán xảy ra trước lúc bắt đầu sản xuất .
  3. Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng rất lớn của lợi nhuận chênh lệch do điều kiện của địa điểm xây dựng đem lại. Cùng một loại xây dựng nhưng nếu nó được đặt ở nơi có sản nguồn nguyên liệu, nhân công thì người nhận thầu có nhiều cơ hội giảm bớt chi phi sản xuất và thu được lợi nhuận cao hơn. Việc tiêu thụ sản phẩm xây dựng được tién hành trực tiếp giữa người mua và người bán không qua khâu trung gian. Quá trình cung và cầu xây dựng xảy ra tương đối không liên tục như các ngành khác. Thị trường xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường đầu tư, nhất là lãi suất tín dụng để đầu tư và vào mức thu lợi đạt được của đầu tư. Trong xây dựng không có giá cả thống nhất cho sản phẩm toàn vẹn. Chính sách và chiến lược giá cả của chủ thầu xây dựng thường khó linh hoạt. Từ những đặc điểm kinh doanh sản phẩm xây dựng như trên , công tác tổ chức kinh doanh xây dựng cũng có những nét riêng biệt so với ngành khác cụ thể là: Các giải pháp tổ chức kinh doanh xây dựng có tính cá biệt cao và luôn biến đổi linh hoạt. Sau mỗi lần nhận được công trình mới cần phải một lần thay đổi cơ cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp kèm theo các biện pháp điều hành cho phù hợp với địa điểm xây dựng mới. Các giải pháp tổ chức kinh doanh rất phức tạp và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn về không gian và thời gian. Bộ máy quản lý xây lắp có thể trải rộng trên lãnh thổ, nhất là công trình trải rộng trên các tuyến dài. Thời gian xây dựng một công trình kéo dài qua nhiều năm. Việc phối hợp giữa các đơn vị thi công đòi hỏi trình độ quản lý cao. Quá trình tổ chức quản lý kinh doanh dễ bị gián đoạn do khoảng cách lớn, do thời tiết, do nhận thầu công trình không liên tục, do suy thoái kinh tế. Việc duy trì lực lượng lao động trong thời gian không có việc làm là một điều khó khăn. Công tác quản lý sản xuất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào chủ đầu tư, vào khả năng thắng thầu và khó chủ động hơn các ngành khác. Sự vận động của các quy luật kinh tế thị trường trong xây dựng cơ bản có một số đặc điểm khác với các ngành khác nên chiến lược marketing về sản phẩm,
  4. về giá, vệ tiêu thụ, cạnh tranh , chiến lược thị trường cũng có những đặc điểm riêng biệt. 1.1.2. Yêu cầu quản lý tài chính trong doanh nghiệp xây dựng Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động , thậm chí có thể là tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ thuộc vào khả năng, trình độ của người quản lý, sau nữa nó phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, vào cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Để sử dụng tốt công cụ tài chính, phát huy vai trò tích cực của chúng trong sản xuất kinh doanh, cần thiết phải tổ chức quản lý tài chính. Tổ chức quản lý tài chính là việc hoạch định chiến lược về sử dụng tài chính và hệ thống các biện pháp để thực hiện chiến lược đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: Thứ nhất: quản lý tài chính trong doanh nghiệp xây dựng phải tôn trọng luật pháp. Trong nền kinh tế thị trường mục tiên chung của mọi doanh nghidn’deeuf hưóng tới lợi nhuận tối đa. Một mặt, đây là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy cạnh tranh tăng trưởng kinh tế . Mặt khác, để đạt được lợi nhuận tối đa, các doanh nghiệp có thể bất chấp tất cả thậm chí điều đó có thể phương hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích của doanh nghiệp khác. Từ đó dẫn đến sự hỗn loạn trật tự xã hội và đó cũng chính là dấu hiệu của suy thoái kinh tế. Vì vậy song song với “bàn tay vô hình ” của nền kinh tế thị trường dứt khoát phải có một “bàn tay hữu hình” của Nhà nước diều chính nền kinh tế. Một nền kinh tế hoàn hảo cần thiết phải tồn tại cả hai cơ chế: thị trường và sự quản lý của Nhà nước , cũng ví như tiêng vỗ tay thì không thể thiếu một bàn tay. Thứ hai: quản lý tài chính trong doanh nghiệp xây lắp cần tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Hạch toán kinh doanh chỉ có thể phát huy được tác dụng trong môi trường đích thực của nó là nền sản xuất hàng hoá mà dỉnh cao là kinh tế thị trường. Sở dĩ như vậy là vì yêu cầu tối cao của nguyên tắc này (lấy thu bù chi) đã hoàn toàn trùng hợp với
  5. mục tiêu của các doanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa. Do có sự thống nhất đó nên trong nền kinh tế thị trường hạch toán kinh doanh không chỉ có điều kiện để thực hiẹn mà còn là yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nếu như không muốn mình bị phá sản. Để thực hiện dược yêu cầu lấy thu bù chi và có lãi của nguyên tắc này, việc quản lý tài chính của doanh nghiệp phải hướng vào hàng loạt các biện pháp như chủ động tận dụng, khai thác các nguồn vốn , bảo toàn và phát huy có hiệu quả đồng vốn, việc đầu tư vốn phải bám sát nhu cầu thị trường ... tất cả những biện pháp đó đều nhằm thực hiện một mục đích xuyên suốt quá trình kinh doanh là kinh doanh phải có hiệu quả . Thứ ba: quản lý tài chính doanh nghiệp xây dựng phải đảm bảo thu hút các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của doanh nghiệp . Để thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có một yếu tố tiền đề đó là vốn điều kiện. ở nước ta, chuyển sang nền kinh tế thị trường đa thành phần, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn là một bộ phận cùng song song cùng tồn tại trong cạnh tranh... Việc thu hút vốn cho đầu tư phát triển những ngành nghề mới nhằm thu lợi nhuận cao trở thành động lực và đòi hỏi bức bách đối với doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường khi đã có nhu cầu vốn tất yếu nảy sinh cung ứng vốn. Thị trường vốn tất yếu được hình thành và quy luật cung cầu về vốn sẽ có môi trường để hoạt động. Trong điều kiện đó các doanh nghiệp có đầy đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác, thu hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và phát triển của mình. Vấn đề ở đây là người quản lý phải xác nhận chính xác nhu cầu vốn, cấn nhắc, lựa chọn các phương án đầu tư sao cho có hiệu quả cao, lựa chọn các hình thức thu hút thích hợp, sử ụng các đòn bẩy kinh tế như lãi suất vay, lợi tức cổ phần...để đủ sức huy động vốn kinh hoạt, sử dụng các nguồn vốn và cân dối khả năng thanh toán... Thứ tư: quản lý tài chính trong xây dựng phải giữ vững nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả. Cũng như đảm bảo vốn, việc tổ chức và sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triên của doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra trước mối doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khăt khe: sản xuất theo giá
  6. thị trường, bán nhữg sản phẩm (bao gồm hàng hoá và dịch vụ) mà thị trường cần và chấp nhận được, chứ không thể bán cái mà doanh nghiệp không có. Để đáp ứng được điều đó, người quản lý một mặt phải bảo toàn được số vốn bảo ra mặt khác phải sử dụng các biện pháp nhằm tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn. Để thực hiện yêu cầu này, cán bộ quản lý tài chính doanh nghiệp phải sử dụng cả hai chức năng phân phối và chức năng giám đốc của tài chính. Thứ năm: quản lý tài chính cần phải giữ đảm bảo an toàn phòng ngừa rủi ro bát trắc. Đảm bảo an toàn đề phòng những rủi ro, bất chắc được coi là một trong những nguyên tắc kinh doanh nói chung, trong quản lý tài chính doanh nghiệp nói riêng. Đảm bảo an toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh có hiệu quả. Nguyên tắc an toàn cần được quán triệt trong mọi khâu của quá trình quản lý: an toàn trong việc chọn nguồn vốn, an toàn trong góp vốn đầu tư liên doanh, an toàn trong sử dụng vốn. Để đảm bảo an toàn, trước khi ra một quyết định tài chính cần cân nhắc, xem xét trên nhiều phương án, góc độ khác nhau. Thứ sáu: quản lý tài chính doanh nghiệp luôn phải giữ “chữ tín”. Đây là một tiêu chuẩn đạo đức, thể hiện văn hoá trong kinh doanh và là tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong quản lý tài chính. Trong thực tế đã cho thấy kẻ làm mất chữ tín, chỉ tham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng xa lánh. Đó là một nguy cơ dẫn tới phá sản. Trong quản lý tài chính doanh nghiệp, để giữ chữ tín cần nghiêm túc, tôn trọng kỷ luật thanh toán, các điều khoản trong hợp đồng kinh tế, các cam kết trong liên doanh góp vốn và phân chia lợi nhuận. 1.1.3. Vai trò của phân tích tình hình tài chính trong quản lý tài chính tại các doanh nghiệp xây dựng Tài chính doanh nghiệp: là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc huy động, tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh. Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ. Qua đó người sử dụng thông tin có thế đánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp , nắm vững
  7. tiềm năng, xác định chính xác hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai và triển vọng của doanh nghiệp . Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp không những cho biết tình hình tài chính doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấy kết quả hoạt động mà đạt được trong hoàn cảnh đó. Mục đích của phân tích tình hình tài chính giúp cho người sử dụng thông tin đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp. Do đó phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như ban giám đốc, hội đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ động, các chủ nợ, các khách hàng chính, người cho vay, các ngân hàng, các nhà quản lý, các nhà bảo hiểm, các đại lý... kể cả các cơ quan Nhà nước và bản thân người lao động . Tuy nhiên trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hiện nay, các doanh nghiệp xây lắp cũng như các doanh nghiệp ở Việt Nam khác đều bình đẳng trong kinh doanh. Tình hình tài chính của doanh nghiệp xây dựng không chỉ là mối quan tâm đặc biệt của chủ đầu tư mà còn là quan tâm của nhiều đối tượng khác. Sự quan tâm này dưới nhiều góc độ khác nhau, song nhìn chung đều tập trung vào khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa, mức độ rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp.... Bởi vậy phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu chính sau: Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp và các chủ doanh nghiệp mối quan tâm của họ là lợi nhuận và khả năng thanh toán, việc phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin nhằm đánh gá tình hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng đắn. Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng mối q uan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp . Họ đặc biệt chú ý đến lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thanh tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng chú ý tới l ượng
  8. vốn chủ sở hữu, bởi vốn chủ sở hữu là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sắn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không đảm bảo chắc chắn rằng khoản vay đó co thể và sẽ được thanh toán ngay khi đến hạn. Đối với các nhà cung cấp vật tư, thết bị hanhg hoá, dịch vụ họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hay không. Phân tích tình hình tài chính cho thấy khả năng thanh toán hiện tại và sắp tới của khách hàng. Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâp của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi , khả năng thanh toán vốn của doanh nghiệp , mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn, khả năng điều hành và hiệu quả công tác quản lý. Phân tích tình hình tài chính cung cấp thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư. Ngoài ra tình hình tài chính doanh nghiệp cũng thu hút sự quan tâm của các cơ quan quản lý Nhà nước như thuế, tài chính, thống kế, chủ quản ... bởi nó cũng liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của họ trong việc hướng dẫn, tư vấn, kiểm tra việc thực hiện các thể lệ, chế độ chính sách do họ đề ra đối với doanh nghiệp . Như vậy, vai trò quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là giúp những người ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp . 1.2. Nội dung phân tích tình hình tài chính với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp xây dựng 1.2.1.Thu thập thông tin trong phân tích tình tình tài chính Trong phân tích tình hình tài chính cần phải thu thập và sử dụng mọi nguồn thông tin từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài , từ những thông tin số lượng đến những thông tin giá trị. Tuy nhiên để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính doanh nghiệp có thể sử dụng thông
  9. tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là nguồn thông tin quan trọng hàng đầu. Thông tin kế toán được phản ánh tương đối đầy đủ trong báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính: là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và hế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị. (Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính). Hệ thống báo cáo tài chính được tổng hợp và trình bầy một cách tổng quát và toàn diện tình hình tài sản, công nợ nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp trong một kỳ hạch toán. Thông tin do báo cáo tài chính cung cấp cho phép đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp xây lắp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai. Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp xây dựng của các chủ doanh nghiệp , chủ sở hữu, các nhà đầu tư , các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp . Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ban hành theo Quyết định sô 167/2000/QĐ-BTC ngày 25 tháng 10 năm 2000 của Bộ trưởng bộ Tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Nội dung và kết cấu cụ thể như sau: * Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng hợp quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị và nguồn hình thành tài sản ở một thời điểm nhất định. Như vậy Bảng cân đối kế toán phản ánh mối quan hệ cân đối tổng thể giữa “tài sản” và “nguồn vốn” của doanh nghiệp, thể hiện phương trình kế toán cơ bản : Tài sản = nợ phải trả + nguồn vốn chủ sở hữu Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị tài sản và nguồn vốn tại một thời điểm . Thời điểm đó thường vào ngày cuối cùng của kỳ hạch toán . Tuy vậy so
  10. sánh số liệu giữa hai thời điểm trên bảng cân đối kế toán cũng co thể thấy được một cách khái quát sự biến động của tài sản , nguồn vốn của doanh nghiệp trong kỳ. Bảng cân dối kế toán là tài liệu quan trọng phản ánh một cách tổng quát năng lực tài chính, tình hình phân bổ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như triển vọng kinh tế tài chính trong tương lai. Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần (có thể kết cấu theo kiểu hai bên hoặc một bên) là phần “tài sản” và phần ”nguồn vốn”. Phần tài sản: phản ánh toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp đến cuối kỳ hạch toán đang tồn tại dưới các hình thái và trong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh. Các chỉ tiêu phản ánh trong phần tài sản được sắp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản của doanh nghiệp trong quá trình tái sản xuất . Về mặt kinh tế: Các chỉ tiêu phản ánh bên có thể hiện giá trị tài sản theo kết cấu hiện có tại doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo như tài sản (TSCĐ, vật liệu, hàng hoá, ...), tiền tệ (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng,...) các khoản đầu tư tài chính hoặc dưới hình thức nợ phải thu ở tất cả các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất, kinh doanh (thu mua, tiêu thụ, ...) Căn cứ vào nguồn số liệu này, trên cơ sở tổng số tài sản và kết cấu tài sản hiện có mà đánh giá một cách tổng quát quy mô tài sản, năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý: Các chỉ tiêu bên Tài sản phản ánh toàn bộ số tài sản hiện có đang thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng của doanh nghiệp. Phần “Nguồn vốn” phản ánh “nguồn hình thành” các loại tài sản của doanh nghiệp đến cuối kỳ hạch toán. Các chỉ tiêu ở phần nguồn cốn được sắp xếp theo từng nguồn hình thành tài sản của đơn vị (nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp - vốn chủ sở hữu), nguồn đi vay, nguốn vốn chiếm dụng,... Tỷ lệ và kết cấu của từng nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Về mặt kinh tế: Số liệu phần “Nguồn vốn” của Bảng Cân đối kế toán thể hiện quy mô, nội dung, thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
  11. Về mặt pháp lý: Số liệu của các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về số tài sản đang quản lý, sử dụng đối với Nhà nước, với cấp trên (về nguồn vốn của Nhà nước) với các nhà đầu tư, với cổ đông, với liên doanh, với ngân hàng, tổ chức tín dụng (về các khoản vốn vay) với khách hàng, với các đơn vị kinh tế khác. ở cả hai phần ngoài cột chỉ tiêu còn có các cột phản ánh mã số của chỉ tiêu, cột số đầu năm và số cuối kỳ. * Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Báo cáo ”Kết quả hoạt động kinh doanh “là một báo cáo kế toán tài chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế giá trị gia tăng bán hàng nội địa trong một kỳ kế toán. “Báo cáo kết quả kinh doanh”cũng là báo cáo tài chính quan trọng cho nhiều đối tượng khác nhau nhằm phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, có thể kiểm tra được tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các ký khác nhau. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần: - Phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ hoạt động (Phần I: Lãi lỗ) phần này có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập chi phí của từng hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu thuộc phần này đều được theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và quý kể từ đầu năm. - Phần phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản phải nộp khác (Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước). Các chỉ
  12. tiêu ở phần này cũng được chi tiết thành số còn phải nộp kỳ tr ước, số phải nộp kỳ này, số đã nộp trong kỳ này và số còn phải nộp đến cuối kỳ này cùng với số phải nộp, số đã nộp luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo. - Phần phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá trị gia tăng bán hàng nội địa (Phần III “Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng được hoàn lại, thuế GTGTđược giảm, thuế GTGT bán hàng nội địa’). Phần này chi tiết các chỉ tiêu liên quan đến thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, đã hoàn lại, được giảm, đã giảm và số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ, còn được hoàn lại, còn được giảm cuối kỳ... * Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Chuẩn mực kế toán Việt nam số 24 - “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” trên bao gồm tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn, còn các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng kể từ ngày mua khoản đầu tư đó), có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền nhất định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đến thành tiền (Kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi...). Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. * Thuyết minh báo cáo tài chính. Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành của hệ thống thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được. Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp; nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn đế áp
  13. dụng; tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng; phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp. Mặc dù mỗi loại báo cáo tài chính cung cấp những thông tin khác nhau, nhưng không báo cáo nào chỉ phục vụ cho một mục đích hoặc cung cấp thông tin cần thiết để đáp ứng mọi yêu cầu sử dụng. Mỗi báo cáo trong hệ thống báo cáo tài chính có mối liên hệ tương hỗ lẫn nhau, chúng phản ánh những khía cạnh khác nhau của cùng một nghiệp vụ, cùng một sự kiện. Vì vậy để đánh giá đúng đắn về thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp phải xem xét các báo cáo tài chính trong một hệ thống và thực hiện phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính của nó. 1.2.2. Hiệu quả quản lý tài chính Để hiểu khái niệm hiệu quả quản lý tài chính trước hết cần xem xét khái niệm hiệu quả. Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau nên hình thành nhiều khái niệm khác nhau như hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội, hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tương đối, hiệu quả tuyệt đối...Xét theo góc độ chủ thể nhận được kết quả (lợi ích) và bỏ ra chi phí để có được kết quả có khái niệm hiệu quả quản lý tài chính. Hiệu quả quản lý tài chính: phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra , trình độ sử dụng các nguồn lực để có được lợi ích kinh tế. Hiệu quả quản lý tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp , các nhà đầu tư. Hiệu quả quản lý tài chính chỉ liên quan đến việc thu chi có liên quan trực tiếp. 1.2.3. Đánh giá khái quát tình hình tài chính Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định chung về tình hình tài chính doanh nghiệp. Công việc này sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp có khả quan hay
  14. không.Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp được thực hiện thông qua các chỉ tiêu. 1.2.3.1. Phân tích tình hình biến động của tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp * Phân tích tình hình biến động về quy mô tài sản và nguồn vốn Để đánh giá trước hết tiến hành so sánh tổng số nguồn vốn, tổng tài sản của kỳ so với đầu năm cho thấy quy mô của tài sản cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra cần xem xét biến động từng khoản mục trong tổng tài sản hoặc nguồn vốn để thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình kinh doanh. Có thể lập bảng phân tích theo mẫu sau: Bảng 1.1 Phân tích tình hình biến động quy mô tài sản Tăng giảm Tài sản Số đầu năm Số cuối năm Số tuyệt đối Số tương đối (%) A. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn (100=110+120+130+1 40+150+160) I. Tiền
  15. II Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn III Các khoản phải thu IV Hàng tồn kho . V Tài sản lưu động khác VI Chi sự nghiệp B. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn (200=210+220+230+2 40+241) I Tài sản cố định II Các khoản đầu tư tài chính dài hạn III Chi phí xây dựng cơ bản dở dang IV Các khoản ký quỹ, ký . cược dài hạn Tổng cộng tài sản (250=100+200) Bảng 1.2 : Phân tích tình hình biến động quy mô nguồn vốn
  16. Tăng giảm nguồn vốn Số đầu năm Số cuối năm Số tuyệt đối Số tương đối (%) A. Nợ phải trả (300=310+320+330) I. Nợ ngắn hạn II Nợ dài hạn III Nợ khác B.Nguồn vốn chủ sở hữu (400=410+420) I. Nguồn vốn , qũy II Nguồn kinh phí, qũy khác Tổng cộng nguồn vốn (430=300+400) 1.2.3.2. Phân tích quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Trên lý thuyết, nguồn vốn của một doanh nghiệp luôn bảo đảm đầy đủ cho mọi hoạt động có nghĩa là: Tài sản lưu động + Tài sản cố định = Nguồn vốn chủ sở hữu Nếu lấy ký hiệu trên bảng cân đối kế toán ta có : (I + IV + V + VI)A tài sản + IB tài sản = B nguồn vốn chủ sở hữu Trong thực tế hiếm có doanh nghiệp nào được như vậy mà thường chỉ xảy ra một trong hai trường hợp sau: Trường hợp 1: (I + IV + V + VI)A tài sản + IB tài sản > B nguồn vốn chủ sở hữu
  17. Thể hiện doanh nghiệp thiếu vốn để trang trải cho tài sản của mình. Để hoạt động kinh doanh bình thường , doanh nghiệp phải huy động thêm vốn từ các khoản vay hoặc đi chiếm dụng vốn từ đơn vị khác. Trường hợp 2: (I + IV + V + VI)A tài sản + IB tài sản < B nguồn vốn chủ sở hữu Trường hợp này vốn chủ sở hữu không sử dụng hết cho tài sản, nên đã bị các đối tượng và doanh nghiệp khác chiếm dụng hoặc số vốn thừa được doanh nghiệp đầu tư cho các hoạt động khác ngoài sản xuất . 1.2.3.3. Vốn luân chuyển thuần (hoạt động thuần) là chỉ tiêu phản ánh phần chênh lệch giữa tổng giá trị thuần của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với tổng số nợ ngắn hạn.Một doanh nghiệp muốn hoạt động không bị gián đoạn thì cần thiết phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để thỏa mãn các khoản nợ ngắn hạn, dự trữ hàng tồn kho đầy đủ. Vốn hoạt động thuần càng lớn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao. Tuy nhiên nếu vốn hoạt động thuần quá cao sẽ làm giảm hiệu quả đầu tử vì lượng tài sản lưu động quá nhiều so với nhu cầu và vì phần dư này không làm tăng thêm thu nhập doanh nghiệp. Tổng giá trị thuần của Tổng số nợ Vốn hoạt động = - TSLĐ và đầu tư ngắn hạn ngắn hạn thuần 1.2.4. Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 1.2.4.1. Phân tích cơ cấu nguồn vốn: Phân tích cơ cấu nguồn vốn là việc xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm tổng số nguồn vốn cũng như xu hướng biểu tượng của từng nguồn vốn cụ thể. Qua đó đánh giá sự biến động về mặt tài chính cũng như mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp đủ khả năng tự chủ về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ (Ngân hàng, nhà cung cấp) là cao. Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn (cả về số tuyệt đối và tương đối) thì khả năng đảm bảovề mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp.
  18. Khi phân tích cơ cấu nguồn vốn cần tính ra và so sánh tỷ trọng của từng nguồn vốn chiếm trong tổng số giữa cuối kỳ so với đầu năm, giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, dựa vào xu hướng báo động về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn để nhận xét về mức độ bảo đảm và độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và tương đối theo từng nguồn vốn cụ thể để nhận xét. Cũng qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà phân tích nắm được các chỉ tiêu liên quan đến tình hình tài chính doanh nghiệp. Từ đó giúp các nhà phân tích có cơ sở để xác định đúng tính hợp lý về cơ cấu nguồn vốn và xu hướng hoạt động của cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Có thể sử dụng bảng phân tích theo bảng 1.3 như sau: Bảng 1.3: Mẫu phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Số đầu kỳ Số cuối kỳ nguồn vốn Số tuyệt Tỷ trọng Số tuyệt Tỷ đối (%) đối trọng(%) A Nợ phải trả I Nợ ngắn hạn II Nợ dài hạn III Nợ khác B Nguỗn vốn chủ sở hữu I Nguỗn vốn qũy II Nguồn kinh phí, quỹ khác Tổng cộng nguồn vốn (tài liệu sử dụng để phân tích là Bảng cân đối kế toán phần “nguồn vốn” 1.2.4.2. Phân tích tình hình biến động về cơ cấu tài sản Phân tích cơ cấu về tài sản là chỉ tiêu hết sức có ý nghĩa. Một doanh nghiệp có cơ cấu tài sản hợp lý không những sử dụng hiệu quả mà còn tiết kiệm được vốn trong kinh doanh. Việc phân tích thông qua lập bảng theo mẫu sau:
  19. Bảng 1.4: Mẫu phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Số đầu kỳ Số cuối kỳ tài sản Số tuyệt Tỷ trọng Số tuyệt Tỷ đối (%) đối trọng(%) A Tài sản lưu động I Vốn bằng tiền II Đầu tư ngắn hạn III Các khoản phải thu IV Hàng tồn kho V Tài sản lưu động khác B Tài sản cố định và đầu tư dài hạn Tổng cộng tài sản (tài liệu sử dụng để phân tích là Bảng cân đối kế toán phần “tài sản”
  20. 1.2.4.3. Phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có tài sản. Các tài sản này được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay - nợ. Việc cung ứng đầy đủ nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh liên tục và có hiệu quả. Do vậy cần phải tập hợp các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động và hình thành nguồn vốn. Có thể phân loại nguồn vốn (nguồn tài trợ) tài sản dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành 02 loại: - Nguồn tài trợ thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Nguồn tài trợ thường xuyên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay - nợ dài hạn , trung hạn ( trừ vay, nợ quá hạn ). - Nguồn tài trợ tạm thời: là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động kinh doanh trong khoảng thời gian ngắn. Nguồn tài trợ tạm thời bao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay - nợ quá hạn kể cả các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người mua, của người lao động... Các nguồn vốn bảo đảm cho hoạt động sản xuất - kinh doanh (nguồn tài trợ tài sản) của doanh nghiệp được thể hiện khái quát qua bảng 1.5: Bảng 1.5 : Các nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp TSCĐ - TSCĐ hữu hình Vốn chủ sở hữu - TSCĐ vô hình Tổng Thường Nguồ - Vay dài hạn trong hạn xuyên số tài n tài -TSCĐ thuê mua - Nợ dài hạn, trung hạn sản trợ - Đầu tư dài hạn.
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản