TIỂU LUẬN “QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG”

Chia sẻ: thiepha

Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, vì vậy nếu không có cách khai thác và sử dụng hợp lí (kể cả tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo) thì một ngày nào đó nó cũng sẽ cạn kiệt. Vậy, muốn sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên thì cần phải: Giữ mức khai thác trong phạm vi có thể tái sinh, tái tạo được đối với các nguồn tài nguyên phục hồi.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TIỂU LUẬN “QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG”

Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
…..…. …..
.




TIỂU LUẬN
“QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG”
ĐỀ TÀI:
“SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN”




GVHD: HV:
PGS.TS NGUYỄN KHOA LÂN VÕ VĂN THIỆP
LỚP: ĐVH – K18



Huế, tháng 5 năm 2010


Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  1
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................................................................................3
NỘI DUNG...................................................................................................................................................................3
1.1. Khái niệm tài nguyên....................................................................................................................................4
II. Tình hình sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên........................................................................................6
2.1.1. Phân bố trên lục địa...............................................................................................................................6
2.1.2.Hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam....................................................................................................6
2.1.3. Hiện trạng sử dụng trên thế giới.......................................................................................................11
2.2.1. Tài nguyên rừng ở Việt Nam .............................................................................................................14
2.2.2. Tài nguyên rừng trên Thế Giới...........................................................................................................20
2.4.3. Bảo vệ tài nguyên nước.....................................................................................................................25
2.4.1. Tài nguyên sinh học ở Việt Nam.......................................................................................................27
2.4.2. Tài nguyên sinh học trên thế giới.......................................................................................................29
2.5.1. Khái niệm về khoáng sản và phân loại ............................................................................................30
2.5.2. Các loại khoáng sản chính ở Việt Nam.............................................................................................31
2.5.3. Khoáng sản trên Thế Giới..................................................................................................................32
2.5.4. Bảo vệ tài nguyên khoáng sản...........................................................................................................34
2.6. Khai thác và sử dụng tài nguyên năng lượng...........................................................................................35
2.6.1. Năng lượng gió....................................................................................................................................35
2.6.2. Năng lượng mặt trời...........................................................................................................................36
KẾT LUẬN ................................................................................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................................................................39




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  2
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, vì vậy nếu không có cách
khai thác và sử dụng hợp lí (kể cả tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái
tạo) thì một ngày nào đó nó cũng sẽ cạn kiệt.
Vậy, muốn sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên thì cần phải: 1)
Giữ mức khai thác trong phạm vi có thể tái sinh, tái tạo được đối với các
nguồn tài nguyên phục hồi. Xác định rõ mức khai thác sản lượng bền vững
(mức khai thác vừa đủ để các nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh được)
và không được phép khai thác quá sản lượng bền vững này. 2) Quản lí tốt
các nguồn tài nguyên không phục hồi, sử dụng những kĩ thuật tiên tiến để
giảm hao phí tài nguyên, chống nạn phế thải bừa bãi, thay đổi cách hoạt
động và tiêu dùng của con người để giảm bớt sự tiêu dùng các nguồn tài
nguyên này, có phương pháp tái sinh thích hợp để quay vòng sử dụng các
nguồn tài nguyên không phục hồi một cách hiệu quả nhất. 3) Tôn trọng khả
năng chịu tải của hệ sinh thái: sự tác động của con người đối với Trái Đất
tuỳ thuộc vào số lượng người, mức độ sử dụng và lãng phí các nguồn tài
nguyên và năng lượng. Giới hạn chịu đựng của Trái Đất hay của một hệ
sinh thái gọi là mức chịu đựng tối đa. Mọi hoạt động của con người phải
tôn trọng giới hạn đó. Thông thường, giới hạn cuối cùng mà chúng ta cho
rằng môi trường có thể chịu đựng được thường không thể xác định một
cách chính xác. Vì vậy, chúng ta nên trừ ra một khoảng cách an toàn giữa
toàn bộ tác động của chúng ta với ranh giới mà ta ước lượng là môi trường
chịu được.
Hiện nay nước ta và các nước khác trên thế giới đã và đang sử dụng
nhũng tài nguyên đó như thế nào, và có những biện pháp gì để khai thác bền
vững nguồn tài nguyên thiên nhiên đó. Để hiểu rõ hơn vấn đề này tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” làm đề
tài tiểu luận của mình.




NỘI DUNG
Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  3
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

I. Tài nguyên (resources)
1.1. Khái niệm tài nguyên
Tài nguyên là các dạng vật chất được tạo thành trong suốt quá trình
hình thành và phát triển của tự nhiên, cuộc sống sinh vật và con người. Các
dạng vật chất này cung cấp nguyên-nhiên vật liệu, hỗ trợ và phục phụ cho
các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của con người [1], [3]
1.2. Khái niệm tài nguyên thiên nhiên [1], [2]
TNTN là nguồn của cải vật chất nguyên khai, được hình thành và tồn
tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu trong
cuộc sống .
Mỗi loại tài nguyên có đặc điểm riêng, nhưng có hai thuộc tính chung:
- TNTN phân bố không đồng đều giữa các vùng trên Trái Đất và trên
cùng một lãnh thổ có thể tồn tại nhiều loại tài nguyên, tạo ra sự ưu đãi của
tự nhiên với từng vùng lãnh thổ, từng quốc gia.
- Đại bộ phận các nguồn TNTN có giá trị kinh tế cao được hình thành
qua quá trình lâu dài của tự nhiên và lịch sử.
1.3. Phân loại tài nguyên [1], [2]
Hiện nay có nhiều phương pháp phân loại TNTN khác nhau theo trữ
lượng, chất lượng, công dụng, khả năng tái tạo…Trong từng trường hợp cụ
thể, người ta có thể sử dụng một hoặc tổ hợp nhiều phương pháp phân loại
TNTN. Sự phân loại chỉ có tình chất tương đối vì tính đa dạng, đa dụng của
tài nguyên và tuỳ theo mục tiêu sử dụng khác nhau.
Chúng ta có thể tham khảo theo hai cách phân loại TNTN như sau:
* Theo Lê Văn Thăng thì TNTN được phân loại như sau:
Theo nguồn gốc: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân tạo
Theo khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo.
Theo môi trường thành phần: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài
nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng,
tài nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và
thông tin.
Theo sự tồn tại: Tài nguyên hữu hình và tài nguyên vô hình.

* Theo Lê Văn Khoa thì TNTN được phân loại như sau:

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  4
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Theo thành phần hó học: TNTN có thành phần là các chất vô cơ
(quặng kim loại), TNTN có thành phần là các chất hữu cơ (Than đá, dầu
mỏ…)
Theo trạng thái phân bố: TNTN ngoài mặt, TNTN trên mặt, TNTN
trong lòng đất.
Hệ thống phân tán




TNTN ngoài mặt đất TNTN trên mặt đất TNTN trong lòng đất



Ánh Thả Nguồn Các Nguồn
Không S ức Hệ
sáng m nước loại nước
khí gió ĐV
MT TV mặt KS ngầm


Hình 1.Hệ thống phân tán TNTN trong lòng đất
(Nguồn: Hình 2.1, trang 52, Môi trường và phát triển bền vững, Lê Văn Khoa)
Theo tính chất, trữ lượng và mụch đích sử dụng: TNTN vô hạn,
TNTN hữu hạn.

Tài nguyên thiên nhiên




TNTN vô hạn TNTN hữu hạn



Ánh Nhiệt TNTN TNTN
Không S ức Thuỷ Sóng
sáng năng tái tạo không tái
khí gió triều biển
MT lòng đất được tạo
được

Hình 2. Phân loại tài nguyên thiên nhiên
(Nguồn: Hình 2.2, trang 52, Môi trường và phát triển bền vững, Lê Văn Khoa)




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  5
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

II. Tình hình sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Như phần trên, tuỳ vào mục đích hay trữ lượng…mà có nhiều cách để
phân loại tài nguyên, để phần nào rõ hơn tình hình sử dụng và biện pháp
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong và ngoài nước bản thân tôi đi sâu vào
một số tài nguyên quan trọng sau đây:
2.1. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất [1], [2], [3], [4]
2.1.1. Phân bố trên lục địa
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người
để sinh tồn. Trên quan điểm sinh thái và môi trường, đất được xem là một
vật thể sống, một “vật mang” của các hệ sinh thái tồn tại trên Trái Đất. Do
đó, con người tác động và đất cũng chính là tác động vào tất cả HST mà đất
“mang” trên mình nó. Đất là tư liệu sản xuất độc đáo mà không vật thể tự
nhiên nào có được – đó là độ phì nhiêu. Chính nhờ tính chất độc đáo này mà
các HST đã và đang tồn tại, phát triển, và xét cho cùng, cuộc sống của loài
người cũng phụ thuộc vào tính chất “độc đáo” này của đất. Đất cùng với
con người đã đồmh hành qua các nền văn minh nông nghiệp khác nhau, từ
nền nông nghiệp thô sơ vào buổi bình minh của loài người đến nền nông
nghiệp đầy ắp các tiến bộ khoa học và công nghệ ngày nay, đất vẫn còn
giữ nguyên giá trị. Đất là vốn quý của xã hội và luôn là vấn đề nóng bỏng ở
mỗi quốc gia. Trên Trái Đất, đất là tấm gương phản chiếu điều kiện khí
hậu, thảm thực vật và phân bố theo các dãy tương thích với các khu sinh
học. Từ Bắc bán cầu tới xích đạo gồm caá dãy đất chính sau: đất đài
nguyên, đất podzôn, đất xám rừng, đất đen, đất xám khô hạn, đất hạt đẻ,
đất đỏ và đất vàng vùng nhiệt đới.
2.1.2.Hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 32.931.456 triệu ha, trong đó
¾ thuộc về đồi núi và trung du, diện tích sông suối và núi đá là 1.337.275 ha
(chiếm 4,05% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền là 31.2 triệu ha (chiếm
94,5% diện tích đất tự nhiên), xếp thứ 58 trong tổng số 200 nước trên Thế
Giới, nhưng vì dân số đông nên diện tích bình quân đầu người thuộc loại rất
thấp, xếp thứ 159 và bằng 1/6 bình quân của Thế Giới. Riêng khu vực miền
núi chiếm gần 25 triệu ha (76% diện tích đất tự nhiên), bao gồm 6 nhóm, 13
loại đất chính phân bố trên 4 vành đai cao:

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  6
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Từ 25 – 50m đến 900 – 1000m: 16.0 triệu ha, chiếm 51.14%;
- Từ 900 – 1000m đến 1800 – 2000m: chiếm 3.7 triệu ha, chiếm
11.8%;
- Từ 1800 – 2000m đến 2800m: 0.16 triệu ha, chiếm 0.47%;
- Từ 2800 – 3143m: 1200 ha, chiếm 0.02%;
Quỹ đất của Việt Nam có nhiều hạn chế cho sản xuât nông – lâm
nghiệp, trong đó có hơn 12.5 triệu ha đất xấu và trên 50% diện tích đất đồng
bằng là “đất có vấn đề”. Cụ thể: 0.82 triệu ha đất phèn, 0.54 triệu ha đất cát, ,
2.06 triệu ha đất xám bạc màu, 0.5 triệu ha đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá, 0.24
triệu ha đất ngập mặn, 0.47 ha đất lầy úng, 8.5 triệu ha đất có tầng mặt mỏng
ở vùng đồi núi. Hiện trạng sử dụng đất tính đến năm 2007, 2008 được thể hiện
ở bảng sau:




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  7
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất (Tại thời điểm 01/01/2007)
Đơn vị: Nghìn ha
Trong đó: Đất
Tổng diện tích đã giao và cho
ĐẤT
thuê
CẢ NƯỚC 33121.2 23763.8
Đất nông nghiệp 24696 21262.7
Đất sản xuất nông nghiệp 9436.2 9319.4
Đất trồng cây hàng năm 6348.2 6254.2
Đất trồng lúa 4130.9 4107.4
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 53.4 27.2
Đất trồng cây hàng năm khác 2163.8 2119.6
Đất trồng cây lâu năm 3088 3065.1
Đất lâm nghiệp 14514.2 11210
Rừng sản xuất 5672.5 4735.9
Rừng phòng hộ 6766.3 4648.8
Rừng đặc dụng 2075.5 1825.4
Đất nuôi trồng thuỷ sản 715.1 704.3
Đất làm muối 14.1 13.2
Đất nông nghiệp khác 16.5 15.8
Đất phi nông nghiệp 3309.1 1390.5
Đất ở 611.9 606
Đất ở đô thị 108.5 105.3
Đất ở nông thôn 503.4 500.7
Đất chuyên dùng 1433.5 509.4
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 23.8 23
Đất quốc phòng, an ninh 286.1 198.3
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 170.3 155.1
Đất có mục đích công cộng 953.3 133.1
Đất tôn giáo, tín ngưỡng 12.9 12.7
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 97.2 81.8
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1150.3 177.9
Đất phi nông nghiệp khác 3.4 2.8
Đất chưa sử dụng 5116 1110.5
Đất bằng chưa sử dụng 340.3 24.9
Đất đồi núi chưa sử dụng 4396 1068.8
Núi đá không có rừng cây 379.7 16.8
(Nguồn: Niên giám thống kê 2007)



Bảng 2. Hiện trạng sử dụng đất ( Tại thời điểm 01/01/2008)
Đơn vị: Nghìn ha


Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  8
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Đ ẤT Tổng Trong đó: Đất đã giao
diện tích và cho thuê




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  9
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

CẢ NƯỚC 33115.0 23977.4
Đất nông nghiệp 24997.2 21545.9
Đất sản xuất nông nghiệp 9420.3 9303.1
Đất trồng cây hàng năm 6309.6 6215.8
Đất trồng lúa 4105.8 4081.7
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 56.1 31.5
Đất trồng cây hàng năm khác 2147.7 2102.5
Đất trồng cây lâu năm 3110.7 3087.4
Đất lâm nghiệp 14816.6 11497.0
Rừng sản xuất 6259.6 5092.0
Rừng phòng hộ 6565.3 4624.4
Rừng đặc dụng 1991.7 1780.7
Đất nuôi trồng thuỷ sản 728.6 715.8
Đất làm muối 13.7 12.7
Đất nông nghiệp khác 18.0 17.3
Đất phi nông nghiệp 3385.8 1555.3
Đất ở 620.4 614.2
Đất ở đô thị 112.5 109.5
Đất ở nông thôn 507.9 504.7
Đất chuyên dùng 1553.7 721.2
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 23.1 22.3
Đất quốc phòng, an ninh 34.3 208.6
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 195.8 180.2
Đất có mục đích công cộng 1037.8 275.8
Đất tôn giáo, tín ngưỡng 13.1 12.9
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 97.6 84.2
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1097.4 119.9
Đất phi nông nghiệp khác 3.7 2.8
Đất chưa sử dụng 4732.1 876.2
Đất bằng chưa sử dụng 321.5 10.9
Đất đồi núi chưa sử dụng 4041.8 850.9
Núi đá không có rừng cây 368.8 14.4
(Nguồn: Niên giám thống kê 2008)




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  10
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Như vậy, vào năm 2008 quỹ đất đã được sử dụng là 23,10 triệu ha,
chiếm 96,35% diện tích tự nhiên cả nước, tăng hơn so với năm 2007 (22,65
triệu ha, chiếm 95% diện tích tự nhiên cả nước). Trong đó, 21,55% sử dụng
cho nông – lâm nghiệp, chiếm 89,88%, tăng hơn so với năm 2007 (21,26
triệu ha, chiếm 89,46%). Trong diện tích đất chưa sử dụng 0,88 triệu ha thì
có tới 0,85 triệu ha là đất trống, đồi trọc ở miền núi và trung du (2008). So
với hiện trạng sử dụng đất năm 2006, quỹ đất đã được mở rộng thêm 0,45
triệu ha. Diện tích đồi núi chưa sử dụng giảm đáng kể (diện tích đồi núi
chưa sử dụng năm 2006 là 4,54 triệu ha) .
2.1.3. Hiện trạng sử dụng trên thế giới.
Trong một nghiên cứu gần đây của FAO (Alexandratos, 1995;
trong FAO, 1993) ước lượng khoảng 92% của 1800 triệu ha đất đai của
các quốc gia đang phát triển bao gồm luôn cả Trung Quốc thì có tiềm
năng cho cây trồng sử dụng nước trời, nhưng hiện nay vẫn chưa sử dụng
hết và đúng mục đích, trong đó vùng bán sa mạc Sahara ở Châu phi 44%;
Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê 48%. Hai phần ba của 1800 triệu ha này
tập trung chủ yếu một số nhỏ quốc gia như: 27% Brasil, 9% ở Zaire, và
30% ở 12 nước khác. Một phần của đất tốt này vẫn còn để dành cho
rừng hay vùng bảo vệ khoảng 45%, và do đó trong các vùng này
không thật sự được sử dụng cho nông nghiệp. Một phần khác thì lại
gặp khó khăn về mặt đất và dạng bậc thềm như khoảng 72% vùng Châu
Phi bán sa mạc và vùng Châu Mỹ La Tinh.
Trên 50% của 1800 triệu ha của đất để dành được phân loại ở cấp
loại "ẩm", thí dụ như quá ẩm cho hầu hết các loại cây trồng và không
thích hợp lắm cho sự định cư của con người, hay còn gọi là "vùng thích
nghi kém cho cây trồng". Do đó, khả năng để mỡ rộng diện tích đất đai
cho canh tác cây trồng thường bị giới hạn.
FAO ước lượng rằng (Yudelman, 1994; trong FAO, 1993), đất nông
nghiệp có thể mỡ rộng được khoảng 90 triệu ha vào năm 2010, diện tích
thu hoạch có tăng lên đến 124 triệu ha do việc thâm canh tăng vụ cây
trồng. Các vùng đất có khả năng tưới trong các quốc gia đang phát triển
đang được mỡ rộng tăng thêm khoảng 23,5 triệu ha so với hiện tại là 186
triệu ha.

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  11
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Như vậy cho thấy rằng trong một tương lai gần đây sẽ giảm đi
một cách có ý nghĩa diện đích đất/nông hộ nông thôn. Khả năng diện tích
đất nông nghiệp trên nông hộ trong các quốc gia đang phát triển được dự
phóng bởi FAO cho năm 2010 chỉ còn gần phân nữa là 0,4 ha so với cuối
thập niên 80 là 0,65 ha, hình ảnh này cũng cho thấy diện tích này sẽ nhỏ
hơn vào những năm 2050. Ngược lại với các quốc gia đang phát triển, các
quốc gia phát triển sẽ có sự gia tăng diện tích đất nông nghiệp trên đầu
người do mức tăng dân số bị đứng chặn lại. Điều này sẽ dẫn đến một số
đất nông nghiệp sẽ được chuyển sang thành các vùng đất bảo vệ thiên
nhiên, hay vùng đất bảo vệ sinh cảnh văn hóa hoặc phục vụ cho các mục
đích nghĩ ngơi của con người (Van de Klundert, et al., 1994; trong FAO,
1993). Tình trạng của các quốc gia nằm trong giai đoạn chuyển tiếp thì
rất khó mà dự phóng bởi vì những tiến trình hiện tại là đang chuyển đổi
từ đất đai nông nghiệp thuộc nhà nước sang quyền sử dụng đất đai tư nhân.
Sự ước đoán của FAO thì bị giới hạn theo tỉ lệ thời gian đến năm
2010, khi mà sự thay đổi khí hậu toàn cầu được mong ước là ảnh hưởng
không đáng kể trong suốt thời gian này. Điều này có thể sẽ khác vào những
năm 2050 hoặc sau đó. Hậu quả của các mô hình về sự thay đổi của khí
hậu thì ở các quốc gia đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng xấu hơn là thuận
lợi về mặc an toàn lương thực (Norse và Sombroek, 1995; trong FAO,
1993).
2.1.4. Các biện pháp bảo vệ đất [5]
Hai vấn đề quan trọng nhất đối với nước nói riêng và của thế giới nói
chung hiện nay trong bảo vệ môi trường và tài nguyên đất là bảo vệ đất
canh tác và chống thoái hóa đất. Để bảo vệ đất canh tác cần quy hoạch sử
dụng đất hợp lý, hạn chế chuyển đổi đất canh tác, đặc biệt là đất trồng lúa
nước thành đất công nghiệp, đất đô thị.
Nhà nước định hướng chuẩn từ đầu việc quy hoạch mở rộng các khu
vực đô thị và khu công nghiệp để tránh tối đa sự mất đất canh tác, trong một
số trường hợp cần thiết, tiến hành lập bản đồ khoanh vùng bảo vệ các vùng
đất nông nghiệp. Quy hoạch xây dựng và củng cố hệ thống đê biển và đê
sông bảo vệ đất canh tác do mực nước biển dâng cao, do triều cường và sự

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  12
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

xâm mặn. Việc quản lý và đầu tư mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven
biển, ven sông là giải pháp có hiệu quả cao về kinh tế và kỹ thuật. Tiếp tục
bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện hơn các chính sách và pháp luật về quyền sở
hữu, sử dụng và quản lý nhà nước về đất nói chung và có các quy định về quản
lý đất dốc, đất lưu vực sông và đất ngập nước; lồng ghép tốt chính sách quốc
gia với các kế hoạch hành động quốc tế về việc chống thoái hóa và sử dụng đất
bền vững.
Về kinh tế - xã hội, cần điều hòa sự phân bố dân số và di dân giữa các
vùng, miền nhằm giảm áp lực của dân số đối với tài nguyên đất; có những
giải pháp hợp lý bảo đảm an ninh lương thực vùng núi, định canh định cư,
bảo vệ và phát triển rừng, chống xói mòn đất...
Về kỹ thuật, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp (nông học,
sinh học, hóa học, cơ học...) và đầu tư thâm canh sử dụng đất theo chiều
sâu; trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế, thương mại cao nhưng ít phải xới
xáo đất và thực hiện các hệ thống nông - lâm - súc kết hợp ở vùng đất dốc,
giữ cân bằng sinh thái và điều hòa các tác động lẫn nhau giữa đồng bằng và
miền núi; tái tạo lớp phủ thực vật bằng cây rừng hoặc tổ hợp nông lâm kết
hợp để bảo vệ độ phì nhiêu của đất.
2.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng[1], [2]
Rừng là bộ phận tổ hợp quan trọng nhất, là HST điển hình trong sinh
quyển, trong đó thực vật với các loại cây gỗ giữ vai trò chủ đạo. Rừng có ý
nghĩa rất lớn đối với sự phát triển KT – XH, sinh thái và môi trường. Vì
vậy, người ta thường nói “ Rừng là lá phổi của hành tinh”.




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  13
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên




Hình 1. Rừng tự nhiên
(Nguồn: http://agroinfo.dyndns.org)
2.2.1. Tài nguyên rừng ở Việt Nam
Diễn biến tài nguyên rừng của nước ta có thể chia thành hai giai đoạn
chính: Giai đoạn suy thoái (1945 – 1990) và giai đoạn phục hồi (1991 đến
nay). Năm 1945, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, chiếm 43% diện tích lãnh
thổ, tương đương “độ che phủ rừng” 43%. Đến năm 1990, diện tích rừng cả
nước chỉ còn 9,175 triệu ha, so với năm 1945 thì diện tích rừng giảm gần 5
triệu ha trong vòn 45 năm, chưa kể chất lượng rừng đã suy thoái nghiêm
trọng, rừng nguyên sinh và giàu gỗ chỉ chiếm 9%, rừng còn gỗ trung bình
khai thác được chiếm 33% trong tổng diện tích rừng sản xuất, còn đại đa số
là rừng nghèo kiệt, rừng non mới phục hồi.
Từ năm 1991 đến nay là giai đoạn phục hồi rừng với các chương trình
phủ xanh đất trống đồi núi 1992 – 1997; Chương trình trồng 5 triệu ha rừng
1998 – 2010. Theo số liệu thống kê, năm 1990 là thời ssiểm cạn kiệt nhất
của rừng thì từ năm 1991 đến nay rừng dần phục hồi từ 9,2 lên 12,6 triệu
ha. Tuy vậy, trữ lợng gỗ lâm sản trong rừng không cải thiện được nhiều vì
rừng trồng thường còn non.
Bảng 3. Diễn biến diện tích rừng Việt Nam so với Asean và Thế Giới




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  14
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Năm Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ Chỉ số
Tự nhiên Trồng Tổng cộng (%) ha/đầu người
1945 14.300 0 14.300 43,0
1975 11.077 92 11.169 33,8
1980 10.186 422 10.608 32,1
1985 9.038 584 9.892 30,0
1990 8.430 745 9.175 27,8
1995 8.252 1.050 9.302 28,2
2000 9.444 1.471 10.915 33,2
2005 10.328 2.312 12.640 36,3
ASEAN 211.387 19.973 231.360 48,6
Thế Giới 3.682.369 187.086 3.809.455 29,6
(Nguồn: State of The World’s Forests, FAO, 2007)

Qua bảng 3 cho thấy, năm 1943, Việt Nam có khoảng 14,3 triệu ha
rừng, chiếm 43 % diện tích tự nhiên. Đầu năm 1998, do nhiều nguyên nhân
khác nhau, nước ta chỉ còn 9,6 triệu ha rừng , chiếm 28,8% diện tích tự
nhiên, trong đó có 8,2 triệu ha rừng tự nhiên và 1,4 ha rừng trồng. Như vậy,
hàng triệu ha rừng biến mất, rừng nguyên sinh, rừng giàu hầu như bị giảm
cấp xuống thú sinh và nghèo kiệt. Nhưng từ năm 1990 trở đi thì diện tích
rừng có xu hướng tăng trở lại, đặc biệt là diện tích của rừng trồng (từ 745
nghìn ha năm 1990 tăng lên đến2.312 nghìn ha năm 2005.
Ở vùng ven biển, rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc bảo
vệ bờ biển, đê biển, hạn chế xói lỡ và các tác hại của bão lũ. Hệ thống rễ
chằng chịt trên mặt đất thu hút và giữ lại các trầm tích mềm mại, góp phần
mở rộng đất liền ra phía biển; mặt khác chúng là hàng rào ngăn giữ những
chất ô nhiễm, các kim loại nặng từ các sông đổ ra biển, bảo vệ các sinh vật
vùng ven biển. Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của HST rừng ngập mặn,
hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi
xuất khẩu nên RNM ở nước ta đã bị suy thoái nghiêm trọng.
Các kiểu rừng chính ở Việt Nam
Điều kiện tự nhiên khí hậu và các nhân tố khác đã tạo cho cây rừng sinh
trưởng và phát triển quanh năm, thảm thực vật rừng phong phú đa dạng với
nhiều kiểu rừng. Người ta chia ra các kiểu rừng sau:
- Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới
Còn gọi là rừng mưa nhiệt đới, rừng nhiệt đới ẩm, kiểu rừng này
thường gặp trên các vùng núi cao, dưới 800 m ở phía Bắc, cao trên 1000 m ở
Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  15
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

phía Nam, là kiểu rừng hỗn loài thuộc họ quen thuộc ở vùng nhiệt đới như
họ Đậu (Papilionoideae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), chúng phát triển tươi
tốt thành nhiều tầng với nhiều năm tuổi khác nhau. Ở kiểu rừng này còn có
rất nhiều thực vật phụ sinh như phong lan và cây dây leo thân cỏ (song mây)
và thân gỗ.
Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới có năng suất sinh học rất cao, và
có nhiều loài gỗ quí. Sự thuận lợi về môi trường, phong phú về thức ăn đã
tạo ra một quần thể động vật phong phú về chủng loại và số lượng.
- Rừng khộp
Còn gọi là rừng thưa nhiệt đới, rừng nhiệt đới rụng lá, thường thấy ở
miền Nam tại các vùng có độ cao dưới 1000 m. Thành phần gồm cây rụng
lá xen lẫn cây thường xanh ở mức độ khác nhau.
Trên nhiều vùng đất bằng phẳng ở Tây Nguyên thường đọng nước
trong mùa mưa, và cạn nước trong mùa khô, thêm vào đó lửa rừng tàn phá
thường xuất hiện rừng Khộp nghèo với vài loài cây họ Dầu mọc thưa thớt,
sinh trưởng chậm.
Trên sườn dốc, nơi có tầng đất sâu hơn hoặc có nước tương đối
thuận lợi hơn, nhất là ở vùng đất đỏ bazalt và ven sông suối thường xuất
hiện rừng khộp giàu có, thành phần loài phong phú, cây mọc dầy thành
nhiều tầng xanh tươi, cho nhiều gỗ cứng, gỗ quí với kích thước lớn như :
Giáng hương, Trắc, Cẩm lai, Gụ, Mun... và nhiều loài gỗ Sao, Dầu.
Rừng khộp là nơi tập trung của nhiều loài thú nổi tiếng vùng Châu Á
như: Hươu, Nai, Voi, Khỉ, Vượn... trong đó có các loài thú quí hiếm của thế
giới như Bò xám Cuprey, Tê Giác.
Rừng khộp nghèo để tạo thành đồng cỏ chăn nuôi. Đất rừng khộp
giàu để phát triển cây công nghiệp, cây lương thực và cây ăn trái... Ở rừng
này, người ta thường áp dụng lối canh tác nông lâm kết hợp.
- Rừng lá kim
Ở các vùng cao trên 1000 m ở phía Nam thích hợp với các loài thực
vật lá kim (Tùng, Bách, Thông 2 lá, Thông 3 lá) đã tạo nên những cánh rừng
bạt ngàn trên cao nguyên Lâm Đồng. Tùy theo độ cao và chế độ ẩm cụ thể
mà rừng thông có thể xen lẫn với cây lá rộng của rừng Khộp hoặc của rừng
thường xanh Á nhiệt đới.

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  16
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Rừng thông ở đây cung cấp gỗ xây dựng, gỗ gia dụng, làm bột giấy.
Nhựa thông dùng để chế biến colofan, dầu thông, nhiều loại hóa chất khác
nhau là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Ở dưới tán rừng thông
hoặc xen kẻ với cây công nghiệp, cây thuốc, cây ăn trái hoặc các đồng cỏ
chăn nuôi.
Ở các vùng cao trên 1500 m thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn cũng có
rừng lá kim, nhưng khu vực nhỏ hơn, thường gặp là thông, Pơmu là loại quí.
- Rừng thường xanh lá rộng Á nhiệt đới
Thường gặp ở các vùng núi cao trên 800 m ở phía Bắc, phần lớn gồm
các cây hiện diện thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ
Thạch Nam (Ericaceae)... và các cây Tre, Nứa (họ Poaceae). thực vật phụ
sinh phát triển mạnh, thường là Phong lan (Orchidaceae), ráng đuôi phụng,
ráng tổ rồng (Polypodiaceae) và các cây Thảo quả (họ Zingiberaceae). Ở
vùng rừng này, người ta thường trồng những cây thuốc như: Đỗ Trọng (họ
Eucommiaceae), Quế (họ Lauraceae), Nhân sâm (họ Araliaceae)...
- Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi




Hình 3. Rừng xanh nhiệt đới trên núi đá vôi
(Nguồn: www3.tuoitre.com.vn)
Thành phần thực vật trên núi đá vôi khá phong phú, chủ yếu là rừng
thường xanh, cây rụng lá chiếm tỷ lệ nhỏ. Các loài cây đặc hữu của vùng

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  17
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

này gồm : Nghiến (họ Tilliaceae), cây Kim giao (họ Podocarpaceae), cây
Trai ly (họ Clusiaceae)... là những loại gỗ quí, thường chúng có đặc điểm
chung là ưa Calci, chịu hạn, ít chịu chua. Nhiều loài vừa có bộ rễ phát triển
sâu, vừa có khả năng kiềm chế thoát nước trên mặt lá. Nhưng cũng có
những loài rễ cạn, chúng sinh trưởng nhanh trong mùa mưa ẩm và rụng lá
vào mùa khô. Nơi gần đầu nguồn do hang động đưa nước từ nơi khác đến,
nên chúng ta thường gặp cây nhiệt đới thường xanh và Tre, Trúc. Rừng này
thích hợp cho các loài vật cần hang động để lẫn trốn thú dữ như: Sơn
dương, khỉ, vượn... Đây là loại rừng đặc sắc đối với con người vì nơi đây
còn giữ lại nhiều nguồn gen, quí, có giá trị cao trong nghiên cứu khoa học,
rừng quốc gia Cúc Phương được thành lập theo kiểu này.
- Rừng ngập mặn ở Việt Nam
Việt Nam có bờ biển dài 3200 km với nhiều cửa sông giàu phù sa, nên
rừng ngập mặn sinh trưởng tốt, đặc biệt là bán đảo Cà Mau (tỉnh Cà Mau).
Trước năm 1945, ở Cà Mau có trên 150.000 ha rừng già, cây to cao,
trong tổng số 400.000 ha rừng ngập mặn của cả nước. Nhưng trong thời
gian chiến tranh từ năm 1962 đến
1971, chất độc hóa học của Mỹ đã hủy diệt nhiều khu rừng rộng lớn ở Cà
Mau và huyện Cần Giờ (TP.HCM)...




Hình 4. Rừng ngập mặn
(Nguồn: vea.gov.vn/VN/tintuc/tintuchangn)
Sau chiến tranh, Bộ Lâm Nghiệp đã cố gắng phục hồi, có kế hoạch
chỉ đạo trồng lại rừng ngập mặn, nhưng do nhiều cơ quan và nhân dân lại

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  18
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

phá rừng làm đầm nuôi tôm nên diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp nhanh
chóng.
Theo GS. Phan Nguyên Hồng thì rừng ngập mặn ở Việt Nam có
khoảng hơn 50 loài cây, phân bố không giống nhau ở các khu vực ven biển.
Có 4 khu vực chủ yếu như sau :
- Khu vực ven biển Đông Bắc từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Đồ
Sơn (Hải Phòng). Rừng ngập mặn phát triển nhờ các đảo che chắn ở phía
ngoài. Các loài cây chủ yếu là : đước, vẹt, vẹt dìa, sú mấm. Do có mùa
Đông lạnh nên cây chỉ cao từ 1,5 m đến 7 m.
- Khu vực ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ Đồ Sơn đến Cửa Lạch
Trường (Thanh Hóa). Tuy có các bãi bồi rộng, giàu phù sa, nhưng ở đây bãi
biển trống trãi, không có các đảo che chắn gió nên chỉ có một ít rừng ngập
mặn trong các cửa sông, với các loài ưa nước lợ như: bần, vẹt dìa, sú, ô rô...
Bần có kích thước khá lớn, cao từ 8 m đến 12 m, đường kính từ 15 đến 25
cm.
- Khu vực ven biển miền Trung : kéo dài từ Lạch Trường đến Vũng
Tàu.
Bãi bồi hẹp, ít phù sa do bờ biển dốc, nhiều gió bão nên chỉ có những
dãi rừng hẹp ở phía trong các cửa sông, chủ yếu là các cây nhỏ, cây bụi,
gồm có đước, đưng, vẹt, sú, mấm...
- Khu vực Nam Bộ từ Vũng Tàu đến Hà Tiên :
Nơi đây có nhiều bãi bồi rộng, giàu phù sa, do hệ thống sông Đồng
Nai, Cửu Long cung cấp, ít gió bão nên rừng ngập mặn phát triển tốt, nhất
là ở Cà Mau. Rừng có nhiều loài cây như : đước, dưng, vẹt, dà, mấm, dừa
nước. Chúng ta có các rừng ngập mặn ở các tỉnh : Long An, Bến Tre, Trà
Vinh, Kiên Giang, Cà Mau... và huyện Cần Giờ (TP.HCM). Riêng tỉnh Bến
Tre, các rừng ngập mặn ở huyện Bình Đại, Thạnh Phú, sau thời gian chiến
tranh, đến nay phần lớn là rừng trồng mới, và mang tính cách rừng phòng hộ
môi trường hơn là kinh tế, còn ở rừng ngập mặn Ba Tri có sân chim Mỹ
Hòa, khá phong phú về giống loài động vật và thực vật : về thực vật có 59
loài, trong đó có 39 loài thực vật trồng và 20 loài hoang dại, tất cả thuộc 33
họ (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1996), và 84 loài chim thuộc 35 họ (Trần Thanh
Tòng, 1996).

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  19
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

2.2.2. Tài nguyên rừng trên Thế Giới.
Hiện nay trên Thế Giới còn khoảng 38,8 triệu km2 chiếm khoảng
30% bền mặt trái đất. Trong số 38,8 triệu km2 rừng thế giới có 36,92 triệu
km2 rừng tự nhiên (95%) và 1,87 triệu km2 (5%) rừng trồng
Bảng 4. Diện tích một số loại rừng trên thế giới
Loài rừng Diện tích (km2)
Rừng lá kim ôn đới 12.511.062
Rừng lá rộng và hỗn hợp ôn đới 6.557.026
Rừng ẩm nhiệt đới 11.365.672
Rừng nhiệt đới khô 3.701.883
Rừng thưa 4.748.694
Tổng 38.808.677
Diện tích rừng bình quân thế giới trên đầu người là 0,6 ha/người. Tuy
nhiên có sự sai khác lớn giữa các quốc gia.
Châu Á có có diện tích rừng trên đầu người thấp nhất, trong khi đó
Châu Đại dương và Nam Mỹ có một diện tích rừng đáng kể trên đầu người.
Chỉ có 22 quốc gia có trên 3 ha rừng trên đầu người và cũng chỉ có 5% dân
số thế giới sống trong các quốc gia đó hầu hết là ở Braxil và Liên Xô cũ.
Trái lại ¾ dân số thế giới sống trong các quốc gia có diện tích rừng trên đầu
người nhỏ hơn 0,5 ha, phần lớn ở các quốc gia có dân số đông như ở Châu
Á và Châu Âu (Nguồn FRA 2000).
Hiện nay rừng nhiệt đới chỉ còn khoảng 50% diện tích so với trước
đây . Đất rừng giảm tới 38%, từ 115 xuống còn 71 triệu ha. Rừng ở Châu
Phi giảm 23%, từ 901 triệu ha xuống còn 690 triệu ha trong khoảng thời
gian từ 1950 đến 1983.
Theo FRA 2000 (Forest Resources Assessment 2000) có khoảng 178
triệu ha rừng trồng chiếm 5% diện tích rừng thế giới. Châu Á chiếm tỷ lệ
lớn nhất với 62% rừng trồng thế giới. 10 quốc gia chiếm tỷ lệ lớn nhất về
rừng trồng thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Liên Bang Nga, Mỹ, Nhật Bản,
Indonesia, Brazil, Thái Lan, Ukraina và Cộng Hoà Iran (chiếm khoảng 80%).
Các quốc gia còn lại chiếm khoảng 20%.
2.2.3. Bảo vệ tài nguyên rừng [6], [7]

Không chỉ riêng ở Việt Nam mà năm châu bốn bể, quốc gia nào cũng
có chương trình "Gia tăng, bảo vệ và duy trì rừng" hay "Chương trình lá
Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  20
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

phổi xanh", nhất là khi tàn phá rừng bừa bãi đang diễn ra khắp nơi và trở
thành vấn nạn. Để ngăn chặn điều này, chúng ta cần thực hiện những giải
pháp sau:
Về mặt pháp lý:
Tăng cường nhân lực, phương tiện, để phát hiện, ngăn chặn kịp thời
và chống trả đích đáng trước mọi hành vi côn đồ, phản kháng của bọn lâm
tặc, đầu nậu gỗ lậu. Ngay cả khi bọn chúng dùng súng, lựu đạn thì chúng ta
cũng tự tin giành thế chủ động để trấn áp, chiến thắng.
- Xây dựng khung pháp lý bắt giam, khởi tố và truy tố với những ai
dám phá hoại, đốt phá rừng bừa bãi vì tư lợi trước mắt. Mức giam có thể từ
5 năm đến chung thân tùy theo vị trí, cấp bậc trong xã hội, hoàn cảnh sống,
tùy theo rừng bảo tồn quốc gia hay rừng tái sinh.
- Xây dựng khung pháp lý nghiêm cấm các nhân viên kiểm lâm nhận
hối lộ của bọn đầu nậu gỗ để được khai thác rừng tự do bừa bãi.
- Trang bị cho các nhân viên kiểm lâm các thiết bị hiện đại để ngăn
chặn kịp thời các vụ cháy rừng do thiên nhiên (hạn hán, sấm sét), con người
gây ra...
- Tạm thời đưa những cánh rừng tái sinh vào danh sách bảo tồn rừng
quốc gia trong một thời gian dài để có đủ thời gian phát triển đầy đủ, đa
dạng các thảm thực vật, loài động vật.
Về mặt cộng đồng:
- Giáo dục cho cộng đồng địa phương.
- Dựa vào chương trình sư phạm từ cấp trung học trở lên cho đến hết bậc
ĐH. Có thể gia tăng số tiết học đối với những nơi có đồng bào dân tộc ít người.
- Chấm dứt tình trạng tự do di cư - di canh bừa bãi đã tồn tại mấy
chục năm nay bằng cách quản lý chặt chẽ các đồng bào dân tộc chuyên
sống du canh du mục từ trước đến nay tại các địa phương.
- Phải cương quyết đưa trở về nguyên quán tất cả những người tự do
di canh với kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước.
- Tuyên dương (bằng khen, tiền thưởng...), phục hồi công việc và
chức vụ với những ai đã can đảm đứng ra tố cáo những kẻ chặt phá rừng
bừa bãi.

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  21
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Đối với những người du mục, du canh bị trả về chỗ cũ thì hỗ trợ
một khoản tiền sinh sống qua ngày, tạo công ăn việc làm, cung cấp một
mảnh đất canh tác theo quy hoạch của nhà nước, của địa phương.
Về mặt vi mô và vĩ mô:
- Có những chính sách ưu tiên cho những khu vực khó khăn về kinh
tế, giáo dục, y tế...
- Rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; thành thị và nông thôn; đồng bằng
và miền núi...
- Thường xuyên phát động chương trình trồng cây gây rừng vào các
dịp lễ hội quốc gia: 30/4, 2/9, 19/5...
2.3. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước[2]
Tài nguyên nước bao gồm nước trong khí quyển, nước mặt, nước
dưới đất, nước biển và đại dương. Tổng lượng nước trên hành tinh khoảng
1,4 tỷ km3 . Trong đó, 97,5% là nước mặn và 2,5% là nước ngọt. Nước rất
quan trọng cho đời sống của chúng ta và được sử dụng nhiều mục đích khác
nhau.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất
mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều
hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có
thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào
nước.
Bảng 5. Tỷ lệ sử dụng nước cho các mục đích khác nhau so với
nguồn nước tự nhiên.
Tỷ lệ sử Tỷ lệ (%)
Châu lục và dụng nguồn
Ăn uống,
Việt Nam nước ngọt Công nghiệp Nông nghiệp
sinh hoạt
(%)
Châu Âu 7 14 55 31
Châu Á 12 6 9 85
Châu Mỹ 9 9 42 49
Việt Nam 9,6 3,7 20,4 75,9
Bình quân 8 23 69
toàn Thế


Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  22
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Giới
(Nguồn: Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 2006)
2.3.1. Tài nguyên nước của Việt Nam [2]
Nước ta là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước vào loại trung bình
trên Thế Giới, nhưng lại có nhiều yếu tố không bền vững.
- Nước ta có khoảng 830 tỷ m3 nước mặt, trong đó chỉ có 310 tỷ 3
được tạo ra do mưa rơi trong lãnh thổ, chiếm 37%; còn 63% do lượng mưa
ở ngoài lãnh thổ chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm năng nước dưới mặt đất có
khả năng khai thác ước tính 60 tỷ m3/năm.Nếu kể cả nước mặt và nước
dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình quân đầu người đạt
4400m3/người/năm, so với Thế Giới là 7400m3/người/năm. Theo tiêu chí
đánh giá của Hội Tài nguyên nước Quốc tế thì quốc gia nào dưới
4000m3người/năm là quốc gia thiếu nước. Như vậy, nước ta là một trong
những quốc gia có lượng nước bình quân đầu người /năm vào loại trung
bình khá, nhưng nếu không có biện pháp quản lý hiệu quả thì sẽ thiếu nước
trong một tương lai rất gần.
- Lượng nước sản sinh từ ngoài lnãh thổ chiếm gần 2/3 tổng lượng
nước có được, rất khó chủ động, thậm chí không sử dụng được. Sự phân
bố cả nước mặt và nước dưới đất là không đều. Theo không gian, nơi có
lượng mưa nhiều nhất là Bạch Mã 8000mm/năm; Bắc Giang, Bà Nà khoảng
5000mm/năm, trong khi đó cửa Phan Rí chỉ đạt xấp xỉ 400mm/năm. Theo
thời gian, mùa lũ chỉ kéo dài 3 – 5 tháng, nhưng chiếm tới 70 – 80% lượng
nước cả năm. Mùa lũ, lượng mưa lớn nhất đạt trên 1500mm/ngày, song mùa
cạn nhiều tháng lại không có mưa.
- Sự không thuận lợi của tài nguyên nước trong sử dụng và khai thác,
nước ta có khoảng 2360con sông có chiều dài hơn 10km. Trong số 13 lưu
vực chính và nhánh có diện tích lớn hơn 10000km2 thì có đến 10/13 sông có
quan hệ với nước láng giền, trong đó có 3/13 sông thượng nguồn ở nước
láng giềng, hạ nguồn chảy sang Việt Nam. Điều này cho thấy Việt Nam
không những bị ràng buộc nguồn lợi về nước của quốc gia thứ hai, thứ ba
mà thường bị bị động.
- Sự cạn kiệt tài nguyên nước ngày càng tăng. Dân số tăng, chỉ ô
lượng nươc trên đầu người giảm. Năm 1943 là 16.641m3/người, nếu dân số

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  23
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

nước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt 2.467m3/ngườ/năm xấp xỉ
với các quốc gia hiếm nước.
Mặt khác, do các quốc gia ở thượng nguồn khai thác nước các sông
ngày càng nhiều và có chiều hướng bất lợi. Thêm vào đó, nạn phá rừng
ngày một tăng cao nên đã làm nhiều sông suối khô kiệt về mùa cạn, làm tăng
tốc độ xói mòn đất, tăng tính trầm trọng của lũ lụt về mùa mưa.
- Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiệp đã trở thành vấn đề nghiêm trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc
biệt là tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội…và tại
các khu công nghiệp. Ô nhiễm nước do hoạt động của nông nghiệp cũng là
vấn đề nghiêm trọng tại nhiều vùng nông thôn trong cả nước, đặc biệt là
châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.
- Hiện nay, nhu cầu sử dụng nước của nước ta ngày một gia tăng.
Chính vì những lí do đó mà nguồn tài nguyên nước của chúng ta đang
trở nên ngày một khan hiếm.
2.3.2. Tài nguyên nước trên Thế Giới [8]
Tổng lượng nước tự do trên trái đất giữa các tác giả khi tính toán có
sự sai khác. Nó dao động từ 1.385.985.000km3 (theo Lvovits, Xokolop, 1974)
đến 1.457.802.450 km3 (theo F.Sargent,1974).




Bảng 6. Trữ lượng nước thế giới

STT NGUỒN NƯỚC TRỮ LƯỢNG (km3)

1 Biển và đại dương 1.370.322.000

2 Nước ngầm 60.000.000

3 Băng và băng hà 26.660.000

4 Hồ nước ngọt 125.000

5 Hồ nước mặn 105.000

6 Khí ẩm trong đất 75.000

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  24
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

7 Hơi nước trong khí quyển 14.000

8 Nước sông 1.200

9 Tuyết trên lục địa 250

Tổng cộng 1.457.302.450

(Nguồn: Theo F.Sargent)
Theo F.Sargent, bề mặt trái đất chừng 71% bao phủ bởi nước và hầu
hết nước mặn (chiếm hơn 97% tổng lượng nước gồm nước đại dương,
biển, hồ nước mặn, một phần nước ngầm). Phần nước ngọt (bao gồm cả
một phần nước ngầm và cả hơi nước) chỉ không đến 3%, trong đó đã gần
77% là đóng băng ở miền cực và trong băng hà, mà khoảng 90% khối lượng
băng lại ở Nam Cực, còn phần lớn tập trung ở đảo băng Groenland. Giả
thuyết nếu toàn bộ băng này tan ra thì mực nước biển sẽ dâng lên khoảng
50m làm ngập nhiều vùng đất. Số nước ngọt này đại bộ phận thuộc về các
hồ nước ngọt, ngoài ra là các dòng chảy trong sông, suối và khí ẩm, hơi
nước trong đất, trong khí .
2.4.3. Bảo vệ tài nguyên nước
Tài nguyên nước không phải là vô tận. Việc bảo vệ tài nguyên nước
không phải là chuyện của riêng ai, mà phải cần có sự phối hợp giữa nhà
nước và người dân.

Trách nhiệm của Nhà nước:
- Nhà nước xây dựng và phổ biến các văn bản Luật, Nghị định, Quy
định về sử dụng và bảo vệ Tài nguyên nước, khuyến khích các công trình
nghiên cứu sử dụng tiết kiệm nước.
- Hướng dẫn các hình thức khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên
nước đúng kỹ thuật để bảo vệ Tài nguyên nước đồng thời điều tra, khảo sát
đánh giá nguồn tài nguyên và lập kế họach phân vùng khai thác hợp lý.
- Tuyên truyền vận động và tổ chức nhiều cuộc thi về ý thức sử
dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước trong nhân dân từ cấp quận đến
cấp phường xã.
Trách nhiệm của người dân:

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  25
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Nêu cao ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước:
Người dân phải nhận thức được sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên nước không
chỉ cho hiện tại mà còn vì thế hệ tương lai, do đó phải tìm hiểu và nắm
vững các quy định pháp luật về bảo vệ Tài nguyên nước thông qua báo, đài
phát thanh, truyền hình... và tích cực phát huy hàng ngày ý thức sử dụng tiết
kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước.
- Nêu cao tinh thần tự giác: Tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các quy
định pháp luật của nhà nước về bảo vệ Tài nguyên và môi trường
- Quyết tâm phối hợp với Nhà nước trong công tác bảo vệ Tài nguyên
nước, phát hiện và mạnh dạn tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của nhà
nước trong sử dụng và bảo vệ Tài nguyên và Môi trường, không bao che cố
tình làm trái; Tham gia các phong trào kêu gọi hành động vì mục đích bảo vệ
Tài nguyên và Môi trường.
- Thường nạo vét sông rạch để khơi thông dòng chảy. Không lấn
chiếm lòng sông, kênh rạch để xây nhà, chăn nuôi thủy hải sản. Việc nuôi
thủy sản trên các dòng nước mặt phải theo quy hoạch.
- Trong sản xuất nông nghiệp phải có chế độ tưới nước, bón phân
phù hợp. Tưới cây khi trời mát, ủ gốc giữ ẩm cho cây. Tránh sử dụng thuốc
trừ sâu dư thừa, không rõ nguồn gốc. Nên áp dụng các phương pháp sinh
học để tiêu diệt sâu bọ côn trùng.
- Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nên nuôi trong chuồng trại có hệ
thống xử lý chất thải. Không chăn thả rong dễ dẫn đến ô nhiễm nguồn
nước và môi trường.
- Sử dụng nước mặt (nước sông, hồ …), nước từ các công trình cấp
nước công cộng để hạn chế khai thác nước dưới đất và tránh gây ô nhiễm,
cạn kiệt nguồn nước. Nếu có công trình khai thác nước dưới đất thì phải
khai thác đúng kỹ thuật và sử dụng hợp lý, tiết kiệm.




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  26
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên




Hình 5. Người dân TQ đang vất vả vì thiếu nước sạch.
(Nguồn: Ảnh khoahoc.com)




Hình 6. Nguồn nước dồi dào này sẽ còn đến bao giờ.
(Nguồn:Ảnh vhdn.com)
2.4. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học [1], [2]
2.4.1. Tài nguyên sinh học ở Việt Nam
Nước ta rất phong phú và đa dạng động thực vật hoang dã đặc trưng
cho vùng nhiệt đới gió mùa. Theo các tài liệu đã công bố, hệ thực vật nước
ta gồm khoảng 10.084 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu
và 600 loài nấm, trong đó có tới 2.300 loài đã được nhân dân sử dụng làm


Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  27
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

lương thực, thực phẩm, dược phẩm, làm thức ăn gia súc, lấy gỗ, tinh dầu,
các nguyên vật liệu khác hay làm củi đun.
Hệ thực vật Việt Nam có độ đặc hữu cao. Phần lớn số loài đặc hữu
này (10%) tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn
ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên
ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở Bắc Trung Bộ.
Tình trạng hiện nay của một số loài gỗ quí như Gõ đỏ, Gụ mật,
nhiều loài cây làm thuốc như Hoàng Liên chân gà, Ba kích,...
Thậm chí có nhiều loài đã trở nên rất hiếm hay có nguy cơ tuyệt
chủng như Hoàng đàn, Cẩm lai, Pơ mu,...
Khu hệ động vật cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê được
275 loài và phân loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái,
khoảng 500 loài cá nước ngọt và 2.000 loài cá biển và hàng vạn loài động
vật không xương sống ở cạn, ở biển và nước ngọt.
Bảng 7. Sự đa dạng thành phần loài và sự suy giảm số lượng loài
thực vật, động vật

Thực vật Thú Chim Bò sát, Cá
lưỡng cư
Nướ Nước
c mặ n
ngọt
Số lượng loài đã biết 14.500 300 830 400 550 2000
Số lượng loài bị mất 500 96 57 62 90
dần
Trong đó, số lượng loài 100 62 29
có nguy cơ tuyệt
chủng
Động vật giới Việt Nam có nhiều loài là đặc hữu: hơn 100 loài và
phân
loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu. Có rất nhiều loài động vật
có giá trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như voi, Tê
giác, Bò rừng, Hổ, Báo, Voọc vá, Voọc xám, Trĩ, Sếu, Cò quắm.

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  28
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Trong vùng phụ Đông Dương (phân vùng theo địa lý động vật) có 21
loài khỉ thì ở Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài đặc hữu của vùng phụ
này. Có 49 loài chim đặc hữu cho vùng phụ thì ở Việt Nam có 33 loài, trong
đó có 11 loài là đặc hữu của Việt Nam; trong khi Miến Điện, Thái Lan, Mã
Lai, Hải Nam mỗi nơi chỉ có 2 loài, Lào 1 loài và Campuchia không có loài
đặc hữu nào.
2.4.2. Tài nguyên sinh học trên thế giới
Tài nguyên sinh học hay đa dạng sinh học là tất cả các loài động vật,
thực vật và vi sinh vật sống hoang dại, tự nhiên trong rừng, trong đất và
trong các vực nước. Sự phát sinh và phát triển của chúng trên trái đất đã
đóng góp cho sự tiến hóa của sinh quyển, đồng thời lại là nguồn sống của
con người.
Theo tài liệu mới nhất thì chúng ta đã biết và mô tả 1,74 triệu loài và
dự đoán số loài có thể lên đến 14 triệu loài. Trong số 1,7 triệu loài đã
mô tả có 4.000 loài vi khuẩn, 80.000 loài nhân thật (Protista gồm động vật
nguyên sinh, tảo), 1.320.000 loài động vật, 70.000 loài nấm và 270.000 loài
thực vật.
Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới. Mặc dù rừng nhiệt
đới chỉ chiếm 7% diện tích mặt đất và khoảng 2% diện tích bề mặt hành
tinh, chúng chứa hơn 1/2 loài trên thế giới.
Bảng 8. Bảng số liệu tài nguyên sinh học thế giới
Nhóm ngành Số loài mô tả Số loài dự đoán
Vi khuẩn 4.000 1.000.000
Protista 80.000 600.000
Động vật 1.320.000 10.600.000
Nấ m 70.000 1.500.000
Thực vật 270.000 300.000
Tổng 1.744.000 14.000.000
2.4.3. Bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học [9]
- Ban hành Nghị đinh quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành môt số
̣ ̣
điêu cua Luật Đa dạng sinh học; Xây dựng và trinh ban hanh các văn bản
̀ ̉ ̀ ̀
quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn kỹ thuật về bảo tồn và phát
triển bền vững đa dạng sinh học trong khuôn khổ cua Luât Đa dang sinh hoc;
̉ ̣ ̣ ̣
Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  29
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Giới thiệu, tập huấn cho các cán bộ liên quan từ Trung ương đến địa
phương về nội dung của Luật, các văn bản hướng dẫn thi hành và cách thức
tổ chức thực hiện;
- Tuyên truyền, phổ biến về nội dung của Luật và các văn bản hướng
dẫn thi hành cho cộng đồng;
- Tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về
đa dạng sinh học từ Trung ương đến địa phương;
- Nâng cao nhận thức và hình thành ý thức trách nhiệm về bảo tồn và
phát triển bền vững đa dạng sinh học cho cộng đồng.
2.5. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên khoáng sản.
2.5.1. Khái niệm về khoáng sản và phân loại
2.5.1.1 Khái niệm về khoáng sản:
Luật khoáng sản 20.3.1996 định nghĩa:
Khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng
những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng,
thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể được khai thác. Khoáng vật, khoáng
chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng
sản.
Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan
trọng của quốc gia, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý,
tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo
đảm quốc phòng, an ninh. Khoáng sản có thể tồn tại ở trạng thái rắn
(quặng, đá), lỏng (dầu, nước khoáng,…), hoặc khí (khí đốt).
Khoáng sản cũng có thể hiểu là nguồn nguyên liệu tự nhiên có nguồn
gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng đất và quá trình
hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển của vỏ trái
đất trong thời gian dài từ hàng ngàn năm đến hàng chục, hàng trăm triệu
năm.
2.5.1.2 Phân loại khoáng sản:
Theo chức năng sử dụng, khoáng sản được phân ra làm 3 nhóm lớn:
Khoáng sản kim loại: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt,
mangan, crom, vanadi, niken, molipden, vonfram, coban); Nhóm kim loại cơ
Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  30
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

bản (thiếc, đồng, chì, kẽm, antimoan); Nhóm kim loại nhẹ (nhôm, titan,
berylly); Nhóm kim loại quý hiếm (vàng, bạc, bạch kim); Nhóm kim loại
phóng xạ (uran,thori)và nhóm kim loại hiếm và đất hiếm
Khoáng sản phi kim loại: Nhóm khoáng sản hoá chất và phân bón:
apatit, photphorit, barit, fluorit, muối mỏ, thạch cao, S (pirit, prontin,…),
spectin; Nhóm nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh chịu lửa, bảo ôn: sét – kaolin,
magnezit, fenspat, diatomit… Nhóm nguyên liệu kỹ thuật: kim cương, grafit,
thạch anh, mica, tan, atbet, zeolit. Vật liệu xây dựng: đá macma và biến
chất, đá vôi, đá hoa, cát sỏi
Khoáng sản cháy: than (than đá, than nâu, than bùn) dầu khí (dầu mỏ,
khí đốt, đá dầu).
2.5.2. Các loại khoáng sản chính ở Việt Nam
Một số loại khoáng sản chính của Việt Nam:
• Quặng sắt: trữ lượng gần 1800 triệu tấn, phân bố rải rác từ Bắc Bộ
đến Nam Trung Bộ. Mỏ sắt lớn nhất ở Việt Nam là mỏ Thạch Khê (Hà
Tĩnh), trữ lượng ước tính trên 500 triệu tấn
• Quặng đồng: trữ lượng trên 1 triệu tấn. Các mỏ lớn ở Việt Nam là
mỏ đồng Sinh Quyền (Lào Cai) và mỏ Tạ Khoa (Sơn La)
• Quặng nhôm (Quặng bauxit): chủ yếu ở Tây Nguyên, ước tính trữ
lượng tới 4 tỷ tấn. Ngoài ra còn có ở Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
• Quặng thiếc: Trữ lượng tới 70 nghìn tấn, các mỏ lớn ở Cao Bằng,
Tuyên Quang, Lâm Đồng, Hà Tĩnh
• Quặng crôm: Trữ lượng 10 triệu tấn, lớn nhất là mỏ crôm Cổ Định
(Thanh Hoá)
• Quặng titan: Phân bố chủ yếu ở ven biển miền Trung Việt Nam
• Các quặng kim loại khác như: vàng, chì, kẽm, mangan, niken, đất
hiếm, phân bố rải rác nhiều nơi như: mỏ chì kẽm Chợ Đồn, chợ Điền Việt
Bắc; mỏ mangan Cao Bằng; mỏ niken ở Sơn La; mỏ vàng ở Bồng Miêu
(Quảng Nam); mỏ vàng ở Bắc Lạng (Bắc Cạn) và các mỏ có trữ lượng
hàng chục đến hàng trăm tấn ở Trung Bộ
• Quặng apatit (làm phân bón): trữ lượng trên 1 tỷ tấn, mỏ lớn nhất là
mỏ ở Cau Đường (Lào Cai), mỏ Quỳ Châu (nghệ An)



Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  31
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

• Đá vôi: Trữ lượng rất lớn, các dãy núi đá vôi phân bố nhiều ở Bắc,
Trung Bộ và Kiên Giang. Trữ lượng được đánh giá trên 10 tỷ tấn
• Đá quý: mỏ rubi ở Quỳ Hợp (Nghệ An) và mỏ rubi, saphia Lục Yên
(Yên Bái)
• Dầu mỏ, khí đốt: Trữ lượng dầu mỏ được thăm dò tới hàng trăm
triệu tấn, chủ yếu ở phần thềm lục địa phía Nam Việt Nam như các mỏ
Bạch Hổ, Đại Hùng, Rồng, Nam Côn Sơn, bể Cửu Long … Ngoài ra còn có
nhiều mỏ khí đốt ở đồng bằng Bắc Bộ
• Than đá: Trữ lượng 3,5 tỷ tấn tập trung ở vùng Quảng Ninh
• Than nâu: Trữ lượng hàng trăm tỷ tấn tập trung ở vùng đồng bằng
Bắc Bộ
• Nước ngầm dưới đất: Trữ lượng 130 triệu mét khối nước/ngày
Nguồn lợi từ khai thác và chế biến tài nguyên khoáng sản
Bảng 9. Giá trị sản xuất công nghiệp khoáng sản
STT Ngành sản xuất 1995 1996 1997 1998
1 Khai thác than 1677,2 1929,8 2229,1 2209,8
2 Khai thác dầu khí 10844,6 12466,9 14238,6 17641,6
3 Quặng kim loại 236,1 282,5 172,3 110,7
4 Đá và các mỏ khác 1161,8 1288,4 1673,7 1696,4
5 Than cốc, dầu mỏ 343,2 208,7 83,5 86,0
6 Sản phẩm khoáng sản phi 9200 10120 12222,8 13934,0
kim loại
7 Sản xuất sản phẩm kim loại 3428,0 4085,9 3999,8 4239,8
8 Tổng 26890,9 30382,2 34619,8 39918,3
9 Các ngành công nghiệp trong 103374,7 118096, 134419,7 150684,6
cả nước 6
10 Tỷ lệ ngành khoáng 26,00 26,00 26,00 26,00
sản/công nghiệp, %
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong
phú với gần 5.000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác
nhau. nhưng phần lớn là mỏ nhỏ, phân tán nên khó khăn trong quản lí khai thác.
2.5.3. Khoáng sản trên Thế Giới
Làm cơ sở cho sự phát triển công nghiệp hiện nay bao gồm một số kim
loại chủ yếu như sắt, đồng, nhôm, chì, kẽm,... Ở nhiều quốc gia có nền công
nghiệp phát triển thì nhu cầu về các kim loại này chiếm tỉ lệ 80% - 90% tổng

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  32
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

lượng kim loại sử dụng trên thế giới. Ngoài ra nhu cầu về khoáng sản phi
kim loại cũng tăng lên, chủ yếu được sử dụng để làm phân bón, sử dụng
trong xây dựng và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.
Sau đây chỉ đề cập đến một số khoáng sản kim loại chủ yếu được
khai thác sử dụng:
2.5.3.1. Quặng sắt
Ðây là loại khoáng sản thường gặp và khá phổ biến trong vỏ trái đất,
gồm bốn loại quặng có tầm quan trọng trong thương mại là: Fe3O4
(magnetit), Fe2O3 (Hematit), FeO2 (limonit) và FeCO3 (Siderit). Các loại
quặng này có chứa khá nhiều tạp chất nên tỷ lệ kim loại trong quặng
giảm.
Vùng Siberia (Liên Xô cũ) là vùng có trữ lượng sắt được xem như lớn
nhất thế giới. Công nghiệp sản xuất thép trên thế giới ngày càng tăng theo
sự phát triển của nền công nghiệp, năm 1965 sản xuất trên toàn thế giới là
370 triệu tấn đến năm 1980 sản xuất được gần 1 tỉ tấn.
2.5.3.2. Quặng đồng
Mặc dù trữ lượng đồng trên thế giới ít hơn nhưng nhu cầu sử dụng
cũng gia tăng. Năm 1965 sản xuất đồng trên toàn thế giới là 6,6 triệu tấn và
với nhịp điệu gia tăng hàng năm từ 3,4% - 5,8%. Dự kiến nhu cầu về đồng
đến năm 2000 khoảng từ 16,8 triệu St đến mức tối đa là 34,9 triệu St
(St=Shortton= 907,2 kg), như vậy so với năm 1965 ở mức thấp thì tăng gấp
2,6 lần.
Vấn đề đặt ra hiện nay trong công nghiệp đồng là nhu cầu về đồng
càng tăng trong khi đó phẩm chất của quặng lại giảm nên giá thành của sản
xuất đồng càng ngày càng tăng lên. Vì thế những công cụ truyền thống vốn
làm bằng đồng dần dần được thay thế bằng nhôm hoặc bằng chất dẻo.
2.5.3.3. Quặng nhôm
Nhôm không được gặp ở trạng thái đơn chất trong tự nhiên mặc dù
nó chiếm đến 8,13% trọng lượng vỏ trái đất. Bauxit chứa hydroxyd nhôm là
quặng chính thường được khai thác để lấy nhôm.
Năm 1948 sản xuất nhôm toàn thế giới chỉ đạt 0,5 triệu tấn, đến năm
1968 đã lên tới 8 triệu tấn và nhu cầu về nhôm càng ngày càng cao hơn rất
nhiều. Hiện nay, hai ngành xây dựng và giao thông vận tải sử dụng nhôm
Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  33
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

nhiều nhất. Hơn nữa do tính chất bền và chắc của hợp kim nhôm nên ngành
kỹ thuật hàng không và hàng không vũ trụ ngày càng tiêu thụ nhiều nhôm hơn.
2.5.3.4. Một số khoáng sản khác
- Quặng thiếc: trữ lượng thiếc rất hạn chế và tập trung ở một số nước
Ðông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Trung Quốc và một số quốc
gia khác ở Châu Phi như Nigeria, Congo...Thiếc mềm và dễ dát mỏng nên
được sử dụng để làm thùng và hộp chứa thực phẩm khô (60%), trong kỹ
nghệ hàn (20%) và một số các công việc khác. Do tính chất dễ bị han gỉ của
thiếc nên ngày nay nhôm và chất dẻo dần dần thay thế vị trí của thiếc trong
việc sản suất các thùng chứa thực phẩm.
- Nikel (kền): chủ yếu khai thác ở Canada (chiếm 80% toàn thế giới)
ngoài ra còn có ở Liên Xô cũ, Cuba...
- Chì: chì thì mềm, nóng chảy ở nhiệt độ tương đối thấp, không bị han
gỉ và nặng hơn cả trong số các kim loại thông thường. Trong thời gian qua thì
nhu cầu chì ngày càng tăng nhất là Liên Xô và một số nước ở Châu Á, một
phần do phát triển sản xuất ô tô ở khu vực này.
- Phân bón: Nông nghiệp ngày càng phát tri ển nên nhi ều n ước sử
dụng càng nhiều phân hóa học để tăng thu hoạch mùa màng. Công
nghiệp phân hóa học càng phát tri ển, kỹ thu ật ch ế t ạo phân bón không
phức tạp nó đòi hỏi số nguyên liệu để cố định đạm và xử lý phosphat.
Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất phân bón là P 2O5, K2O và N2 dồi dào
trong lớp vỏ quả đất nên giá thành tr ở nên h ạ.
2.5.4. Bảo vệ tài nguyên khoáng sản
Bảo vệ tài nguyên khoáng sản bao gồm hai nội dung quan trọng: bảo
vệ môi trường hoạt động khai thác khoáng sản và sử dụng hợp lý tài nguyên
khoáng sản.
2.5.4.1.Các biện pháp bảo vệ môi trường trong khai thác và chế biến
khoáng sản
Các biện pháp bảo vệ môi trường trong khai thác và chế biến khoáng
sản bao gồm: lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
(ĐTM) các dự án khai thác và chế biến khoáng sản, kiểm toán và thanh tra
thường kỳ hoạt động khai thác tại cơ sở khai thác và chế biến, thực hiện các
công trình giảm thiểu nguồn ô nhiễm tại nguồn, sử dụng các công cụ kinh

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  34
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

tế trong quản lý môi
trường, quan trắc thường xuyên tác động môi trường của hoạt động khai thác
và chế biến khoáng sản.
Lập và thẩm định báo cáo ĐTM là biện pháp bảo vệ môi trường cơ bản
và quan trọng đối với hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Các
phương pháp được sử dụng trong báo cáo ĐTM của các dự án khai thác và
chế biến khoáng sản có thể bao gồm danh mục điều kiện môi trường, ma
trận môi trường, phân tích lợi ích và chi phí mở rộng, mô hình lan truyền chất
ô nhiễm,…
Kiểm toán môi trường (kiểm toán các chất thải) các cơ sở đang hoạt
động khai thác và chế biến khoáng sản có mục đích xác định số lượng chất
thải mà cơ sở đang tạo ra, các tác động đến môi trường xung quanh của nó
và những biện pháp hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường. Thanh
tra môi trường các cơ sở đang hoạt động nhằm kiểm tra sự tuân thủ về mặt
pháp lý và kỹ thuật công nghệ các quy định luật pháp của nhà nước về bảo
vệ môi trường.
2.5.4.2. Sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản
Sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản là một vấn đề phức tạp, được
giải quyết theo các phương hướng địa chất, kỹ thuật mỏ, công nghệ, kinh tế
và tổ chức.
Phương hướng địa chất bao gồm các công việc: hoàn chỉnh các phương
pháp thăm dò, tính toán và lập bản đồ địa chất; đổi mới công nghệ thiết kế
khai thác các mỏ khoáng sản.
2.6. Khai thác và sử dụng tài nguyên năng lượng
2.6.1. Năng lượng gió
Một trong những diểm còn trống trong việc nghiên cứu, khai thác, sử
dụng năng lượng gió ở Việt Nam là cần thiết xây dựng bản đồ năng lượng
kỹ thuật của gió. Đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, đã có chương trình
năng lượng mới của Nhà nước, chủ yếu tập trung nghiên cứu khí hậu
năng lượng gió. Những năm 90, Trung tâm nghiên cứu thiết bị nhiệt và
năng lượng tái tạo thuộc trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh đã
nghiên cứu việc sử dụng năng lượng gió để phát điện, bơm nước, ca nô
chạy bằng sức gió.

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  35
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Tuy nhiên, các thiết bị này công suất thấp từ vài trăm đến dưới
1000w. Song song với việc điều tra cơ bản, một số nhà kỹ thuật đã chế
tạo hoặc nhập khẩu các thiết bị phát điện bằng sức gió với công suất cỡ
vài trăm đến 2000w và đã lắp đặt ở một vài nơi. Cũng ngay từ đều thập
kỷ 90 của thế kỷ trước, một số nhà đầu tư và chuyên gia về năng lượng
gió của Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Italia, Mỹ... đã tiếp xúc và tìm hiểu về nguồn
năng lượng gió ở Việt Nam, cũng đã đề xuất hợp tác hoặc tài trợ, xây dựng
các trạm phát điện sức gió ở đảo Bạch Long Vĩ do Tây Ban Nha tài trợ.
Đây là trạm phát điện công suất lớn hoạt động đầu tiên ở Việt Nam.
Nguồn năng lượng gió kỹ thuật của gió ở Việt Nam như thế nào? Đó
là câu hỏi lớn còn chưa được minh chứng của các nhà đầu tư và chuyên gia
năng lượng gió, bởi những nghiên cứu, tính toán năng lượng khí hậu của
gió không đủ điều kiện cho việc đầu tư các trạm phát điện gió, đặc biệt
các trạm có công suất lớn. Đó là cần biết tốc độ gió đủ để khởi động
turbine, tần suất và thời gian tồn tại của tốc độ gió trung bình.
2.6.2. Năng lượng mặt trời
Thiết bị đun nước nóng mặt trời (ĐNNMT) bắt đầu được nghiên
cứu ở Việt Nam trong khuôn khổ chương trình Nhà nước về năng
lượng mới (1981 - 1985 và 1986 - 1990) do một số Viện Nghiên cứu và
trường Đại học thực hiện. Tuy nhiên, kết quả của các đề tài này chỉ dừng
lại ở mô hình thử nghiệm, chưa đưa vào sản xuất. Trong giai đoạn 1991
- 1995, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đưa ra một mẫu thiết bị với giá
thành rẻ. Sau đó cũng đã nghiên cứu, cải tiến và hoàn thiện một mẫu
ĐNNMT với bộ thu nhiệt có kết cấu tấm ống. Đến nay, hàng trăm thiết bị
ĐNNMT của trường Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu chế tạo được lắp
đặt tại Hà Nội và một số địa phương khác và được người tiêu dùng đánh giá
cao. Tuy nhiên, quy trình sản xuất vẫn mang tính thủ công và quy mô sản xuất
còn rất hạn chế. Từ năm 1997 đến nay, một số doanh nghiệp bắt đầu nhập
thiết bị ĐNNMT của nước ngoài vào Việt Nam (như Úc, Trung Quốc, Israel và
hiện tại thị trường thiết bị ĐNNMT chủ yếu nhập thiết bị của Trung Quốc
hoặc công nghệ của Trung Quốc).
Tiềm năng năng lượng mặt trời ở Việt Nam: Tiềm năng năng
lượng mặt trời được phản ánh qua số giờ nắng. Trung bình năm ở nước ta

Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  36
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

có khoảng 1400 - 3000 giờ nắng. Ở phần trên đã nêu chi tiết phân bố số
giờ nắng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Theo bản đồ khí hậu về phân bố
số giờ nắng có thể thấy sự phân bố của tiềm năng năng lượng mặt trời
theo thứ tự giảm dần như sau:
-Lớn nhất là vùng đồng bằng duyên hải cực Nam Trung Bộ và một phần
lãnh thổ phía Đông của Nam Bộ.
-Đại bộ phận khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
-Phần lớn đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, vùng núi thấp và vừa ở
sườn phía Tây Hoàng Liên Sơn.
-Ít nhất là sườn phía Đông Hoàng Liên Sơn và phần lớn khu vực Đông
Bắc.




KẾT LUẬN
Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  37
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Hiện nay, một mối mâu thuẫn lớn mà không có lời giải đáp, đó chính
là lòng tham vô đáy của con người với sự hữu hạn của tài nguyên thiên
nhiên. Đó chính là vấn đề làm nảy sinh mọi sự tác động xấu đến môi
trường, đến nguồn tài nguyên vốn phong phú nhưng nay đang có nguy cơ
cạn kiệt.Vì vậy, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng
tài nguyên để đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn
lương thực, nâng cao đời sống đồng thời cũng bảo vệ được hệ sinh thái cây
trồng và môi trường đang sống.
Nước ta có tiềm năng nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú. Tuy
nhiên, không vì vậy mà chúng ta cứ ra sức khai thác, mặc cho sau này thế
nào, chính sự khai thác và sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bất hợp
lý sẽ dẫn đến sự suy thoái, cạn kiệt và nghèo nàn của nguồn tài nguyên. Để
ngăn chặn và phục hồi có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, cần phải
đề xuất những giải pháp phát triển và sử dụng hợp lý (hay phát triển bền
vững) cần được quan tâm thực hiện tích cực, thống nhất, đồng bộ kịp thời.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiết kiệm năng lượng chung, việc
sử dụng năng lượng sạch đang được thế giới chú ý khai thác, do đó chúng ta
cần đẩy mạnh và khai thác và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu năng
lượng hiện nay của đất nước và góp phần bảo vệ môi trường.
Cần tăng cường giáo dục ý thức môi trường cho người dân để từ đó
người dân tự nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi đối xử với thiên nhiên,
đồng thời cần nâng cao ý thức trách nhiệm và chuyên môn của các nhà quản
lí cũng như xây dựng tốt mối quan hệ hai chiều giữa nhân dân và chính
quyền nhằm thực hiện tốt các chính sách môi trường của quốc gia và ở từng
địa phương.




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  38
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Văn Thăng; 2008, Giáo trình Khoa học môi trường đại cương,
NXB Đại học Huế.
[2] Lê Văn Khoa; 2009, Môi trường và phát triển bền vững, NXB GD.
[3]http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0i_nguy%C3%AAn_thi
%C3%AAn_nhi%C3%Aan
[4] www.gso.gov.vn/default.aspx
[5]http://bmktcn.com/index.php?
option=com_content&task=view&id=2945&Itemid=103
[6]http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Cac-bien-phap-bao-ve-
rung/10770822/478/
[7]http://www.kiemlam.org.vn/Desktop.aspx/News/So-5-nam-
2008/Mot_so_giai_phap_bao_ve_rung/
[8] http://www.capnuochue.com.vn/code/index.asp?cmd=18b&id=35
[9] http://isponre.gov.vn/home/tin-tuc/499-hay-hanh-dong-ngay-de-bao-
ve-da-dang-sinh-hoc-truoc-khi-qua-muon




Võ Văn Thiệp – Chuyên ngành động vật – K18  39
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản