Tiểu luận Quản lý Nhà nước về môi trường ở thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay

Chia sẻ: Hoàng Hồng Gà | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
167
lượt xem
79
download

Tiểu luận Quản lý Nhà nước về môi trường ở thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Môi trường rất cần thiết cho cuộc sống của con người. Môi trường cung cấp cho con người những điều kiện sống (như ăn ở,mặc hít thở…) Nếu không có điều kiện đó con người không thể sống tồn tại và phát triển được. Trong bối cảnh toàn cầu nói chung, môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng đặc biệt là ở các nước đang phát triển, Việt Nam cũng nằm trong tình trạng này trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Quản lý Nhà nước về môi trường ở thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay

  1. Tiểu luận Quản lý Nhà nước về môi trường ở thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay 1
  2. PHẦN MỞ ĐẦU 1 . Lí do chọn đề tài Môi trường rất cần thiết cho cuộc sống của con người. Môi trường cung cấp cho con người những điều kiện sống (như ăn ở,mặc hít thở… ) N ếu không có điều kiện đó con người không thể sống tồn tại và phát triển được. Trong bối cảnh toàn cầu nói chung, môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng đặc b iệt là ở các nước đang phát triển, Việt Nam cũng nằm trong tình trạng này trong q uá trình xây d ựng và phát triển kinh tế. Do vậy, bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan trọng được Đ ảng và N hà nước ta rất quan tâm trong chiến lược p hát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần đây tốc độ phát triển đô thị cũng như công nghiệp hóa trên đ ịa bàn thành phố Vinh, diễn ra rất nhanh chóng, trong khi đó các công trình hạ tầng kỹ thuật như giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, xử lý nước thải, thu gom và x ử lý rác thải…không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và sự gia tăng d ân số. V ì vậy môi trường và mỹ quan đô thị thành p hố Vinh ngày càng xuống cấp trầm trọng, đặc biệt là vấn đề cấp thoát nước, rác thải có khắp mọi nơi đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống và sức khỏe của người dân thành phố Vinh. N hận thấy đây vẫn là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết, là một sinh viên, sau khi học tập, nhận được sự giảng dạy tận tình của thầy cô giáo, em x in được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cơ sở, cụ thể là em chọn đề tài “Quản lý N hà nước về môi trường ở thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay” để làm b ài luận kết thúc môn học “ Quản lý xã hội về Khoa học – Công nghệ - Tài nguyên – Môi trường” 2 , Tình hình nghiên cứu: Có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, từ việc nghiên cứu lý luận đến thực tế về đề tài nay. Tuy nhiên, các nghiên cứu ấy chủ yếu ở tầng vĩ mô, còn chung chung, rất ít các công trình nghiên cứu về công tác q uản lý, tình trạng ô nhiễm môi trường ở một địa phương cụ thể. 3 , Mục đích nghiên cứu 3 .1 Mục đích nghiên cứu: 2
  3. Thông qua khảo sát thực trạng công tác quản lý môi trường ở thành phố Vinh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý môi trường trên đ ịa bàn thành phố, giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân sinh sống ở đây. 3 .2 Nhiệm vụ nghiên cứu: - H ệ thống hoá các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu - Đ ánh giá công tác quản lý về môi trường ở thành phố Vinh - Đ ưa ra các giải pháp nâng cao công tác quản lý Nhà nước về môi trường. 4 , Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 .1. Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý cũng như thực trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Vinh. 4 .2 Phạm vi nghiên cứu V ề không gian: Trong đ ịa giới hành chính thành phố Vinh V ề thời gian: Từ năm 2007 đến nay 5 , Phương pháp nghiên cứu: - Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết - Phương p háp quan sát - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 6 , Kết cấu bài tiểu luận Bài tiểu luận được chia thành 3 nội dung chính: Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về môi trường Chương 2: Thực trạng công tác quản lý môi trường ở thành phố Vinh trong những năm gần đây. Chương 3: Các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường. Do trình độ bản thân còn hạn chế nên em không thể tránh khỏi những sai sót trong q uá trình trình bày, vì vậy em rất mong nhận được sự giúp đỡ đóng góp ý kiến của 3
  4. các thầy cô giáo để em có thể hoàn thành tốt bài tiểu luận của mình. Em x in chân thành cảm ơn! 4
  5. B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về môi trường 1. Các khái niệm cơ bản 1 .1 Khái niệm môi trường Môi trường là: Bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ m ật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam). Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội... Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên và Môi trường xã hội 1 .2 Quản lý Nhà nước về môi trường "Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển b ền vững kinh tế xã hội quốc gia ". Là sự tác động mang tính tổ chức và quyền lực của các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền lên các quan hệ xã hội về môi trường nhằm đạt được những mục tiêu được xác định. Q uản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động đ iều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và sử d ụng hợp lý tài nguyên” (Lưu Đức H ải và Nguyễn Ngọc Sinh, 2001) Q uản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục... Các biện pháp này 5
  6. có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đ ặt ra. Quản lý N hà nước về môi trường là quản lý môi trường thông qua các công cụ luật pháp, chính sách về môi trường trên phương diện quốc tế và quốc gia. Q uản lý Nhà nước về môi trường để đảm bảo môi trường tồn tại và phát triển bền vững nhằm: Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, gắn khai thác với bảo vệ môi trường. Nguyên tắc về QLNN đối với MT: Tài nguyên môi trường là tài sản chung Tài nguyên môi trường thuộc sở hửu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý V iệc khai thác phải kết hợp với bảo vệ và phát triển Đ ảm bảo về tính đa dạng của bảo vệ, khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên môi trường. Q LNN về tài nguyên môi trường bằng hệ thống pháp luật V iệc khai thác, sử dụng, phát triển theo quy hoạch nghành, lãnh thổ Q uản lý tài nguyên môi trường phải huy động toàn dân tham gia (vẽ sơ đồ) 2. Nội dung công tác quản lý Nhà nước về môi trường Luật Bảo vệ môi trường. Bộ Luật này được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông q ua ngày 25/11/2005 gồm: 15 chương với 135 điều.. Nội dung công tác quản lý Nhà nước về môi trường của Việt Nam được thể hiện trong Điều 37, Luật Bảo vệ Môi trường, gồm các điểm:  Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường.  Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.  Xây dựng, quản lý các công trình b ảo vệ môi trường, các công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường.  Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường. 6
  7.  Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh.  Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.  Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.  Đ ào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường.  Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.  Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 3. V ị trí, vai trò của Nhà nước về quản lý môi trường Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, dân tộc và nhân loại; Đ ể nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; Căn cứ vào Điều 29 và Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; Luật này quy định việc bảo vệ môi trường: Đ iều 3 N hà nước thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước, lập quy hoạch bảo vệ môi trường, xây dựng tiềm lực cho hoạt động bảo vệ môi trường ở Trung ương và địa phương. N hà nước có chính sách đầu tư, khuyến khích và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, ngo ài nước đầu tư dưới nhiều hình thức, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc bảo vệ môi trường. 7
  8. Đ iều 4 N hà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động nói tại Điều này. Đ iều 5 N hà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường. N hà nước Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với các nước trên thế giới, các tổ chức và cá nhân nước ngoài. Chương 2: Thực trạng quản lý môi trường ở thành phố Vinh 1 . Đặc điểm về kinh tế - xã hội thành phố Vinh Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An và đã được Chính phủ quy hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ. Hiện nay, thành phố Vinh là một trong 8 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, là trung tâm kinh tế lớn nhất khu vực Bắc Miền Trung. D iện tích 104,96 km². D ân số: 435.208 người theo chính quyền thành phố năm 2010. Số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2009 là 303.714 người. V inh là thành phố nằm b ên bờ sông Lam, phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía N am và Đông Nam giáp huyện Nghi Xuân, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Hưng Nguyên. Thành phố Vinh cách thủ đô Hà Nội 2 95 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.424 km, cách thủ đô Viên Chăn(Lào)400 km về p hía Tây. V ề khí hậu: V inh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác. Có hai mùa gió đặc trưng: Gió Tây Nam - gió khô xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9 và gió Đông Bắc - mang theo mưa phùn lạnh ẩm ướt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. 8
  9. Đơn vị hành chính gồm 25 phường, x ã : Phường Lê Mao, Phường Lê Lợi, Phường Hà Huy Tập, Phường Đội Cung, Quang Trung, Cửa Nam, Trường Thi, Hồng Sơn, Trung Đô, Bến Thuỷ, Đông Vĩnh, Hưng Bình, Hưng Phúc, Hưng Dũng, Vinh Tân, Quán Bàu, Hưng Đông, Hưng Lộc, H ưng Hòa, Hưng Chính, Nghi Phú, Nghi Ân, Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Đức. Về kinh tế: Thành phố Vinh nằm giữa hai khu kinh tế lớn là Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Vũng Áng (Hà Tĩnh), bên cạnh thành phố là khu kinh tế Đông Nam (Nghệ An). N ăm 2010, Tốc độ tăng trưởng giá trị SX so với cùng kỳ là 18,1%, thu nhập bình q uân đầu người đạt 38,1 triệu đồng, thu ngân sách đạt 2800 tỷ đồng. TP phấn đấu trong năm 2011, tốc độ tăng trưởng giá trị SX từ 18,5-19.5%, thu ngân sách đ ạt từ 3 .200 - 3.300 tỷ đồng. N hiều Tổng Công ty, doanh nghiệp lớn có trụ sở chính ở Vinh (Ngân hàng Bắc Á, Tập đoàn TH,Tổng Công ty công trình giao thông 4, Tổng Công ty hợp tác kinh tế QK4, Tổng công ty Hợp tác kinh tế Việt Lào, Tổng Công ty xây lắp dầu khí Nghệ An, Tổng công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An...) V inh cũng được biết đến là một thành phố trẻ năng động, có nhiều tòa nhà cao tầng. Hiện có rất nhiều dự án phát triển đô thị tại đây. Trong tương lai không xa, V inh sẽ là một thành phố hiện đại xứng tầm là đô thị trung tâm vùng Bắc Trung Bộ. Trong nhiều năm qua c ơ cấu kinh tế thành phố Vinh chuyển dịch tích cực và đúng hướng, trong đó tốc độ phát triển công nghiệp khá nhanh tập trung chủ yếu là công nghiệp sạch. Tạo tiền đề phát triển nhiều ngành công nghiệp của v ùng Bắc Trung Bộ với các ngành chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến thuỷ hải sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa, giấy.... H iện nay, trên địa bàn thành phố Vinh có 7 khu công nghiệp và một số cụm công nghiệp: K hu công nghiệp Bắc Vinh  K hu công nghiệp Đông Nam  9
  10. K hu công nghiệp Nghi Phú  K hu công nghiệp Hưng Đông  K hu công nghiệp Hưng Lộc  K hu công nghiệp Nghi Thạch  K hu công nghiêp công nghệ cao: Công viên phần mềm VTC (Tổng Công ty  Truyền thông đa phương tiện VTC), Công viên Công nghệ Thông tin Nghệ An Park (Tập đoàn Bưu chính viễn thông VNPT) Cụm công nghiệp dệt may, khai thác cảng Bến Thủy.  Cụm công nghiệp sản xuất Vật liệu xây dựng Trung Đô.  Các ngành dịch vụ như thương mại, tài chính ngân hàng, du lịch, khách sạn cũng p hát triển nhanh chóng và ổn định. Với hệ thống ngân hàng, các công trình chợ đ ầu mối bán buôn bán lẻ, siêu thị, hệ thống khách sạn đ a cấp, đầu mối các tour du lịch của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ, tạo cơ sở để trở thành trung tâmtài chính, thương mại, dịch vụ và du lịch của khu vực Bắc miền Trung. Từ năm 2003 - 2008, tỷ trọng dịch vụ đạt gần 60% GDP của thành phố và so với tính quy luật chung thì tỷ trọng dịch vụ trên thể hiện sự tiến bộ trong cơ cấu kinh tế của thành p hố Vinh ngày càng rõ nét. Về Giáo dục Thành phố Vinh là một trong 3 trung tâm giáo dục & đào tạo lớn nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Hiện nay trên địa bàn thành phố có 7 trường đại học, 13 trường cao đẳng và nhiều phân hiệu, cùng nhiều trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề và hàng trăm trường học từ bậc học phổ thông tới ngành học m ầm non. V ề Du lịch Thành phố Vinh là một trong những trung tâm du lịch của tỉnh Nghệ An và là một đ iểm đến quan trọng trong tour du lịch con đường di sản miền Trung. Thành phố V inh từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu của một đô thị xứ Nghệ. Đến với thành phố Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, 10
  11. nghỉ dưỡng...Thành phố còn có nhiều di tích, danh thắng trong đó có tới 14 di tích đ ược xếp hạng cấp quốc gia, 16 di tích được xếp hạng của tỉnh Nghệ An. 2 . Thực trạng quản lý Nhà nước về môi trường ở thành phố V inh Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Vinh hiện nay. Vậy mà thành phố hầu như “bó tay” trong việc thực hiện các biện pháp xử lý và có chăng cũng chỉ là những giải pháp tình thế, đối p hó trước mắt mà tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng thêm. Tiếp tục Chương trình giám sát về “Công tác quản lý, bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh”, ngày 16/4/2012, Đoàn Giám sát của Ban kinh tế và Ngân sách HĐND tỉnh đã có buổi làm việc với UBND TP. Vinh. Theo báo cáo của UBND Thành phố Vinh, từ tháng 7/2006 đến hết tháng 3/2012, ngoài việc áp dụng triển khai thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản q uy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành, UBND TP Vinh đ ã ban hành được 12 văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp và gián tiếp liên quan đ ến lĩnh vực môi trường; đ ã cấp được 345 giấy xác nhận đăng ký cam kết bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên đ ịa bàn. N goài ra, TP cũng đã lập 6 đoàn thanh, kiểm tra được trên 100 đơn vị, xử lý vi p hạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tài nguyên nước đối với 21 đ ơn vị, tổng số tiền trên 93 triệu đồng. Đội Cảnh sát môi trường thuộc CATP Vinh dù mới thành lập cuối năm 2011 nhưng cũng đã kiểm tra được 26 đơn vị, xử lý vi p hạm hành chính với tổng số tiền trên 72 triệu đồng. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đ ến vấn đề môi trường cũng được chú trọng, UBND TP. Vinh đã giải quyết được 65 trường hợp khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực môi trường. Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố vẫn tồn tại một số vấn nóng về môi trường khó giải quyết như: x ử lý rác thải sinh hoạt trên đ ịa bàn, Nhà máy bia Sài gòn – N ghệ Tĩnh, khu công nghiệp Bắc Vinh…. Tại buổi làm việc, lãnh đạo TP. Vinh kiến nghị: cần phải sửa đổi, bổ sung quy định thu phí bảo vệ môi trường; tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nghi Yên và giải quyết vấn đề liên quan; thực hiện đề 11
  12. án nâng cao năng lực quản lý, chuyên môn của đội ngũ cán bộ phụ trách môi trường cấp x ã… Tại buổi làm việc, Đo àn Giám sát ghi nhận những nỗ lực của TP Vinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, những ý kiến kiến nghị của TP. Vinh sẽ được Đoàn tổng hợp và báo cáo lên Thường trực HĐND tỉnh. Đoàn cũng đề nghị TP.Vinh tiếp tục thực hiện các biện pháp, chính sách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm xây d ựng TP. Vinh tiến tới văn minh, hiện đại xanh - sạch- đẹp. N hững vấn đề “nóng hổi nhất” về môi trường ở thành phố Vinh hiện nay có thể k ể đến là: Rác thải và xử lý rác thải là một đề tài quen thuộc của người dân và chính quyền các cấp tại tỉnh Vinh nhiều năm nay. Người dân bức xúc vì hàng ngày phải chung sống với ô nhiễm, còn chính quyền thì loay hoay nhiều năm nay mà vẫn chưa tìm đ ược vị trí để xây nhà máy xử lý rác. Ở các b ãi chôn lấp rác thì đã rơi vào tình trạng quá tải, gây ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của hàng ngàn hộ dân. H iện nay, trên đ ịa bàn TP Vinh tình trạng mất vệ sinh môi trường đ ang diễn ra âm ỉ để lại hậu quả khó lường. Sự chồng chéo trong công tác quản lí, chế tài xử phạt chưa đủ mức răn đe đang khiến cho lực lượng chức năng gặp rất nhiều khó khăn. “Sống chung với rác” là thảm cảnh chung mà người dân thành phố Vinh đang phải gánh chịu. Dọc các tuyến đường Minh Khai, Hồ Tùng Mậu, Quang Trung, Nguyễn Trường Tộ…nhiều đống rác cao, bốc mùi hôi thối nồng nặc, gây cản trở cho các p hương tiện tham gia giao thông, đã có nhiều va chạm giao thông xảy ra vì phải tránh các đống rác bất đắc dĩ trên đường. K hông chỉ tấn công các tuyến đường, thời gian gần đây các khu dân cư trên địa b àn thành phố Vinh cũng bị rác thải hành hạ. Ở các khu tập trung đông người như chợ, trường học, bệnh viện, điểm chờ xe buýt… đều xuất hiện các đống rác lớn. Rác lâu ngày không được bốc đi, lại gặp thời tiết nắng nóng, mưa nên bốc m ùi hôi b ao trùm lên hầu hết các khu dân cư trong Tp. Để đối phó với rác người dân phải đóng kín cửa suốt ngày. Bên cạnh đó, các hộ dân phải tự xử lý các đống rác bằng cách gom lại đem đốt, khói bốc mù mịt nhưng đỡ hôi hơn. 12
  13. V ào tháng 4/2011, sự việc người dân “cấm cửa” bãi rác ở xã Nghi Yên, Nghi Lộc đ ã khiến cho TP Vinh tràn ngập rác. Hàng trăm tấn rác thải tuồn ra đường với đủ chủng loại, kích cỡ, màu sắc, mùi vị làm cho cuộc sống người dân gặp rất nhiều khó khăn. Đ ược biết, bãi rác Nghi Yên là bãi chứa rác lớn và hiện đại nhất tỉnh Nghệ An, đ ang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện. Trước đó, trong phiên họp thường kỳ tháng 4/2011, ông Hồ Đức Phớc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An yêu cầu huyện Nghi Lộc, thành phố Vinh và các ngành liên quan phải coi việc x ử lý ô nhiễm môi trường tại bãi rác Nghi Yên là công việc chung để cùng nhau p hối hợp làm cho tốt; không để nước từ bãi rác rỉ, chảy ra ngoài gây ô nhiễm môi trường và phải xây dựng hệ thống xử lý để làm sao nguồn nước thải ra không ảnh hưởng đến sông Cấm, đến hoạt động du lịch và đến các khu dân cư xung quanh. N hà máy bia Sài Gòn - N ghệ An gây ô nhiễm liên tục trong nhiều năm. Nhiều gia đ ình ở phường Trường Thi, phường Hưng Dũng thành phố Vinh phải đóng hết cửa mà mùi hôi thối vẫn bốc vào nhà chịu không nổi. Những gia đình ở gần nhà máy p hải sơ tán trẻ con đến chỗ khác. Theo đơn thư của nhân dân, ngày 17-6-2010, U BND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Cảnh sát Môi trường công an tỉnh và UBND thành phố Vinh tổ chức kiểm tra. Đoàn yêu cầu nhà máy b ịt các đường ống xả bùn thải, nước thải trái quy định, lắp đặt đồng hồ và mở sổ nhật kí vận hành hệ thống xử lí nước thải. Phạt vi phạm hành chính 72,5 triệu đồng và truy thu hơn 1 tỉ đồng phí bảo vệ môi trường. Đến nay, những yêu cầu đó, nhà máy thực hiện đều không có hiệu quả. Nhà máy không lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động và giảm công suất 25 triệu lít bia/ năm. Theo nhân dân khu vực này, (trong đó có một số cán bộ, đảng viên và công nhân nhà máy) phản ánh, sở dĩ các đo àn kiểm tra xử lí không nghiêm, Nhà máy không thực hiện theo yêu cầu của các đoàn kiểm tra là vì quan chức ở thành phố, tỉnh có cổ phần ở đây. X ã Hưng Đông, thành phố Vinh có 6 lò gạch thủ công với tổng công suất 6,7 triệu viên/ năm nằm hai bên sông Kẻ Gai nơi giáp ranh với x ã H ưng Tây, huyện Hưng N guyên khói bụi làm ô nhiễm nặng 2 xóm Khoa Đà và Phúc Hòa xã Hưng Tây. Ở x ã Nghi Liên có 13 lò gạch thủ công, tổng công suất 8,66 triệu viên/ năm, làm ô nhiễm các xóm Thọ Sơn, Tân Sơn xã Nghi Vạn và nhiều xóm ở xã Nghi Trung, 13
  14. huyện Nghi Lộc. Nhân phản ánh nhiều, yêu cầu UBND thành phố Vinh kiên quyết đ ình chỉ những lò gạch gây ô nhiễm, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, nhưng UBND thành phố Vinh không xử lí. Sông K ẻ Gai đoạn đi qua xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên và xã H ưng Đông thành phố Vinh bị ô nhiễm nặng do cơ sở tái chế dầu nhớt thải của Công ty TNHH Phúc Thịnh và do nước thải của Nhà máy tấm lợp Việt Nhật N hiều loại rác và nhiều tác nhân gây ô nhiễm môi trường vẫn đang âm thầm gặm nhấm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Nguy hiểm nhất phải kể đến rác thải y tế. Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An là một trong 8 điểm ô nhiễm môi trường nặng trong tỉnh. Hệ thống xử lí nước thải của bệnh viện bị hỏng. Toàn bộ nước ở trong b ệnh viện thu gom về hai bể điều hòa rồi đổ ra kênh Bắc và sông Rào Đừng. Hệ thống nước bẩn này làm ô nhiễm nước ngầm xã Hưng Lộc, Hưng Dũng và Hưng Hòa thành phố Vinh. Vừa qua, UBND tỉnh đ ã xử phạt vi phạm hành chính 100 triệu đồng. Theo nhân dân trong vùng b ị ô nhiễm, mặc dù có đơn gửi lên các cấp kêu nhiều nhưng Bệnh viện chưa có giải pháp tích cực, trình trạng ô nhiễm đ ã kéo d ài liên tục nhiều năm. Trong đó có nguyên nhân các ngành chức năng trong tỉnh x ử lí không kiên quyết. Hiện nay, trên địa bàn TP Vinh có 17 bệnh viện, chưa kể hàng chục trạm y tế và phòng khám tư. Và hầu hết trong số này đều chưa có hệ thống xử lí rác thải y tế đạt chuẩn. Trung tá Trần Đình Chiến - Đ ội trưởng Đội Cảnh sát Môi trường Công an TP V inh cho biết: Hệ thống xử lí rác thải ở các bệnh viện và trung tâm y tế hiện nay còn rất sơ sài. Cả thành phố chỉ có hệ thống lò đốt của Bệnh viện đa khoa Nghệ An là đạt tiêu chuẩn nhưng cũng đang xuống cấp nhanh. V ì vậy, thời gian tới, nếu TP V inh không có thêm lò đốt rác thải y tế thì hiện tượng rác thải từ các bệnh viện tuồn ra ngoài là khó tránh khỏi. Đây là mối nguy hại rất lớn cho sức khỏe người d ân bởi các loại nhựa, bơm kim tiêm từ bệnh viện sẽ trôi về các cơ sở sản xuất nhựa tái chế và cho ra những sản phẩm trong sinh hoạt hàng ngày. Đó chính là m ầm bệnh cực kì nguy hiểm, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe người dân. Bên cạnh đó, hiện nay, ý thức bảo vệ môi trường của cơ quan, doanh nghiệp còn thấp. Hầu hết nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất chưa có hệ thống xử lí nước thải 14
  15. đ ạt chuẩn. Thậm chí, nhiều cơ sở đã thải thẳng chất thải độc hại ra môi trường khiến nguồn nước bị ô nhiễm, môi trường bị hủy hoại từng ngày. H iện nay, nhiều nơi, nhiều nhà máy, xí nghiệp vi phạm pháp luật về môi trường rất tinh vi như đào ngầm hệ thống nước thải, thải rác vào đêm khuya… gây khó khăn cho lực lượng kiểm tra. Trong lúc đó, lực lượng Cảnh sát môi trường Công an TP Vinh lại đang hạn chế về cơ sở vật chất và nhân lực nên không thể kiểm tra, x ử lí triệt để. Hơn nữa, việc chồng chéo giữa các cấp quản lí Nhà nước về môi trường cũng như chế tài xử phạt chưa mạnh, không đủ sức răn đe nên việc tái p hạm là điều không thể tránh khỏi. Theo trung tá Trần Đ ình Chiến, thời gian tới, lực lượng Cảnh sát môi trường công an thành phố Vinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp để thực hiện thanh kiểm tra liên ngành về công tác đảm bảo vệ sinh môi trường. Trọng tâm là tăng cường đấu tranh với các loại tội phạm buôn bán, vận chuyển các loại rác thải độc hại, các loại thực phẩm không rõ nguồn gốc… Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các cở sản xuất, các làng nghề, các dự án… trên địa bàn là sự đầu tư xây dựng chưa đồng bộ, chưa thoả đáng hệ thống xử lí chất thải; nhiều cơ sở sản xuất có công nghệ cũ kỹ, lạc hậu chưa được thay thế hay ngại tốn kém mà bỏ qua khâu xử lí đang gây b ất bình tại nhiều khu dân cư cũng góp phần đáng kể đến tình trạng ô nhiễm môi trường trong và ngoài tỉnh. Đồng hành với những khó khăn, thách thức trong việc giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do thiên tai, bão lũ… hằng năm, chất thải y tế chưa được xử lí đ ang thật sự làm đau đầu các ngành chức trách. "Ô nhiễm môi trường do chất thải y tế chưa được xử lí gây ra dù chưa có thống kê nào nhưng thật sự không thể xem thường" - một cán bộ ngành y tế cảnh báo. Nguyên nhân của những điểm mạnh và hạn chế của công tác quản lý Nhà nước về MT ở thành phố Vinh đó là  V iệc quản lý nhà nước chủ yếu dựa trên công cụ luật pháp, các chế tài vì thế việc thực hiện tỏ ra cứng nhắc, chưa đ ồng bộ và phù hợp với nhu cầu của địa p hương. 15
  16.  Nhiều tổ chức, cá nhân khi vi phạm nhưng không nhận trách nhiệm. Tuy vậy, nhà nước vẫn chưa có biện pháp xử lý hiệu quả, để lại những hậu quả nặng nề cho môi trường.  Các hình thức xử lý vi phạm còn mang tính chiếu lệ, chưa đủ sức răn đe, ngăn ngừa.  V iệc quản lý môi trường chưa thực sự mang lại hiệu quả đối với chất lượng cuộc sống của người dân do đó trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn.  Nhận thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của nhiều cấp ủy, lãnh đ ạo các cấp, các ngành, doanh nghiệp và nhân dân chưa đ ầy đủ; ý thức bảo vệ môi trường nhìn chung còn thấp.  Việc ho àn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn chậm, chưa đồng bộ. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực và trình đ ộ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ khoa học - công nghệ bảo vệ môi trường, xử lý, giải quyết ô nhiễm môi trường còn thấp.  N guồn vốn đầu tư và chi thường xuyên cho b ảo vệ môi trường chưa đáp ứng đ ược yêu cầu. Còn sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường cho các mục đích khác hoặc sử dụng không hiệu quả. Trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ môi trường còn thiếu và lạc hậu. Trong chỉ đạo, điều hành chỉ quan tâm tới các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ các yêu cầu bảo vệ môi trường; có biểu hiện buông lỏng công tác quản lý nhà nước, thiếu kiên quyết trong việc xử lý vi phạm pháp luật về b ảo vệ môi trường; chưa giải quyết dứt điểm các điểm nóng, bức xúc về ô nhiễm môi trường.  Tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn ra khá phổ biến. Nhiều vi phạm có tổ chức, tinh vi, một số hành vi có dấu hiệu tội phạm. Ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đời sống của người dân nơi đây.  V ới tốc độ phát triển dân số và quy mô dân số ở thành phố Vinh như hiên nay đ ã tác động rất lớn đến môi trường và đ ặc biệt là ý thức của người dân còn hạn 16
  17. chế, tư tưởng ỷ lại cho lực lượng bảo vệ môi trường đang còn ăn sâu trong suy nghĩ của mỗi người dân. Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường ở thành phố Vinh 3 .1 Quan điểm của Trung ương, địa phương trong công tác quản lý môi trường. Trung ương Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của sự phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương. Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người dân, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của x ã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông chúng ta. Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu với môi trường là chính, kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và b ảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đ ầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội, kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp phòng chống. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao; V ì vậy, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể; để từ đó làm cho môi trường ở khu dân cư ngày càng “Xanh, sạch, đẹp” và làm cho mọi người dân có ý thức, kiến thức, sống thân thiện với môi trường, sử d ụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; đấu tranh khắc phục các tệ nạn, tập tục lạc hậu, thói quen trong sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng; xâm hại đến tài nguyên, môi trường. Bảo vệ môi trường là một công việc lâu d ài, bền vững và phải được sự q uan tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành chức năng và Mặt trận Tổ quốc cũng như các đoàn thể quần chúng; Nhà nước cần cần phải tạo đ iều kiện về mọi mặt cho Mặt trận thực hiện nhiệm vụ to lớn và hết sức quan trọng này. Phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn 17
  18. thể và các ngành chức năng trong lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt này, đòi hỏi p hải đẩy mạnh, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác bảo vệ môi trường của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đ ến địa phương. Một là: Hoạt động bảo vệ môi trường tác động toàn diện đến các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và bản thân con người, đặc biệt là con người, với tư cách vừa là khách thể, lại vừa chủ thể chi phối, quyết định chất lượng môi trường. Vệc xây d ựng môi trường nhân văn, môi trường sinh thái - nhân văn có tầm quan trọng q uyết định tới toàn bộ sự nghiệp bảo vệ môi trường nói riêng và phát triển bền vững nói chung. * Hai là: V iệc bảo vệ môi trường không chỉ có quan hệ tác động hỗ trợ đối với sự p hát triển kinh tế - x ã hội bền vững mà trong quá trình đ ó, luôn luôn phát sinh những xung đột về lợi ích giữa các lĩnh vực kinh tế - xã hội và giữa các chủ thể trong việc hưởng thụ, trong việc sử dụng các thành phần môi trường với việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, không chỉ nhằm tạo ra sự đồng thuận xã hội, làm hậu thuẫn cho các hoạt động quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trờng, cho các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, còn góp phần giải quyết những mâu thuẫn trên, đồng thời tăng cường mở rộng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc của chúng ta hiện nay. * Ba là: Xuất phát từ vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị của xã hội và trong mối quan hệ với các tầng lớp nhân dân, với tính cách là tổ chức liên minh chính trị và là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia bảo vệ môi trường vừa để phát huy sức mạnh và huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, lại vừa góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực q uản lý của Nhà nước. Đây là những nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp b ảo vệ môi trường nói riêng và phát triển bền vững nói chung. Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương nên sớm có chủ trương tăng biên chế cán bộ quản lý môi trường cấp quận/huyện, biên chế cán bộ quản lý môi trường chuyên trách ở cấp ph ường/xã; sớm tăng tỷ lệ % ngân sách cho BVMT và điều chỉnh lại c ơ sở phân phối, sử dụng để bảo đảm có hiệu quả nhất, cố gắng đến nă m 2015, tỷ 18
  19. lệ dành cho sự nghiệp môi trường bảo đảm ở mức 2% tổng chi ngân sách. Thường xuyên coi trọng công tác thanh tra và kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Sớm h ình thành hệ thống quan trắc môi trường có tính quốc gia, đáp ứng các yêu cầu thống nhất, toàn diện, chính xác, cập nhật để theo dõi, đánh giá đúng mọi d iễn biến môi trường, phục vụ cho công tác quản lý nhà nư ớc về môi trường. Tăng cường cơ chế liên kết và phối hợp tốt, trong đó có sự chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn giữa các cơ quan trung ương với nhau, giữa các cơ quan trung ương và các địa phương và giữa các địa ph ương có liên quan. Tiếp tục tạo hành lang pháp lý và các đ iều kiện cần thiết để đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; cần có các b iện pháp gắn kết giữa quản lý nhà nước với công tác nghiên c ứu và đào tạo để phát triển tốt nguồn nhân lực trong lĩnh vực môi trường và bảo vệ môi trường. Từng bước h ình thành và phát triển văn hóa môi trường; tiếp tục suy nghĩ, đổi mới nội dung và phương pháp tuyên truyền về bảo vệ môi trường, để mọi người ý thức đ ược rõ ràng là bảo vệ môi trường chính là tự bảo vệ mình . Đ ịa phương : quản lý nhà nước về môi trường là thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Nhà nước về MT, phổ biến các chính sách của Nhà nước về MT đến mọi người; Tăng cường công tác cán bộ MT. Tuyên truyền, vận động moi người mọi nhà sử dụng tiết kiệm và hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; lồng ghép các vấn đ ề bảo vệ môi trường, ứng phó với biển đổi khí hậu, nước biển dâng trong việc lập q ui hoạch của các ngành, lĩnh vưc và các địa phương; Đẩy nhanh việc thực hiện và x ử lý các vấn đề môi trường bức xúc trên địa bàn thành phố nói riêng, tỉnh Nghệ An nói chung. Đồng thời tiếp tục phát huy phong trào, hoạt động như: Tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường, “Ngày Chủ nhật xanh”; phối hợp với ngành kiểm lâm tổ chức ra quân trồng và bảo vệ rừng, làm đường băng cản lửa, thu gom rác thải; giúp đỡ bà con nhân dân di dời chuồng gia súc ra khỏi khu vực nhà ở, làm nhà vệ sinh hợp lý, sử dụng nước sạch; giải quyết dứt điểm những khu vực môi trường ô nhiễm. 3 .2 Các giải pháp nâng cao công tác quản lý của NN về môi trường V ề phía Trung ương: - N âng cao nhận thức về môi trường và bảo vệ môi trường trong x ã hội - X ây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về môi trường - K iện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường 19
  20. - Tăng cường đầu tư và kiểm soát đầu tư cho bảo vệ môi trường - Đ ẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa về bảo vệ môi trường - N âng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường - K hai thác, quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các vi p hạm pháp luật về bảo vệ môi trường Cụ thể: 1 . Nghiên cứu, đề xuất đưa bộ chỉ tiêu mới về môi trường vào Chiến lược quốc gia b ảo vệ môi trường giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đảm bảo phản ánh đúng vai trò môi trường là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững, đồng thời làm rõ cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi, thực hiện các chỉ tiêu đó. 2 . Tập trung tiến hành nghiên cứu, xây dựng Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành, với mục tiêu xây dựng một hệ thống pháp luật về môi trường hoàn chỉnh, qua đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. 3 . Coi trọng nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức. Tiếp tục rà soát trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ các đơn vị trực thuộc, kể cả cán bộ lãnh đ ạo để đề xuất bố trí, phân công công việc bảo đảm sự hợp lý về năng lực với trọng trách được giao; chú trọng công tác đào tạo, bồi d ưỡng đội ngũ cán bộ. 5 . Nhanh chóng ổ n định tư tưởng, tổ chức của các cán bộ làm công tác thanh tra về môi trường, qua đó tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra. Trong năm 2012 sẽ tập trung thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở nhập khẩu phế liệu; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu công nghiệp, cụm công nghiệp gây ô nhiễm môi trường trên các lưu vực sông; cơ sở nuôi trồng và chế biến thủy sản; cơ sở hành nghề quản lý chất thải nguy hại; các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Q uyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; phối hợp chặt chẽ với lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường. 6 . Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai Luật Đa dạng sinh học; hướng dẫn kiện to àn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo tồn đa dạng sinh học ở các cấp; triển khai nhanh công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và xây dựng Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2020; tăng cường thực thi pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật về đa d ạng sinh học và tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản