Tiểu luận: Phân tích vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

2
538
lượt xem
125
download

Tiểu luận: Phân tích vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngay từ khi ra đời Đảng ta đã khẳng định một tuyên ngôn đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng duy nhất có đường lối đúng đắn, đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên XHCN. Không phải ai trong chúng ta cũng có thể biết và hiểu được vai trò của Đảng, không phải ai cũng có thể thấy hết được những khó khăn mà Đảng ta đã từng trải nghiệm. Vì vậy nhóm em xin chọn đề tài “Phân tích vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Phân tích vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành

  1. Tiểu luận Phân tích vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành -1-
  2. LỜI NÓI ĐẦU Ngay từ khi ra đời Đảng ta đã khẳng định một tuyên ngôn đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng duy nhất có đường lối đúng đắn, đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên XHCN. Không phải ai trong chúng ta cũng có thể biết và hiểu được vai trò của Đảng, không phải ai cũng có thể thấy hết được những khó khăn mà Đảng ta đã từng trải nghiệm. Vì vậy nhóm em xin chọn đề tài “Phân tích vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành”. Qua đề tài này chúng em muốn làm rõ hơn vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị. Đề tài này được hoàn thành trong khoảng thời gian có hạn, nguồn tư liệu tiếp cận còn hạn chế chính vì vậy sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để giúp chúng em hoàn thiện được kiến thức của mình. Chúng em xin chân thành cảm ơn! -2-
  3. NỘI DUNG I. Khái niệm về hệ thống chính trị và đặc điểm của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. 1. Khái niệm hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị. Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức, các thiết chế với tư cách là chủ thể của các quyết định chính trị. Hệ thống có tính hợp pháp, là hệ thống tổ chức được Hiến pháp, pháp luật quy định, được xã hội, Nhà nước thừa nhận, không đối lập với Nhà nước, pháp luật, chế độ chính trị hiện hành. Các tổ chức, thiết chế trong hệ thống có mục địch, chức năng thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị; thực hiện hoặc tham gia vào các quyết định chính trị, vào việc thực hiện các chính sách quốc gia. Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt các tổ chức của hệ thống chính trị với các tổ chức có mục đích hoặc chức năng kinh tế - xã hội rất đa dạng khác. Cấu trúc của hệ thống chính trị rất đa dạng, nhưng cơ bản bao gồm ba bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân. Trong đó, Đảng chính trị khi đã trở thành Đảng cầm quyền, được Nhà nước bảo trợ, hoạt động tuân theo luật pháp, nhưng mang tính tự nguyện, tự chủ và tự quyết, lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân vào đời sống chính trị, đảm nhận những công việc mà Nhà nước không làm được hoặc làm kém hiệu quả. 2. Đặc điểm hệ thống chính trị ở Việt Nam Ở Việt Nam, hệ thống chính trị ra đời từ sau Cạch mạng tháng Tám và sự hình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Hệ thống chính -3-
  4. trị hiện nay là kết quả của quá trình Cách mạng, quá trình đấu tranh của nhân dân ta vì độc lập, tự do, lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Khái niệm hệ thống chính trị được Đảng ta sử dụng từ Hội nghị Trung ương khóa VI (thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”). Hệ thống đó bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Hệ thống chính trị ở nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý nhân dân làm chủ. Trong đó, Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống đấy, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, do Đảng lãnh đạo có chức năng thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và quản lý đất nước. Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, làm chủ thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại biểu và hình thức tự quản. II. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị ở Việt Nam. 1. Cơ sở lí luận 1.1 Dựa trên cơ sở học thuyết Mác – Lê-nin. Theo học thuyết Mác- Lênin, nhà nước XHCN ra đời là kết quả của cuộc cách mạng xã hội mà lực lượng chính là liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân với tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Đảng Cộng Sản là đội ngũ tiền phong của giai cấp công nhân, theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc. Bởi vậy, nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN. Bên cạnh đó, Đảng Cộng Sản là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích và trí tuệ của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động; nhà nước XHCN lại là nhà nước đại diện cho toàn thể nhân dân lao -4-
  5. động trong xã hội. Vì vậy, Đảng Cộng Sản đóng vai trò lãnh đạo trong hệ thống chính trị là điều tất yếu. Theo Mác, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chỉ được thực hiện khi những chủ trương, đường lối của Đảng Cộng Sản được thực hiện. Như vậy, với tư cách là nhà nước của nhân dân lao động, các nước XHCN phải tuyệt đối đi theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, các chủ trương chính sách của Đảng phải được thể chế hoá và đưa vào thực hiện trong đời sống. Như vậy, trong hệ thống chính trị, Đảng đóng vai trò lãnh đạo một cách toàn diện, từ công tác tổ chức đến mọi hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo Mác, Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng không phải là người làm thay công việc của nhà nước. Trên cơ sở chủ trương, định hướng của Đảng, nhà nước ra quyết định thực hiện nội dung quyết định đó, chịu trách nhiệm về quyết định đó. Do những chủ trương, chính sách của Đảng được thể chế hoá trong Hiến pháp nên làm trái những chủ trương, đường lối của Đàng cũng được coi là vi phạm Hiến pháp. 1.2 Dựa trên cơ sở của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ phát huy khi đ ược tập hợp, đoàn kết và được lãnh đạo bởi một tổ chức chính trị là Đảng Cộng Sản. Hồ Chí Minh khẳng định: “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận. Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi”, nếu không có Đảng lãnh đạo thì giai cấp không thể làm cách mạng được. Trong cuốn Đường cách mệnh xuất bản năm 1972, Hồ Chí Minh viết: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”. Câu hỏi như cho mọi người thấy sự cần thiết phải có Đảng đến nhường nào. Điều này được rút ra từ kinh nghiệm trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng ở nước ngoài của Hồ Chí Minh. Người đã nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của một chính Đả ng cách mạng và Người đã chuyển nhận thức đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. -5-
  6. Người cho rằng: “Muốn thoát khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và nhận định phương châm cho đúng”. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1 Trong các văn kiện đầu tiên của Đảng Nội dung cơ bản của Sách lược văn tắt nêu lên những nhận thức đúng đắn về vai trò của Đảng. Nguyên văn văn kiện như sau: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ - phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. - Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cà nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trục bọn đại địa chủ và phong kiến. - Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư sản quốc gia. - Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phản lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến,…) thì phải đánh nó. Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp, trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bứa và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp. 2.2 Trong những bản Hiến pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị luôn được thể hiện trong các bản Hiến pháp. - Trong Hiến pháp 1946 mặc dù không có một điều khoản riêng quy định về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị nhưng thông qua chế -6-
  7. định chủ tịch nước và với vị trí, vai trò đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam và là vị chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam, nên các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đã tổ chức thực hiện thắng lợi. - Hiến pháp 1959 đã thực hiện quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị trong phần Lời nói đầu của Hiến pháp: “…dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao Động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà…”. - Trong Hiến pháp 1980 đã thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng một cách cụ thể cả trong phần Lời nói đầu và tại Điều 4 của Hiến pháp. Lần đầu tiên, thuật ngữ mới “Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng” được sử dụng. Hiến pháp 1992, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 có cách thể hiện ngắn - gọn, chặt chẽ và đầy đủ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và hệ thống chính trị. Điều 4 của Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Đảng Cộ ng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa C.Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. 3. Tính tất yếu phải có sự lãnh đạo của Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trưởng thành và phát triển đến nay đã hơn 70 năm. Đó là một chặng đường đầy gian lao, khó khăn và thử thách. Nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn cách mạng với nhiệm vụ, tính chất và nội dung khác nhau Đảng ta đều vượt qua và giành thắng lợi. Lịch sử đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ -7-
  8. XX và qua những thành tựu trong công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội trong 25 năm qua. 3.1 Công lao của Đảng và Cách mạng Việt Nam. Trong thời chiến, ngay từ khi ra đời Đảng đã có sứ mệnh to lớn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân, đoàn kết tập hợp cùng kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Đảng là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng nước ta đã có được những thành tích đáng tự hào: đánh bại hai cường quốc lớn trên thế giới là Pháp (1945 – 1954) và M ỹ (1954 – 1975) để giành độc lập dân tộc; Đảng tiếp tục dẫn dắt Cách mạng bảo vệ biên giới trong cuộc chiến Biên giới với Trung Quốc (1979)…. Nói tóm lại, Đảng làm nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và đi đến thắng lợi cuối cùng để giành độc lập cho Tổ quốc. 3.2 Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Trong hệ thống chính trị của Việt Nam, Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị. Quyền lực của nhân dân có được thực hiện hay không là một nội dung cơ bản nói lên vai trò, uy tín và trình độ lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng Sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội là vì: - Vì Đảng mang trong mình bản chất giai cấp công nhân và đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời trước hết với tư cách là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào yêu nước và phong trào cách mạng. Đây chính là đặc thù riêng biệt của Đảng Cộng Sản Việt Nam bởi không có một Đảng nào trên thế giới ra đời có sự kết hợp của ba yếu tố trên. Nhìn nhận về lịch sử đấu tranh giành độc lập ta thấy muốn giải phóng và xây dựng thành công XHCN, Đảng ta đồng thời phải giải phóng toàn thể nhân dân lao động,…. -8-
  9. Lợi ích của mọi tầng lớp cơ bản là thống nhất. Đảng phải đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, không chỉ là trước mắt mà cả về lâu dài. Đó không thể coi là sách lược mà là mục đích và lý tưởng của Đảng. Khi giành được chính quyền lãnh đạo xây dựng CNXH trách nhiệm của Đảng trước giai cấp và dân tộc càng tăng lên gấp bội. Vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng phụ thuộc vào việc thực hiện trách nhiệm nặng nề đó. Ngoài lợi ích đó ra, Đảng không có lợi ích nào khác. Qua đây ta thấy được sự trong sạch của Đảng. Chính vì nói là làm được như vậy nên Đảng được cả dân tộc và xã hội thừa nhận là lực lượng lãnh đạo duy nhất, đảm bảo cho sự phát triển của xã hội. 3.3 Đảng đảm bảo sự ổn định của hệ thống chính trị. Đảng còn có vai trò tiên phong, điều đó được thể hiện ở lý luận tiên phong và hoạt động tiên phong. Nhân dân cần Đảng lãnh đạo với tư cách là lãnh t ụ chính trị, là người dẫn đường bởi Đảng được trang bị những lý luận tiên phong. Trong đó, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng. Lý luận đó trước hết và chủ yếu là đem lại những căn cứ khoa học cho việc đề ra và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Những bộ phận của Đảng trong hệ thống chính trị luôn làm việc, hoạt động theo đường lối chính sách mà Đảng đề ra. Việc làm này đã tạo nên tính ổ n định của hệ thống chính trị nước ta. 3.4 Biểu hiện cụ thể về vai trò lãnh đạo của Đảng Trong lĩnh vực giáo dục – một trong những lĩnh vực rất được Đảng quan tâm chú trọng đến, Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng từ 15% đến 18%, số lượng các trường đại học tăng gấp 3,7 lần, số sinh viên tăng gấp 13 lần, số lượng lao động có trình độ đại học ngày càng tăng, tỷ lệ mù chữ ở nước ta đã giảm rõ rệt…. Còn trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta cũng đã thấy những tiến bộ đáng kể: Đảng đã đưa Nhà nước ta thoát khỏi nền kinh tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hóa thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp đó là thoát -9-
  10. khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của 10 năm (1990-2000) đạt 7,5%, và gần đây là việc Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2006, và trong những năm gần đây Việt Nam đang từng bước khẳng định chỗ đứng của mình trên đấu trường quốc tế. Trong lĩnh vực đối ngoại, nước ta đã thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ và hợp tác với các nước trong khu vực và cả trên thế giới như: Thái Lan, Singapore, Mỹ, Pháp…. Ngoài ra vai trò của Đảng còn thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác (văn hóa, chính trị…) và trong phương châm hoạt động của các tổ chức. III. Phương hướng đổi mới Đảng trong hệ thống chính trị Những năm vừa qua, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã có nhiều đổi mới, tạo tiền đề cho việc kiện toàn và phát huy vai trò, hiệu lực quản lí nhà nước, xây dựng và đổi mới hệ thống chính trị. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và hệ thống chính trị vẫn còn những khuyết điểm hạn chế, phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm đổi mới, việc kiện toàn bộ máy của hệ thống chính trị và công tác tổ chức cán bộ trên một số phương diện còn yếu. Tình trạng Đảng bao biện làm thay, can thiệp sâu vào công việc thuộc chức năng của Nhà nước vẫn còn tồn tại, chưa phát huy hết khả năng của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị và quyền làm chủ của nhân dân. Để khắc phục khuyết điểm này, Đảng ta đã chủ trương và kiên quyết tự đổi mới, chấn chỉnh. Với các phương hướng sau: - Một là: Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, trước hết là sự đổi mới về nhân lực. - Hai là: Thông qua các tổ chức Đảng để thự hiện tốt các chủ trương của Đảng và Nhà nước đi sâu vào người dân. - 10 -
  11. Qua đây ta có thể thấy được Đảng ta đã và đang tìm mọi cách để thực hiện tốt nhiệm vụ của một chính Đảng. Những công việc khó khăn vẫn còn ở phía trước, chúng ta hãy đợi để chứng kiến những thành tích mới của Đảng ta. KẾT LUẬN Trải qua những chặng đường lịch sử gian nan, đầy vẻ vang Đảng ta đ ã khẳng định được vai trò của chính Đảng là không thể thiếu và vô cùng cần thiết cho nước ta. Đảng vẫn tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp để đáp ứng sự mong mỏi của nhân dân và không ngừng hoàn thiện bản thân để có được sự đáp ứng tốt nhất giành cho nhân dân. Có thể nói không có mấy Đảng Cộng Sản nào trên thế giới có được thành tựu vẻ vang như Đảng Cộng Sản Việt Nam. Một Đảng đã ăn sâu vào trong từng người dân Việt Nam về vai trò của nó. - 11 -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản