Tiểu luận:" Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ"

Chia sẻ: Hoang Thao | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:45

0
793
lượt xem
280
download

Tiểu luận:" Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, Việt Nam đang phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập. Trong bối cảnh đó, hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế nổi lên như là chiếc cầu nối kinh tế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài. Để thực hiện được chức năng cầu nối này thì các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như Tài trợ xuất nhập khẩu, Kinh doanh ngoại hối, Bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, Thanh toán quốc tế,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận:" Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ"

  1. TRƯỜNG ………………. KHOA……………….. ----- ----- TIỂU LUẬN Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 1
  2. MỤC LỤC TRANG LỜI NÓI ĐẦU 01 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN L/C ....................... 03 I. KHÁI NIỆM VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ ............................................................... 03 II. CƠ SỞ PHÁP LÝ............................................................................................................ 05 III. NỘI DUNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ............................................ 06 IV. CÁC MỐI QUAN HỆ HỢP ĐỒNG TRONG L/C ........................................................ 07 V. ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAO DỊCH L/C ............................................................................... 09 CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN L/C........ 12 I. QUY TRÌNH MỞ L/C ...................................................................................................... 12 II. QUY TRÌNH THANH TOÁN L/C ................................................................................. 16 CHƯƠNG 3: CÁC LOẠI THƯ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI ........................................... 20 CHƯƠNG 4: LỢI ÍCH VÀ RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC BÊN THAM GIA L/C................... 24 I. ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ......................... 24 II. LỢI ÍCH VÀ RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC BÊN THAM GIA L/C ....................................... 25 1. Đối với người nhập khẩu .................................................................................25 2. Đối với người xuất khẩu ..................................................................................26 3. Đối với ngân hàng ............................................................................................27 4. Đối với NHTB, NHđCĐ, NHXN .....................................................................28 CHƯƠNG 5: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG GIAO DỊCH L/C ..................... 30 BỘ CHỨNG TỪ MẪU ......................................................................................................... 41 Mẫu 1 ....................................................................................................................................... 41 Mẫu 2 ....................................................................................................................................... 46 Mẫu 3 ....................................................................................................................................... 48 Mẫu 4 ....................................................................................................................................... 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 50 2
  3. LỜI NÓI ĐẦU Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, Việt Nam đang phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập. Trong bối cảnh đó, hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế nổi lên như là chiếc cầu nối kinh tế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài. Để thực hiện được chức năng cầu nối này thì các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như Tài trợ xuất nhập khẩu, Kinh doanh ngoại hối, Bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, Thanh toán quốc tế, đặc biệt là thanh toán bằng L/C…đóng vai trò là công cụ thiết yếu và ngày càng trở nên quan trọng. Ngày nay thanh toán quốc tế là một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, là một mắc xích quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển, đồng thời còn thúc đẩy và hỗ trợ hoạt động kinh doanh Xuất – Nhập khẩu của các doanh nghiệp phát triển. Thanh toán quốc tế ra đời dựa trên nền tảng thương mại quốc tế, nhưng thương mại quốc tế có tồn tại và phát triển được hay không lại còn phụ thuộc và khâu thanh toán có thông suốt, kịp thời, an toàn và chính xác hay không. Thương mại và Thanh toán quốc tế vốn dĩ là phức tạp và nhiều rủi ro hơn so với thương mại và thanh toán nội địa, bởi vì nó chịu chi phối bởi không những luật lệ và tập quán địa phương mà còn cả những luật lệ và tập quán quốc tế. Chính vì vậy, các bên liên quan và tham gia quá trình Thương mại và Thanh toán quốc tế cần am hiểu thấu đáo không những về quy trình kỹ thuật nghiệp vụ mà còn cả các thông lệ, tập quán, luật pháp địa phương và quốc tế. Bài tiểu luận với đề tài “ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ” của nhóm 02 – 08CQT04 chúng tôi nghiên cứu về một trong các phương thức thanh toán quốc tế đang được sử dụng khá phổ biến hiện nay - phương thức thanh toán tín dụng chứng từ – với mục tiêu giúp mọi người hiểu biết và nắm bắt và vận dụng phương thức này một cách hợp lý, chính xác. Mặc dù đã cố gắng sưu tập và tập trung sự hiểu biết của mình nhưng nhóm chúng tôi vẫn không thể tránh khỏi những sai sót. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn! 3
  4. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN L/C I. KHÁI NIỆM VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ: 1. Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ: Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thư tín dụng. Diễn đạt một cách đơn giản hơn, phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng ( Ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những nhu cầu của khách hàng( người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ. Qua khái niệm tín dụng chứng từ, chúng ta có thể thấy các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ gồm có : - Người xin mở L/C (Applicant): thông thường là người mua hay là tổ chức nhập khẩu. - Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán hay là người xuất khẩu hàng hóa. - Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (The issuing bank) : là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng thương mại. Nếu chưa có sự quy định trước người nhập khẩu có quyền lựa chọn. - Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank): là ngân hàng phục vụ người xuất khẩu, thông báo cho người xuất khẩu biết thư tín dụng đã mở. Ngân hàng này thường ở nước người xuất khẩu và có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thư tín dụng. Ngoài các bên tham gia vừa đề cập trên đây còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này, bao gồm: - Ngân hàng xác nhận (The confirming bank): là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân hàng khác do người xuất khẩu yêu cầu. Thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. - Ngân hàng thanh toán ( The paying bank): là ngân hàng đứng ra thương lượng bộ chứng từ và thường cũng là Ngân hàng thông báo L/C. Trường hợp L/C quy định thương lượng tự do thì bất kỳ Ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng thương lượng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một Ngân hàng nhất định. 4
  5. - Ngân hàng chuyển nhượng (The transferring bank), Ngân hàng chỉ định (The nominated bank), Ngân hàng hoàn trả (The claiming bank), Ngân hàng chấp nhận (The accepting bank), Ngân hàng chuyển chứng từ (the remitting bank). Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng. Mặt khác khái niệm tín dụng chứng từ còn cho chúng ta thấy rằng tín dụng thư hay còn gọi là thư tín dụng là văn bản quan trọng nhất trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Thư tín dụng (Letter of Credits) gọi tắt là L/C là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng đứng ra cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định nếu người này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định đã nêu trong văn bản đó. 2. Giải thích thuật ngữ: a. Về tên gọi phương thức tín dụng chứng từ: Theo quy tắc giao dịch L/C thì chứng từ có thể ghi tiêu đề như yêu cầu của Tín dụng, ghi tiêu đề tương tự, hay không ghi tiêu đề, miễn là nội dung của chứng từ phải thể hiện đầy đủ chức năng của chứng từ yêu cầu. Cùng bản chất này, tên gọi của phương thức tín dụng chứng từ là không bắt buộc và có thể là bất cứ như thế nào, miễn là nội dung của nó thể hiện một thỏa thuận, theo đó một ngân hàng hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của một khách hàng hoặc trên danh nghĩa chính mình, phải trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh của một người khác hoặc chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người này ký phát, khi bộ chứng từ quy định được xuất trình và tuân thủ các điều kiện của tín dụng. Do có tính tùy ý về cách gọi, nên trong thực tế, ta gặp rất nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bằng tiếng Anh và tiếng Việt như: - Bằng tiếng Anh: Letter of Credit (viết tắt LC hoặc L/C), Credit, Documentary Credit (viết tắt DC hoặc D/C)… - Bằng tiếng Việt: Tín dụng thư (TDT), Thư tín dụng (TTD), Tín dụng chứng từ (TDCT), hoặc sử dụng các từ viết tắt LC, L/C, DC, D/C. Cho dù cách gọi là gì, thì bản chất của nó vẫn phải tuân thủ nội dung điều 2 của UCP 600. Ngày nay thuật ngữ L/C được sử dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia. b. Về thuật ngữ “Tín dụng – Credit": Ở đây được dùng theo nghĩa rộng, tức “tín nhiệm” chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất NHPH không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào cho người mở L/C, mà chỉ cho người nhập khẩu “vay” sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi NHPH tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ cho nhà nhập khẩu. Như vậy, thuật ngữ “Tín dụng” trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản “Tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có hệ số tín nhiệm cao hơn nhà nhập khẩu. Qua phân tích cho thấy, trong những phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn: 5
  6. - Là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu, bảo đảm cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hóa mà họ đã cung ứng. - Là người đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được số lượng và chất lượng hàng do bộ chứng từ đại diện và tương ứng với số tiền mình bỏ ra. Rõ ràng là nhà nhập khẩu có cơ sở để tin chắc rằng ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải xuất trình bộ chứng từ gửi hàng. Trong khi đó, nhà xuất khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng xuất khẩu nếu anh ta trao cho NHPH bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp với quy định của L/C. II. CƠ SỞ PHÁP LÝ: Nội dung phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản “ Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) do Phòng Thương Mại Quốc Tế (ICC) ban hành. Văn bản đầu tiên được xuất bản năm 1933 sau đó được sửa đổi bổ sung qua các năm 1951, 1962, 1974, 1983 ( thường gọi là UCP400) và năm 1993 ( thường gọi là UCP500) có giá trị hiệu lực kể từ ngày 1/1/1994. Gần đây nhất là ngày 25/10/2006 ICC đã công bố UCP600 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2007. UCP là một văn bản pháp lý quốc tế không mang tính chất bắc buộc các bên mua bán quốc tế phải áp dụng. Do đó nếu áp dụng UCP thì phải dẫn chiếu điều ấy trong thư tín dụng của mình. Đến nay đã có hơn 160 nước trên thế giới công nhận và tuyên bố áp dụng UCP. Điều đáng lưu ý là các văn bản ra đời sau không hủy bỏ các văn bản trước đó, cho nên các văn bản đều có giá trị thực hành trong thanh toán quốc tế. Ngoài ra khi thực hành phương thức tín dụng chứng từ cần tham khảo thêm: • Bản Quy tắc thống nhất hoàn trả liên hàng theo tín dụng chứng từ ( The Uniform Rules for Bank-to-Bank Reimbursement under Documentary Credits – URR 525-1995- ICC) có giá trị từ ngày 1/7/1996. • Phụ bản của UCP : bao gồm UCP 500.1 và 500.2 - UCP 500.1 hay còn gọi là eUCP ( The Supplement to the Uniform Customs and Pratic for Documentary Credits for Electronic Presentation) xuất bản 01/2002 áp dụng cho xuất trình chứng từ điện tử theo L/C. eUCP có 12 điều khoản. - UCP 500.2 hay còn gọi là ISBP 645 ( The International Standard Banking Pratice for Examination of Documents under Documentary Credits). Thực hành nghiệp vụ ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứn từ theo L/C xuất bản 10/2002. III. NỘI DUNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: Nhằm giúp bạn dễ dàng hình dung và có cái nhìn tổng quát về tín dụng chứng từ, toàn bộ nội dung và quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được mô tả kết hợp ở sơ đồ dưới đây: (3) NH mở L/C NH thông báo L/C 6
  7. (7) (8) (2) (11) (10) (9) (6) (4) Người nhập khẩu (5) Người xuất khẩu (1) Sơ đồ: Quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Giải thích nội dung quy trình: (1) Hai bên xuất khẩu và nhập ký hợp đồng thương mại. (2) Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người xuất khẩu thụ hưởng. (3) Ngân hàng mở L/C mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết. (4) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở. (5) Dựa vào nội dung của L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu. (6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân hàng thông báo để được thanh toán. (7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở L/C xem xét trả tiền. (8) Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán. (9) Ngân hàng thông báo ghi có và báo cho người xuất khẩu. (10) Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhập khẩu. (11) Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng. Qua nội dung và trình tự các bước tiến hành phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ như đã mô tả trên đây, chúng ta thấy rằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. Bên xuất khẩu được 7
  8. ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền còn bên nhập khẩu được ngân hàng đứng ra xem xét, kiểm tra bộ chứng từ nhằm đảm bảo cho bên nhập khẩu nhập đầy đủ, kịp thời và chính xác hàng hóa đặt mua trước khi trả tiền. Trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò chủ động trong thanh toán chứ không chỉ làm trung gian đơn thuần như những phương thức thanh toán khác. Chính vì vậy, hiện nay phương thức này được sử dụng nhiều nhất trong thanh toán quốc tế. Tuy vậy, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ chỉ có thể sử dụng trong thanh toán mậu dịch còn trong thanh toán phi mậu dịch vẫn phải nhờ phương thức chuyển tiền hoặc nhờ thu. IV. CÁC MỐI QUAN HỆ HỢP ĐỒNG TRONG L/C: Trong phương thức tín dụng chứng từ, có ba mối quan hệ hợp đồng được hình thành theo mô hình sau: Thứ nhất: quan hệ hợp đồng giữa người mua và người bán: được thể hiện bằng các điều khoản quy định trong hợp đồng mua bán, bao gồm các chi tiết liên quan đến số lượng và chất lượng hàng hóa, cơ sở giá cả, ngày gửi hàng và ngày dự kiến ngày tới đích. Ngoài ra, trong hợp đồng mua bán, còn có các điền khoản quy định về phương thức thanh toán. Nếu người mua và người bán đồng ý chọn phương thức tín dụng chứng từ thì nó cũng phải được thể hiện thành điều khoản hợp đồng trong hợp đồng mua bán. ISSUING BANK Application L/C for L/C Sale Contract APPLICANT BENEFICIARY Thứ hai: quan hệ hợp đồng giữa người mua ( người làm đơn xin mở L/C) và ngân hàng phục vụ người mua (ngân hàng phát hành L/C). Mối quan hệ hợp đồng này được thể hiện bởi tất cả hoặc bất cứ một trong loại hợp đồng sau nay giữa người mua/người nhập khẩu/người xin mở L/C/và ngân hàng phát hành L/C: + các điều kiện và điều khoản quy định trong bất kỳ thủ tục nào được ký bởi người mua, trên cơ sở đó ngân hàng đồng ý phát hành L/C trên danh nghĩa của người mua. + Các điều kiện và điều khoản chung được ký bởi người mua về biện pháp đảm bảo tín dụng, trong đó có điều khoản thể hiện việc thế chấp số hàng hóa liên quan cho ngân hàng phát hành. + Các điều kiện và điều khoản thể hiện trong đơn xin mở L/C được ký bởi người mua gủi ngân hàng phát hành. 8
  9. Cần lưu ý những điểm trên không chỉ cung cấp mức độ an toàn cao nhất có thể cho ngân hàng phát hành L/C mà còn cho phép ngân hàng phát hành được tự động ghi nợ tài khoản của người mua để thanh toán bất kỳ khoản tiền nào liên quan đến L/C. Thứ ba: Quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng người mua (ngân hàng phát hành L/C) và người hưởng lợi L/C (người bán/người xuất khẩu). Mối quan hệ này là hệ quả của 2 mối quan hệ trên, nhưng lại là 1 nghĩa vụ hợp đồng độc lập của ngân hàng phát hành L/C, thể hiện cam kết của ngân hàng này đối với người bán và là cơ sở thanh toán. Thực chất nghĩa vụ hợp đồng này là sự cam kết của ngân hàng phát hành đối với người bán rằng sẽ thanh toán, hoặc cam kết thanh toán, nếu người bán xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong L/C. Cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành là hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán (quan hệ hợp đồng 1) và độc lập với quan hệ hợp đồng giữa người mua và ngân hàng phát hành ( quan hệ hợp đồng 2). Ngoài ra, cam kết của ngân hàng phát hành cũng độc lập hoàn toàn với bất kỳ hợp đồng cơ sở nào có liên quan đến hàng hóa/dịch vụ và các hợp đồng khác. Nghĩa vụ của ngân hàng phát hàng được quy định tại Điều 7 trong “ ICC Uniform Customs and Practice for Documentary Credits”,số xuất bản 600, theo đó nghĩa vụ của ngân hàng phát hành đối với người thụ hưởng là không hủy ngang và vô điều kiện ( nghĩa là ngân hàng không được nêu lí do từ chối thanh toán nếu người bán đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện của L/C) và đây xem là yếu tố căn bản trong thanh toán quốc tế. Tòa án ở hầu hết các nước rất ít khi can thiệp đến tính độc lập về nghĩa vụ của ngân hành phát hành đối với người hưởng lợi L/C. Xét từ giác độ người bán, sau khi hàng hóa được gửi đi theo quy định của hợp đồng mua bán, lập bộ chứng từ theo quy định của L/C và xuất trình cho ngân hàng phát hành (xuất trình trực tiếp hay qua ngân hàng trung gian) để được thanh toán. Người bán không cần quan tâm đến năng lực thanh toán của người mua, bởi vì trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ thuộc về ngân hàng phát hành L/C chứ không phải người mua. Người bán cũng không cần lo lắng về quy chế quản lý ngoại hối và ngay cả rủi ro chính trị ở nước người mua, bởi vì trong hầu hết các trường hợp, cam kết của ngân hàng phát hành được thừa nhận rộng rãi trong nước và quốc tế, do đó nếu không thực hiện những gì đã cam kết, thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Tóm lại, vai trò thụ động của ngân hàng trong phương thức ứng trước, ghi sổ và chuyển tiền sẽ trở nên tích cực hơn với vai trò là đại lý trong phương thức nhờ thu. Trong phương thức tín dung chứng từ, ngân hàng hoàn toàn đóng vai trò chủ động và tích cực, bởi vì NHPH (ngân hàng phát hành) L/C cam kết nghĩa vụ căn bản là thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng. V. ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAO DỊCH L/C: 1. L/C là hợp đồng kinh tế hai bên: Nhiều người lầm tưởng cho rằng L/C là hợp đồng kinh tế 3 bên gồm: người yêu cầu, NHPH và người thụ hưởng. Thực tế, L/C là hợp đồng kinh tế độc lập của 2 bên là NHPH và người thụ hưởng. Mọi yêu cầu và chỉ thị của người xin mở L/C đã do NHPH đại diện, do đó tiếng nói chính thức của người xin mở L/C không được thể hiện trong L/C. Hiểu được điều này là rất quan trọng, bởi vì nhà XNK (xuất nhập khẩu) cho rằng 9
  10. L/C là của họ, ngân hàng chỉ cng cấp dịch vụ hưởng phí, do đó mọi thỏa thuận giữa nhà XK (xuất khẩu) và nhà NK (nhập khẩu) mới là quan trọng còn việc ngân hàng có đồng ý hay không chỉ là yếu tố phí thanh toán. Ta hãy hình dung, một sửa đổi L/C đã được nhà XK và nhà NK đồng ý, nhưng nếu NHPH không chấp nhận thì sữa đổi đó có bao giờ trở nên có giá trị thực hiện? 2. L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C. Trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đến, hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng này. Như vậy, L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không thay đổi đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C. Một số nhà nhập khẩu không hiểu hoặc làm ngơ với quy tắc này, khi gặp rủi ro trong giao dịch hợp đồng cơ sở đã quay sang khiếu nại hay ngăn cản việc ngân hàng thanh toán bộ chứng từ xuất trình phù hợp. Điều này là không được phép. Trong thực tế, một số nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C như là công cụ dự phòng để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc bổ sung những điều khoản mà hợp đồng thương mại còn sót; ngoài ra, còn để đính chính, sữa chữa những nội dung bất lợi trong hợp đồng ngoại thương đã kí kết. Tuy nhiên, việc làm này chỉ tránh được việc phải mở một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng, còn nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập khẩu ra tòa trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng thương mại. 3. L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: Các ngân hàng, chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không. Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việc giao hàng của người bán , là đại diện cho giá trị hàng hóa đã được giao, do đó chúng trở thành căn cứ để ngân hàng trả tiền, là căn cứ để nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, là chứng từ đi nhận hàng của nhà nhập khẩu…Việc nhà xuất khẩu có thu được tiền hay không phụ thuộc duy nhất vào xuất trình chứng từ có phù hợp; đồng thời ngân hàng cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, nghĩa là ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hóa mà bất cứ chứng từ nào đại diện. Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ. Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hóa; nếu hàng hóa không khớp với chứng từ thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến ngân hàng. Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp mà ngân hàng vẫn thanh toán cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm bởi vì người nhập có quyền từ chối thanh toán lại tiền cho ngân hàng. 4. L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chúng từ: 10
  11. Vì giao dịch chỉ bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ, nên yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Để được thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năng của chứng từ yêu cầu. 5. L/C là công cụ thnah toán, hạn chế rủi ro hay là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo? Xét về giác độ là công cụ thanh toán và phòng ngừa rủi ro cho nhà XK và nhà NK thì L/C có ưu điểm vượt trội các phương thức thanh toán khác. Chính vì vậy mà phương thức này đã tồn tại phát triển như ngày nay. Tuy nhiên, trong thực tiễn thương mại quốc tế, do diễn biến của thị trường, giá cả…mà L/C có thể bị lạm dụng tở thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán và là công cụ để gian lận và lừa đảo. Từ bản chất của L/C là chỉ giao dịch bằng chứng từ và khi kiểm tra chứng từ lại chỉ xem xét trên bề mặt chứng từ, chứ không xem xét tính chất “bên trong của chứng từ”, chính vì điều này mà không ít các tranh chấp đã xảy ra về tính chất tuân thủ chặt chẽ của chứng từ. Trong thực tế, lập được một bộ chứng từ hoàn hảo không có bất cứ sai sót nào là một việc làm không hề dễ chút nào, hơn nữa, giữa “phù hợp” và “sai sót” lại có ranh giới thật mong manh, tùy thuộc vào tập quán, trình độ, quan điểm, động cơ của những người liên quan. Ngoài ra, do tính chất độc lập của L/C vớ hợp đồng cơ sở, nên bọn lừa đảo có thể không giao hàng hoặc giao hàng không đúng, nhưng vẫn lập bộ chứng từ phù hợp để thanh toán . Thực tế trên thế giới đã xảy ra không ít trường hợp như thế. ---***--- CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ I. QUY TRÌNH MỞ L/C: 11
  12. Quy trình mở L/C bất đầu từ lúc đơn vị nhập khầu lập giấy đề nghị mở L/C gửi vào Ngân hàng và kết thúc khi đơn vị xuất khẩu nhận được L/C do Ngân hàng thông báo chuyển đến. Toàn bộ quy trình này liên quan đến bốn bên : Đơn vị xuất khẩu, Ngân hàng mở L/C, Ngân hàng thông báo và đơn vị xuất khẩu, trong đó đơn vị nhập khẩu và Ngân hàng mở L/C đóng vai trò chủ động. Quy trình mở L/C gồm 3 bước: (2) L/C NH mở L/C NH thông báo L/C (1) Giấy đề nghị mở L/C (3)L/C Người xin mở Hợp đồng Người hưởng thụ L/C (NK) L/C (XK) Sơ đồ: Quy trình mở thư tính dụng Bước 1: Căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương (hoặc đơn đặt hàng), tổ chức nhập khẩu lập giấy đề nghi mở L/C gởi đến ngân hàng phục vụ mình (nơi đơn vị nhập khẩu mở tài khoản ngoại tệ) để yêu cầu mở L/C cho người bán hay người xuất khẩu hưởng. Khi lập giấy đề nghị mở L/C, đơn vị nhập khẩu, là đơn vị mở đầu quy trình thực hiện phương thức tín dụng chứng từ, cần chú ý những điểm cơ bản sau: -Viết đúng nội dung theo mẫu giấy đề nghị mở thư tín dụng do Ngân hàng mở thư tín dụng ấn hành (xem mẫu 01 trang 41). -Tổ chức nhập khẩu cần phải thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa những điều kiện ràng buộc bên xuất khẩu vào thư tín dụng, làm thế nào để vừa đảm bảo được quyền lợi của mình, vừa để bên xuất khẩu có thể chấp nhận được. -Khi lập giấy đề nghị mở thư tín dụng, đơn vị nhập khẩu phải tôn trọng những điều kiện trên hợp đồng, tránh tình trạng mu thuẩn tri ngược nhau. -Giấy đề nghị mở thư tín dụng phải được lập tối thiểu là 2 bản. Sau khi Ngân hàng ký nhận, đóng dấu sẽ gởi trả lại cho đơn vị một bản. -Giấy đề nghị mở thư tín dụng là cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề tranh chấp giữa người xin mở thư tín dụng với Ngân hàng mở thư tín dụng và là cơ sở để Ngân hàng mở thư tín dụng soạn thảo thư tín dụng gởi cho bên xuất khẩu. Khi lập giấy đề nghị mở L/C gửi cho Ngn hng, tổ chức nhập khẩu cịn phải gởi km theo cc chứng từ quan trọng sau đây: -Giấy php kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp. -Giấy php nhập khẩu lơ hng hoặc quota nhập khẩu. 12
  13. -Hợp đồng thương mại. -Phương án kinh doanh. -Bo co ti chính,… Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu xin mở thư tín dụng của tổ chức nhập khẩu và các chứng từ có liên quan, nếu đồng ý Ngn hng trích ti khoản đơn vị mở tài khoản tín dụng số tiền ký quỹ bằng 100% trị gi thư tín dụng, trong trường hợp L/C trả ngay hoặc một tỷ lệ phần trăm trên trị giá thư tín dụng, trong trường hợp L/C trả chậm. Sau đó Ngân hàng lập thư tín dụng gởi cho tổ chức xuất khẩu thông qua Ngân hàng thông báo tại nước người xuất khẩu. Việc chuyển thư tín dụng qua bên đơn vị xuất khẩu có thể thực hiện bằng đường bưu chính, bằng điện tín (Telex), hoặc bằng hệ thống SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunications). Khi quyết định mở L/C, Ngân hàng mở L/C phải hiểu rằng, chính Ngân hàng mở L/C là người thanh toán cho người hưởng lợi khi họ thực hiện đúng các quy định trong L/C cho dù người mở L/C có tiền hay không có tiền, cịn tồn tại hay ph sản. Do đó Ngân hàng mở L/C phải đánh giá khả năng kinh doanh, đặt biệt là hiệu quả phương án nhập khẩu hàng hoá và tình hình ti chính của đơn vị yêu cầu mở L/C. Cần ch ý rằng L/C l văn bản do Ngân hàng mở L/C lập theo yêu cầu của đơn vị nhập khẩu, chứ không phải văn bản do đơn vị nhập khẩu lập. L/C hay cịn gọi l thư tín dụng là một văn bản do Ngân hàng mở L/C lập ra theo yêu cầu của nhà nhập khẩu nhằm cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu một số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong văn bản đó. Về nội dung thư tín dụng chứa dụng những nội dung sau đy: 1. Số hiệu L/C: Tạo thuận tiện trong việc trao đổi thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình giao dịch thanh toán và ghi vào các chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán. 2. Địa điểm và ngày mở L/C: Địa điểm mở thư tín dụng là nơi ngân hàng mở phát hành thư tín dụng để cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Địa điểm này có ý nghĩa quan trong vì nó liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng để giải quyết những bất đồng xảy ra (nếu có). Ngày mở L/C là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người hưởng lợi; là ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mở cửa người NK; là ngày bất đầu tính hiệu lực của L/C và cũng là căn cứ để người XK kiểm tra xem người NK có L/C đúng thời hạn không…. 3. Loại thư tín dụng: Khi mở L/C người yêu cầu can phải xác định cụ thể loại L/C. Mỗi loại L/C khác nhau quy định quyền lợi và nghĩa vụ những người có liên quan tới thư tín dụng cũng khác nhau. 13
  14. 4. Tên, địa chỉ của những người liên quan: -Người yêu cầu mở thư tín dụng. -Người hưởng lợi. -Ngân hàng mở thư tín dụng. -Ngân hàng thông báo. -Ngân hàng trả tiền (nếu có). -Ngân hàng xác nhận (nếu có). 5. Số tiền của thư tín dụng: Số tiền phải được ghi vừa bằng số và bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải ghi cụ thể, chính xác. Không nên ghi số tiền dưới dạng một con số tuyệt đối, vì như vậy sẽ khó khăn trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán. Cách tốt nhất là ghi một số lượng giới hạn mà người bán có thể đạt được. 6. Thời hạn hiệu lực của L/C: Là thời hạn mà ngân hàng mở cam kết trả tiền cho người hưởng lợi, nếu người này xuất trình được bộ chứng từ trong thời hạn hiệu lực đó và phù hợp với quy định trong thư tín dụng. 7. Thời hạn trả tiền của L/C: Liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền về sau (trả chậm). Điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng thương mại đã ký kết. Thời hạn trả tiền có thể ở trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng (nếu trả tiền ngay) hoặc ở trong thời hạn hiệu lực (nếu trả chậm). Trong trường hợp này cần lưu ý là hối phiếu có kỳ hạn phải dược xuất trình để được chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng. 8. Thời hạn giao hàng: Được ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng mua bán ngoại thương quy định. Đây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao xong hàng cho bên mua, kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực. Thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của thư tín dụng. Nếu hai bên thảo thuận kéo dài thời gian giao hàng thêm một số ngày thì ngân hàng mở thư tín dụng cũng sẽ hiểu rằng thời hạn hiệu lực của thư tín dụng cũng sẽ được kéo dài thêm một số ngày tương ứng. 9. Những nội dung về vận tải giao nhận hàng hoá: Tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mẫu hiệu… cũng được ghi cụ thể trong thư tín dụng. 10. Những nội dung về vận chuyển giao nhận hàng hoá: Điều kiện cơ sở về giao hàng (FOB, CIF…), nơi giao hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng, … cũng được thể hiện đầy đủ và cụ thể trong nội dung thư tín dụng. 11. Các chứng từ mà người hưởng lợi phải xuất trình: 14
  15. Đây cũng là một nội dung rất quan trọng của thư tín dụng. Bộ chứng từ thanh toán là căn cứ để ngân hàng kiểm tra mức độ hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá của người xuất khẩu để tiến hành việc trả tiền cho người hưởng lợi. 12. Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở thư tín dụng: Đây là nội dung ràng buộc trách nhiệm mang tính pháp lý của ngân hàng mở thư tín dụng đối với thư tín dụng mà mình mở. Ví dụ: phần cam kết trong một thư tín dụng thường được diễn đạt như sau: “ Chúng tôi cam kết với những người ký phát hoặc người cầm phiếu trung thực rằng các hối phiếu được ký phát và chiết khấu phù hợp vói các điều khoản của thư tín dụng này sẽ được thanh toán khi xuất trình và các hối phiếu được chấp nhận theo điều khoản của tín dụng sẽ được thanh toán”. 13. Những điều kiện đặc biệt khác: Những điều kiện khác có thể liệt kê như phí ngân hàng được tính cho bên nào, điều kiện đặc biệt hướng dẫn đối với ngân hàng chiết khấu, dẫn chiếu số UCP áp dụng… 14. Chữ ký của ngân hàng mở L/C: L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vậy người ký L/C cũng phải là người có năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện một quan hệ dân luật. Nếu gửi bằng telex, swift thì không có chữ ký, khi đó căn cứ vào mã khóa của L/C. Bước 3: Khi nhận được thư tín dụng của ngân hàng mở L/C gởi đến, ngân hàng thông báo sẽ tiến hành kiểm tra, xác báo điện mở L/C rồi chuyển bản chính L/C cho nhà xuất khẩu dưới hình thức văn bản “nguyên văn” (nhận thế nào thì chuyển thế đó). Nếu gởi bằng thư thì kèm chữ ký, gởi điện thì kiểm mã. Lưu ý việc thông báo trên L/C có thể qua hai ngân hàng. Việc kiểm tra nội dung của L/C sẽ do ngân hàng thông báo thứ hai đảm trách. Trong trường hợp này người thụ hưởng cũng phải chịu hai lần phí thông báo và phí tu chỉnh (nếu có). II. QUY TRÌNH THANH TOÁN L/C: Quy trình thanh toán L/C bắt đầu từ bước 4 trở đi bao gồm các khâu chính đó là giao hàng, lập bộ chứng từ của đơn vị xuất khẩu và kiểm tra bộ chứng từ, thanh toán của ngân hàng mở L/C. Bước 4: Tổ chức xuất khẩu nhận được thư tín dụng do ngân hàng thông báo gửi đến tiến hành kiểm tra và đối chiếu với hợp đồng thanh toán ngoại thương đã kí trước đây. sau khi kiểm tra chặt chẽ l/c nếu đồng ý thì tiến hành giao hàng cho bên nhập khẩu, nếu không đồng ý thì đề nghị bên nhập khẩu điều chỉnh hoặc bổ sung thêm cho đến khi hoàn chỉnh mới giao hàng. Đây là khâu quan trọng đối với tổ chức xuất khẩu vì L/C có thể giống hợp đồng và có thể khác hợp đồng, nhưng khi thanh toán thì phải thực hiện đúng theo những điều khoản của L/C. những nội dung quan trọng cần kiểm tra L/C bao gồm: 15
  16. 1. Thời gian mở L/C – thông thường L/C được bên nhập khẩu mở trước ngày giao hàng một thời gian nhất định, để bên xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn bị hóa đơn gởi đi. Nhưng nếu mở quá sớm trước ngày giao hàng thì bên nhập khẩu bị đọng vốn vì khi mở L/C tổ chức nhập khẩu phải đăng ký một phần hay toàn bộ kim ngạch L/C. Do vậy, thường bên nhập khẩu không thích mở L/C quá sớm, nhưng nếu mở quá trễ thì bên xuất khẩu không có đủ thời gian cho việc giao hàng. 2. Ngân hàng mở L/C – ngân hàng mở L/C là ngân hàng cam kết, đảm trách việc thanh toán cho tổ chức xuất khẩu. Vì vậy tổ chức xuất khẩu cần xem xét người đảm bảo có uy tín hay không, trách nhiệm thanh toán có rõ ràng hay không. 3. Loại thư tín dụng – thư tín dụng có nhiều loại như thư tín dụng có thể hủy ngang, không thể hủy ngang, không thể hủy ngang có xác nhận, chuyển nhượng… mỗi loại có tính chất sử dụng khác nhau. Hiện nay thì ngân hàng thường sử dụng L/C không thể hủy ngang và L/C có xác nhận. 4. Ngày và địa điểm hết hiệu lực – tất cả thư tín dụng đều quy định ngày cuối cùng có hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ để thanh toán. Ví dụ L/C ghi “expiry December 15, 200x in Viet Nam” tức là L/C có giá trị đến ngày 15/12/200x. nếu tổ chức xuất khẩu sau khi giao hàng, xuất trình bộ chứng từ thanh toán vượt qua ngày giá trị cuối cùng của thư tín dụng thì sẽ không chấp nhận thanh toán. Thông thường thời hạn của thư tín dụng phải ít nhất sau ngày giao hàng 10 đến 15 ngày và địa điểm hết hiệu lực tại nước người xuất khẩu. Sau khi tính toán không hợp lý thì đề nghị bên mở L/C điều chỉnh. 5. Kim ngạch L/C – mỗi L/C được định mức bằng một số tiền nhất định. Thông thường kim ngạch L/C bằng đơn giá đơn vị hàng hóa nhân với số lượng hay trọng lượng đơn vị hàng hóa. Theo Điều 30 UCP 600 thì dung sai không được hơn hoặc kém 5% của số lượng hàng hóa. Dung sai này không được áp dụng khi số lượng hàng hóa quy định bằng con số bao hoặc chiếc. Ví dụ : trong L/C ghi “Amount : 100.000 USD (5 percent more or less allowed”. Điều có nhĩa là tổ chức xuất khẩu chỉ được giao hàng trong phạm vi giá trị từ 95.000 USD đến 105.000 USD. Nếu nhỏ hơn hoặc lớn hơn giới hạn sẽ không được thanh toán. Nếu ghi là “Aout” hoặc “Circa” thì được hiểu là hơn kém 10%. 6. Điều kiện giao hàng – hàng hóa được phép giao từng phần hay không, chuyển tải, cho phép hay không cho phép, hàng phải được giao trên boong tàu hay trên khoan tàu hay chở trần. Ví dụ trong thư tín dụng ghi “parital shipment prohibited, transshipment prohibited” điều kiện đó có nghĩa là tổ chức xuất khẩu không được giao hàng từng phần, không được chuyển tải. 7. Địa điểm gửi nhận hàng – thông thường hàng hóa được gửi trên tàu từ một cảng nước xuất khẩu đến một hay nhiều cảng do nhà nhập khẩu quy định trong thư tín dụng. Ví dụ : trong thư tín dụng có ghi câu “shipment from VietNam to Hongkong and Singapore” có nghĩa là hàng gửi từ cảng Sài Gòn đến cảng Hong Kong và Singapore. 8. Bộ chứng từ thanh toán – tổ chức xuất khẩu cần cẩn thận, nghiên cứu xem tổ chức nhập khẩu yêu cầu xuất trình những chứng từ loại nào, ai cấp, bao nhiêu bản. Khả năng tổ chức xuất khẩu có thể đáp ứng được hay không. 9. Điều kiện về hàng hóa – số lượng, chất lượng, qui cách hàng hóa. 16
  17. 10. Điều kiện đặc biệt khác: như phí, xác nhận, cách gửi chứng từ… lưu ý nếu trong telex có câu “Full details to follow” hoặc ghi là “The mail confirmation is to be the operative credit instrument” thì telex chưa có giá trị, phải đợi thư mới có giá trị. Tóm lại, tổ chức xuất khẩu khi nhận được thư tín dụng cần hết sức thận trọng kiểm tra, phân tích từng điều khoản trước khi tiến hành giao hàng và lập bộ chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng. Chỉ cần sai một trong những điều khoản trong L/C thì sẽ không được thanh toán. Bước 5: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, tổ chức xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo đúng điều khoản trong thư tín dụng xuất trình cho ngân hàng thông báo để yêu cầu thanh toán. Hồ sơ chứng từ gửi ngân hàng thanh toán gồm có phiếu xuất trình chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu và các chứng từ chi tiết phù hợp với những điều khoản ghi trong thư tín dụng. Lưu ý trong trường hợp yêu cầu chiết khấu phải có đầy đủ chữ kí của chủ tài sản và chữ kí của kế toán trưởng. (xem mẫu 02 trang 46) Bước 6: Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu kiểm tra và xử lý bộ chứng từ do đơn vị xuất khẩu nộp vào (xem mẫu 03, 04 trang 48,49). Khi ngân hàng bên xuất khẩu (ví dụ Vietcombank) nhận được chứng từ, cùng bản gốc L/C do tổ chức xuất khẩu (người hưởng lợi L/C) gởi đến kèm theo bản tu chỉnh (nếu có), Ngân hàng bên xuất khẩu (Vietcombank) cần thực hiện : -Kiểm tra chi tiết từng loại chứng từ, thanh toán viên sẽ xem lại ngày xuất trình chứng từ có nằm trong thời hạn hiệu lực và đúng theo quy định của L/C hay không ? -Kiểm tra các loại chứng từ có được xuất trình đầy đủ chưa ? -Cuối cùng kiểm tra tổng quát bằng cách đọc lại L/C một lần nữa để xem bộ chứng từ có điều gì không thỏa mãn L/C không ? Sau khi kiểm tra thì tùy vào tình trạng cụ thể của bộ chứng từ mà Ngân hàng sẽ giải quyết như sau : a. Nếu bộ chứng từ không có sai xót thì xem tiếp xem nội dung của L/C quy định trả tiền ngay hay là thương lượng để xử lý. b. Nếu bộ chứng từ có sai sót thì tất cả các sai sót hoặc bất hợp lệ của chứng từ điều được thanh toán viên ghi vào phiếu kiểm chứng từ xuất khẩu (xem phục lục), sau đó chia và xử lý các sai sót ra thành hai loại: sai sót có thể sửa chữa được và sai sót không thể sửa chữa được. Các sai sót có thể sửa chửa được – Các lỗi này liên quan đến việc lập chứng từ như người lập chứng từ đánh nhầm hoặc đánh sai lỗi chính tả và các thông tin trên chứng từ, người lập đã hiểu sai nội dung và thể hiện sai nội dung mà L/C quy định, sự thiếu sót các điều kiện ghi thêm do người lập chứng từ đọc không kĩ L/C, các chứng từ xuất trình không phù hợp…. 17
  18. Các sai sót không thể sửa chữa được – Các lỗi này thường liên quan đến hàng hóa như số lượng, chất lượng, hay trọng lượng hàng hóa hoặc liên quan đến các thủ tục của cơ quan quản lý Nhà nước hay các cơ quan khác nên không sửa chữa được. Trong những trường hợp này thanh toán viên sẽ căn cứ vào mức độ bất hợp lệ và sự tín nhiệm giữa các bên liên quan để quyết định thương lượng giải quyết. Bước 7: Ngân hàng mở L/C nhận được bộ chứng từ thanh toán do bên xuất khẩu gởi đến tiến hành kiểm tra đối chiếu với những điều khoản quy định trên L/C sẽ thanh toán cho bên xuất khẩu theo lệnh của ngân hàng thông báo. Trường hợp mua hàng trả chậm thì Ngân hàng mở L/C nếu đồng ý thanh toán thì gởi điện chấp nhận về Ngân hàng bên xuất khẩu và sau đó Ngân hàng mở L/C gởi hối phiếu cho tổ chức nhập khẩu để ký chấp nhận trên hối phiếu có kỳ hạn. Lưu ý, khi kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu phát hiện sai một điều kiện thì Ngân hàng mở L/C sẽ không thanh toán. Nhưng tốt nhất là hỏi đơn vị nhập khẩu rồi xử lý. Bước 8: Nhận được điện báo có về khoản thanh toán bộ chứng từ hàng xuất khẩu, ngân hàng báo có cho tổ chức xuất khẩu hoặc thông báo hối phiếu có kỳ hạn đã được chấp nhận thanh toán và cũng có thể nhận được thông báo về sự từ chối của ngân hàng mở L/C. Bước 9: Ngân hàng mở L/C yêu cầu người xin mở L/C thanh toán và chuyển bộ chứng từ cho người xin mở L/C (người nhập khẩu). Nếu tổ chức nhập khẩu từ chối thanh toán thì tùy trường hợp mà ngân hàng mở L/C sẽ giải quyết. Cơ sở pháp lý để giải quyết sự tranh chấp này là Giấy đề nghị mở thư tín dụng đơn vị nhập khẩu gửi cho ngân hàng khi yêu cầu mở thư tín dụng. ---***--- 18
  19. CHƯƠNG 3: CÁC LOẠI THƯ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI Trong buôn bán quốc tế có thể áp dụng rất nhiều loại thư tín dụng khác nhau tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể. Trong thanh toán quốc tế thường gặp một số loại thư tín dụng sau: 1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C): Là một L/C mà người mở L/C và nhà nhập khẩu có thể sửa đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. 2. Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại thư tín dụng mà ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu trong thời gian hiệu lực của L/C, không có quyền đơn phương tự ý sửa đổi huỷ bỏ thư tín dụng này. Loại L/C này chỉ đòi hỏi sự cam kết thanh toán từ phía ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo không có bất kỳ một sự cam kết nào. Ngân hàng thông báo chỉ đóng vai trò đại diện cho người phát hành. 3. Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable letter of credit): Là loại thư tín dụng không huỷ ngang và được một ngân hàng khác uy tín hơn đứng ra bảo đảm việc trả tiền theo thư tín dụng đó cùng với ngân hàng mở L/C (có nghĩa là ngân hàng chịu trách nhiệm thanh toán cho người xuất khẩu nếu như ngân hàng mở thư tín dụng không trả tiền được (ngân hàng mở L/C bị phá sản, mất khả năng chi trả). Ngoài ngân hàng phát hành thư tín dụng, một ngân hàng khác có thể tham gia thêm để xác nhận thư tín dụng ngân hàng phát hành. Bằng việc xác nhận L/C, ngân hàng xác nhận tạo ra thêm một sự cam kết thanh toán một cách độc lập với cam kết của ngân hàng phát hành. Ngân hàng xác nhận đảm bảo thực hiện cam kết đó bất kể ngân hàng phát hành có thanh toán hay không. 4. Thư tín dụng không thể huỷ ngang và không được truy đòi lại tiền (Irrevocable without recourse letter of credit): Là loại L/C không thể huỷ bỏ trong đó quy định ngân hàng mở L/C sau khi thanh toán cho nhà xuất khẩu thì không được quyền truy đòi lại tiền với bất cứ trường hợp nào(khi nhà xuất khẩu ký phát hối phiếu ghi câu: without recourse to drawers). 5. Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit): Là loại L/C không thể huỷ bỏ trong đó quy định rằng khi L/C sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hạn hiệu lực của L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ và cứ như vậy L/C tuần hoàn đến khi nào hoàn tất trị giá hợp đồng. Ap dụng khi hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán là không thay đổi. Thư tín dụng tuần hoàn chia thành 2 loại: 19
  20. - Loại L/C tuần hoàn có tích luỹ: Là loại L/C cho phép chuyển kim ngạch L/C trước vào L/C sau và cứ như vậy cho đến L/C cuối cùng. - Loại L/C tuần hoàn không tích luỹ là loại L/C tuần hoàn không cho phép chuyển số dư của L/C truớc vào L/C sau. 6. Thư tín dụng giáp lưng (back to back letter of credit): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được mở căn cứ vào một L/C khác làm bảo đảm theo L/C này nhà xuất khẩu căn cứ vào thư tín dụng của người nhập khẩu mở, yêu cầu ngân hàng mở một thư tín dụng cho nhà xuất khẩu khác hưởng. Áp dụng trong những trường hợp sau: - L/C gốc không cho phép chuyển nhượng. - Khi các chứng từ cần có theo L/C gốc không trùng hợp với các chứng từ của L/C thứ hai. - Khi người trung gian muốn bí mật một số thông tin. Áp dụng L/C giáp lưng cần thoả mãn các điều kiện sau: - Hai thư tín dụng giáp lưng phải thông qua một ngân hàng trực tiếp phục vụ nhà xuất khẩu. - Số tiền L/C thứ nhất phải lớn hơn hoặc bằng kim ngạch L/C thứ hai. - L/C thứ nhất phải được mở sớm hơn ngân hàng thứ hai. 7. Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): Là loại L/C không thể huỷ bỏ trong đó quy định nó chỉ có giá hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra. Được sử dụng khi giữa hai bên xuất nhập khẩu có quan hệ thanh toán trên cơ sở mua bán hàng đổi hàng hoặc gia công. Là loại L/C chỉ có hiệu lực khi có một L/C khác đối ứng với nó đã được phát hành. L/C này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu. Cả hai bên đều là người mua người bán của nhau. Đặc điểm nổi bật của L/C này là điều khoản thanh toán. Trong quy định việc chấp nhận và/hoặc việc thanh toán của L/C này chỉ có hiệu lực sau khi ngân hàng phát hành nhận đủ số tiền theo L/C số…ngày...do ngân hàng…phát hành (the acceptance and or payment under this L/C is valid only after our receipt of full proceeds under L/C No…dated is used by…). Đơn giản hơn có thể trong hai L/C này đều ghi chỉ được thanh toán khi một L/C khác đối ứng với nó được mở ra. L/C đối ứng xét về bản chất chỉ là một nửa L/C do sự cam kết có điều kiện của ngân hàng. Ở các nước khác đã từ lâu không còn sử dụng L/C này, song ở Việt Nam loại L/C này vẫn còn được sử dụng, đặc biệt trong quan hệ gia công tái xuất, vì nó có thể giúp cho các nhà kinh doanh VN có thể gia công hàng xuất khẩu mà không cần vốn. 8. Thư tín dụng thanh toán chậm (deferred payment L/C): Là loại L/C không huỷ bỏ trong đó quy định ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ tiền L/C vào thời hạn cụ thể ghi trên L/C sau khi nhận được chứng từ và không cần có hối phiếu. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản